NÓI
CHUYỆN ĐẦU NĂM
H.T.
Tuyên Hóa
Các
vị thiện tri thức,
Hôm
nay tôi xin chúc quý vị năm mới khoái lạc. Vậy thì năm cũ
phải chăng chẳng khoái lạc? Chúng ta phải cần vui sướng
hằng năm, hằng tháng, hằng giờ. Vì sao mình cần phải vui
sướng? Vui sướng không phải là vì có đồ ăn ngon, cũng
chẳng do mặc áo quần đẹp, mua đặng xe bóng nhoáng, ở chốn
nhà cao cửa rộng. Vậy thì mình phải làm sao để vui sướng
khoái lạc? Thì đây: Trong thâm tâm mình phải thường luôn
biết tri túc, bởi vì hễ biết đủ thì ta luôn an vui. Biết
nhẫn nại thì ta sẽ thường đặng an ổn. Nhận rằng mình
có đủ thì mình sẽ luôn luôn đầy đủ. Chúng ta phải thường
thường biết tri túc. Con người có trí huệ, linh tri linh giác
hơn hẳn loài vật, chúng ta hơn tất cả mọi loài về đủ
thứ phương diện; do đó chúng ta phải biết tri túc. Khi biết
tri túc thì mình sẽ an vui, chẳng phiền não. Cho nên chẳng
phải năm mới tới mình mới vui vẻ mà phải an vui trong mọi
thời mọi lúc. Khi chẳng có phiền não thì mình mới có thể:
Vun bồi khoảnh đất trên tâm,
Hàm dưỡng vòm trời nơi tánh.
Khi
mảnh đất nơi tâm sáng tỏ thì vòm trời ở thể tánh cũng
chói lọi. Sự rực rỡ ấy cũng chính là sự quang minh của
Phật. Vì sao chúng ta chẳng thể phóng quang minh? Bởi vì mình
chẳng vun bồi khoảnh đất trong tâm, chẳng hàm dưỡng vòm
trời nơi tánh. Vì vậy, trong đạo phật, nếu bạn có thể
thường an vui thì tức là bạn tu hành rồi đó.
Trong
quyển Trai Căn Đàm có nói:
Quang phong tế nguyệt, thảo mộc hân hân.
nghĩa
là:
Gió trong, trăng tỏ, cây cỏ vui vui.
Lúc
gió trong, trăng tỏ là lúc gió thổi nhè nhẹ, trăng sáng chẳng
mây che. Cây cỏ vui vui là nói cây cỏ cũng tươi tốt, hân
hoan, như thử là vui vẻ lắm lắm. Còn thế nào là nộ vũ
tật phong? Tức là ám chỉ trời nổi cơn thịnh nộ, giáng
cơn mưa lớn. Mưa lớn cũng như là nước mắt trời khóc vậy.
Tật phong là cuồng phong, bão táp. Khi gió ấy thổi thì đừng
kể là người, ngay cả loài vật, chim chóc cũng cảm thấy
thắc thỏm chẳng yên. Ai cũng buồn bả. Toàn bài thơ viết
như sau:
Quang phong tế nguyệt, thảo mộc hân hân.
Nộ vũ tật phong, cầm điểu thích thích.
Cố: thiên địa bất khả nhất nhật vô hòa khí,
Nhân tâm bất khả nhất khắc vô hỉ thần.
Nghĩa
là:
Gió trong, trăng tỏ, cây cỏ vui vui
Mưa gầm, gió lộng, chim thú co ro,
Nên:Trời đất chẳng thể một ngày không hòa khí
Lòng người chẳng thể một phút thiếu niềm vui.
Khi
trời đất nổi cơn giông tố, thì hòa khí mất hết. Do đó
mới nói rằng trời đất chẳng thể một ngày không hòa khí;
mà phải luôn có gió thổi hiu mát, tỏa khí cát tường. Lòng
người cũng chẳng thể một phút thiếu niềm vui. Cũng như
đức Di Lặc Bồ Tát, người ta đối với Ngài như thế nào
Ngài cũng không sinh phiền não. Ngài dạy rằng:
Già khờ khoác áo nạp.
