THIÊN
THỨ NĂM
LUÂN
LÝ LUẬN
CHƯƠNG
I
TỔNG
LUẬN
1-
Những điều chúng tôi đã trình bày ở trên, tuy chưa được
hoàn bị; nhưng đối với tâm-ký-quan nhất ban của các A-tỳ-đạt-ma-luận-thư
như thế cũng đã nói lên một cách đại thể rồi. Song, như
chúng tôi đã thường nhắc đi nhắc lại, là mục địch của
tâm-lý-luận Phật-giáo không phải chỉ luận về hoạt động
tâm-lý suông, nhưng là phân tích và quan sát những hoạt động
tâm lý để hỗ trợ cho việc tu-dưỡng của người ta. Do
đó, tâm-lý-luận của Phật-giáo rốt cục là tâm-lý-luận
luân lý, còn như tâm-lý-luận nhất ban chẳng qua chỉ là một
đạo-trình đưa đến mục đích đó mà thôi. Từ đây, để
ứng dụng nhất ban-luận ở trên, chúng tôi muốn bàn đến
luân-lý-luận và tu-đạo-luận. Song, trên giáo-tướng của
Phật giáo, cái gọi là luân-lý-luận và tu-đạo-luận, và
tâm-lý-luận (Ðại-chính, 27, trang 8, hạ) nói, Pháp-Cứu cho
tâm và tâm-sở chỉ là sự sai biệt của tư, tức những tướng
của tác-dụng ý-chí; Giác-thiên thì cho tâm, tâm-sở, thể
của nó là tâm. Ðối với những ý kiến này mà đề xướng
tâm-tâm-sở-biệt-thể-luận, đứng đầu Tích-lan Thượng-Tọa-Bộ,
rồi đến Hữu-Bộ và tất cả các phái khác chủ-trương
cơ-giới chủ nghĩa, tức là các học phái muốn phân tích
các pháp để quan sát một cách máy móc, là những nhà biệt
thể luận. Ai cũng biết trong Thành-thật-luận quyển 5 (thứ
60-64), vì có đề cập đến vấn đề này nên ở đây hãy
tạm đưa ra lý do xem sao. Theo đó thì chính Tành-thật-luận
chủ-trương nhất-thể-luận, lý do này đã được trình bày
rồi. Thứ nhất, xem trong các kinh văn Phật nói (A-Hàm-Bộ),
tuy thường đề cập đến nhiều tâm, nhưng ngoài tâm ra, không
có lập luận về tâm sở. Mặc dầu tựa hồ có nói đến
tâm-sở nhưng suy cứu đến ý nghĩa thì đó chẳng qua chỉ
là thuyết minh sự sai biệt của những tác dụng tâm mà thôi
(đại ý của phẩm Vô-Số thứ 60). Nói thức, nói giác, nói
tưởng, tóm lại, chẳng qua chỉ là bất đồng về danh xưng
chứ thật thì không ngoài tác dụng nhận thức của tâm; không
những thế, ngay đến thụ, tức cảm tình, nếu coi nó là
ý thức, thì đương nhiên nó cũng tức là “biết” (do đó,
tuy nói khổ, lạc thụ, nhưng nó là một loại “biết”).
Minh-vô-số-phẩm 64, Ðại-chính, 32, trang 276, thượng). Như
vậy, tác dụng của tâm tuy có nhiều thứ, rốt cuộc cũng
chỉ là đồng tướng của tâm (tác dụng duyên lự) và bất
luận loại nào cũng chỉ là sự sai biệt của cùng một tâm
(minh vô-số-phẩm 64) đó là chủ trương của các nhà nhất-thể-luận
(tâm, tâm-sở-luận) tự thân là một để mục hơi khác nhau
cho nên ở đây, một mặt lấy tâm-lý-luận làm cơ sở, một
mặt lại chiếu theo những hoạt động tâm-lý biểu-hiện
thành hình thái thực tế luân lý và tu đạo để nói lên
cái ý nghĩa và giá trị chủ yếu của nó.
