CHƯƠNG
VI
TƯỚNG
TRẠNG LUÂN HỒI
1-
GỢI ĐỀ.
Trở
lên đã nói rõ quan hệ giữa nghiệp và quả. Do đó, vấn
đề lại được đặt ra là: quan hệ đó căn cứ trên tướng
trạng luân hồi như thế nào? Nói cách khác, cái lịch trịch
di chuyển đời qua đời khác, và tiến lên luân chuyển trong
các cảnh giới khác nhau như thế nào?
Trưng
theo Phật giáo nguyên thủy thì dĩ nhiên thừa nhận sự thật
luân hồi, song sự thuyết minh về lịch trình cụ thể của
nó thì vẫn chưa chính xác, bởi lẽ cũng như các vấn đề
khác, vấn đề cũng có nhiều cách giải thích bất đồng.
Trong cuốn Nguyên Thủy Phật Giáo Tư tưởng Luận, tôi đã
cố gắng một cách miễn cưỡng giải thích nó theo lập trường
của Phật giáo nguyên thủy; nhưng tôi nhận thấy vẫn còn
nhiều điểm có thể giải thích thêm.
Vấn
đề này, đến bộ phái Phật giáo, tuy đã phát sinh nhiều
dị luận, nhưng nếu nói mộ cách tóm tắt thì, như đã nói
ở trên, chia thành hai phái cơ giới chủ nghĩa và sinh cơ chủ
nghĩa. Tuy nhiên, trên đại thể, trong A-tỳ-đạt-ma, cái phương
pháp giải thích rất có thế lực là thực tại luận hóa
và cơ giới hóa. Đó là điểm ta cần phải hiểu trước hết.
2-
SINH HỮU, BẢN HỮU, TỬ HỮU.
Theo
thuận tự, tôi tưởng trước bắt đầu hãy bắt đầu từ
khoảng một đời. Để tiện lợi, ta hãy lấy cõi người
làm trung tâm để luận cứu.
Con
người trước phải có một thân phận nhất định để thác
thai rồi mới sinh ra đời. Nói theo thuật ngữ, thân phận
được gọi là sinh hữu. Ở cảnh giới này, bất luận về
tâm lý hay vận mệnh, đều thoát khỏi trạng thái hổn độn,
nhưng khả năng tính của nó, đối với đẳng lưu quả của
tiền nghiệp, tích tính tâm lý hay dị thục quả, đã mang
một vận mệnh nhất định rồi, cứ xem sự trình bày trong
tiết trước cũng dễ hiểu sự thực này. Từ đó, đứng
về phương diện hậu thiên, tích tập kinh nghiệm, do nghiệp
đời trước và nghiệp tân tạo, dưỡng thành tính cách mới
để chịu nhiều vận mệnh khác nhau, là bản hữu. Đến khi
thọ mệnh hết mà gần chết, là tử hữu. Đến đây, vấn
đề được đặt ra cho các bậc A-tỳ-đạt-ma Luận sư là:
cái chết của con người do nghiệp đời trước mang lại là
thọ mệnh có nhất định, hay trong đó có sự bất tử? Về
vấn đề này, giữa các bộ phái, cứ theo Bà sa (quyển 151,
Đại chính, 27, trang 771, thượng) Thí các Thí Dụ Sư chủ
trương cái chết phải đến ngẩu nhiên (tức do nghiệp). Theo
Tôn Luân luận thì Thuyết Giả Bộ cũng cho rằng “không có
cái chết phi thời – không đúng lúc – do nghiệp đời trước
dẫn đến”. Cái nguyên nhân đưa đến cái chết của con
người như thế nào? Tất cả đều muốn giải thích là do
nghiệp đời trước quyếtt định. Lại theo Luận sự thì
Vương Sơn Bộ, Nghĩa Thành Bộ v.v…chủ trương “Hết thảy
đều do nghiệp – K. V XVII, 3”, như vậy cũng không thừa
nhận chết là ngẩu nhiên. Hai phái trên đây chủ trương “với
A-la-hán, không có cái chết ngẩu nhiên – K. V. XVII, 2”. Trên
