CHƯƠNG
III
TÂM
LÝ TÁC DỤNG LUẬN
(nói
về nhất ban)
(Tiếp
Theo Trang Trước)
TIẾT
THỨ NĂM:
TÁC
DỤNG THỐNG NHẤT
1-
HÀNH VÀ THỨC LÀ NGUYÊN LÝ THỐNG NHẤT.
Những
điểm này được trình bày trên đây – tuy có quan hệ hỗ-tương
– là liên quan đến những yếu tố chủ yếu của tác dụng
tâm lý. Vấn-đề được nêu lên ở đây là: cái nguyên lý
thống nhất những yếu tố đó thành một tâm mà làm cho hoạt-động
là gì? Tâm lý của người ta do nhiều yếu-tố thành lập,
nhưng ít ra, trên tác dụng cụ-thể, cũng có một nguyên lý
thống nhất. Ðương nhiên, nếu coi như đây là vấn-đề hình-nhi-thượng-học
thì, như đã nói ở trên, ý kiến giữa các nhà chủ trương
sinh-cơ-luận và cơ-giới-luận tuy có chỗ bất đồng, nhưng
vấn đề ở đây trước sau vẫn là vẫn là vấn-đề tâm-lý-luận,
tức làm thế nào có được nguyên lý tác dụng tâm lý của
người ta? Theo Phật Giáo Nguyên Thủy, sự thống nhất của
tâm, trên đại thể, theo hai phương diện. Thứ nhất, chủ
yếu đứng trên lập trường hoạt động mà nói, cái nguyên-lý
thống nhất những tác dụng tinh thần của ta là hành. Nếu
nói một cách nghiêm khắc thì ý nghĩa của hành rất lờ mờ,
nhưng, trên đại thể, hành là tổng xưng các hoạt-động-tính
của tâm. Phật Giáo Nguyên Thủy cho đó là nguyên lý thống
nhất tâm: điều này cứ đọc trong các văn-hiến cũng có
thể thấy. Như:
“Này
các Tỳ-Khưu! Các ông lấy gì gọi là hành? Này các Tỳ-Khưu!
Tập hợp những cái được tập-hợp nên gọi là chư hành.
Tập hợp những cái được tập-hợp là làm cho sắc là sắc,
tập hợp những cái được tập hợp làm thụ là thụ, tập
hợp những cái được tập hợp, làm cho tưởng là tưởng,
tập hợp những cái được tập hợp, làm cho hành là hành,
tập hợp những cái được tập hợp, làm cho thức là thức,
tập hợp những cái được tập hợp.” …
Hoạt
động tính này của tâm được coi như là tác dụng thống
nhất những tác dụng của tâm. Theo ý nghĩa ấy trong số các
học giả Âu-châu, cũng có người trực tiếp dịch là syntheses
(Compendium of Ph. P. 274 and its foot notes). Cách nhận thức của
họ là theo lập trường nhận-thức, và như vậy, thức trong
ngũ-uẩn là tương đương với tác-dụng này. Nếu nói theo
nghĩa rộng thì thức tương đương với tác dụng của ý thức
nhất ban. Trong Ni-kha-dạ gọi là vijànàti (nhờ phân biệt
mà biết nên gọi là vinnàna) (Câu-Tát-La f.S. N. vol. III, p.
87). Lúc đó đối tượng của nhận thức, quan niệm hay biểu
tượng, trở thành trung tâm, đại khái đó là ý nghĩa thống
nhất tâm của người ta. Phật Giáo Nguyên Thủy lấy hành
làm chủ, lấy hoạt động và vô-thức-thể làm nguyên lý
thống nhất của tâm, lấy thức làm nhận-thức-thể, làm
nguyên lý thống nhất của tâm, lấy vô-ngã-luận làm bối
cảnh, trên tâm-lý-luận quan hệ, ta nhận thấy có sự thống
nhất, do đó mà tâm-lý-luận đã rất phát triển. Có điểm
lờ mờ trước hết là hành. Theo câu-xá-luận thì trong hành
có 44 tâm-sở, còn theo A-tỳ-đạt-ma-pháp-yếu-luận thì 52
tâm-sở. Quan niệm về nhận thức thì xưa kia nghiêng hẳn
về ý nghĩa nhận thức để giải thích, nhưng ý thức nhất
ban lại là vũ-đài hoạt động của các tâm-sở. Do đó, vấn
đề được nêu lên là: trong ý thức, cái nguyên lý thống
nhất các tâm sở đó là gì? Nói cách khác, trong các tâm sở,
ý thức được thống nhất bởi những tác dụng tâm sở như
thế nào?
2-
TÁC Ý VÀ TAM MUỘI LÀ NGUYÊN LÝ THỐNG NHẤT
Theo
A-tỳ-đạt-ma thì trong những tác dụng, cái quá trình thống
nhất ý thức của người ta là hành, nhưng nếu đề cập
đến tác dụng chủ yếu, thì đại ước có ba loại. Một
là tác ý; hai là tam-muội, hay tâm-nhất-cảnh; và ba là tư.
Có thể nói ba tác dụng này là cùng phát sinh bởi sự thống
nhất của tâm ta. Song, thật ra, ba tâm sở trên đây chỉ là
sự phân tích theo lập trường bất đồng của một tác dụng
thống nhất mà thôi.