Nhưng,
trước hết cần phải nhận-xét một cách tổng quát để
hiểu qua luân-lý-luận của A-tỳ-đạt-ma trước khi đi sâu
vào đề tài chính.
2-
Trong tất cả các tôn-giáo trên thế-giới, Phật-giáo là một
tôn-giáo có sắc thái luân-lý sâu đậm nhất. Trong số các
học giả Tây-phương có người cho rằng, so với Bà-La-Môn-giáo,
Phật-giáo là một phái đặc biệt chú trọng về vận động
luân-lý. Do đó ta thấy Phật-giáo rất trọng luân-lý. Theo
Phật, nếu người ta muốn đạt đến cảnh-giới giải thoát
tối cao thì trước hết phải từ phương diện tiêu-cực,
lánh tất cả mọi việc thiện: đó là điều kiện tất yếu.
Ai cũng biết bốn câu kệ trứ danh “Chư ác mạc tác, chúng
thiện phụng hành, tự tịnh kỳ ý, thị chư Phật giáo”
– tránh mọi điều ác, làm các việc thiện, giữ tâm trong
sạch: đó là lời dạy của chư Phật - chỗ lập cước của
nó tuy đã được nhận định, nhưng nếu nhận xét nó về
phương diện lịch, đối với mỗi quan hệ căn bản giữa
giải thoát tối cao và đạo đức, thì dù cùng trong Phật
giáo, nhưng vì tất đã là đồng nhất. Trong thời Phật Giáo
Nguyên Thủy, đức phật đã đứng trên lậ trường lánh dữ,
làm lành để suy tiến và tưởng thưởng tất cả trình độ
thiệu sự. Ðến cảnh-giới tối cao thì biến thành vô-ngã
tuyệt đối, hoàn toàn hy sinh tự kỷ cho công cuộc lợi tha,
còn đối với những người bất hại mình thì hoàn toàn chấp
nhận chủ nghĩa vô-để-kháng (như hạnh Bồ-Tát được thể
hiện trong Bản-sinh-đàm). Rồi trở xuống, những việc thiện
lấy thù báo ở tương lai làm mục tiêu, hay thiện sự lấy
hạnh phúc ở đời này làm mục đích, tất cả chỉ cần
đừng làm hại kẻ khác, những việc thiện như thế đều
đã được đức Phật suy tiến. Mà tương quan của việc thiện,
hoặc đưa đến giải thoát tối cao là nhờ cái gọi là vô-lậu-thiện,
hoặc về chính sự quốc-gia, hoặc về nghĩa vụ của quần
thần đối với quốc vương, hoặc về sự hòa thuận trong
một nhà, về quan hệ giữa vợ chồng, anh em, thầy trò; cho
đến về chế độ kinh tế, vệ sinh, v.v… tóm lại, tất
cả cái gì là thiện đều được tưởng thưởng. Ðương
nhiên, đây không phải nói về phương diện tổ chức có hệ
thống, nhưng đức Phật chỉ trả lời những ai đề cập
đến những vấn đề đó mà thôi.
Tóm
lại, xuất phát từ tâm từ bi và tâm đồng tình, đức Phật
đã vì mọi người nói lên tất cả thiện sự, đó là một
sự thật mà bất cứ ai đã đọc qua bộ A-Hàm Thánh-điển
cũng đều thừa nhận. Cái nguyên nhân làm cho Phật giáo bành
trướng trên thế giới tuy có nhiều, nhưng, như lịch-sử
đã chứngminh, có nhiều vua chúa, sau khi quy y Phật, đã dùng
tâm lý Phật-giáo để lãnh đạo và chi phối quốc-gia, do
đó mà Phật-giáo hưng thịnh: điều này, từ vua A-Dục ở
Ấn-Ðộ thuở xưa cho đến nay vẫn còn là một sự thật
hiển nhiên.
