CHƯƠNG
VII
HÌNH
THỨC LUÂN HỒI VÀ DUYÊN KHỞI LUẬN
1-
LỜI TỰA.
Tướng
trạng luân hồi được trình ở trên là quá trình lấy hiện
thế làm điểm xuất phát, để cho tiện lợi, tuy tự nó có
thể thành một tổ chức, nhưng Phật giáo đặt ra quá trình
đó vào một hình thái nhất định mà muốn thuyết minh giáo
điều phương thức như thế nào? Để đáp ứng yêu cầu này,
bất luận Nam truyền hay Bắc truyền, mãi đến A-tỳ-đạt-ma,
đều ứng dụng thuyết Mười hai nhân duyên (1). Chiếu theo
Nam truyền chỉ trong sáu bộ A-tỳ-đạt-ma, sự thuyết minh
về duyên khởi vẫn chưa thấy hiển nhiên, mãi đến thời
đại Phật Âm, trong thuyết 12 nhân duyên, một mặt thừa nhận
có nói rõ ý nghĩa luân hồi, mặt khác, trở xuống A-tỳ-đạt-ma
pháp yếu luận, tuyên bố thành lập thuyết Tam thế lưỡng
trùng. Lại chiếu theo Bắc truyền, mãi đến Phát Trí – Bà
sa về sau (Phát trí, quyển 1, Đại chính, 6, trang 921, trung;
Bà sa, quyển 23 – 26), giáo lý 12 nhân duyên chủ yếu là thuyết
minh tướng trạng luân hồi. Trong chương trước, tuy tôi đã
nói vể tướng trạng luân hồi, nhưng để thuyết minh về
pháp tướng của A-tỳ-đạt-ma theo hình thức 12 nhân duyên,
ở đây, tuy cũng không có gì sai khác, nhưng cần phải kết
hợp thành một đề mục luận cứu một lần nữa.
(1)
Những sách tham khảo luận 12 nhân duyên của Nam truyền, xem
Nyanatiloka Uberset-Jung des anguttara Nikaya vol. I, p, 177 (xem Pháp
hộ thứ ba) – và Compendium of Philosophy pp. 256 – 284.
2-
DUYÊN KHỞI LUẬN NHẤT BAN.
Duyên
khởi luận vốn là hiển bày căn bản của Phật giáo, cái
tiêu xí của sự bất đồng giữa tư tưởng Phật giáo và
tư tưởng của các học phái khái khác hoàn toàn là ở đó.
Duyên khởi (1), nếu nói một cách khái quát, là nghĩa do quan
hệ phát sinh. Tất cả mọi hiện tượng (nhất là hiện tượng
hữu tình) đều do những mối quan hệ hỗ tương mà được
thành lập, trừ pháp tắc quan hệ, không có một vật gì tuyệt
đối cả. Sự định nghĩa đơn giản của duyên khởi là:
“Cái này có nên cái kia có, vật này sinh nên vật kia sinh;
cái này không,vật này diệt thì vật kia diệt”. Tức dự
tưởng có cái này tất phải có cái kia, có pháp này sinh tất
phải có pháp khác sinh. Đó là ý nghĩa vạn pháp quan liên
tương hỗ mới có thể tồn tại. Ý nghĩa đó được mệnh
danh là duyên khởi, trong A-tỳ-đạt-ma (2) tuy có nhiều giải
thích khác nhau, nhưng trên đại thể, thì hầu như có hai cách
dùng.
(1)
Về tự nghĩa của Pratiyasamutpa da, xem Câu xá, quyển 9; Chính
lý, quyển 25 (Đại chính, 29, trang 481).
(2)
Câu xá, quyển 9; Bà sa, quyển 22 (Đại chính, 27, tr. 117, nói:
“Đợi duyên mà khởi nên gọi là duyên khởi. Đợi duyên
gì? – Nhân duyên. Cũng có thuyết bảo, có duyên mới có thể
giữ lấy, nên gọi là duyên khởi. Nghĩa là, có tính tướng
có thể theo duyên khởi, chẳng phải không tính tướng, chẳng
phải không thể khởi”. Lại về phương diện khác, cũng
có ba thuyết:
1-
(Kàranam) paticcn phalam eti etasmà ti paccayo (Compendium of philosophy
p, 259).
2-
Tassa padeaya-dhamMassa sti etasmà ti paccayo (Compendium of Phi p. 260
dẫn dụng Ceylon commentary).
3-
Visuddhimagga bảo duyên khởi dùng thuyết 24 duyên Bà sa, quyển
23, lấy thuyết 4 duyên làm duyên khởi.
1-
Những quan hệ trong khoảng hổ tương gọi là duyên khởi,
như duyên khởi quan “duyên thức có danh sắc, duyên danh sắc
có thức”. Tức là, sự tồn tại của thức dựa vào danh
sắc, sự tồn tại của danh sắc dựa vào thức, cái quan hệ
ý tồn đó gọi là duyên khởi. Do đó, duyên khởi ở thời
gian này trở thành cái “pháp tắc y tồn vào vật khác mà
sinh tồn”, ý nghĩa đó không phân biệt thời gian của duyên
khởi một cách chặt chẽ.
2-
Ý nghĩa thời gian tương đối giữa duyên khởi và duyên đã
sinh, trong Ni Kha Da đã nói qua sự khu biệt giữa hai loại này.
Duyên
khởi trong thời gian này là ở trong vật quan hệ tương đối,
chủ bộ của nó là chỉ vật đi trước; còn duyên đã sinh
thì chủ bộ của nó được quy định bởi vật đi trước
là khách bộ, hoặc chỉ vật hậu kiện. Nếu giải thích duyên
khởi theo nghĩa hẹp của nhân quả, thì nhân là duyên khởi,
mà quả là duyên đã sinh pháp. Theo ý nghĩa ấy, Phật
Âm, trong Thanh Tịnh Đạo luận, chương 17, giải thích về
Tuệ địa, đã thuyết minh định nghĩa của duyên khởi và
duyên-dĩ-sinh-pháp, như sau:
Duyên
khởi khởi là pháp làm duyên, duyên sinh là pháp do các duyên
sinh – Paticcasamuppàdo ti daccayadhammà Veditabha. Pati-ccasamuppàdo
dhamma ti tehi tehi paccayehi nibbattadhamma (p. 518).