Thứ
nhất là tác ý (1). Theo sự giải thích của A-tỳ-đạt-ma
thì tác ý lấy cảnh giác làm tướng (Câu-xá quyển 4). Duy
thức-luận thì bảo lấy cảnh giác làm tính, dẫn tâm tới
cảnh làm nghiệp (quyển 3, Ðại chính, 31, trang 11). Tác-ý
chính là tương đương với sự chú-ý của người ta. Phật-Âm
giải thích nó như sau: “Tâm thường làm bạn với tác ý
để đến một cảnh nhất định. Nếu không có tác ý thì
tâm con thuyền không lái, mất mục tiêu, không thể đi đến
bất cứ cảnh nhất định-nào” (Compendium of Ph. P. 283). Tức
tác ý là tác-dụng làm cho những tác dụng tâm của người
ta chuyên chú vào một đối tượng hay một quan niệm nhất
định, không có tác ý thì tâm không thể đi đến chỗ thống
nhất. Ngũ-đức bảo rằng chú-ý và thống-giác chẳng qua
là đường phương diện bất đồng của một quá trình đồng-nhất
mà thôi. Ðiều này trong tâm lý Phật-giáo cũng nói thế, tức
là loại địa pháp (biến hành) đã trình bày ở trên, được
coi như một cơ-sở của hết thảy hoạt-động của tâm. Song,
theo tâm-lý Phật-giáo, tác ý này trước sau vẫn là tác-dụng
dẫn khởi tâm. Nếu lại khảo sát nó trong trạng-thái
thống-nhất thì nó là tam muội, hoặc tâm-nhất-cảnh. Có
thể nói, tam-muội là tác dụng làm cho tâm dần dần tập
chú vào một điểm, nếu nói theo ngôn ngữ ngày nay, thì đó
là tiêu điểm khiến cho chuyên chú vào ý-thức. Duy-thức-luận,
quyển 5 (Ðại-Chính, 31, trang 28, trung) nói: “Ðối với cảnh
sở-quan tâm chú vào một cảnh, không tán loạn làm tính, y
vào trí làm nghiệp”. Tức là chỉ có tác-dụng do chuyên
chú mà làm cho sự biểu hiện của đối tượng trở nên rõ
ràng. Dĩ nhiên, tác dụng đối với tác-ý nói trên cũng cùng
là nguyên-lý thống nhất tâm. Phật-Âm đã giải thích cái
tính của tâm-nhất-cảnh ấy như sau:
“Tâm-nhất-cảnh
là cái trạng thái tâm tập chú vào một điểm; còn gọi là
tam-muội. Tướng của nó, theo cổ-ký-lục (Atthakathà) nói
như thế này: Tam-muội lấy thượng thủ làm tướng hay lấy
bất-dộng làm tướng. Cũng như cái đòn nóc kết hợp tất
cả những thành phần kiến trúc khác trong một ngôi nhà, nên
gọi là thượng-thủ.
Cũng
thế, tất cả các thiện-pháp đều do tâm hoàn thành, hoặc
Tam-muội là thượng-thủ của hết thảy pháp”.
Điều
chúng ta cần chú ý ở đây là: Tam-muội tuy lấy bất-động
làm tướng, nhưng không thể vì thế mà bảo nó là tỉnh-chỉ.
Tâm sinh diệt từng giây phút: đó là định luật của Phật-giáo.
Cái gọi là tâm-nhất-cảnh-tính quyết không có nghĩa gò bó
là đứng yên một chỗ, mà là lưu-chú từng sát-na, khiến
cho tâm chuyên chú vào sự lưu-chú đó gọi là tam-muội. Thượng
tọa Bộ Nam-phương phản đối ý nghĩa này. Nhưng theo luận-sự,
Bắc-đạo-phái, hay Hữu-bộ lại nói “Cittasantati samàdhi”
(sự kế-tục của tâm cũng là tam-muội)”. Tôi cho rằng ý
kiến đó rất đúng.
3-
ÐẶC BIỆT LUẬN VỀ HAI TÂM CÙNG KHỞI HAY KHÔNG CÙNG KHỞI.
