Xã
hội Việt Nam của ngày hôm nay đã có nhiều thay đổi. Trong
chiều hướng tích cực và lạc quan thì song hành cũng nảy
sinh xu hướng phân hóa xã hội và những hệ quả tiêu cực
từ sự phân hóa này.
Đứng
trước thách đố của sức ép phát triển kinh tế và xã hội,
đứng trước cả thành tựu và khiếm khuyết của sự phát
triển đó, ta không thể không góp tay tìm ra giải pháp khả
thủ nào đó để làm tăng trưởng mặt tốt của phát triển
và giảm thiểu sai sót, tội phạm và thói tranh đoạt bất
cận nhân tính.
Trong
nhiều mặt của sự tìm tòi đó, tôi cho rằng giáo thuyết
và thực hành của Phật giáo đóng một vai trò rất thực
tế, nếu như không muốn nói giáo thuyết Phật đà là phương
thuốc thần diệu để chữa trị căn bệnh nơi tâm trí của
con người.
Vâng,
nói về con người ngày nay, người ta có thể liệt kê hàng
loạt mặt ưu trội của nó, song cũng lại nhận ra khá nhiều
khía cạnh mà cứ tưởng bằng sự trưởng thành rất cao về
tri thức, con người ngày nay không bao giờ biểu lộ một cách
tiêu cực nữa. Nhưng thật đáng tiếc, sự tăng trưởng tri
thức và mức sống không phải là phương thuốc màu nhiệm
hoàn bị để làm cho người ta thẳng tiến đến sự hài hòa
của xã hội. Sự đồng thuận xã hội do thiếu vắng cơ sở
đạo đức vì vậy trở nên bấp bênh và xã hội không thể
nào ổn định thật sự. Một sự ổn định thật sự là
thế nào? Tôi cho rằng sự ổn định đó cần dựa trên sự
giao cắt của chính trị và đạo đức, không thể có một
sự ổn định từ trong lòng xã hội nếu chính trị và đạo
đức là hai đường song song theo đuổi hai mục tiêu khác nhau:
quyền lực và sự hài hòa. Cần làm cho quyền lực và đạo
đức thực hiện một sự giao cắt để từ điểm giao nhau
ấy mà giải quyết các vấn đề của xã hội một cách triệt
để. Đáng lưu ý không có một thứ đạo đức tĩnh trong
môi trường xã hội biến động liên tục như hiện nay, nhưng
giá trị tự thân của đạo đức thì xã hội nào cũng muốn
vươn tới. Đạo đức đưa con người đến hạnh phúc, đó
là Phật giáo chứng minh. Vậy hạnh phúc sẽ chỉ tồn tại
khi mà con người ngày nay phải đi đến qua ngả đạo đức,
không có điều ngược lại. Không còn là một giả tưởng,
một ước vọng xa vời và phi lí tính nữa, đạo đức giờ
đây phải được xây dựng trên căn bản trí tuệ và sự
tăng trưởng vật chất.
Nhân
nói đến trí tuệ, tôi thật sự chú ý đến cách tóm lược
về trí tuệ theo quan niệm của Phật giáo được đại đức
người Anh, Andrew Skilton (pháp danh Dharmacari Sthiramati), đã nêu
trong cuốn A concise history of Buddhism (Đại cương lịch sử
Phật giáo) do Tì kheo Thiện Minh chuyển dịch(1):
"Cách
phân biệt giữa các mức độ hiểu biết, mức độ trí tuệ
này, được nhìn nhận đầy đủ nơi truyền thống Phật giáo,
và được triển khai như một cuộc tiến lên dần thông qua
ba bậc trí tuệ, hay prajủ. Trước hết có bậc śrutamayỵ
prajủ, là sự hiểu biết bằng việc lắng nghe, sruta. Đây
là loại hiểu biết ta có được sau khi nghe giảng giải bằng
lời, hay đọc trong sách. Đây là loại hiểu biết hời hợt
nhất mà chúng ta có thể có. Đây là giai đoạn hiểu biết
mà chúng ta chấp nhận sự vật dựa trên sự tin tưởng vào
lời nói của một người khác.