Song
ở đây cần chú ý là, trong trường hợp thứ hai, tuy có khu
biệt duyên khởi và duyên dĩ tinh, nhưng quyết không phải
là khu biệt vật hay sự kiện, mà chủ yếu là theo cách nhận
xét (hoặc lập trường) mà có sự bất đồng. Do vậy, có
khi một sự kiện nào đó, nếu đứng ở một phương diện
mà nói tuy là duyên khởi, nhưng, ở một phương diện
khác, thì lại là duyên dĩ sinh. ngược lại, nếu khi duyên
sanh sắc có thức, thì danh sắc là duyên khởi, mà thức lại
là duyên dĩ sinh. Theo ý nghĩa ấy, Thế Hữu, trong Phẩm loại
túc luận, quyển 6 (Đại chính, 26, trang 715, cột dưới), nói:
“Thế nào là duyên khởi pháp? – Là tất cả các pháp hữu
vi. Thế nào là dĩ pháp? – Là tấc các pháp hữu vi” (1).
Lại
nữa, luận Bà sa, quyển 23 (Đại chính, 27, trang 118, cột trên),
đối với duyên khởi pháp và duyên dĩ sinh pháp cũng có nhiều
thuyết minh, xin biểu thị như sau:
(1)
Phẩm loại túc luận: “Vân hà duyên khởi pháp? - Vị nhất
thiết hữu vi pháp vân hà duyên dĩ pháp? - Vị nhất thiết
hữu vi pháp” (Bà sa, quyển 23, Đại chính, 27, trang 118, cột
trên, dẫn dụng).
Đặc
biệt về mười hai nhân duyên:
HIếp
Tôn Giả nói: vô minh duy chỉ gọi là duyên khởi pháp, lão
tử duy chỉ gọi là duyên dĩ pháp, còn mười chi giữa cũng
gọi là duyên khởi pháp, cũng gọi là duyên dĩ sinh pháp.
Diệu
Âm Tôn Giả, bảo: hai chi quá khứ chỉ gọi là duyên khởi
pháp, hai chi vị lai chỉ gọi là duyên dĩ sinh pháp, còn tám
chi hiện tại cũng gọi là duyên khởi pháp, cũng gọi là duyên
dĩ sinh pháp.
Vọng
Mãn Tôn giả, nói: có duyên khởi pháp, chẳng phải duyên dĩ
sinh pháp, nghĩa là, vị lai pháp có duyên dĩ sinh pháp, chẳng
phải duyên khởi pháp, quá khứ, hiện tại, A-la-hán, tối
hậu ngũ uẩn cũng có duyên khởi pháp và duyên dĩ sinh pháp,
trừ quá khứ, hiện tại, A-la-hán, tối hậu ngũ uẩn, còn
tất cả pháp quá khứ, hiện tại khác, chẳng có duyên khởi
pháp chẳng phải duyên dĩ sinh pháp, tức là vô vi pháp.
Thế
Hữu Tôn Giả thì bảo:
Duyên
khởi : nhân
: hòa hợp
--------------------------------------------------------
Duyên
dĩ sinh : hữu nhân : hữu hòa hợp
Sinh
: khởi
: năng tác
--------------------------------------------------------
hữu
sinh : hữu khởi :
hữu năng tác
Đại
Đức thì nói: chuyển gọi là duyên khởi pháp, tùy chuyển
gọi là duyên dĩ sinh pháp. Giác Thiên tôn giả bảo: khi các
pháp sinh gọi là duyên khởi pháp, các pháp sinh rồi gọi là
duyên dĩ sinh pháp. Tập dị môn túc luận và Pháp uẩn túc
luận đều cho rằng: Nếu vô minh sinh hành mà quyết định,
an trụ, không tạp loạn, thì gọi là duyên dĩ sinh pháp; nếu
vô minh sinh hành không quyết định, không an trụ mà tạp loạn,
thì gọi là duyên dĩ sinh pháp chứ không phải là duyên khởi
pháp.
3-
CÁC LOẠI DUYÊN KHỞI THẾ HỆ.
Trở
lên là luận vể Duyên khởi quan nhất ban. Nhưng một khi khảo
sát về Duyên khởi quan, do những lập trường quan sát khác
nhau mà cũng phát sinh nhiều loại Duyên khởi quan: đó là lẽ
tự nhiên. Tại sao vậy? Vì, nếu giải thích duyên khởi là
nghĩa quan hệ thì cái đó có thể được phân tích và khảo
sát theo lập trường khác nhau.
Chiếu
theo Ni Kha Da, cái hình thái duyên khởi hệ được chỉnh lý
hoàn bị nhất, dĩ nhiên, phải kể đến cái gọi là Mười
hai chi – 12 nhân duyên. Ngoài ra có nhiều thuyết Tiểu duyên
khởi, chính cũng do đó mà ra. Gần đây, ông Xích Chiếu Trí
Thiện (1) đã không quản ngại đem nhiều thuyết liệt kê
duyên khởi được hcép trong các kinh để suy cứu mối quan
hệ của chúng. Song, thật ra, tất cả thuyết đó đã được,
các luận sư A-tỳ-đạt-ma thuở xưa luận cứu đến rồi.
và điều này tôi đã có nói qua trong cuốn Nguyên Thủy Phật
Giáo Tư tưởng Luận, Bà sa, quyển 24, đối với thuyết duyên
khởi, đã bắt đầu từ thuyết Một duyên, rồi lần lượt
đến thuyết Mười hai nhân duyên liệt kê như sau:
(1)
Tôn giáo nghiên cứu, quyển 2, số 4, có đăng tải sự giải
thích truyền thống về lý nhân duyên.
Một
duyên khởi (hết thảy các pháphữu vi).
Hai
duyên khởi (nhân và quả).
Ba
duyên khởi (tam thế, hay hoặc, nghiệp, sự).
Bốn
duyên khởi (vo minh, hành, sinh, lão tử).
Năm
duyên khởi (ái, thủ, hữu, sinh, lão tử).
Sáu
duyên khởi (trong ba đời đều có nhân quả).
Bảy
duyên khởi (vô minh, hành, thức, danh sắc, lụac xứ, xúc,
thụ).
Tám
duyên khởi (thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thụ, ái, thủ,
hữu).
Chín
duyên khởi (từ trong 12 chi, trừ vô minh, hành, lục xứ, như
kinh Đại Nhân Duyên Pháp Môn).
Mười
duyên khởi (như Thành Dụ kinh, thiếu vô minh, hành).
Mười
một duyên khởi (trừ vô minh, còn có 11 chi khác, như trong
Tri Sự đã nói).
(Bà
sa, quyển 24, Đại chính, 27, trang 122, thượng; Chính lý, quyển
25, Đại chính, 29, trang 480, cột dưới).