thường thức, Thượng Tọa Bộ Hệ Nam phương vẫn thừa nhận
có chết phi thời. Điều này, cứ xem sự phê bình chủ trương
cho tất cả đều do tác dụng của nghiệp, là dị đoan, thì
đủ rõ. Điểm rất thú vị là Thi Thiết luận (1) thuộc Hữu-bộ,
Thanh Tịnh Đạo luận (2) thuộc Thượng Tọa Bộ Nam phương,
hay A-tỳ-đạt-ma pháp yếu luận (3), có đưa ra bốn loại
chết và, trên đại thể, đều nhất trí. Thứ nhất, vì nghiệp
lực cảm thọ quả dị thục đã hết; thứ hai, vì nghiệp
lực tài phúc đã hết (như chết đói, chẳng hạn); thứ ba,
vì cả phúc và thọ đều đã hết; thứ tư, dù phúc thọ
chưa hết mà bỏ thọ nghiệp, hoặc vì tai hoạnh mà chết.
thứ hai và thứ tư là thừa nhận chết phi thời. Nhất là
trong Bà sa quyển 151, nói về sự chết yểu và trung bình,
có đưa ra những nguyên nhân như; không tu phạm hạnh (đa dâm),
không ăn đúng cách, đúng lượng, không chĩu nghe lời thầy
thuốc, không chịu uống thuốc, không tránh tai ách đùa nghịch
ngoài đường (như các anh hùng xa lộ ngày nay chẳng hạn)
v.v… Chúng hữu tình ở Dục giới, trừ những người đặc
thù (Phật, Luân vương, tối hậu, thân Bồ tát, những người
thọ mang thai các bậc trên, những người chịu ở địa ngục,
những người ở Bắc châu và những người được Phật thụ
ký v.v…) còn thừa nhận tất cả đều có khả năng
tính hoạnh tử (Câu xá, quyển 5, Bà sa, quyển 151, Đại chính,
27, tr. 771, hạ). Vấn đề thọ mệnh đối với con người
là một vấn đề rất thống nhất, đồng thời, sự sống
chết có một tác dụng lực bất khả tư nghị, cho nên mới
phát sinh những vấn đề như thế. Mà về phương diện không
thừa nhận chết phi thời, vì có sự nguy hiểm sa vào Túc
Mệnh luận, bởi thế, vẫn thừa nhận nguyên hậu thiên, về
Nghiệp luận tuy không hơi triệt để, nhưng vẫn là tưởng
pháp gần với chân lý của Phật: theo tôi, đại khái ta có
thể nhận định như vậy.
(1)
Bà sa, quyển 20 (Đại chính, 27, tr. 103, trung) và Câu xá, quyển
5 trích dẫn.
(2)
Visuddhimagga VIII. P, 229.
(3)
Compendium of Philosophy, p, 119.
2-
TRUNG HỮU.
Như
vậy, sinh mệnh dần dần đi đến tận cùng mà mất thọ noãn
thức là tử vị chính là luậc đề rất trọng đại về
luân hồi. Vấn đề là: cái tướng trạng giữa tử vị và
sinh hữu như thế nào? Vấn đề này tuy có phương pháp thuyết
minh, nhưng nhận xét về hình thức, hữu tình ở thời kỳ
đổi thân phận để chuyển sinh thì vấn đề trạng thái
trong thời kỳ chuyển hoán đó như thế nào, đối với việc
thuyết minh như luân hồi, nó ý nghĩa rất trọng đại. Phật
giáo nguyên thủy thuyết minh vấn đề chuyển sinh thì dễ
hiểu, nghĩa là hữu tình chết là do nghiệp đời trước,
chết rồi được sinh vào một cõi nào đó trong ba cõi hoặc
năm cõi. Nói một cách đơn giản, về phương diện triết
học, ngũ uẩn của người ta, lúc đó, tùy theo nghiệp, biến
hóa đến một cõi tương đưong, đó là chuyển sinh, chứ chưa
khảo sát đến phương diện sâu xa là trạng thái trung gian.