Mức
độ hiểu biết thứ hai (cintamayỵ prajủ) là trí tuệ hay
hiểu biết nhờ suy tư (cint), sự sáng suốt mà người ta tạo
cho bản thân mình thông qua việc suy niệm liên tục về một
đề tài đặc biệt nào. Cần nhớ rằng ba bậc tri thức tạo
thành một thang hiểu biết lên dần, có nghĩa là truyền thống
Phật giáo coi sự hiểu biết bằng suy tư thì cao hơn sự hiểu
biết nhờ nghe một người khác hay đọc một cuốn sách (điều
này gợi ý rằng "đức tin" hiểu theo nghĩa tin tưởng chấp
nhận thụ động một chân lí là điều xa lạ đối với quan
điểm Phật giáo, và khi chúng ta gặp từ "đức tin" trong một
văn mạch Phật giáo, chúng ta phải hiểu nó theo một nghĩa
khác với nghĩa chúng ta thường hiểu trong bối cảnh thần
học).
Mức
độ hiểu biết thứ ba (bhvanmayỵ prajủ) là trí tuệ hay sự
hiểu biết được phát huy nhờ tham thiền (bhvan), dịch sát
chữ là "làm cho trở thành". Mức hiểu biết này là sự đồng
hóa hoàn toàn một tập hợp các ý tưởng để nó thấm sâu
vào một con người. Đây là loại hiểu biết sâu nhất mà
ta có thể có - một sự hiểu biết không chỉ về một sự
vật ta được nghe, cũng không phải chỉ là một tư tưởng
có trong đầu óc ta, mà là đưa sự vật hoàn toàn vào trong
cái tâm của ta, khiến cho mỗi suy nghĩ, hành động, hay tri
giác đều luôn luôn được thấm nhuần sự hiểu biết mới
của mình. Hơn nữa, bậc hiểu biết cao nhất này chỉ có
thể đạt được nhờ tích cực tu luyện hành thiền mà thôi".
Để
đối mặt với nội tâm của chính mình, ta cần phải có trí
tuệ, mà trí tuệ là ở nơi mỗi con người. Nhưng với đối
tác xã hội thì lại phải tuân thủ một chuẩn mực khác.
Chuẩn mực đó sẽ tương tác với trí tuệ của từng cá
nhân theo tiêu chí trên để tạo nên sự cân bằng từ mỗi
con người và đối tác xã hội ấy. Vậy chuẩn mực đó là
gì? Đó, theo tôi, là sự hòa ái mà con người hiện đại
có thể cần phải học hỏi và vận dụng trong đời sống
của người ấy. Dù đã trưởng thành khá ngoạn mục trong
thể chế dân chủ, trong một nền kinh tế năng động và đa
dạng, trong tri thức khoa học khiến con người có cảm tưởng
đã làm chủ được thế giới, nhưng thực tế, hơn bao giờ
hết, con người hiện đại cũng bị chia cắt một cách sâu
sắc nhất, đến mức nó rất khó khăn để thiết lập một
sự truyền thông (ý dùng của thầy Nhất Hạnh) giữa con người
với nhau, giữa các thế hệ và ở mức rộng hơn là giữa
các dân tộc và quốc gia. Vẫn còn đó sự bất bình đẳng,
sự bất công như thủa nào, mặc dầu người ta có thể tụng
đi tụng lại bài ca bình đẳng, bác ái và công lí. Nói một
cách chuyên Phật giáo, tam độc (tham, sân và si) nơi con người
vẫn đang thật sự giày vò và gặm nhấm con người như một
thực thể hiện hữu. Phải chăng không còn thuốc nào hữu
hiệu để chẩn trị căn bệnh cố hữu nơi con người? Người
ta bảo rằng có luật pháp tốt, có một nền chính trị công
khai và nền tài chính minh bạch thì sẽ làm giảm đi sự dối
trá, bất công và tội ác. Nhưng dẫu sao thì đó vẫn là những
tác nhân ngoài ta, không phải trong ta. Tác nhân trong ta phải
là một điều gì đó vượt ra khỏi khuôn khổ của lợi hại,
giận hờn và ích kỉ. Tôi nghĩ rằng cần học hỏi ở nơi
Phật giáo về chủ đích xây dựng tác nhân trong ta một cách
hữu hiệu, trước hết là sự hòa ái.