Nếu
lại chiếu theo luận bộ Nam phương, thì, Phật Âm, trong Thanh
Tịnh Đạo luận, bảo Phật nói có bốn thứ duyên khởi:
1- Thuyết duyên khởi hoàn toàn từ đầu đến cuối, tức
là vô minh đến lão tử. 2- Duyên khởi nói bắt đầu từ
giữa đến cuối (tức bắt đầu từ thụ). 3- Duyên khởi
từ cuối (lão tử) trở lại đến đầu. 4- Duyên khởi đầu
từ giữa đến đầu (từ thực ái, thụ, xúc, lục nhập,
danh sắc, hành, vô minh). (1).
(1)
adito và majjhto patthaya yavapariyosanam tatha pariyosanato va patthàya”
ỳava adi ti catubhidhàpaticca samuppadadedesana Visuddhamagga, XVII,
p, 523.
Thêm
nữa, cũng theo Phật Âm, Phật bảo bắt đầu của duyên khởi
theo hai lập trường: 1- từ vô minh; 2- từ hữu ái. Thanh Tịnh
Đạo luận trích dẫn:
Này
các Tỷ khưu! Cái gì trước vô minh không thể biết; trước
vô minh không có vô minh, từ vô minh có vật phát sinh sau. Các
Tỷ khưu! Như thế thì biết vô minh cũng là tính tương y (Vism,
p. 525).
Về
hữu ái cũng có những câu văn hệt như những câu văn trên
đây mà người xuất bản (Mrs. Rhys Davids) Thanh Tịnh Đạo
luận cũng đã chú đến (p. như trên, Footnote). Vể chỗ xuất
xứ thì tuy không được rõ, nhưng có điều chắc chắn là
những câu kinh văn trên đây ở vào thời đại Phật Âm. Nếu
lại phát xuất phát từ thức thì khởi thủy của Duyên khởi
quan có ba loại. Theo Phật Âm giải thích thì: “Lấy vô minh
làm đầu, trong luân hồi luận, là chỉ riêng đối với sự
xu hướng ác thú mà chỉ bày nguyên nhân đặc thù xu hướng
thiện thú” (như trên). Dù giải thích cách nào đi nữa thì
điểm then chốt vẫn là Duyên khởi quan có nhiều hình thái;
đó là một sự thật hiển nhiên.
Do
đó, vấn đề được đặt ra ở đây là: cái thể hệ Duyên
khởi này, dĩ nhiên là hình thức đã được chỉnh lý, tuy
nói Mười hai chi, nhưn gđó có thật là kết quả sau khi được
chỉnh lý không? Về vấn đề này, trong cuốn Nguyên Thủy
Phật Giáo Tư tưởng Luận, tôi đã luận cứu một cách tường
tế rồi, bởi thế, ở đây không cần đi sâu hơn nữa mà
chỉ đưa ra kết luận của vấn đề thôi. Đức Phật lúc
mới đầu, ngồi tư duy dưới gốc cây bồ đề thì chỉ chuyên
suy tưởng về quan hệ giữa khoảng từ lão tử đến thức,
sau có phát biểu ý nghĩa vô minh, hành được bao hàm trong
đó. Đến khi giáo điều của Phật dần dần được chỉnh
lý thì, cuối cùng đã quy kết đến mười hai chi.
4-
Ý NGHĨA 12 NHÂN DUYÊN CỦA PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY.
Chi
số của duyên khởi tuy có nhiều, nhưng quy kết lại thì có
12 chi. Song một vấn đề rất lớn là ý nghĩa của 12 nhân
duyên như thế nào? Theo truyền thuyết, Phật ngồi dưới cây
bồ đề quan sát lý duyên khởi thuận và nghịch chiều (Lúc
đó, đức Thế Tôn, vào canh một, quan sát duyên khởi luận
và nghịch chiều (XVII, p. 519). Nhưng Ni Kha Da thuyết minh vấn
đề này rất đơn giản, nếu giải thích ý nghĩa đích xác
của nó khiến cho ai cũng hiểu thì điều đó thật vô cùng
khó khăn. Trong cuốn Nguyên Thủy Phật Giáo Tư tưởng Luận,
tôi đã dự tưởng sự giải thích phát đạt về sau, nhưng
ý nghĩa bao hàm trong Phật giáo nguyên thủy thì tôi đã thuyết
minh theo ba lập trường.
Thứ
nhất, chuyên tầm cầu mối quan hệ của tình hình hoạt động
hiện thực, nói rõ điều kiện kinh quá của lão tử. Điểm
này, chủ yếu dẫn xuất từ nghịch quan theo duyên khởi khảo
sát về sự kinh của tâm lý, suy định phần nào là đầu.
Thứ
hai, đối lại với thuyết trên, lấy quan hệ hoàn làm chủ,
mà chuyên lấy quan hệ tung làm chủ, từ kiến địa phát sinh,
thuyết minh tình hình quan liên của hoạt động nội tâm, chủ
yếu là sự giải thích theo thuận quan (anuloma desana, tôi gọi
là hoàn quan).
Thứ
ba, là thuyết minh theo kiến giải về tình hình luân hồi trong
tam thế. Thứ nhất khởi nguyên của Duyên khởi quan thuộc
Hoa nghiêm hay Bát nhã hệ; thứ hai là nguồn gốc của duyên
khởi quan thuộc Duy thức hệ; thứ ba là chủ trương của
Hữu-bộ; đó là nguyên tuyển của Tam thế Lưỡng Trùng Nhân
Quả. Đó là tôi dự tưởng ý nghĩa ấy mà đoán định như
thế.
Nhưng,
đến năm nay (Đại chính năm thứ 14), đối với sự giải
thích này, tôi sẽ theo hai phương diện để phát biểu kháng
nghị. Đó là ý kiến của Bác sĩ Vũ Tĩnh vế giải thích
truyền thống của 12 nhân duyên đăng trong tạp chí Tư Tưởng,
số ra tháng giêng, năm Đại chính, thứ 14 (thu vào Ấn Độ
Triết Học Nghiên Cứu, quyển 2), và sự giải thích truyền
thống về 12 nhân duyên của giáo sư Xích Chiểu đăng trong
tạp chí Nghiên Cứu Tôn Giáo, cùng số tháng giêng (Tôn Giáo
Nghiên Cứu Tạp chí, 2 – 1). Chủ trương của Bác sĩ Vũ Tĩnh
cho rằng ý nghĩa nguyên thủy của 12 nhân duyên chuyên lấy
vô minh, tức vô tri, làm điều kiện căn bản mà muốn nói
rõ cái chân tướng của đời người ở hiện tại, trong đó,
thêm sự giải thích ý nghĩa thời gian phát sinh, thật đã
xa hẳn cái nguyên ý của nó, nhất là tương đương với sự
giải thích theo lập trường thứ hai của tôi. Còn giáo sư
Xích chiểu thì, trái lại, cho rằng nguyên ý của 12 nhân duyên
vẫn là thuyết minh luân hồi luận của A-tỳ-đạt-ma, có
thể nói, đây là ý kiến trái với sự giải thích theo lập
trường thứ nhất và thứ hai của chính tôi. Sự giải thích
của cả hai ông trên văn hiến, có tính cách quá chi li quá
khảo chứng; khác hẳn với lập trường đại quan của tôi.