3-
Phật-giáo tuy đặm màu luânlý nhưng nếu nhận xét về phê
phán nền luân lý theo lập trường học-vấn, thì do cách nhận
xét bất đồng, cũng có nhiều sự giải thích khác nhau. Như
đã nói ở trên, mục địch của đức Phật trước sau vẫn
là ở chỗ thực-hành, không phải thuyết minh về ý luận,
cho nên, những lời dạy của ngài liên quan đến luân lý,
đạo đức phần lớn là những lời giáo huấn lâm thời,
chẳng qua chỉ lập đi lập lại những đức mục mà thôi.
Nếu muốn có một thế hệ nhất-quán thì, về cách giải
thích, có thể chia thành nhiều ý kiến khác nhau. Giờ xin đưa
ra những điểm chủ yếu như sau:
thứ
nhất, mục đích đầu tiên của Phật giáo là giải thoát.
Mà giải thoát là siêu việt hiện-thế, do đó luân-lý đạo
đức được quy định cho hiện-thế đối với đạo giải
thoát tất kính chỉ có quan hệ gián tiếp chứ không có quan
hệ trực tiếp. Ðương nhiên, xa lìa ngã chấp là con đường
chủ yếu đưa đến giải thoát, nhưng vô-ngã, vô-để-kháng
là điều kiện tất yếu của đạo giải thoát tuy chẳng có
gì sai khác, song trở xuống như cái gọi là thiện-sự thế-gian,
nhận xét theo lập trường đệ-nhất-nghĩa-đế của Phật
giáo, chẳng qua cũng chỉ là sự chuẩn bị cho việc tu đạo
để đạt đến vô-ngã tối-cao mà thôi.
Thứ
hai, nếu đã đạt được giải thoát thì vì mục đích đã
hoàn thành nên không còn cần phải câu nệ đạo đức luân
lý nữa, cũng như người đã tốt nghiệp Ðại học không
còn phải chuẩn bị thi vào đại học nữa.
Thứ
ba, luân-lý đạo đức trong Phật giáo tất kính chỉ là phương
tiện, là đệ-nhị-nghĩa, nhất là đối với công cuộc cứu
tế xã hội, nếu quá chấp nê sẽ trở thành chướng ngại
cho việc tu đạo – trên thực tế, luân-lý-luận của Phật
giáo có thể giải thích theo nhiều phương diện, nhưng, trong
số các học giả Âu-châu, có người cho Phật giáo là cuộc
vận động luân-lý, mà cũng có người, trái lại, bảo “trong
những tư tưởng căn bản của Phật-giáo hầu như không có
sắc thái luân lý”. Ngày nay, nhìn vào Phật giáo Ðại-Thừa,
muốn xã hội hóa Phật giáo, thật tế vận động công cuộc
cứu tế xã hội, cũng có rất nhiều người, nhận xét theo
lập trường bản lai của Phật-giáo, giữ thái độ cho rằng
đó chỉ là công việc bên ngoài, đại khái đây là thái độ
đã xuất phát từ kiến giải thuần lý-luận.
4-
Song, trên đây chỉ là sự nhận xét phiến diện. Ở một
phương diện khác, đặc biệt là nhìn vào nhân cách của người
sáng lập Phật giáo, người đã đề xướng một nền luân-lý
tạp đa làm nhãn mục cho Phật giáo đồ, nếu lấy Phật và
niềm tin của ngài trải qua nhiều kiếp làm cơ sở mà nói,
thì kết luận trên đây không phù hợp với chân ý của Phật
bởi những lý do sau đây: 1) Theo Bản-sinh-đàm, đức
Phật, trong các kiếp tu hạnh bồ-Tát, đã từng sinh vào nhiểu
loại hữu tình, và bất cứ trong cảnh ngộ nào cũng phát
tâm đại-từ-bi-vô-ngã mà tận lực làm mọi thiện sự để
giúp chúng sinh, không biết mỏi mệt. Cho đến tất cả việc
thế tục, không từ bỏ một việc thiện nào dù khó đến
đâu cũng hết lòng vì người giúp đới mà làm, và coi như
đó là điều kiện tất yếu để thành Phật. 2) Cuối cùng,
đến kiếp này Bồ-Tát đã thành Phật. Tuy Phật đã đạt
đến giải thoát tối cao lúc 25 tuổi, nhưng trong suốt 46 năm
sau đó đức Phật vẫn tiếp tục không ngừng sự nghiệp
cứu người, giúp đời và không một việc thiện nhỏ nhặt