Song, quan sát dần dần khi tiến đến điểm biến chuyển sinh
thành cụ thể để thuyết minh, từ lúc chết đến khi thác
thai vào một cõi khác khoảng thời gian ấy bao nhiêu và dung
một hình thái nào để sinh hoạt, thì không thể không đi
đến những cách thuyết minh bất đồng. Chiếu theo Số luận,
nhất là phái Số luận lập riêng cái gọi là tế thân ngoài
thô thân làm chủ luân hồi, thì về phương diện xử lý vấn
đề luân hồi cụ thể, thật đã là phương pháp thuyết minh
rất tiện lợi. Phật giáo, dĩ nhiên, là Vô ngã luận, bởi
thế không thể thừa nhận cái gọi là tế thân như của Số
luận được. Cứ theo các kinh điển nói, tuy có tính cách
thần thoại, thì chúng sinh thác thai khi cha mẹ hòa hợp phải
lấy sự hiện tiền của Kiện-đạt-phọc là điều kiện,
mà Kiện-đạt-phọc, thật ra là một thứ linh thể, nếu bảo
nó là một trạng thái trung gian giữa lúc chết và sinh thì
cũng có thể được. Vấn đề này, đến thời đại bộ phái,
đã trở nên cực trọng yếu và cũng chia thành hai phái, một
cho là có trung gian thái, một bảo không có trung gian thái và
giữa hai phái đã triển khai nhiều nghị luận rất sôi nổi.
Nói theo thuật ngữ, trung gian thái đó được gọi là trung
hữu và vấn đề có hay không có trung hữu đã trở thành
vấn đề cực đại của Luân hồi luận.
Chiếu
theo các văn hiến thì Đại chúng bộ, Hóa địa bộ (Tôn Luân
luận), và các nhà Phân biêt luận (Bà sa, quyển 69, Đại chính,
27, trang 356, hạ), chủ trương không có Trung hữu. Thành-thật-luận
(quyển 3, Vô trung ấm phẩm 2) và Xá-lợi-phất A-tỳ-đàm
luận (quyển 12, Đại chính, 28, trang 608, thượng), đều thuộc
phái không thừa nhận Trung hữu.
Còn
nữa, theo Luận sự, Thượng Tọa Bộ Nam phương đều là các
nhà Vô Trung hữu luận (K, V. VIII, 2). Đối lại các phái trên
mà thừa nhận có Trung hữu, theo Phật Âm, là Đông sơn bộ,
Chính lượng bộ (K. V, VIII, 2), nhất là Hữu-bộ, vốn là
các nhà thực tại chủ nghĩa, cho đến Bà sa luận v.v… đều
chủ trương có Trung hữu.