Cơm lạt dằng no bụng,
Vá víu đở rét hàn,
Vạn sự tùy duyên thôi!
Hễ ai chửi già khờ:
Già khờ tự nói: Giỏi.
Hễ ai đập già khờ,
Già khờ lăn ra ngủ.
Khạc nhổ nơi mặt già,
Cứ để nó tự khô.
Già này chẳng tốn công,
Bạn cũng không phiền não.
Như thế Ba la mật,
Đúng là báu nhiệm mầu,
Thấu rõ lý lẽ nầy,
Lo gì Đạo chẳng xong?
Già
khờ tức là chỉ lão già ngu dốt này, kẻ chẳng chút tri
thức. Khoác áo nạp, tức là mặc áo vá víu. Cơm lạt dằng
no bụng: Nghĩa là tôi chỉ ăn đạm bạc, miễn có ăn là đủ
rồi. Lão già thường vỗ bụng, rằng: Coi, bụng tôi no lắm
rồi đây! Vá víu đở rét hàn. Áo quần của tôi đã rách
rồi, song chỉ cần vá lại để tôi tránh rét. Vạn sự tùy
duyên thôi! Cứ tùy theo mọi chuyện - chuyện tới thì ứng
phó, chuyện qua rồi thì im lặng. Chuyện gì làm cũng tùy theo
duyên. Hễ ai chửi già khờ: Đồ quái vật, già đầu mà chẳng
chết! Già khờ tự nói: Giỏi, tốt lắm! Bạn chửi tôi thật
là quá hay! Hễ ai đánh già khờ, Già khờ lăn ra ngủ: Nếu
ai đánh tôi thì tôi lăn người ra ngủ, đưa lưng cho y đánh.
Khạc nhổ nơi mặt già: Tức là bạn nhổ nước miếng lên
mặt tôi, cứ để nó tự khô: Tôi sẽ chẳng lau nó, mặc
nó tự khô. Bởi vì: Già này chẳng tốn công để lau nước
miếng, Bạn cũng không phiền não, vì tôi sẽ không trả đủa,
nhổ vào mặt bạn, do vậy bạn sẽ chẳng có gì bực bội.
Như thế Ba la mật: Đây là một pháp ba la mật, pháp đưa
ta tới bờ giải thoát. Đúng là báu nhiệm mầu: Mà đa số
chúng ta không ai biết dùng nó, dùng phương pháp đưa ta tới
bờ bên kia. Đây đúng là sự mầu nhiệm trong sự mầu nhiệm,
báu vật của tất cả của báu. Thấu rõ lý lẽ này: Nếu
bạn biết được đạo lý này, Lo gì đạo chẳng xong, nhất
định bạn sẽ thành tựu đạo nghiệp.