nào mà ngài không làm. Trong ý nghĩa ấy, theo giáo-lý Phật-giáo
mà nhận xét thì những hoạt động của đức Phật sau khi
thành Chính-giác, với đức Phật vẫn là hoạt động của
Bồ-Tát, có thể nói, lại đem những kinh-nghiệm ở thời
đại Bồ-Tát mà thực thi trong kiếp hiện tại. Từ đó đưa
đến kết luận 3,) làm việc thiện để thành phật là chuẩn
bị cho việc giải thoát, đòng thời, vì đời mà suy tiến
mọi thiện sự, tự mình cũng làm thiện sự là tư cách và
nghĩa vụ của người giải thoát. Do đó, làm việc thiện
tức là đạo đức, bất luận thế gian này xuất thế, bản
thân thiện sự là phật đạo. Cho nên, đối với giáo lý
do đức Phật chỉ dạy không nên giải thích câu nệ theo thần
học. Nếu trực tiếp lấy nhânc ách của chính đức Phật
làm trung tâm thì, như trên đã nói, đức mục luân lý Phật
giáo nào không phù hợp với nhân cách đó cuối cùng cũng
bị loại bỏ.
5-
Căn cứ theo những tài liệu của Phật giáo nguyên thuỷ mà
luận cứu, dù cho cùng một sự trạng, nhưng nếu tiến đến
cái tinh thần căn bản thì tự nhiên cũng phát sinh những giải
thích bất đồng, do đó mà trên thực tế cũng có thể có
những thái độ khác nhau về luận lý. Song, trở lại với
vấn đề hiện tại – luân lý quan trong A-tỳ-đạt-ma-luận-thư
theo thái độ nào? Vấn đề này, tuy không thể thảo luận
theo một cách nhất khái, nhưng, trên đại thể, có thể nói,
đạo đức là sự chuẩn bị để hướng tới giải thoát,
không ngoài hai loại là đạo đức xuất-gia và đạo-đức
tại-gia, khi được giải thoát rồi tất phải trở lại suy
tiến những thiện sự thế-gian, hoặc là nghĩa vụ tự mình
phải thực hành. Nói cách đơn giản: sinh hoạt đạo đức
tuy là nấc thang cần thiết để hướng tới giải thoát, nhưng
tự nó không phải là mục đích tối hậu. Trong bộ-phái phật-giáo
có một phái mà ai cũng biết là Bắc-đạo-phái cho rằng lòng
từ bi cũng là một thứ phiền não, và thậm chí chủ-trương
“Phật không có từ bi tâm” (K. V. XVIII, 3). Các nhà Ðại-Thừa
sau này bảo đó là kiến giải Tiểu-Thừa và chê họ là những
kẻ tự lợi chính cũng vì lý do ấy. Tư-tưởng này, sau khi
phật nhập diệt, không được thịnh hành. Nếu cứ theo ý
kiến trong Giáo-Hội Phật-giáo thì nhân cách của Phật rất
đặc biệt, không phải ai ai cũng hiểu được, bởi thế sự
kinh lịch thực tế của Phật dĩ nhiên chỉ biểu hiện trong
Bản-sinh-đàm khi tu hạnh Bồ-Tát và lại coi đó gần như
là nhân sự mà thôi, họ chỉ chuyên theo với những gì được
biểu-diện trong kinh rồi chỉnh lý ít nhiều về mặt lý luận,
cho nên, kết quả đã có những lý luận như trên. Ðương
nhiên những ý kiến đó tuy như thế nhưng quyết không thể
như Ðại-Thừa chê là chỉ khuynh hướng về một mặt siêu-thoát,
mà theo lời Phật dạy, trên thực tế, họ cũng rất tận
lực đối với các việc thiện ở thế gian. Tóm lại, có
thể nói, vì đã xuất phát từ kiến-địa thần-học mà đã
có kết luận như trên. Ðối lại với ý kiến này là ý kiến
thứ hai, tức làm việc thiện ở thế-gian mà xa lìa được
tâm-sở đắc thì cũng là phật đạo. Cũng như ý kiến thứ
nhất, ý kiến thứ hai cũng cho người đã giải thoát phải
lấy sự nghiệp cứu-tế thế-gian làm mục đích tối cao của
Phật giáo. Tất cả đều lấy Phật làm lý tưởng mà hoạt
động, đó là chủ trương của Ðại-thừa và chung cực đã
đạt đến thuyết-pháp Bất-trụ niết-bàn.