Như
vậy, theo Phật-giáo tam-muội, tức chú ý, là trung tâm hoạt
động ý thức của người ta. Nếu đứng về phương diện
biểu tượng mà nói, thì tam-muội có thống-giác. Về vấn
đề này, giữa Bộ-phái Phật-giáo, đã nảy sinh ra những
nghị luận rất thú vị. Có thể nói, đó là vấn đề liên
quan đến phạm vi của sự chú ý. Có thể cùng một lúc chú
ý đến nhiều điểm được không? Nói theo thuật-ngữ là:
trong một lúc, có thể có “nhị-tâm-câu-khởi” không? Chiếu
theo các văn hiến, nếu đem ra luận cứu thì đây tựa hồ
là một vấn đề rất khó khăn. Theo Tôn luân-luận thì mạt
phái thuộc Ðại-chúng-bộ cho rằng trong một lúc có thể
có nhiểu thức cùng sinh khởi, nhưng theo Luận-sự thì đó
là chủ-trương của (Đông-sơn-bộ và Tây-sơn-bộ. Thành-thật-luận,
quyển 5, Thức-câu-sinh-phẩm 75, đã trình bày rõ lý do về
vấn-đề này, Thành-thật-luận bảo: chẳng hạn có người
trong một lúc mắt nhìn bình nước, tai nghe tiếng nhạc, mũi
ngửi mùi hoa, miệng ngậm hương vị, như thế là há không
phải cùng một lúc có thể tưởng khởi nhiều biểu tượng
khác nhau? Luận-sự cho đó là “nhất thời tác ý nhất thiết”
(trong một lúc chú ý đến tất cả). phản đối ý kiến đó
mà chủ-trương “Nhất-thời-nhất-thức-luận” (trong một
lúc chỉ có một thức) là Nam-phương Thượng-tọa-bộ, Hữu-bộ
(Bà-sa quyển 1, Ðại-chính, 27, trang 49, trung, và quyển 140,
Ðại-chính, 29, trang 719 hạ), Thành-thật-luận (quyển 5, Thức-bất-câu-sinh-phẩm
76) v.v… nhất là Kinh-bộ, theo Bà-sa-luận, bảo sự sinh khởi
của tâm và tâm sở cũng như đi qua một khúc hiểm-lộ chật
hẹp, quyết không thể hai người cùng sánh vai nhau mà đi (Bà-sa
quyển 16, Ðại-chính 27, trang 79, hạ). Cùng một luận-điệu
ấy, Thành-thật-luận (quyển 5), Thức-bất-câu-sinh-phẩm 76,
cũng lại trình bày lý do đó như sau: sự sinh khởi của thức
tất phải y vào niệm (có nghĩa, tác ý), cho nên trong một
lúc quyết không thể nhiều thức cùng khởi nếu trong một
lúc có nhiều tâm sinh khởi, thì quá-khứ tâm và vị lai tâm
cũng phải đồng thời sinh khởi, và nếu như vậy thì hoạt
động tâm-lý biến thành diệt vong. Nhiều thức cùng khởi
trong một lúc như người ta thấy, chẳng qua chỉ là những
tác dụng tâm trình hiện một cách quá nhanh chóng cũng như
tướng trạng của một chiếc vòng lửa trên đầu nén hương
khi người ta xoay nhanh nén hương đó mà thôi. (Theo Luận-Sự
14, 3 thì Bắc-đạo-phái bảo “Nhãn-thức không gián đoạn,
nhĩ-thức sinh” (chủ trương tâm sinh khởi liên tục, không
gián đoạn).). Theo ý kiến riêng tôi thì chân-lý có thể là
ở khoảng giữa. Theo tâm-lý thực nghiệm, sự chú ý của
người ta cũng hơi rộng, tức dù cho trong một giây lát cũng
có thể, đến một trình độ nào đó, nhận thức được
những số hạng bất đồng (Chẳng hạn, ta thử thí nghiệm,
trong phòng tối, viết lên bảng từ số 1 đến số 10, rồi
dùng đèn bấm chiếu lên thì trong giây lát ta có thể nhận
thức được vài ba chữ số chứ không phải chỉ có một).
Ðại-chúng-bộ nghiêng hẳn về phương diện khoáng trương
để quan sát vấn đề này; còn Thượng-tọa-bộ chỉ quan
sát cái mức độ trình hiện c75c nhanh của nhận thức cho
nên đã có những ý kiến bất đồng như trên. Song, bất luận
thế nào đi nữa, tác-dụng thống nhất tâm vẫn là hai tâm-sở
tác ý và tam-muội đã nói ở trên, mà đặc trưng của chúng
là biểu tượng minh bạch (tức nhận thức), đây là một
sự thật hiển nhiên.
4-
TƯ LÀ NGUYÊN LÝ THỐNG NHẤT.
Về
phạm vi rộng, hẹp của sự chú ý, giữa các bộ phái cũng
có những kiến giải bất đồng. Nói chung, trong tác-ý và
tam-muội có sự thống nhất ý thức: đó là điểm không còn
phải tranh luận. Nhưng, sự thống nhất đó tuy lấy phương
diện biểu tượng làm chủ, song, nếu lại khảo sát nó về
phương diện phát động của tâm thì bất luận là tác ý
hay tam-muội đều quy định sự phát động của tâm vào tác-dụng
thống nhất. Mà sắp đặt sự phát động của tâm là tư,
tức ý chí, đứng trên lập trường này mà nói thì ý chí
là nguyên lý thống nhất tâm tối cao. Phật-Âm đã giải thích
điểm này rất rõ ràng. Sau đây xin trích dẫn sự giải thích
của Phật-Âm về cetanà:
“Lấy
thẩm lự làm tư, cùng các pháp tương ưng kết hợp với cảnh
làm nghĩa. Ðặc chất của nó là tư-lự, mà đặc chất có
nghĩa là tâm tính. Lấy ý dục làm tác dụng, nghĩ về bốn
địa là tướng thẩm-lự. tất cả tướng thẩm lự tức
là tác dụng ý dục, mà chủ yếu là sự tồn tại của thiện,
ác. Vì tư là cơ sở của thiện, ác, cùng với các pháp tương
ưng là một bộ phận tác dụng, song tư cũng phi thường hữu
lực, trình hiện hai lớp nỗ lực và hai lớp phấn phát. Theo
ý nghĩa ấy, các bậc thầy ngày xưa nói: Tư là người tạo
tác, là tự tồn, là điền chủ. Như người điền chủ thống
lãnh 55 (tâm sở) người thợ gặt thu hoạch mùa màng cho mình,
và gieo trồng vụ khác. Những người này phi thường nỗ lực,
phi thường phấn phát, hai lớp nỗ lực, hai lớp phấn phát;
người điền chủ một mặt tự làm, mặt khác, đốc thúc
thợ thuyền, và cung cấp cho họ nào nước uống, thức ăn
và hoa trái (phân phối công việc)” – (Atthasàlini, p. 111,
The Expsitor p. 147).