Tôi cho rằng cả hai đều đi đến cực đoan, rốt cục, không
thể nắm được cái chân ý của Phật giáo nguyên thủy. Trước
hết hãy nói về ý kiến của Vũ Tỉnh. Như tôi đã trình
bày, đứng về phương diện từ duyên khởi quan phát kiến
quá trình tâm lý mà nói, về điểm nói rõ chân tướng của
sự hoạt động hiện tại, tuy không có gì sai khác, nhưng
ông không nói rõ về quan hệ hoành và quan hệ tung mà, trong
giáo lý Phật giáo, là ý nghĩa rất trọng đại của phương
thức luân hồi. Đồng thời với sự thuyết minh quan hệ hiện
thực, khi thuyết minh sự phát sinh của sự vật, Phật giáo
cũng dùng danh từ duyên khởi. Nói mộ cách đơn giản, mắt
lấy sắc làm duyên để khởi nhãn thức là nói sự phát sinh
của nhãn thức, nếu đổi nó thành danh từ thì tức là duyên
khởi, thuyết minh duyên khởi, như danh từ biểu thị, là phát
sinh, bởi thế hàm ngụ ý nghĩa thời gian trong đó. Vả lại,
trong các luận thư đã phát đạt sau này, nhìn vào sự giải
thích 12 duyên khởi, cho dù đó không phải là ý nghĩa Tam Thế
Lưỡng Trùng, nhưng lấy hình thái gì để trong đó thừa nhận
sự phát sinh của thời gian, hay khai triển ý nghĩa thuận tự?
Nếu Bác sĩ Vũ Tỉnh quyết định như thế thì tất cả các
luận sư (trong đó có Phật Âm) đều đã hiểu lầm chân ý
của Phật. Huống nữa, nếu nhận xét theo một lập trường,
thì e rằng cách xử lý về duyên khởi của Bác sĩ Vũ Tỉnh
hạ thấp giá trị nhân sinh quan của Phật (những khuyết điển
của Vũ Tỉnh là: 1- Là bất khả tri luận; 2- Là tại sao có
12 duyên khởi của người mà không có 12 duyên khởi của Phật?
3- Cho vô minh chỉ là ác đức là không đúng. 4- Cuối cùng
trở thành chủ nghĩa thực chứng thuần nhiên). Tóm lại, sự
giải thích của Bác sĩ Vũ Tỉnh duy chỉ coi thuyết Tam thế
Lưỡng Trùng hay thuyết Nhị Thế Nhất Trùng là ý nghĩa đích
thực của Duyên khởi luận. Đối với mọi người, giải
thích ấy tuy có đưa ra phương pháp nhận xét cần thiết,
nhưng nếu nó theo thuật ngữ - chỉ đứng trên lập trường
tương hỗ duyên – thì đã quên mất ý nghĩa dị thục duyên
hay nghiệp duyên rồi, cho nên, rốt cục, đó chỉ là quan sát
phiến diện, chúng ta cần ghi nhận điểm này. thứ đến sự
giải thích của giáo sư Xích Chiểu. Sự giải thích này là
thuyết minh cách giải thích truyền thống của A-tỳ-đạt-ma,
bởi thế, nó cũng khế hợp ý nghĩa của Ni Kha Da. Theo một
ý nghĩa nào đó, chúng ta cũng có thể tán thành được. Nhưng,
điểm chúng ta không tán thành là, cách giải thích ấy duy
chỉ theo hệ lệ thời gian mà quyết định là luân hồi luận.
Nó đã không để ý đến quan hệ hoành, và, nếu đứng trên
lập trường của A-tỳ-đạt-ma mà nhận xét, thì cho dù có
đúng như thế đi nữa, nhưng quyết không nắm được toàn
ý nghĩa thực của Phật giáo nguyên thủy.
Như
vậy, nhận xét theo ba điểm quan hệ hỗ tương, quan hệ khai
triển, và quan hệ dị thục cho đến nay tôi vẫn tin rằng
sự giải thích của tôi gần với chân ý của Phật giáo nguyên
thủy. Đương nhiên, các giải thích thứ hai về phát triển
rất có thể gặp phải nhiều nghị luận bất đồng, chính
tôi cũng đã dự liệu điều đó, nhưng, nếu suy cứu ra thì
tư tưởng duyên khởi tiến đến đây là sự tổng hợp của
duyên khởi hỗ tương thứ nhất và duyên dị thục thứ ba,
tuy thuyết minh có hơi quá, nhưng tôi nhận là trong đó có
diệu nghĩa của duyên khởi quan, dự tưởng tư tưởng Duy
thức mà lập thành giải thích đó; tôi tưởng độc giả
cũng hiểu như thế.
5-
DUYÊN KHỞI QUAN CỦA A-TỲ-ĐẠT-MA.
Trở
lên, mới nói về bối cảnh duyên khởi quan của A-tỳ-đạt-ma,
nhưng đến A-tỳ-đạt-ma thì duyên khởi được giải thích
như thế nào? Vấn đề này, như đã thấy ở trên, duyên khởi
của Phật giáo nguyên thủy có nhiều cách giải thích, và,
để thích ứng, đến A-tỳ-đạt-ma cũng có nhiều thuyết
minh bất đồng. Nếu nói một cách tổng quát về đặc sắc
của đôi bên thì, Phật giáo nguyên thủy đặt nặng ở phương
diện nghịch quan, đến A-tỳ-đạt-ma thì lại lấy thuận
quan làm chủ, còn nghịch quan, trái lại, chỉ chiếm địa
vị khách mà thôi. Mà theo sự quan sát thuận quan, cũng lấy
luận lý hay phát sinh làm chủ. Trong khi Phật giáo nguyên thủy
thuyết 12 chi cũng có, mà thuyết 9 chi, 10 chi cũng có. Đến
A-tỳ-đạt-ma thì hiển nhiên lấy 12 chi làm thông tắc duyên
khởi, còn thuyết 9 chi, 10 chi thì được coi là tỉnh lược
của thuyết 12 chi; đó là một đặc trưng lớn (về quan hệ
10 chi, 12 chi xem Bà sa, quyển 24, Đại chính, 27, trang 124, thượng,
và Visuddhimagga, chap. 17). Tóm lại, vấn đề duyên khởi quan
của A-tỳ-đạt-ma, xuất phát từ vô minh đến lão tử, trong
12 đoạn ấy, nên cách giải thích như thế nào? Có thể nói,
12 chi thuận quan là nguồn gốc phát sinh sự giải thích của
A-tỳ-đạt-ma, điều này tuy có vẻ hơi chi tiết nhưng cần
phải đặc biệt chú ý.