Có
vị giáo sư ở đây giảng về từ bi của nhà Phật và nhân
từ của đạo Khổng ở Trung Hoa. Kỳ thật đạo Khổng nói
về lòng trung thứ, còn đạo Cơ Đốc, Thiên Chúa Giáo thì
nói về lòng bác ái. Hai chữ bác ái đều có bộ chữ tâm
ở trong đó, tức là chỉ lòng thương ở trong tâm. Đạo Lão
thì nói về cảm ứng. Tuy đạo Lão dạy rằng thanh tịnh,
vô vi, tu theo đạo tự nhiên, như Đạo Đức Kinh dạy: Con
người học theo pháp Đất, Đất theo mẫu của Trời, Trời
theo mẫu Đạo, Đạo làm theo tự nhiên. Song thật sự thì
cốt tủy đạo Lão dạy ta hai chữ cảm ứng. Đạo Phật thì
chủ trương từ bi. Nho, Đạo, Thích, ba tôn giáo chẳng thể
tách rời cái tâm. Ra ngoài tâm thì chẳng có tôn giáo. Đạo
Khổng dạy hai chữ Trung và Thứ. Trung hay sự trung thành là
để giữ mình (trì kỷ), thứ hay tha thứ thì dùng để đối
đãi với người (đãi nhân). Giữ mình tức là khi mình làm
việc gì mình cũng cần có lòng trung thành đối với người,
phải làm cho tận lòng trung. Đây là điều kiện căn bản
để
vun
bồi phẩm đức của mình. Tha thứ với kẻ khác nghĩa là
bỏ qua những điều sai trái của kẻ khác. Ai làm sai mình
hãy biết tha thứ, khoan dung họ. Nếu biết trung thành để
giữ mình, thì nhân cách của bạn sẽ thanh cao. Nếu biết
tha thứ đối đãi người khác, thì bạn sẽ làm lợi kẻ
khác, mà chẳng đi tìm lỗi lầm sai trái của họ. Đây là
giáo nghĩa của đạo Nho, nó nào có tách rời cái tâm này.
Nếu bạn xem hai chữ trung thứ, sẽ thấy nó bao gồm chữ
tâm đó.
Đạo
Lão dạy về cảm ứng. Thế nào là cảm? Cảm tức là thông
đạt. Sao gọi là ứng? Chẳng có điều cầu mong gì mà chẳng
thành, gọi là ứng. Ai cầu gì cũng sẽ được toại nguyện.
Rằng: hễ cảm thì thông, cầu gì cũng ứng. Thế nào là cảm
ứng? Ví như dòng điện: Hể điện nối tới đâu thì đèn
sáng tới đó. Đó là nghĩa của câu: Hễ cảm thì thông, cầu
gì cũng ứng. Cũng vậy, lòng bạn nghĩ gì, kẻ khác cũng có
thể thông hiểu được, đó là vì có dòng điện cảm ứng
giữa tâm bạn với tâm người. Do đó, khi cầu chuyện gì
với lòng chí thành khẩn thiết, thì bạn sẽ cảm, sẽ thông:
Thông đạt, tiếp giao tới thần minh. Bởi vì Đạo Lão nói
cảm ứng nên Lão Quân mới có một bài viết về cảm ứng
bắt đầu như sau:
Họa phước vô môn, duy nhân tự chiêu.
Nghĩa
là:
Họa, phước chẳng có chỗ nhất định,
Chỉ do mình chiêu cảm mà tới.
Đây
tức là giải về cảm ứng. Bởi vì tai họa chẳng có cửa
ngõ, mà hạnh phúc cũng chẳng có cửa vào. Nếu bạn làm thiện
thì phước tới, làm ác thì họa tới. Do đó họa phước
chẳng có nhất định, chỉ do mình chiêu cảm mà chúng tới.
Thiện ác chi báo như ảnh tùy hình.
Nghĩa
là:
Quả báo lành, dữ, như bóng theo hình.
Quả
báo lành hay dữ cũng hệt như cái bóng lúc nào cũng theo thân
hình ta. Mình đi tới đâu, bóng đi tới đó. Quả lành cũng
là bóng mà quả dữ cũng là bóng, chúng luôn đeo đuổi theo
thân ta. Bởi vậy thiên địa có thần minh coi xét việc sai
trái. Thiên địa cũng có thần năm, thần tháng, thần ngày,
thần giờ, gọi là tứ trực công tào. Các vị ấy yên lặng
xem xét mọi chuyện. Cho nên nói: Thiên địa hữu ty quá chi
thần, nhân nhân sở phạm khinh trọng, dĩ đoạt nhân toán,
toán giảm tắc bần hao. Nghĩa là: Trời đất có thần xét
việc sai trái, tùy theo lỗi nặng nhẹ của người mà thần
giảm thiểu phước phần kẻ ấy, khi phước phần giảm thiểu
thì kẻ ấy sinh ra nghèo cùng, khốn đốn. Giảm thiểu phước
phần tức là giảm thiểu thọ mạng. Tức là kẻ ấy đáng
lẽ sống lâu, bây giờ phải đoản mạng. Theo như cách tính
này thì giảm thiểu tính theo đơn vị 12 năm, hay một kỷ.