Trước
hết hãy bàn đến các nhà Vô Trung hữu luận (1). Vì thuyết
có Trung hữu phát khởi trong Phật giáo giới, cho nên
chủ trương của nó đại là tiêu cực. Tức là các nhà chủ
trương có Trung hữu dẫn dụng các Khế kinh mà cho rằng
đức Phật nhận có Trung hữu, và chỉ lấy sự trích việc
giải thích bất đồng các câu kinh làm chủ. Điểm này là
thể tài nghị luận của Bà sa, quyển 619, và Câu xá, quyển
8, chủ yếu của luận đề là Phật có nói ba cõi, năm đường
(hay sáu đường) nhưng tuyệt không nói đến cõi Trung hữu
hay đường Trung hữu (K, V, VIII, 3). Trung hữu, nếu là một
thứ sinh hoạt thể, thì lẽ phải có cảm giác (xúc) mà nếu
đã có cảm giác thì là sinh hữu chứ không cần phải nói
trung hữu làm chi. Còn nếu bảo không có cảm giác thì không
khác gì hư vô. Bất luận nói cách nào, ngoài sinh hữu ra không
cần phải lập thêm trung hữu nữa. Như đâm vào chân, cảm
thấy đau đầu, tuy ở chân, tâm chưa tiến đầu, nhưng điều
đó há không phải có cảm ứng sao (Thành Thật quyển 3, Vô
trung ấm phẩm 25)? Đó là căn cứ của Vô Trung hữu luận
được biểu hiện trong Luận sự và Thành Thật. Đặc biệt
thú vị là Câu xá (quyển 9) còn dẫn dụng chủ trương của
các nhà Phân biệt luận. Theo họ thì từ cõi đời này di
chuyển sang một cõi đời khác cũng như hình với bóng, nếu
giữa hình và bóng có khoảng cách thì giữa đời này và đời
kia cũng có gián đoạn, bởi thế, không cần phải lập ra
vị liên tục. Huống nữa, theo kinh nói thì những kẻ cực
ác phải đọa địa ngục tức khắc, cứ xem thế thì thấy
đọa địa ngục không cần có trung gian thái. Ở đây, ta thấy
đã mất hẳn cái ý nghĩa nhất ban về sự tồn tại của
Trung hữu. Nếu khảo cứu điểm nàytrên văn hiến (2) thì
như Xá-lợi-phất-a-tỳ-đàm luận quyển 12 (3) cũng có cùng
một chủ trương: đó là điểm ta nên chú ý. Tóm lại, phái
này đem nguyên lý luân hồi được nói trong kinh, như “có
nghiệp báo, không người làm, ấm này hết, ấm khác nối
theo” chiếu theo văn tự để giải thích, muốn không thừa
nhận có trung gian đặc thù nào khác. Song, theo sự nhận xét
của tôi, quan điểm này, có thể nói, phù hợp của chân nghĩa
Phật giáo nguyên thủy.
(1)
Luận cứ của Vô Trung hữu luận thấy trong Thành Thật quyển
3, Vô trung ấm phẩm 25; Câu xá, quyển 8, kinh Tượng dụ; và
Bà sa, quyển 69 (Đại chính, 27, trạng 56, hạ).
(2)
Trong địa ngục và chư thiên hay các hữu tình hóa sinh, hoặc
dùng thuận định thụ nghiệp mà thụ sinh chủ Vô Trung hữu,
đó là ý kiến của Bà sa. Nhưng, Nh7ng các nhà bình giải Bà
sa lại không thừa nhận, cho nên Vô Trung hữu chỉ hạn trong
Vô sắc giới mà thôi – Bà sa, quyển 69 (Đại chính, 27, tr.
358, hạ); Câu xá, quyển 9 (K, V, VIII, 2).
(3)
Thức cuối cùng diệt rồi thì thức đầu sinh ngay, cũng như
bóng di chuyển thì mặt trời theo, mặt trời di chuyển thì
bóng theo, giữa bóng và mặt trời không có trung gian. Cũng
thế, tối hậu thức diệt thì sơ thức sinh liền (Đại chính,
28, tr. 608, thượng).
Đối
lại, về phía chủ trương có Trung hữu thì cùng với Số
luận có chỗ liên hệ, vả lại, muốn đứng trên lập trường
thế tục để đưa ra một cơ sở, mà cơ sở đó cũng vẫn
lại là những lời trong các kinh. Chẳng hạn như Thất hữu
kinh (1), Kiện đạt phọc kinh (2), Chưởng mã tộc kinh (3),
và Ngũ bất hoàn kinh (4) v.v… Tóm lại, muốn lợi dụng các
câu kinh mà bảo là có một loại du hồn thể. Theo chỗ nhận
xét của tôi, quan điểm này không biết có đại biểu được
cho chân ý của Phật không, nhưng đứng về phương diện tín
ngưỡng thông tục mà nói, thì nó vẫn có một ý nghĩa tồn
tại. Dưới đây, tôi tưởng nên nói rõ qua vể điểm này.