Nhưvậy,
đối với duyên khởi, các bậc A-tỳ-đạt-ma luận sư giải
thích như thế nào? Vấn đề này tùy theo thời kỳ và các
luận thư mà có ít nhiểu bất đồng. Nhưng nếu nói một
cách khái quát thì dùng 12 duyên khởi để thuyết minh quan
hệ sinh khởi dồng thời tồn tại, của tâm lý, luân lý và
vận mệnh, trong đó, quá khứ, hiện tại, vị lai, đặc biệt
muốn lấy hiện tại quy định vấn để luân hồi vị lai,
không thuyết minh một cách quá nghiêm khắc về sự liên lạc
giữa các chi: đó là một đặc trưng lớn trong sự kết cấu
của các luận thư ở thời kỳ đầu. Từ đó, dần dần trọng
về phương diện quan hễ dị thời (luân hồi luận), còn về
phương diện đồng thời tồn tại thì, trái lại, chỉ được
giải thích một cách thứ yếu là sự kết cấu của các luận
thư A-tỳ-đạt-ma thuộc thời kỳ sau. Như Pháp Uẩn Túc Luận
(quyển 11, phẩm Duyên khởi, Đại chính, 26, trang 505, thượng),
Xá-lợi-phất-a-tỳ-đàm luận (quyển 12, Duyên phẩm, Đại
chính, 28, trang 606, trung – Tỳ-bà-băng-già (p. 135), đại khái
đều là phương pháp thuyết minh đại biểu cho thời kỳ đầu.
Đối lại, về luận bộ Bắc phương, thì như Phát trí luận,
Đại tỳ bà sa luận, Câu xá, luận; và về luận bộ Nam phương
thì như Thanh Tịnh Đạo luận (chương 17), A-tỳ-đạt-ma pháp
yếu luận (chương 8) v.v… là đại biểu cho phương pháp thuyết
minh thuộc thời kỳ sau.
6-
SỰ GIẢI THÍCH VỀ 12 NHÂN DUYÊN CỦA A-TỲ-ĐẠT-MA THỜI ĐẦU.
Bây
giờ, trước hãy nhận xét đại cương của thời kỳ đầu.
Trong Duyên khởi của A-tỳ-đạt-ma luận, thì như Tỳ-bà-băng-già
(1) đại khái là đại biểu cho thời kỳ rất sớm. Nhưng
bản văn trong Tỳ-bà-băng-già quá giản yếu, những chi tiết
không được biết, nên ở đây không bàn đến mà chỉ nói
đến Xá-lợi-phất-a-tỳ-đàm luận và Pháp Uẩn Túc Luận
được nhận là có liên lạc mật thiết với Tỳ-bà-băng-già.
Những luận này xử lý mỗi chi duyên khởi thủy chung vẫn
coi đó là tình hình có liên quan đến hoạt động sinh lý
và tâm lý hiện thực, lấy đó làm cơ bản, như đã nói ở
trên, muốn thuyết minh mối quan hệ giữa đồng thời tồn
tại và dị thời nhân quả. Giả sử do vô minh mà có hành
thì làm thế nào để nhận xét được vô minh? Trước đưa
ra định nghĩa vô minh có nghĩa là vô tri, do vô tri (2) này
mà tạo khởi phúc nghiệp, phi phúc nghiệp và bất động nghiệp.
Vô minh hiện tại khởi ba nghiệp hiện tại thành ra vô minh
duyên hiện tại thành (Xá-lợi-phất-a-tỳ-đàm luận văn).
Lại do bất thiện hành; chết đọa địa ngục, thiện hành
sinh cõi trời, bất động hành sinh cõi Vô sắc, tức vô minh
duyên với hành hiện thế, lại thêm duyên hành vị lai, trải
qua hiện tại,vị lai để nói rõ trạng thái duyên của vô
minh. Đến ý nghĩa hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh
sắc duyên lục xứ thì cũng qua hiện tại và vị lai như trên.
Pháp Uẩn Túc Luận và Xá-lợi-phất-a-tỳ-đàm luận đại
khái cũng nhất trí. Trở xuống, các chi từ lục nhập, xúc,
thụ, ái, thủ và hữu chỉ thuyết minh ở hiện tại mà không
đề cập đến vị lai. Lại từ hữu (3) đến sinh thì bất
luận là Tỳ-bà-băng-già (4), Xá-lợi-phất-a-tỳ-đàm luận
hay Pháp Uẩn Túc Luận đều coi nó như sự tương tục sau
khi chết, không chó là quan hệ hiện tại, về điểmnày, cả
ba bộ luận đại lược cũng nhất trí.Nếu đem lập thành
đồ biểu một cách đơn giản thì 12 duyên khởi quan của
Xá-lợi-phất-a-tỳ-đàm luận, của Pháp Uẩn Túc Luận (trong
đó, bao hàm Tỳ-bà-băng-già) sẽ là:
Tương quan hiện hiện
Vô
minh – hành
Tương quan hiện vị
Tương quan hiện hiện
Hành
- thức
Tương quan hiện vị
Tưong quan hiện hiện
Danh
sắc - lục nhập
Tương quan hiện vị
Lục
nhập – Xúc - Thụ - Ái - Thủ
Hữu
……. Tương quan hiện hiện
Hữu
– Sinh ……tương quan hiện vị
Sinh
– Lão tữ
Tức
là đem quan hệ tung và quan hệ hoành giao thoa với nhau làm
thành ý nghĩa 12 duyên khởi: đó là kiến giải của A-tỳ-đạt-ma
luận thư ở thời kỳ này.
(1)
Vibhanga theo ba chủ lập cước của hetu, sampayutta, sanamnann
mà với duyên khởi – p, 135f.