Khi mạng sống giảm bớt thì với nó là sự nghèo nàn, khốn
đốn. Lúc đó thì đủ thứ tai nạn, họa hoạn, bịnh tật,
thị phi, đều tới cả. Đó cũng chính là sự cảm ứng. Rằng:
Hễ cảm thì thông, cầu gì cũng ứng. Tức là giáo nghĩa mà
Đạo Lão dạy. Đạo Phật chủ trương từ bi. Từ là gì?
Có câu rằng: Vô duyên đại từ. Nghĩa là thái độ hiền
hòa, hiền từ đối với kẻ ta chẳng có duyên. Bạn đối
với kẻ ấy hiền từ, tốt đẹp bất kể là y có đối xử
tốt với bạn hay không. Kẻ ấy chẳng có duyên với bạn?
Thì mình mới dùng lòng từ hòa với họ chớ. Đó là lòng
đại từ đối với kẻ chẳng có duyên. Làm sao để có lòng
đại bi? Lòng đại bi là lòng đồng tình, xem cái khổ của
kẻ khác như là khổ mình chịu, như
khổ
nơi thân mình vậy. Cho nên mới nói: Đồng thể đại bi. Mình
phải thực hành từ bi hỉ xả bởi vì lòng hiền từ có thể
đem lại sự an lạc, lòng đại bi có thể xóa tan sự đau
khổ, vì khiến ta thông cảm nổi khổ của kẻ khác. Đó cũng
chính là thương người như thương mình vậy. Đạo Thiên Chúa
hay Tin Lành đều dạy về lòng bác ái. Chữ Bác có bộ tâm
viết ở một bên, còn chữ ái cũng có bộ tâm viết ở giữa.
Ái hay tình thương này cũng gần giống như tình yêu thương
nam nữ vậy. Song tình yêu nam nữ là tình chẳng thanh tịnh,
tình thương ô nhiễm. Tình thương thanh tịnh thì chẳng có
nhiễm ô tạp nhạp. Thiên Chúa Giáo dạy rằng ta phải biết
yêu thương, thương yêu tất cả mọi người. Tình thương
chân chính thì vô hình vô tướng, không thể diễn bày. Lòng
bác ái không phải là tình yêu nam nữ, rằng: Nam nữ ăn ở
với nhau là chuyện tự nhiên của con người. Đạo của người
quân tử bắt đầu bằng quan hệ vợ chồng. Đây là pháp
thế gian. Trong pháp xuất thế thì tình thương chẳng hề còn
ý tưởng nhiễm ô nữa. Vì vậy mình phải thông hiểu ý nghĩa
và phạm vi của chữ tình thương. Tình yêu giữa nam nữ là
thứ tình si mê, trong khi đó tình thương xuất thế mới đúng
là thứ tình bao la thương khắp chúng sinh.
Năm
mới, con người mới
HT
Tuyên Hóa
Tu
đạo, chúng ta chớ nên tu đi tu lại mà vẫn cứ luẩn quẩn
trong vòng danh lợi, vẫn còn phân chia nhân ngã, bàn luận thị
phi, hoặc mưu cầu quyền lực - bởi như thế là hoàn toàn
sai lầm!
Đón
mừng năm mới, chúng ta hãy lập thệ. nguyện rộng lớn -
cương quyết "sửa sai, hướng thiện". Muốn sửa đổi tâm
tánh để trở thành con người mới, chúng ta phải làm thế
nào? Chúng ta cần phải:
Chư
ác mạc tác,
Chúng
thiện phụng hành,
Tự
tịnh kỳ ý,
Thị
chư Phật giáo.