Lập
trường của Phật-giáo nguyên thủy mới lấy hành làm nguyên
lý thống nhất. Ðến bộ-phái Phật-giáo tuy có chia thành
nhiều học phái, nhưng cái tinh thần ấy vẫn là căn để
trong tất cả lãnh vực khảo sát, và trong tâm-lý-luận đã
lấy trung tâm của hành, tức tư, làm nguyên lý thống-nhất
chủ động thật không có gì là lạ cả. Nghĩa là, tâm-sở
tuy có nhiều nhưng tất cả đều do từ chi phối và kết hợp.
Về điểm này, các nhà tâm-lý-học ngày nay lấy chủ nghĩa
chủ-ý để thống nhất tâm, có thể nói, cuối cùng, muốn
tìm cầu sự kinh quá của ý-chí vậy.
TIẾT
THỨ SÁU:
KÝ
ỨC VÀ LIÊN TƯỞNG
1-
KÝ ỨC VỚI NGHIỆP TẬP.
Trở
lên tuy đã quy định hiện tượng kinh-quá của tâm, nhưng
để tiện khảo sát, ta hãy tạm cho nó định trụ để nói
rõ tác dụng của nó. Song, thật ra, tâm thường là niệm niệm
sinh diệt, cho nên không một phút nào ngừng lại ở cùng một
trạng thái. Nghĩa là cú tâm niệm trước diệt thì tâm-niệm
sau khởi, niệm trước nhường chỗ cho niệm sau, cứ thế
nối nhau, không lúc nào ngừng. Bởi vậy, tác-dụng tâm-lý
là niệm niệm tương tục.
Tuy
nhiên, tâm không giống như một dòng nước chảy, hoặc ngọn
đèn cháy. Nó không những chỉ có tính cách tương tục, mà
một mặt tương tục, mặt khác lại tích tụ những kinh nghiệm
đã qua, trong đó, nếu đứng về phương diện ý-thức mà
nói, thì có tác dụng ghi nhớ 9ký ức), còn nếu đứng về
phương diện vô-ý-thức mà nói, thì trong đó, tính cách nghiệp
tập đang hình thành. Về nghiệp-tập sẽ xin trình bày sau,
ở đây cần nói về ký ức trước đã.
2-
CHỦ THỂ CỦA KÝ ỨC
Phật-giáo
gọi ký-ức là niệm hay ức-niệm. Từ thời đại Phật Giáo
Nguyên Thủy, tác dụng tâm này đã luôn luôn được nói đến,
nhất là đến A-tỳ-đạt-ma lại đặc biệt cho nó là rất
trọng yếu, Hữu-bộ kể nó là một trong mười đại-địa-pháp.
Duy-thức thì liệt nó vào một trong năm Biệt-cảnh, điều
này đã được nói rõ ở trên rồi.
Ký
ức là nhớ lại những kinh nghiệm đã qua. Song trong những
tâm tác dụng, ký-ức là một vấn đề hết sức phiền toái
tiềm tại trong mọi pháp-tướng, nên đến A-tỳ-đạt-ma,
vấn đề này đã được bàn luận bàn luận đến một cách
rất náo nhiệt.
Vấn
đề đầu tiên được đặt ra là: chủ thể của ký-ức là
gì? Thông thường, theo Phật-giáo, vấn đề sẽ trở thành
rất khó khăn nếu cho ý-thức là hiện-tượng kinh-quá thì
một khi kinh-nghiệm tiêu diệt lại tìm cầu cơ-sở để tái
khởi. Những Bộ-phái chủ trương sinh cơ chủ-nghĩa muốn
từ căn-để lưu chuyển của ý thức thừa nhận một cái
gì đó không những có lý do để giải quyết vấn đề luân-hồi-luận,
mà còn có ý nghĩa muốn tìm cầu nguyên lý ký ức nữa, điểm
này cũng đã được trình bày ở trên rồi. Cái lý do mà ngoại
đạo vịn vào để bác tâm-lý-luận của Phật-giáo đại
khái cũng liên quan đến vấn đề ký-ức và nghiệp này (Chẳng
hạn như phần chú thích của Vayàsa trong yogasutra 49). Nếu
phải nói đến lý do mất rồi lại tái khởi như thế nào
thì thật hơi có điểm phiền tạp, cho nên, giữa các nhà
chủ trương Hữu-ngã-luận cũng có tranh biện về vấn đề
này, cứ xem Chính-lý-phái-luận về điểm này cũng đủ rõ.
Nhưng điều thú vị là luận Ðại-tỳ-bà-sa, từ quyển 11
đến quyển 12 (Ðại-chính, 27, trang 55. thượng – 58), khi
bàn về vấn đề này, trước hết lập ra nhiều thuyết, trong
đó, một cách ngoài ý muốn, có đề cập đến cả những
thuyết của ngoại đạo. Nếu theo Bà-sa thì trước hết có
các nhà gọi là Chư pháp-tương-ẩn-luận, cho rằng trong tất
cả các pháp hữu-vi đều có cái gọi là trú-phân, cũng thế,
khi là dạ-phân thì trú-phân cũng vậy. Kinh nghiệm ức-niệm
khi trú-phân là dạ phân; Kinh nghiệm ức-niệm khi dạ phân
là trú-phân. Theo ý nghĩa đó thì tâm có hai tác-dụng: A và
Bà-La-Môn thay đổi nhau. Khi A trong thái tiềm ẩn thì nắm
giữ kinh nghiệm hoạt động của Bà-La-Môn, khi Bà-La-Môn thái
tiềm ẩn thì nắm giữ kinh nghiệm hoạt động của A. Thứ
đến là thuyết của các nhà chủ trương Chư-pháp-tương-biến-luận.