(2)
Vô minh, Xá-lợi-phất-a-tỳ-đàm luận giải thích là bất
thiện căn si (Đại chính, 28, trang 605, trung). Pháp Uẩn Túc
Luận đưa ra nhiều sự hạng để giải thích và tri một cách
rất tường tế, như: tiền tế vô tri, hậu tế vô tri, vô
tri đối với Phật, Pháp, Tăng, Tứ Đế, nhân quả v.v… (quyển
11 Đại chính, 26, tr. 595, hạ). Tỳ-bà-băng-già giải thích
về Tứ đế có vô tri (Vibhanga p, 135).
(3)
Pháp Uẩn Túc Luận, quyển 12 (Đại chính, 26, trang 509, trung)
Xá-lợi-phất-a-tỳ-đàm luận, quyển 12 (Đại chính, 28, trang
610, hạ).
(4)
Vibhaga p, 137 nói là: Tattba takamù bhavapaccaya jati? Ya tesam sayttanam
tamhi sattanikyejati sanjati okkapti abhinibhatti khandhnam pàtubhavo
ayatanànam patilàbho: ayam vuccati bhavapaccya jàti (XII). Lại nữa,
Xá-lợi-phất-a-tỳ-đàm luận, quyển 12 (Đại chính, 28, trang
612, thượng) nói “Tại sao có duyên sinh? Nếu các chúng sinh,
trong những loại chúng sinh, trọng sinh, thụ thai, xuất thai,
đắc sinh, các ấm đầy đủ, chúng nhập hòa hợp, gọi là
sinh”. Trong Pháp Uẩn Túc Luận (Đại chính, 29, tr. 512,
hạ) còn nói rõ hơn về tướng trạng của nó.
7-
ĐẶC BIỆT VỀ HAI MƯƠI BỐN DUYÊN.
Theo
thuyết Hai mươi bốn duyên để muốn đứng trên tất cả
lập trường phức tạp mà thuyết minh Mười hai duyên khởi
là Thanh Tịnh Đạo luận của Phật Âm thuộc luận bộ Nam
phương, phần giải thích về tuệ địa trong chương 17. Đặc
trưng có Thanh Tịnh Đạo luận là lấy 24 duyên làm tiêu chuẩn
để nói rõ 12 chi có những tác dụng của duyên nào. Vì muốn
thấy mối quan hệ giữa chúng nên sợ có hơi phiền tỏa,
nhưng không thể không bắt đầu thuyết minh từ 24 duyên trước.
Hai bốn duyên là:
1-
Nhân duyên. Ở đây, chủ yếu chỉ ý nghĩ động cơ thiện,
ác, lấy tham, sân, si, vô tham, vô sân, vô si gạo là sáu nhân.
Đó là thuyết minh của A-tỳ-đạt-ma pháp yếu luận 3-4 (Compendium
of Philosophy, p. 113).
2-
Sở duyên duyên.
3-
Tăng thượng duyên. Đây là tác dụng động tâm: “Nghĩa là,
cái gì chủ động khiến có thể đắc pháp, là Tăng thượng
duyên” (Vism, p. 534). Có khi chỉ cho bốn pháp dục, tinh tiến,
tâm và tư duy (Vism, p. 534), mà nói là: bất luận pháp nào,
lấy pháp đó làm chủ, các pháp do tâm, tâm sở phát sinh làm
duyên tăng thượng cho các pháp khác (Vism, p. 534).
4 –
5- Vô gián duyên, Đẳng vô gián duyên, Thanh Tịnh Đạo luận
bảo cả hai duyên này mang cùng một ý nghĩa, tức là tác dụng
của một tâm làm duyên dẫn khởi tác dụng của tâm khác.
Lại nữa, vô gián duyên là nhãn thức giới và các pháp tương
ưng của nó, và ý giới cùng các pháp tương ưng của nó là
duyên của vô gián duyên (Vism, p. 534, Tikapatthana).
6-
Câu sinh duyên, hay Đồng sinh duyên. Như đèn và ánh sang là
duyên đồng tính. Như bốn uẩn vô hình (thụ, tưởng) hành,
thức) hỗ tương bất ly, gọi là Câu sinh duyên.
7-
Hỗ vi duyên hay Tương hỗ duyên. Như hai cây gậy dựa vào
nhau mà đứng được, hay như sự thành lập của bốn uẩn
vô sắc cũng dựa vào duyên này.
8-
Y duyên, là tướng nhiếp trì, hay tướng y chỉ, pháp hữu
dụng gọi là y duyên, Như bốn uẩn vô sắc cũng có trong duyên
này.
9-
Cận y duyên. đại lược cũng đồng nghĩa với y duyên ở
trên, bất quá đặc biệt trong sở y, trong khi làm duyên để
sinh ra một kết quả đặc định thì gọi là cận y duyên
(Vism, p. 536). Duyên này chia thành ba loại là Sở duyên, Vô
gián và Tự tính. Sở duyên cận y duyên là lấy một đối
tượng nhất định làm chủ (như tu giới, định, tuệ). Vô
gián cận y duyên là thiện uẩn trước làm nhân duyên cho sự
phát sinh thiện uẩn sau, Tự tính cận y duyên có nghĩa là
tự nó làm nhân cho sự phát sinh của chính nó. Thiện nghiệp
sinh thiện nghiệp chẳng hạn, chính là duyên này.
10
– 11- Tiền sinh duyên và Hậu sinh duyên. Pháp đã sinh làm
trợ duyên cho pháp hiện tại phát sinh, là Tiền sinh duyên;
pháp sinh sau ở tác dụng tiên khởi (như các pháp tâm, tâm
sở sinh sau, đối với thân thể tiền sinh, như đứa trẻ
lấy sữa mẹ làm duyên), gọi là Hậu sinh duyên.
12-
Tương tục duyên. Nghĩa là thiện pháp làm duyên cho thiện
pháp sau (tập quán?).
13-
Nghiệp duyên. Nghĩa là thiện, ác nghiệp đối với dị thục
họa, phúc, gọi là Nghiệp duyên.
14-
Dị thục duyên. Nghĩa là tính tịch tĩnh là cho đắc pháp
dị thục, gọi là dị thục duyên (Vism, p. 538).
15-
Thực duyên. Là bốn cách ăn để duy trì sắc và vô sắc.
16-
Căn duyên. Là 22 căn, mỗi căn làm duyên cho một pháp nào đó
phát sinh.
17-
Thiền duyên. Là Thất thiền chi: làm nhân để phát sinh thiền
định.
18-
Đạo duyên. Là Đạo chỉ, đối với pháptương ưng đạo
và y xứ sắc, theo ý nghĩa đạo duyên mà thành duyên
(Vism, 539).