(Chớ
làm các việc ác,
Chăm
làm những điều lành,
Tự
thanh lọc tâm ý,
Ấy
là lời Phật dạy!)
"Tự
tịnh kỳ ý" có nghĩa là trừ bỏ các thói hư tật xấu, các
khuyết điểm "nội tại" của quý vị. Nếu không trừ bỏ
chúng thì quý vị sẽ lại tranh, lại tham, lại cầu, lại
ích kỷ, lại tự lợi, và lại nói dối nữa! Đặc biệt
là về thói nói dối - quý vị có thể phạm lỗi nói dối
qua từng hành động, từng cử chỉ trong nếp sinh hoạt hằng
ngày của mình. Chẳng hạn quý vị phạm một lỗi lầm nào
đó, nhưng thay vì tự nhận lỗi thì quý vị lại đổ lỗi
cho người khác - vu oan kẻ khác tức là nói dối vậy!
Không
thành thật, cứ muốn chiếm lợi thế, muốn lợi lộc cho
riêng mình - đó đều là những hành vi nhơ bẩn. Do đó, nếu
quý vị không có những hành vi nhơ bẩn, thiếu tư cách, tất
quý vị sẽ không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ,
không tự lợi, và cũng không nói dối.
Riêng
những người xuất gia, nếu quý vị nói dối thì chắc chắn
sẽ bị đọa địa ngục Vô Gián, vô phương giải cứu! Đó
là do quý vị đã lừa người lừa mình, lừa chư Phật và
chư Bồ Tát; quý vị đã "trợn tròn mắt, nói năng ngang ngược"
- đó là những điều không thể chấp nhận được! Có thể
là quý vị không nhận thức được sự nghiêm trọng của
vấn đề; song, đến khi đọa địa ngục dù quý vị có hối
hận thì cũng đã muộn rồi! Do đó, người xuất gia một
khi đã thọ Giới-luật rồi thì dù thế nào đi nữa cũng
không được nói dối, Không được đổ lỗi cho người khác
để chạy tội, không được chối cãi hoặc không chịu nhận
lỗi. Quý vị nên thành thật và thực sự tu hành, và hãy
tu hành với chẳng chút tham cầu. Như thế, một khi quý vị
đã gột rửa nội tâm sạch sẽ rồi, thì trí huệ, Ngũ Nhãn
và Lục Thông của quý vị sẽ tự nhiên xuất hiện. Quý vị
không chịu gạn lọc tâm mình cho trong sạch mà lại muốn
đạt được Ngũ Nhãn, Lục Thông ư? Quý vị sẽ không đạt
được một phép thần thông hoặc một chút trí huệ nào cả!
Quý vị sẽ không hiểu được điều gì cả, và sẽ chỉ
là những kẻ ngu muội, mù quáng mà thôi!
CHỚ
BỎ QUA CÁC DANH NGÔN CHÍ LÝ!
Tôi
giảng Sáu Đại Tông Chỉ này là để cho những người muốn
thành Phật, thành Bồ-tát, thành Thanh-văn, thành A-la-hán, cũng
như những chúng sanh ở cõi trời và quỷ thần nghe mà thôi.
Hạng phàm phu khi nghe nói đến những tông chỉ này thì chớ
vội xem thường mà bảo: "?! Chúng tôi là những kẻ làm ăn
buôn bán, cho nên chẳng thể không tranh, chẳng thể không tham,
chẳng thể không cầu, chẳng thể không ích kỷ, chẳng thể
không tự lợi, và chẳng thể không nói dốI được!" Nếu
suốt ngày quý vị chỉ biết "mê tiền", rồi vì mê tiền
nên mua vé số mong được trúng lô độc đắc - thì quý vị
còn ở cách Đạo xa lắm! Những đạo lý thực sự có giá
trị thì quý vị lại gạt bỏ, không chịu học, cứ mải
miết lùng kiếm các đồ phế thải dơ bẩn, những thứ vô
giá trị! Tiền bạc của con người ở thế gian này là thứ
dơ bẩn nhất. Chỉ vì đồng tiền mà con người phải thất
điên bát đảo, phiền não, khổ sở, và lắm lúc đưa đến
cảnh tranh chấp, cãi vả!