Thuyết này cho rằng sự tương biến của các pháp cũng như
yết-lạt-lam biến thành ngạch bộ-đàm, là xanh biến thành
lá vàng. Như vậy, ký-ức y tồn nơi biến này, kinh-nghiệm
của tiền vị do hậu vị ức-niệm. Ký-ức tuy là hiện tượng
do tiền vị dẫn tục nhưng thật thì vẫn còn có chỗ chưa
được rõ ràng. Thứ ba là thuyết của các nhà chủ trương
Chư-pháp-tương-vãng-luận. Thuyết này bảo rằng kinh nghiệm
của tiền-vị đi qua hậu-vị tức ở hậu-vị không diệt,
đó là nguyên lý ký-ức. Thuyết này có điểm bất đồng
với thuyết Tương-biến nói ở trên. Bà-sa-luận nêu lên hai
điểm: 1 Tương-biến-luận chỉ thừa nhận sự biến hóa,
không nói kinh-nghiệm của tiền vị đi qua hậu-vị; trái lại,
tương-vãng-luận thì chủ trương có đi qua hậu-vị cùng với
kinh nghiệm của hậu-vị đồng nhất tăng trưởng: đó là
điểm bất đồng giữa hai thuyết. 2 trương-biến-luận bảo
tiền-vị và hậu-vị không phải một, cũng không phải khác,
ngược lại, Tương-vãng-luận thì cho rằng tiền vị và hậu
vị cũng là một mà cũng khác nhau, đây cũng lại là điểm
bất nhất-trí. Tương-biến-luận cho rằng kinh nghiệm của
người ta cũng như một đóm lửa bén sang một đóm khác, một
mặt biến hóa dần, một mặt do nguyên lý liên tục mà có
hiện tượng ký-ức; Tương-vãng-luận thì bảo như giọt nước,
một mặt theo thứ tự mà rõ xuống dần, kinh-nghiệm của
người ta cũng thế. Thứ tư là thuyết của các nhà chủ-trương
tiền-hậu-nhất-giác-luận. giác tức là tác dụng của tính-biết,
tuy có nhiều thứ khác nhau, nhưng bản tính của chúng thì
đồng nhất, cho nên bảo tri được kinh nghiệm trước, và
kinh-nghiệm sau có thể đủ ức niệm (thuyết của Số-Luận
?). Thứ năm là thuyết của các nhà chủ-trương Ý-giới-thường-trụ-luận.
Thuyết này cho rằng lục-thức tuy biến hóa nhưng ý-giới
thì thường trụ cho nên mới có khả năng ký-ức. Thứ sáu
là thuyết của các nhà chủ trương Nhị-ẩn-luận. Họ bảo
rằng uẩn tổ chức thành tâm ta có hai loại là căn-bản-uẩn
và tác-dụng-uẩn; tác-dụng-uẩn thì biến hóa nhưng căn-bản-uẩn
thì thường trụ, vì vậy mà có thể ghi nhớ, không quên mất.
Nhận xét theo tôn-luân-luận thì đây có vẻ vang áng như thuyết
của kinh-bộ, nhưng không chừng đó là thuyết của ngoại
đạo cũng nên. Thứ bảy là thuyết của các nhà chủ-trương
Tiền-hậu-truyền-đạt-luận. Thuyết này cho rằng tâm thông
suốt đến chỗ sâu kín, kinh nghiệm trước do tâm trước
truyền đến tâm sau, do đó có nguyên-lý ký-ức tồn tại.
Ở đây tuy có điểm tương tự như thuyết Tương-vãng-luận
nhưng Tương-vãng-luận bảo kinh nghiệm trước cứ thế truyền
đến kinh nghiệm sau, trái lại, thuyết này thì bảo tâm trước
truyền đến tâm sau, so với Tương-vãng-luận có vẻ hợi
có tính cách máy móc.
3-
ÐIỀU KIỆN KHẢ NĂNG CỦA KÝ ỨC.
Về
sự bảo tồn ký-ức tuy có nhiều nghị-luận khác nhau, nhưng
bất luận thế nào đi nữa, Phật giáo không thừa nhận có
người bảo tồn tường trụ, nhất là về phương diện lấy
kiến giải cơ-giới chủ-nghĩa làm thiện. Nhưng như thế thì
làm thế nào có thể có được ký ức? Trong phát-trí-luận
(Ðại-chính, 26 trang 919, hạ), Ca-đa-diễn-ni-tử bảo ký-ức
do sức tập quán mà có được trí đồng-phần và đó là
nguyên-lý khả-năng của nó. Tức tuy không có tâm trước truyền
đến tâm sau, nhưng trong sự tương-tục của tâm, có tâm lý
kế tục tương tự như kinh nghiệm trước, và đó chính là
nguyên lý ký-ức. Phát-trí-luận vì nó như văn tự. Cách sử
dụng văn tự giữa hai người tuy không có sự sắp đặt đặc
biệt nào trước, nhưng do tập quán cùng một văn tự người
ta cũng có sự lý giải đồng nhất vậy. Cũng thế kinh-nghiệm
trước cũng có thể được bảo tồn bởi kinh-nghiệm sau,
chứ không cần phải có một cái gì bảo tồn ngoài nó cả.