19-
Tương ứng duyên. Là tính tương ứng đồng nhất sư, đồng
nhất sở duyên, đồng nhất sinh, đồng nhất diệt, làm cho
được các pháp vô sắc, gọi là tương ứng duyên.
20-
Bất tương ứng duyên. Là tính phi đồng nhất sự (tương
ứng), làm cho được các sắc pháp, gọi là bất tương ứng
duyên; lại như các pháp vô sắc đối với các sắc pháp,
gọi là bất tương ứng duyên (Vism).
21-
Hữu duyên. Là hữu tính lấy hiện tại làm tướng, chỉ trì
pháp đồng dạng làm cho được các pháp, là hữu duyên. Như
sự quan hệ giữa bốn uẩn hỗ tương bốn đại, danh sắc
thác thai, tâm và tâm sở v.v…
22-
Vô hữu duyên. Là tâm, tâm sở đẳng vô gián diệt đối với
tâm, tâm sở hiện tại là vô hữu duyên.
23-
Tạ diệt duyên. Đại lược tương đồng với vô hữu duyên.
24-
Phi tạ diệt duyên. Giống với hữu duyên (1) của Xá-lợi-phất-a-tỳ-đàm
luận, quyển 25; rồi lại chỉnh lý thuyết 10 duyên là thuyết
4 duyên; về điểm này, tôi đã nói qua rồi.
(1)
Sự thuyết minh giản lược về 24 duyên, xem Visuddhinagga, pp,
522 – 541.
8-
SỰ GIẢITHÍCH VỀ 12 NHÂN DUYÊN CỦA PHẬT ÂM.
Trong
luận, Phật Âm đưa ra 24 duyên, chiếu theo quan hệ đó, muốn
quy định sự hỗ tương giữa 12 chi là đặc sắc của ông
về phương pháp giải thích 12 duyên khởi. Sự thuyết minh
của ông rất phiền tỏa và rất khó hiểu, và đối với
người không thông thạo nhiều về tiếng Ba li như tôi, tất
nhiên là có chỗ không được hiểu rõ lắm. Cái ý thú của
nó đại khái là dùng 12 duyên khởi để hiển bày sự phát
sinh của hiện thực tồn tại và mối quan hệ y tồn, đồng
thời, đem kết hợp với luân hồi luận để muốn nói rõ
cái tướng trạng luân hồi trong tam thế: đó chính là ý thú
xác thực của nó. Ở đây không thể kể ra tất cả, nhưng
phải liệt cử vài ba điểm để nhận xét.
Trước
hết, hãy bắt đầutừ ý nghĩa vô minh duyên hành. Cái gọi
là vô minh, theo Phật Âm, là lấy vô tri làm tướng, lấy manh
muội làm dụng, thủ hình ẩn tang, và lậu làm duyên. Hành,
lấy hành vi làm tướng, lấy nỗ lực làm dụng, thú hình
ý chí, và lấy vô minh làm duyên (Vism XVII, p. 528). Mà hành,
như đã nói ở trên, chia ra phúc nghiệp (thiện hành), phi phúc
nghiệp (ác hành và bất động nghiệp (sắc, vô sắc định).
Do đó, vấn đề được đặt ra ở đây là: vô minh y theo
lý do nào mà duyên với hành? Duyên có hai thứ thuận duyên
và nghịch duyên; bởi thế, vô minh khi là duyên mà khởi hành
cũng có hai thứ đó. Do thiện hành, ác hành, bất động hành
mà vô minh, khi là nghĩa duyên, không thể không có sự sai biệt.
Như vậy, để diệt vô minh, khi sinh khởi thiện hành ở Dục
giới hệ, về điểm làm đối tượng, vô minh trở thành là
sở duyên duyên. Lại lấy cùng mục đích, như ta bá thí, tu
Sắc giới định, vô minh, về điểm làm cơ duyên sinh khởi
các sự nghiệp ấy, đối với thiện hành làm duyên, là vô
minh duyên hành. Dây là đều nghịch duyên. Trái lại, đối
với ác hành, vì có vô minh là thuận duyên, nên lại thêm
nhiều ý nghĩa. Thanh Tịnh Đạo luận nói: nhất ban hành ác
hành thì vô minh thành nhân duyên, câu sinh duyên, tương hỗ
duyên, y duyên, tương ứng duyên, hữu duyên và phi tạ diệt
duyên v.v… mà nói tác dụng; lại đối với bất động hành
thì vô minh duy chỉ thành cơ duyên mà thôi. Bất động hành
về tính chất, không đi song song với vô minh.
thứ
đến, nói về tình hình do Hành mà có thức. Cái gọi là Thức,
theo Phật Âm, lấy tri làm đặc tướng, lấy tối sơ làm dụng,
lấy luân hồi tái sinh làm biểu hiện và lấy hành làm duyên
(Vism, 528). Tức ý nghĩa thác thai luân hồi đầu tiên. Theo
ý nghĩa ấy, Thức được gọi là Dị thục. Nhưng không cho
thức là nhất thể mà là sáu thức. Tác dụng của duyên ở
đây như thế nào? Do có nhiều thứ Hành nên về phương diện
thức sinh khởi cũng có nhiều thức, nhưng nếu nói một cách
tổng quát, thì do hai thứ nghiệp duyên và cơ duyên mà hành
duyên thức (Vism, pp. 547-8). Tức các hành là nghiệp tích tụ,
lấy phương diện phát sinh hậu thức làm duyên, là nghiệp
duyên, lấy hành làm cơ duyên mà phát sinh thức, là cơ duyên
(quan hệ giữa hành và thức hết sức phức tạp). Như vậy,
Phật Âm cho thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thụ, ái, thủ,
hữu là trạng thái hoạt động hiện tại, tự chúng đều
phát triển quan hệ, đồng thời, đứng trên lập trường
đồng thời tồn tại mà nói, phải dựa vào các duyên để
thuyết minh chúng, nhưng, nếu đi sâu vào chi tiết của mỗi
thành phần thì sợ quá phiển tỏa, bởi thế, ở đây không
bàn đến.
Sau
hết, là duyên từ hữu đến sinh, Cái gọi là hữu là lấy
“nghiệp và nghiệp quả làm tướng, lấy tồn tại và làm
cho tồn tại làm dụng, trình hiện thiện, ác, vô ký làm hiện
tượng, lấy thủ làm duyên” (Vism, p. 528). Ở đây duy chỉ
nói hữu lấy nghiệp hữu làm chủ, hữu duyên sinh là do hai
thứ nghiệp duyên và cơ duyên (Vism, p. 575).