Có
nhiều người tuy lắm tiền lắm bạc nhưng lại không biết
cách sử dụng đồng tiền; họ dùng tiền để làm gì? Ăn
uống, nhậu nhẹt, chơi bời trụy lạc, cờ bạc, mua cổ phiếu
- sống cuộc đời phóng đãng! Họ tưởng rằng như thế là
sung sướng, nhưng sự thật là họ đang gieo cái nhân "đọa
địa ngục" và che lấp con đường giác ngộ của họ; thật
là nguy hiểm vô cùng!
Nếu
quý vị có tiền mà lại không biết cách sử dụng đồng
tiền cho đúng đắn, thì đó quả là một điều rất đáng
buồn. Quý vị vung tiền ra gây tội tạo nghiệp mà cứ ngỡ
rằng như thế là có lợi, cho rằng đó là việc tốt; nhưng
thật ra, đó chính là một sự thua lỗ nặng nề - ánh sáng
trí huệ, Pháp-thân và
huệ
mạng cũa quý vị đều bị hao tổn! Vì ham hưởng thụ, mải
mê với các thứ ăn chơi, nên quý vị đã làm hỏng tiền
đồ của chính mình. Quý vị lẽ ra phải thành Phật, thành
Bồ-tát, thành Thanh-văn, Duyên-giác cả rồi, nhưng quý vị
vẫn chưa thành được; thậm chí ngay cả cõi trời quý vị
cũng chưa thể lên tới được!!!
Người
đời thường tu pháp Thập Thiện - không giết hại, không
trộm cắp, không tà dâm, không tham lam, không sân hận, không
si mê, không nói lời thô tục, không nói lời gian dối, không
nói lời độc ác, không nói lưỡi hai chiều (đâm thọc).
Nếu không làm trái với mười điều thiện ấy thì được
sanh lên cõi trời; nếu cứ làm trái với mười điều thiện
- tức là phạm mười điều ác - thì nhất định sẽ bị
đọa địa ngục.
Hôm
nay là mồng hai Tết. Tôi đã nhiều lần nhắc nhở quý vị
về các danh ngôn chí lý này. Quý vị phải ghi nhớ, không
được lơ là, thờ ơ. Những điều tôi nói hôm nay đều là
những đạo lý vô cùng quan trọng. Do đó, nếu quý vị có
thể thực hành, áp dụng các đạo lý ấy suốt đời, tất
quý vị sẽ thể
nghiệm
được một sự lợi ích bất tận - hưởng hoài không hết!
Những điều tôi nói thì rất ngắn gọn, rõ ràng. Tôi không
muốn nói những lời mà không ai hiểu đuợc; do đó, khi nói
chuyện với mọi người, tôi toàn dùng những từ ngữ thật
đơn giản, dễ hiểu!
KHÔNG
HAM DANH LỢI, CHẰNG THAM "HOA"
Bây
giờ tôi sẽ đọc cho quý vị nghe mấy câu nói của một Chân-nhân
đạo Lão tên là Khưu Xứ Cơ.
Vị
Chân-nhân ấy nói rằng: "Bất tham danh lợi, bất tham hoa" (chẳng
tham danh vọng, lợi lộc và cũng chẳng tham hoa). "Chẳng tham
hoa" ngụ ý không tham nữ sắc. Chân-nhân vốn là người không
màng danh lợi và cũng chẳng ham mê nữ sắc.
"Chung
triêu mỗi nhật ngọa thái hà" (mỗi ngày, suốt buổi sáng
đều ngả mình trên đám mây ngũ sắc). Ngày nào Chân-nhân
cũng dụng công tu hành trong cảnh giới thanh tịnh, tịch tĩnh
của Đạo.