Ðến Ðại-tỳ-bà-sa-luận, để giải thích thuyết này của
luận phát-trí, đã đưa ra nhiều thuyết khác nhau như đã
trình bày ở trên. Tựu-trung, về ký-ức, Thế-Hữu bảo do
ba nhân duyên mà có ký-ức. Thứ nhất bảo tòn kinh nghiệm
trước (thiện thủ thiện tướng). Thứ hai, cùng kinh-nghiệm
trước tương tục. Thứ ba, không nhất niệm. Ba điều kiện
này tuy vô ngã nhưng có khả-năng ký-ức. Về điểm chợt
quên đi một vật gì rồi lại nhớ lại, là do đối với
các pháp sinh khởi trí-kiến tương thuộc, Bà-sa quyển 12 (Ðại-chính,
27 trang 57, hạ) đã nói rõ. Trí-kiến tương-thuộc có liên
quan đến ý nghĩa tri-kiến của kinh-nghiệm trước, và điều
kiện để sinh khởi, cũng theo Bà-sa, là ba loại đồng phận.
Ðó là: gia-hành-đồng-phận; nghĩa là do kinh-nghiệm tương-tự
như kinh-nghiệm trước mà khi chợt quên rồi lại nhớ lại
được, tức do kết quả của sự lâm tưởng loại tự; Tùy-thuận-đồng-phận,
nghĩa là nhờ cách chỉnh tề lại thân tâm mà một khi quên
bẵng đi một việc gì lại nhớ ra được. Chẳng hạn, có
một vị Tỷ-khưu quên mất kinh-văn bèn đi đến chỗ A-Nan
để hỏi. A-Nan bảo ông lấy dầu thoa vào người, tắm gội,
ăn uống và sửa sang lại y phục, do đó mà bổng nhiên nhớ
lại kinh văn (Về sự quên mất, Thế-Hữu bảo có ba nguyên
nhân: 1- không khéo giữ tướng trước, 2- tương tục khác
phận, 3- thất-niệm. Hay có tám nguyên nhân: 1- khi sinh, vì
cái khổ của sự sinh bức bách, 2- khi chết, bị cái khổ
của sự chết bức bách, 3- luôn luôn nói nhiều, 4- vì độn
căn, 5- bị cái khổ sinh vào thú phi-ái bức bách, 6- năm căn
luôn chạy theo cảnh làm tâm tán loạn, 7- trọng chướng phiền
não luôn luôn hiện hành, 8- không siêng tu tịnh, để tâm tán
loạn – Bà-sa quyển 12, Ðại-chính, 27, trang 58, trung, hạ).
Ðến Câu-xá thì, trên đại thể, tuy dự tưởng các thuyết
của Bà-sa, nhưng Câu-xá lại thêm vào một chút tư tưởng
của kinh bộ để tạo thành một thuyết đặc hữu của Thế-Thân.
Coi tâm như hiện tượng tương tục thì điểm này cũng đồng
với Hữ-Bộ, nhưng Hữu-Bộ là cơ-giới, còn Kinh-Bộ lại
là sinh-cơ chủ-nghĩa. Thế-thân trong Phá-ngã-phẩm (quyển
30), bảo sự trì tục của sinh mệnh y vào sự tương tục,
chuyển biến và sai biệt (1), như vậy, tư tưởng này gần
với tư tưởng của Kinh-bộ hơn là của Hữu-Bộ. Theo Thế-nhân
thì ký-ức được thành lập bởi bốn nguyên nhâ. Thứ nhất
là tác ý, tức chú-ý; ký ức không phải chỉ là cơ giới
mà là một sự kiện rất rõ ràng. Thứ hai là liên tưởng
loại tự. Thứ ba là thấy khói nghĩ đến lửa, tức là do
liên tưởng tiếp cận. Thứ tư là do sự cố gắng đặc biệt
(Câu-xá quyển 30, phá-ngã-phẩm). Bốn nguyên nhân này tuy đơn
giản nhưng có thể đã nói lên hết những điểm quan yếu
rồi (Á lý tư đa đức bảo sự khởi sinh liên tưởng y cứ
vào bốn nguyên tắc loại tự, đối tỷ, đồng htời là kế
khởi. Ðến các nhà tâm lý học sau ông, lấy bốn nguyên tắc
trên đây làm cơ sở, rồi lại giảm nữa mà chỉ còn hai
là laọi tự và tiếp cận. Hiện giờ thì lại có phong trào
vận động muốn đưa hết thảy quy vào một loại tự hoặc
tiếp cận mà thôi).
Bây
giờ thử quay sang Luận-Bộ-Nam-Phương để xem ký-ức-luận
của họ ra sao. Về điểm này, tôi cho rằng không một tài
liệu nào đã luận cứu vấn để trên một cách rất tường
tế bằng Di-lan-đà-vương-vấn-kinh, bởi thế, ở đây ta hãy
lấy kinh này làm đại biểu để khảo sát vấn đề. Nếu
đứng trên lập trường tâm lý học mà nói, thì ký-ức-luận
của Di-lan-đà-vương-vấn-kinh tuy không khỏi có điểm thô
tạp, bởi lẻ nó chỉ chuyên trình bày những điều kiện
bổ trợ cho ký-ức, nhưng trong đó cũng có nhiều ý vị.