(1)
Xem Trường-a-hàm, Tập báo pháp kinh, quyển thượng, Đại
chính, 1, trang 236, trung.
(2)
Xem Trung a hàm, quyển 64, Trà đế kinh, Đại chính, 1, trang
769.
(3)
Xem Trung a hàm, quyển 37, Phạm chí a diếp hòa kinh, Đại chính,
1, trang 666, cột trên.
(4)
Xem Tạp-a-hàm, quyển 27, Kinh thứ 736 và 740 (Đại chính, 3,
tr. 196); Trường-a-hàm, quyển 3, Chúng tập kinh (Đại chính,
1, tr. 52, cột dưới).
Trước
hết hãy nói về hình trạng của Trung hữu. Tùy theo các cõi
mà sự thụ sinh của Trung hữu mang hình trạng hình trạng
khác nhau. Như thụ sinh làm ngựa thì mang hình ngựa, làm trâu
thì mang hình trâu v.v… Tựu trung, Trung hữu thụ sinh cõi người
ở Dục giới thì sinh hình trạng giống như đứa trẻ năm,
sáu tuổi, các căn đều đầy đủ (Trung hữu của Bồ tát
giống như người lớn, đủ ba mươi hai tướng; Trung hữu
ở Sắc giới thì hình tượng giống như Bản hữu, và có
mặc áo; ở Vô sắc giới không có Trung hữu). Song, những
yếu tố tổ chức của Trung hữu, vì cực kỳ nhỏ nhiệm,
như tế thân của Số luận chẳng hạn, nên không phải người
thường có thể thấy được, duy chỉ có các bậc Thánh và
những người đã được Thiên nhãn thông hay các bậc tương
như thế mới có thể thấy được. Nghiệp thông và chuyển
rất nhanh, tất cả núi sông, đất liền biển cả đều không
thể làm trở ngại, bởi thế, trên thực tế, đại khái có
thể là siêu việt không gian. Nhưng Trung hữu mang cái đương
thể đó trong thời gian bao lâu,và trong thời ấy, sự sinh
hoạt như thế nào? Về thời gian thì giữa các bậc luận
sư của Hữu-bộ có nhiều dị luận. Bà sa, quyển 70, bảo
Thế Hữu cho tối đa là bảy ngày, nếu quá thời hạn ấy
mà không được Sinh hữu thì trong Trung hữu cũng có sống,
chết. Thiết ma đạt đa thì bảo nhiều nhất là bốn mươi
chín ngày. Còn Đại đức lại cho là vô hạn định (Đại
chính, 27, trang 316, cột giữa; Câu xá, quyển 9). Trong thời
gian này, vật thực của Trung hữu là hương. Do đó, mà Trung
hữu còn được gọi là Tầm hương (tìm mùi thơm). Kiện-đạt-phọc
tuy là sự tồn tại thần thoại ở thời đại Phệ Đà, nhưng
có liên quan đến kết hôn, từ đó bỗng biến thành nghĩa
du hồn, cái gọi là Gandha-arv, cuối cùng đã sản sinh ra Ngữ
nguyên luận. Thời gian giữ hình trạng Trung hữu lâu hay mau
là do ở nghiệp đời trước và cha mẹ tương lai, lấy sự
gặp gỡ làm cơ duyên, nếu là con gái thì đối cha thì cảm
thấy thương mến (1), đối với mẹ cảm thấy ghét; còn nếu
là con trai thì đối với mẹ cảm thấy thương yêu, đối
với cha cảm thấy ghét, cuối cùng lấy đó làm nơi an trụ:
đó là thác thai. Lúc ấy, do sự chiêu cảm của nghiệp thông
dù có cách xa nghìn vạn dậm đi nữa thì chỉ trong nháy cũng
đến nơi; không một sức gì làm trở ngại được. Song, ở
đây, vấn đề được đặt ra là: thân Trung hữu cứ nhất
định như thế để thụ thân Bản hữu, hay nửa đường có
thể chuyển hoặc không thể chuyển? Về vấn đề này, Thí
Dụ Sư chủ trương hết thảy nghiệp có thể chuyển, cho nên
Trung hữu cũng có thể chuyển (Bà sa, quyển 69, Đại chính,
27, trang 359, cột giữa). Nhưng, Hữu-bộ bảo: giới (cõi),
thú (đường), xứ (nơi chỗ) đều không thể chuyển (Bà sa,
như trên; Câu xá, quyển 9, bài tụng; “Trung hữu không thể
chuyển”). Bà sa, quyển 70 (Đại chính, 27,trang 360, cột trên)
nói rằng hữu tình tạo nghiệp cha mẹ không có nhất định.