Sự
hòa ái mà Phật giáo quan niệm và đem áp dụng trước hết
là trong đời sống tu tập của tăng già. Đó là tư tưởng
"lục hòa". Lục hòa (the six points of harmony or unity in a monastery
or convent), nếu viết đầy đủ là "lục hòa kính", bao gồm:
(1)
Thân hòa đồng trụ (bodily unity in form of worship) (cùng là nhà
tu hành, cùng thờ Phật nên các sư tương kính nhau);
(2)
Khẩu hòa vô tranh (oral unity in chanting) (cùng học và thi hành
giáo pháp của Đức Phật nên các sư nói hòa kính nhau);
(3)
ý hòa đồng duyệt (mental unity in faith) (các sư chung một tôn
chỉ là giải thoát nên ý là một);
(4)
Giới hòa đồng tu (moral unity in observing the commandments) (các
sư cùng tu chung với nhau theo giới luật nên không có sự khác
biệt);
(5)
Kiến hòa đồng giải (doctrinal unity in views and explainations)
(các sư cùng một cách nhìn về thế giới và con người);
(6)
Lợi hòa đồng quân (economic unity in community of goods, deeds,
studies or charity) (được cúng dường mọi thực phẩm và vật
dụng, các sư cùng nhau thụ nhận).
Sáu
điểm trong lục hòa gắn trực tiếp với tập thể tu sĩ,
song có thể nói đến cả sáu điểm cùng đều có tính xã
hội cao. "Thân", "Khẩu", "ý" là ba phạm trù tối quan trọng
không riêng của cá nhân nào, dù là tu sĩ hay không. Dĩ nhiên,
người tu sĩ Phật giáo phải nghiêm cẩn học và thực hành
giữ gìn theo giáo pháp. Nhưng người ngoài cũng có thể áp
dụng. Có một ai nằm ngoài ba nghiệp đó? Đặc biệt là ý
nghiệp? Nhận thấy rằng mọi sự khởi đi từ ý, vì từ
ý mà thân, khẩu sẽ hành hoạt theo, nên đặc biệt phải
coi chừng ý. Thực vậy, trước hết là từ ý con người mà
người ấy có thể được hướng đến hành vi tốt hay ngược
lại. Không khởi lên ý xấu là cái căn bản nhất trong sự
làm chủ hành vi, điều chỉnh hành vi. Thực ra, cũng có điểm
khác biệt giữa một tập thể tu sĩ với xã hội rộng lớn,
nhất là tập thể tu sĩ đó tu tập trên cơ sở buông xả
mọi thứ tài sản và thoát khỏi hệ lụy gia đình. Con người
nằm ngoài tập thể tu sĩ Phật giáo không thể như vậy. Tuy
nhiên, chỗ gặp gỡ nhau giữa hai tầng lớp chính là ở chỗ
Phật giáo không chỉ khuyến khích một sự xuất gia hoàn toàn,
mà còn khuyến khích con người bình thường đi đến chỗ
giải thoát ngay trong hiện thế, trong thực tại sống và có
thể nói ngay trong sự hỗn độn của xã hội.
Nếu
đem lục hòa của tập thể tu sĩ Phật giáo gia nhập hành
vi xã hội thì liệu có khả thi và khả dụng? Đây là một
câu hỏi lớn mà theo cá nhân, tôi cho rằng có khả năng xây
đắp cái trong ta một cách hữu hiệu. Nhường nhịn, nhẫn
nại, khiêm cung và từ bi luôn luôn là các yếu tố cơ bản
của xây dựng cái trong ta trên nền của trí tuệ bát nhã.
Như tinh thần của kinh Kim Cương chỉ rõ: tất cả chứa trong
một, thấy một cũng là thấy tất cả, thì cái trong ta đang
nói ở đây sẽ không chống trái với dân chủ, công khai và
minh bạch. Đối tác xã hội sẽ luôn thấy lợi ích khi thực
hiện lục hòa bởi người ta không còn lo lắng cho riêng mình,
kiếm lợi cho riêng mình và rốt cuộc là một sự liên thông
trách nhiệm, bổn phận và lòng thương người. Đó là tất
cả trong một và thấy một sẽ thấy tất cả. Tư tưởng
Kim Cương vừa nói là hết sức phù hợp trong điều kiện
của con người ngày nay. Của cải dồi dào, phương tiện đầy
đủ, không còn bất công và đói nghèo sẽ thật sự không
và chưa chứng tỏ tác dụng khi vẫn nằm ngoài ta. Vì có thể
có tất cả song không có hạnh phúc thật sự. Xác lập một
sự cân bằng giữa xã hội và cá nhân thì chính đó là hạnh
phúc số đông trên nền hạnh phúc cá nhân. Nhưng hạnh phúc
nào cũng không thể xây dựng trên lòng ích kỉ và bất nhẫn
nên lục hòa phải trở thành cốt lõi cho tiến trình xây dựng
hạnh phúc.