Song
ở đây, vấn đề Ðại-thừa chưa được bàn đến, chúng
ta chỉ đang luận về đặc trưng luân-lý-quan của Tiểu-thừa-luận-bộ
mà thôi. Nếu cần phải bàn thêm nữa thì, như đã nói ở
trên, các học phái Tiểu-Thừa tuy không đặt nặng giá trị
tối chung của đạo đức, nhưng, vì nó là sự chuẩn bị
cho giải thoát nên vẫn rất coi trọng đạo -đức. Về điểm
này, cứ xem trong các luận-thư, khi luận cứu các đề mục,
đã phân biệt cái gọi là ba tính, lấy thiện, ác, vô-ký
làm tiêu-chuẩn trọng yếu nhất mà phê phán giá trị của
nó thì đủ rõ. Hơn nữa, như đã nói nhiều lần, cái đặc
trưng lớn của các luận-thư là muốn đặt rọng tâm cơ-sở-đạo-đức
ở tâm-lý-luận. Như vậy, đề mục luân-lý-luận của Luận-Bộ
là chỉnh lý những lời trong kinh, hoặc những đức-mục được
biểu-hiện trong Luật rồi cho nó một giải thích nhất định:
đó chính là cách xử lý cái mà ai cũng biết được gọi
là Nghiệp-phẩm vậy.
Tóm
lại, phương pháp xử lý luân-lý-luận của A-tỳ-đạt-ma-luận,
về phương diện thích ứng với cái học-phong nhất-ban của
A-tỳ-đạt-ma, tuy có thể nói là tính cách lý-luận, nhưng
thay vì đi vào chiều sâu thì lại chỉ phân biệt những lời
kinh theo chiều rộng và rất chú trọng sự mâu thuẫn về
mặt biểu diện. Do đó, nếu chỉ có thế thôi thì tuy vẫn
chưa đạt đến chỗ sâu xa của luân-lý-luận của Phật-giáo,
nhưng nếu đứng về phương diện quảng-bác mà nói, thì bất
cứ ai, nếu không biết qua những điểm đó thì không đủ
tư cách để bàn đến luân-lý-luận của Phật-giáo. Tuy nhiên,
vì luân-lý-quan của A-tỳ-đạt-ma-luận, nếu đứng trên lập
trường luân-lý-luận ngày nay mà nhận xét, thì phương pháp
luận cứu của nó rất bác-tạp, bởi thế, nếu ta muốn nghiên
cứu nó một cách có thể-hệ thì tất nhiên ta cần phải
đặc biệt chú ý đến phương pháp xử lý tài liệu đó.
6-
Về tài-liệu và sách tham khảo để nghiên-cứu vấn đề
này, thì phần tài liệu, lấy thuyết pháp luân lý trong Ni-kh-da
làm trung tâm, mà Nghiệp-phẩm, Phiền-não-phẩm, Trí-phẩm,
Ðịnh-phẩm v.v… (không giới hạn trong luận Câu-xá) trong
các luận thư là toàn bộ luận thư xử lý về phẩm
loại này.
Về
sách tham khảo, chúng ta có thể kể vài ba cuốn sau đây:
Ward;
TheEthics of Buddhism.
P.Dahlke;
Buddhism als Religion und Moral. Zweite
Auflage
1923, Miinchen – Neubiberg.
John
Mckenzie, Hindu Ethics. 1922, London and Calcutta.