Nói một cách đại thể, đàn ông, đàn bà tuy có nhất định
làm cha mẹ, nhưng cũng có khi họ dời xa chỗ ở thì không
có cách nào chuyển đến người khác được. Như nói: “Nếu
với cha mẹ có thể chuyển thì liền đi đến chỗ cha mẹ
khác hòa hợp kết sinh. Nếu với cha có thể chuyển, với
mẹ không thể chuyển thì người đàn bà kia tính dù có trinh
khiết, giữ gìn năm giới, đầy đủ uy nghi đi nữa cũng phải
cùng với người đàn ông khác hòa hợp để cho Trung hữu
có nơi kết sinh ngay. Nếu với mẹ có thể chuyển, với cha
không thể chuyển, thì người đàn ông kia tính dù hiền lương,
giữ gìn năm giới, đầy đủ uy nghi đi nữa cũng phải với
người đàn bà khác hòa hợp để cho Trung hữu có nơi đến
kết sinh ngay”. Tuy có thể nói như thế, nhưng nếu giải
thích thêm, thì cha mẹ duy chỉ vì khoái lạc mà giao hội,
trong đó thật đã biểu minh sự hoạt động lớn của ý chí
muốn sống rồi. Tiêu Bái Ân Hào Uy Nhĩ bảo trong thanh niên
nam nữ chỉ là cái hồn vì con cháu mà thôi,có thể nói, đây
là điểm tương đồng rất lý thú. Như thế lúc mới thác
thai là bắt đầu thụ sinh. Cái quá trình từ đó đến khi
xuất sinh, do chủng loại hữu tình mà có khác nhau, nhưng ở
cõi người thì trải qua năm giai đoạn ở trong thai. Năm giai
đoạn ấy là: 1- Yết-lạt-giám (hai giọt tinh huyết kết hợp
lại), tức bảy ngày đầu; 2- Ngạch-bộ-đàm (thành mụt nhỏ),
tức bảy ngày thứ hai; 3- Bế-thi (máu, thịt), tức bảy ngày
thứ ba; 4- Kiện-nam (thành thịt cứng), tức bảy ngày thứ
tư; 5- Bát-la-xa-khư (thành chi tiết), tức bảy ngày thứ năm.
Từ đó trưởng thành dần cho đến khi xuất sinh. Theo tôi,
thuyết năm giai đoạn này là giới y học thời bấy giờ đề
xướng, Phật giáo bất quá chỉ thu dụng nó mà thôi. Sự
xuất sinh này, như đã nói ở trên, do nghiệp đời trước
và nghiệp tân tạo mà hình thành những tính cách khác nhau,
tao ngộ những vận mệnh bất đồng, để rồi cuối cùng
chết đi và sinh trở lại: đó là tướng trạng của sự luân
hồi.
(1)
Bà sa, quyển 70, có nói thế này: “Lúc đó, Kiện-đạt-phọc
theo một trong hai tâm mà hiện thành, tức là yêu hay ghét”.