"Đỗ
ngạ viên hầu hiến đào quả" (bụng đói, được vượn và
khỉ hiến dâng quả đào). Khi Chân-nhân đói bụng thì có
vượn hoặc khỉ mang trái đào đến dâng hiến để ngài dùng
qua bữa.
"Khẩu
khát Long Nữ tống mông trà" (Miệng khát, được Long Nữ cúng
trà chanh). Và khi Chân-nhân cảm thấy khô cổ, khát nước,
thì được Long Nữ cúng dường chén trà chanh.
"Thắng
như Hán Khẩu tam thiên hộ" (hơn hẳn ba ngàn nhà ở Hán Khẩu).
Bấy giờ là vào giữa đời nhà Tống và nhà Minh; và Chân-nhân
đưa ra nhận xét: "Đời sống của tôi xem ra còn sung sướng
hơn ba ngàn gia đình ở Hán Khẩu nhiều lắm!"
"Cường
tự Kinh Đô bách vạn gia" (hơn hẳn trăm vạn nhà ở Kinh Đô).
Và khi so sánh với một triệu gia đình ở chốn kinh thành,
Chân-nhân nhận thấy ngài vẫn sung sướng hơn họ rất nhiều:
"Họ không có gì ngoài những sự tranh chấp, cãi vả, phiền
não; và suốt ngày họ chỉ biết bận rộn vì bã lợi danh.
Tôi thì không ưa gì những thứ ấy - chẳng tham danh hám lợi,
chẳng thích làm quan, và cũng chẳng muốn có quyền hành, địa
vị gì cả; nên nói:
Bất
tham danh lợi bất tham hoa,
Chung
triêu mỗi nhật ngọa thái hà.
Đỗ
ngạ viên hầu hiến đào quả,
Khẩu
khát Long Nữ tống mông trà.
Thắng
như Hán Khẩu tam thiên hộ,
Cường
tự Kinh Đô bách vạn gia."
Nghĩa
là:
Không
ham danh lợi, chẳng tham "hoa",
Ngày
ngày thanh thản dựa "thái hà".
Đói
có khỉ, vượn mang đào đến,
Khát
thời Long Nữ cúng trà chanh,
Hơn
cả Hán Khẩu ba ngàn hộ,
Vượt
hẳn Kinh Đô trăm vạn nhà!
Quý vị
xem, lời lẽ của vị Chân-nhân này rất sâu sắc và rõ ràng.
Cho nên, tu Đạo, chúng ta chớ nên tu đi tu lại mà vẫn cứ
luẩn quẩn trong vòng danh lợi, vẫn còn phân chia nhân ngã,
bàn luận thị phi, hoặc mưu cầu quyền lực - bởi như thế
là hoàn toàn sai lầm! Những điều tôi nói đây đều là những
gì mà mọi người không thích nghe. Thế nhưng, dù chẳng có
ai muốn nghe, tôi cũng cứ nói - tôi không thể làm khác hơn!
Phú
quý ngũ canh xuân mộng,
Công
danh nhất phiến phù vân.
Nhãn
tiền cốt nhục dĩ phi chân,
Ân
ái phản thành cừu hận.
Mạc
bả kim già sáo cảnh,
Hưu
tương ngọc tỏa triền thân.
Khoái
lạc phong quang bổn phần.
Nghĩa
là:
Phú
quý: giấc mộng xuân ngắn ngủi,
Công
danh: áng mây nổi mong manh.
Trước
mắt cốt nhục đà không thật,
Yêu
thương chốc cũng hóa hận thù.
Thôi
đừng lấy "gông" vàng đeo cổ,
Cũng
chớ đem "xích" ngọc trói mình,
Hãy
lóng tâm, dứt dục, thoát trần,
Vui
thú cùng "bổn địa phong quang".
(Giảng
tại Viện Dịch Kinh Quốc Tế, ngày 02 tháng 01 năm 1994)
Nguồn:
Viện Dịch Kinh Quốc Tế