Cứ
theo Phật Âm, thì 12 nhân duyên trên đây, trên đại thể,
vẫn lấy luân hồi làm chủ, dự tiên thuyết minh trạng thái
tương quan tương liên đồng thời tồn tại, trong đó, có
cả quan hệ tung và quan hệ hoành. Đặc biệt quan hệ tung,
hiển nhiên đã phối hợp 12 nhân duyên với tam thế. Lấy
vô minh và hành làm quá khứ, lấy tám chi thức, danh sắc,
lục nhập, xúc, thụ, ái, thủ và hữu làm hiện tại, lấy
sinh lão tử làm vị lai. Phật Âm cho vô minh và ái là căn,
nguyên của luân hồi, nghĩa là, vô minh ở quá khứ là nguồn
gốc của sinh ở hiện tại, ái ở hiện tại là đầu mối
của sinh ở vị lai. Căn cứ vào đó mà nhận xét thì hiển
nhiên ta thấy Phật Âm đã thái dụng thuyết Tam Thế Lưỡng
Trùng.
9-
SỰ GIẢI THÍCH VỀ 12 NHÂN DUYÊN VÀ BẮC PHƯƠNG TRUYỀN.
Trên
kia, là ý kiến của A-tỳ-đạt-ma ở thời kỳ đầu, và tiếp
sau đó, là ý kiến của Phật Âm nhưng tiến lên một bước
nữa, thuyết hoàn chỉnh nhất của A-tỳ-đạt-ma do Bắc phương
lưu truyền thì như thế nào? Vì thuyết này dần dần đã
được coi là phương pháp thuyết minh về hình thức luân hồi
và đã trở thành ưu thế: đó là sự thật cần được chú
ý. Trong luận Púat trí quyển 1 (Đại chính, 26, trang 921, trung),
12 chi được phối hợp với tam thề; vô minh và hành phối
hợp quá khứ; làm chi thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thụ,
ái, thủ và hữu phối hợp hiện tại; hai chi sinh và lão tử
phối hợp vị lai, điều đã được nói qua ở trên. Đến
luận Bà sa, giải thích điểm này, tuy dẫn dụng ý kiến của
các luận sư hàm ý quan hệ đồng thời tồn tại, nhưng lại
quy tất cả về phương diện ý nghĩa thời gian hệ lệ: đó
là một sự thật hiển nhiên. Bà sa, nói: có bốn loại (1)
duyên khởi: sát na, liên phọc, phận vị và viễn tục.
(1)
Xuất xứ của bốn loại duyên khởi: Bà sa, quển 22 (Đại
chính, 27, tr. 117, hạ); Câu xá, quyển 9; Chính lý, quyển 27
(Đại chính, 29, trang 493, trung).
Tựu
trung, sát na duyên khởi nghĩa là sự hoạt động trong một
sát na đã có toàn thể 12 chi. tức duyên khởi đồng thời
tồn tại, phải nương nhau để cùng tồn tại, Bà sa, bảo
đó là chủ trương của tôn giả Thiết ma đạt đa “Nếu
khởi lòng tham, giết chúng sinh thì tâm thiện tương ưng với
tâm si là vô minh, tương ưng với tư là hành, tương ưng với
tâm là thức, khởi hữu biểu nghiệp tất cả có câu thời
danh sắc, các căn đều giúp đỡ nhau tức là danh sắc và
lục xứ, tương ưng xúc là xúc, tương ưng thụ là thụ, tham
là ái, tương ưng các phiền não là thủ, khởi hai nghiệp
thân khẩu là hữu, các pháp sinh khởi tức là sinh, biến dị
là lão, hoại diệt là tử” (Bà sa, quyển 23, Đại chính,
27, trang 118, hạ). Thuận chính lý, quyển 27 (Đại chính, 29,
trang 493, hạ) bảo là Thượng tọa (Kinh bộ?) Tọa bảo thuyết
này không hợp lý, trái với Thánh giáo, vì trong một sát na
không có nhân quả”. Song, bản thân Chính lý thì lại phản
đối ý kiến Thượng tọa là cho một sát na là khả năng.
Chẳng hạn, Chính lý, quyển 27, nói: “Phật nói nhiều nghĩa
duyên khởi, không thể tin một mà bỏ tất cả nghĩa khác”.
Lại nữa, trong Giải thoát đạo luận của Ưu Ba Để Sa, quyển
10, cũng lấy tác dụng của nhất tâm pháp (như khi mắt thấy
sắc, khi người ngu khởi ái) để luận về 12 duyên, và cuối
cùng, kết luận: “Như thế trong một sát na thành 12 nhân
duyên” để thừa nhận sát na duyên khởi (Đại chính,
32, trang 450, cột dưới).
Liên
phọc có nghĩa là mỗi chi, trong 12 chi đều theo thứ tự ràng
buộc và ước chế với nhau, không xen hở, và cũng có ý nghĩa
liên hệ thời gian với thuyết một sát na kể trên. Khi
thuyết minh về Liên phọc duyên khởi, Chính lý, quyển 27,
nói: “Liên phọc duyên khởi là đồng dị loại, nhân quả
nối liền không xen hở mà khởi. Như Khế kinh nói, vô minh
làm nhân sinh rất tham nhiễm; sự sáng suốt (minh) làm nhân
sinh ra không tham nhiễm” (Đại chính, 29, trang 494, trung). Bà
sa, bảo sát na duyên khởi và Liên phọc duyên khởi không những
chỉ hạn trong hữu tình mà quy tắc duyên khởi của tất cả
các pháp hữu vi (Bà sa, quyển 23, Đại chính, 27, trang 117,
hạ; Câu xá, quyển 9).
Thứ
ba Phận vị và thứ tư Liên tục chính là nói rõ trạng thái
luân hồi của hữu tình. Phận vị, xuyên qua tam thế, nói
rõ trạng thái hoạt động và tồn tục của hữu tình. Liên
tục, theo sự giải thích của Chính lý, là “tiền, hậu tế,
có thuận hậu thụ và bất định thụ nghiệp phiền não,
bởi thế là vô thủy luân chuyển” (Chính lý, quyển 27, Đại
chính, 29, trang 494, thượng). Bà sa, nói: tuy có bốn loại duyên
khởi nhưng mục tiểu của 12 chi chuyên lấy thời phận, tức
Phận vị duyên khởi làm chủ, cho đó mới thật là thuyết
minh về luân hồi luận và bản ý của Bà sa (Bà sa, quyển
23; Đại chính, 27, trang 118, hạ). Câu xá cũng thừa kế thuyết
này.