Trước
hết, theo kinh này, ký-ức của người ta sinh khởi do hai điều
kiện trong và ngoài, mà nếu lại nói một cách tường tế
hơm thì thành 16 (hay 17) loại. 1- Chứng trí, là tác dụng do
sức nội-tỉnh đặc-thù mà tưởng lại đời quá khứ. Cái
gọi Túc-trụ-trí-chứng-thông chính là trí này, 2- do sự bổ
trợ từ bên ngoài, tức là người dễ quên, thấy người
khác hay chú ý mà nhớ ra được. 3- do ấn tượng lớn, nghĩa
là do một sự kiện phi thường đã in sâu và thường thường
được tưởng đến. 4- do ấn tượng khoái lạc. 5- do ấn
tượng không khoái lạc, tức những kinh nghiệm cựa khoái
lạc, hoặc không khoái lạc, tất cả đều khó quên. 6- do
nhân duyên đồng phận, tức là y vào liên tưởng loại tự,
như thấy một người giiông giống như cha mẹ anh em thì liên
tưởng đến cha mẹ anh em mình, hay như thấy con bò thì liên
tưởng đến những động vật khác (điểm này trong Phá-ngã-phẩm
của Câu-xá cũng có và đã được nói đến ở trên). 7- do
nhân duyên không đồng phận, tức y vào liên tưởng hoàn toàn
trái ngược. 8- do chuyện trò mà tưởng tới, tức khi nói
chuyện với một người nào về một sự kiện gì, có liên
quan thì liên tưởng ngay đến sự kiện đó. 9- do đặc trưng,
nghĩa là, khi thấy một đặc trưng nào đó thì liên tưởng
đến một đặc trưng khác. 10- do ức-trì, tức y vào sự chú
ý và ký-ức liên tục. 11- do luyện tập, tức do sự luyện
tập không ngừng tự nhiên tưởng đến những sự tình kế
tục. 12- do toán-số-học, nghĩa là nhờ ghi nhớ những con
số mà tính được những con số lớn. 13- do đọc nhẩm, như
các sư đọc kinh thầm. 14- do sự tu thiền. 15- do tăng gia mối
quan hệ cũ, như bạn học. 16- do tương-đương, tức như thấy
một vật tương-đương, mà tưởng tới một sự kiện tương
đương khác. 17- do thực-nghiệm, tức nhờ kinh nghiệm thực
tế mà tưởng tới (trong số này, Khắc-Tư sáp nhập 3 và
4 làm một thành 16 loại) (Text p. 79. S.B.E.XXXV, pp. 122-123, Keith;
Buddhist Philosophy pp. 193-4).
Những
điều kiện trên đây đại khái lấy kinh-nghiệm thực tế
làm cơ sở để rồi thêm vào đôi chút ý nghĩa thực-dụng
của ký-ức-pháp, cho nên, nếu đứng trên lập trường học
vấn mà nói thì, như đã nói ở trên, không khỏi có điểm
thô tạp. Song, bất luận thế nào đi nữa, ở đây nhìn vào
số mục của các điều kiện được nêu lên, ta có thể nhìn
thấy sự cố gắng đến mức tối đa của kinh này. Như bốn
điều kiện của Câu-Xá-Luận, trên quá trình lịch sử, tuy
không được rõ, nhưng đại khái là kết luận có được
do sự chỉnh lý các điều kiệnt rên đây vậy.
(1)
Nghĩa là, nghiệp có trước, sau sắc tâm sinh, trong đó không
có gián đoạn nên gọi là tương tục. Sự tương tục này,
cứ mỗi sát-na sau lại khác với sát-na trước, nên gọi là
chuyển biến. Sự chuyển biến này, cuối cùng, công năng không
ngừng sinh ra quả, hơn mọi sự chuyển biến khác, nên gọi
là sai biện (Câu-xá, quyển 30, phá-ngã-phẩm).
4-
CHƯ TÂM TƯƠNG SINH.
Cùng
với tâm-lý ký-ức có quan liên, vả lại, trong tâm-lý-học
Phật-giáo, so với ký-ức-luận còn trọng đại hơn đó là
vấn đề Chư-tâm tương-sinh, hay, nói theo thuật ngữ, là chư-tâm
tương ưng. Khi một tâm niệm nào sinh khởi, có bao nhiêu tác
dụng tâm cùng khởi, cùng tương-ưng? Ðó chính là vấn đề
này. Vấn đề này tuy có liên quan đến sự nghiên cứu về
liên tưởng; nhưng nó khác với liên-tưởng-luận thông thường
ở chỗ chuyên lấy thiện, ác, mê, ngộ làm tiêu chuẩn để
nói rõ những điều kiện tâm lý. Chẳng hản như Ðại-địa-pháp,
Ðại-thiện-địa-pháp, Ðại-phiền-não-địa-pháp, Ðại-bất-thiện-địa-pháp
v.v… tất cả đều xoay quanh vấn đề thiện, ác v.v… Về
các pháp này, chúng tôi đã trình bày ở trên rồi. Trong các
luận-thư đặc định, điểm này đã được chú ý một cách
đặc biệt. Bởi thế, về sau, bất cứ luận thư nào, dù
lớn hay nhỏ, không một bộ nào bỏ qua vấn đề này. Nhất
là đến Ba-sa-luận (quyển 11, Ðại-Chính 27, trang 53, hạ),
hay Câu-Xá-luận (quyển 7) v.v… cho tâm tam-giới và vô-lậu
là 12 tâm. Tức ở dục-giới có 4 tâm thiện, ác, hữu-phú-vô-ký
và vô-phú-vô-ký; ở Sắc-giới và vô-sắc-giới thì trừ
ác tâm, còn mỗi cõi đều có ba tâm, tổng cộng là sáu tâm,
rồi lại thêm vào hai tâm xuất thế là học và vô-học thành
tất cả là 12 tâm. Mà trong 12 tâm này, mỗi tâm đều trải
qua ba cõi, có thể sinh bao nhiêu tâm, rồi lại do bao nhiêu
tâm sinh ra? Nếu đứng trên lập trường phát sinh quan mà nhận
xét, thì vấn đề này tựa hồ cực kỳ phiền tỏa và không
thể thuyết minh một cách tường tế được. Hãy lấy một
thí dụ: ở Dục-giới, muốn phát khởi thiện tâm, có luận
nói có từ 50 tác-dụng tâm trở lên cùng khởi với thiện
tâm này. Nhưng theo Câu-xá, Bà-sa thì thiện tâm ở dục-giới
là đẳng-vô-gián-duyên, có khả-năng-tính sinh ra chín tâm,
tức là bốn tâm ở Dục-giới, hai tâm ở Sắc-giới (thiện
tâm và hữu-phú-tâm), một tâm ở vô-sắc-giới (hữu-phú)
rồi lại thêm hai tâm vô-lậu nữa. Nếu nói ngược lại thì
thiện-tâm ở dục-giới lấy tâm nào làm đẳng-vô-gián-duyên
để phát sinh? Câu-xá và Bà-sa bảo do tám tâm sinh, tức là
bốn tâm Dục-giới, hai tâm Sắc-giới (thiện, hữu phút);
hai tâm học và vô học. Cứ theo luận điệu đó mà đưa ra
từng lý do để nói rõ từng tâm một thì vấn đề sẽ trở
thành cực kỳ phức tạp, khiến người ta phải chán nản.