Mục
đích của lục hòa là xây dựng cái "đồng" trên và chiếu
theo từng cá thể tu sĩ. Nhưng xã hội cũng cần học hỏi
lòng từ bi và lòng nhẫn của Phật giáo. Trái với dư luận
thông thường thường cho Phật giáo là sự trốn tránh thực
tại, yếm thế trước ba động chộn rộn của xã hội, Phật
giáo lại khuyến khích con người "lội ngược dòng sông" như
đã từng ví von để chỉ sự quyết tâm đi ngược với thói
thường. Chính vì thế nó có giáo thuyết "vô úy" (không biết/thấy
sợ) khi đã rõ con đường đi. Bát chính đạo là con đường
duy nhất để biết khổ và thoát khổ, là Niết Bàn ngay nơi
hiện thế, không phải chờ đợi đâu xa. Đã thấy là đúng
thì "tự mình thắp đuốc lên mà đi, có đi sẽ có đến",
không nản lòng sờn chí. Bài học đó đâu chỉ dành cho tu
sĩ, mà cho tất cả những ai theo đuổi mục tiêu giải thoát
toàn thể. Giải thoát không có nghĩa là trốn chạy, mà là
đi tìm ý nghĩa đích thực của cuộc sống, tức là hạnh
phúc vượt qua bờ bên kia (đáo bỉ ngạn) của bờ mê. Vô
minh đứng đầu trong nguyên nhân gây ra khổ thì chính tư duy
đứng đầu trong bát chính đạo. Hãy bắt đầu bằng chân
chính cái suy tư thì hành động cũng sẽ chân chính, thân mình
cũng ngay ngắn và vòng xoay không ngừng nghỉ đó sẽ là động
lực để con người trở nên hoàn toàn viên mãn.
Dẫu
được trình bày thế nào, dù đơn giản hay phức tạp, thì
Phật giáo chỉ có một mục tiêu duy nhất là xây dựng một
xã hội hài hòa và cân bằng trong nỗ lực giải thoát. Vì
thế nó chủ trương bất bạo động trong mọi hoàn cảnh.
Nó cũng chủ trương không chấp trước, nghiêng về bên nào
trong hai cực sướng khổ. Tư tưởng về "lục hòa" là một
trong những cách thức xây dựng cuộc sống tự tại, an nhiên,
giải tỏa sức ép mà con người giờ đây phải gánh chịu
trong xã hội hiện đại. Ta giờ đây đã có điều kiện để
nhìn nhận rõ hơn những cái gì đã có và những cái gì đã
mất do chính con người tạo ra. Nhưng ta cũng sẽ không quá
ngây thơ mà cho rằng Phật giáo là phương thuốc duy nhất
để chữa trị tâm bệnh con người. Phật giáo chỉ làm cái
đã làm hơn hai nghìn năm qua là hướng con người đến với
điều bản chất nhất của con người, quay trở về chính
con người (bản lai diện mục) mà không trông chờ vào phép
màu từ ngoài/trên đưa lại. Lục hòa là nhằm đến điều
đó, xã hội cũng là nhằm đến điều đó và ta có quyền
tin vào những gì tốt lành nhất mà tư tưởng này đem lại.
Phật
giáo đã du nhập khoảng hai nghìn năm ở Việt Nam. Kinh nghiệm
lịch sử cho thấy đây là một tôn giáo đem lại lợi ích
thực sự cho dân tộc và quốc gia, được trao truyền qua nhiều
thế hệ của nhiều tộc người ở Việt Nam, chịu thử thách
và sàng lọc khắc nghiệt của thời gian. Đến thế kỉ XX,
cùng với trào lưu kháng chiến và kiến quốc, Phật giáo Việt
Nam - nơi hợp thành của mọi hệ phái Theravada, Đại thừa,
Mật thừa - đã tỏ rõ là một tôn giáo với giáo thuyết
khả thủ để xây dựng hòa hợp và đồng thuận trong xã
hội. Nhìn từ một khía cạnh nhỏ của giáo thuyết này như
bài này đã làm chưa nói hết được sự đóng góp đã có
của Phật giáo Việt Nam, nhưng tôi tin rằng dù được ngợi
ca hay không, hiện tại, Phật giáo đã và sẽ thích hợp với
một xã hội Việt Nam đang chuyển đổi cho phù hợp với xu
thế chung của nhân loại./.
Nguyễn
Quốc Tuấn(*)
*.
TS., Viện Nghiên cứu Tôn giáo.
1.
Tên của bản dịch là Đại cương lịch sử Phật giáo thế
giới, tôi trích xuất và dẫn lại từ website Thích Quảng
Đức, trang điện tử do các nhà sư ở hải ngoại chủ trương.
Nguồn:
Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo (Số 1(37)/2006)