Tóm
lại, nếu vấn đề này được luận cứu một cách tường
tế thì sẽ là một vấn đề rất khó khăn, nhưng ta không
nên quên rằng chính nó là một trong những đặc-trưng của
tâm-lý-luận Phật-giáo.
TIẾT
THỨ BẢY:
MỘNG
VÀ PHÁT CUỒNG
Trở
lên, chúng tôi đã trình bày những điểm liên quan đến tác-dụng
tâm-lý nhất ban khi thức tỉnh. Ngoài những điểm đó ra,
trong sinh-hoạt tâm-lý của người ta, còn có một trạng thái
đặc thù nữa là mộng và phát cuồng. nhất là về mộng,
nó là một bộ phận sinh họat tâm lý hằng ngày vàtrên phương
diện sinh-hoạt thục tế, nó cũng có tính chất rất trọng-yếu.
bởi thế, cổ-kim, Ðông, Tây, đối với vấn đề này, đã
có rất nhiều thuyết minh, điều đó tưởng không có gì là
lạ cả. Ở đây, trước hết chúng tôi trình bày về mộng,
sau đó sẽ luận qua về phát cuồng.
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
Phát-trí-luận
quyển 2, Ðại-Chính 26, trang 925, trung.
Ðại-tỳ-bà-sa-luận
quyển 37, Ðại-Chính, 27, trang 192, trung.
Thành
thật-luận quyển 4, Ý-Phẩm 53.
Milindapãnha
297 – 301. Tr. II, pp. 157 – 162.
Mrs.Rhys
Davidis; Buddhist Psychology, p. 171 f.
Keith;
Buddhist Philosophy. P, 194.
1-
NGUYÊN NHÂN CỦA MỘNG
Mộng
là hiện tượng bất-tư-nghị. Nó tựa hồ như có liên lạc
mà không thiết thực, như không hư Mà lại có dự đoán những
sự thực trong tương lai nữa. Những người không hiểu tâm-lý-học,
đối với vấn đề này không khỏi cảm thấy bối rối. Nhất
là người thời xưa, cho mộng hoặc linh hồn ta kinh-nghiệm
khi lìa xác-thân đi chơi, hay cho đó là hiện tượng tương
lai được quỷ thần báo trước cho người ta biết, bởi thế,
họ rất coi trọng những hiện tượng trong mộng. Chính vì
thế mà nảy sinh ra phương pháp đoán mộng, đánh mộng. Ðiều
này, cứ xem tại Ấn-Ðộ, từ rất sớm, trong A-thát-bà-phệ-đà
đã có những bài chú đoán mộng và đánh mộng rồi. Trở
xuống đến thời Áo-nghĩa-thư thì mộng hầu như dần dần
đã được quan sát thêm về mặt tâm lý, và trong ba hay bốn
vị của thuyết Ngã, mộng được xếp vào vị thứ hai, tâm
là chủ-tể,lấy kinh-nghiệm lúc thức làm tố-tài mà khảo
sát vạn-tượng (Brhadaranyaka Upanisad, 43 Ấn-Ðộ-Triết-Học-Tôn-giáo-Sử,
trang 311 trở đi). Từ đó trở đi, hoặc theo ý nghĩa thông
tục, hoặc về phương diện học-thuật, mộng đã được
kết hợp cả hai hình thái đó, và giữa các phái, mộng-luận
vì thế đã được thuyết minh một cách sôi nổi. Tựu trung,
Phật-giáo, trong Ni-kha-da, đã có đề cập đến vấn đề
này, rồi đến những luận thư về sau, cùng với Thụy-miên-luận,
mộng trở thành vấn đề chỉ được khảo sát theo kiến
giải tâm lý mà thôi. Những tài liệu đại biểu về vấn
đề này, theo chỗ tôi biết, trong Luận-Bộ-Nam-Phương có
Di-Lan-Ðà-Vương-Vấn kinh; còn Luận-Bộ-Bắc-Phương thì có
Ðại-tỳ-ba-sa-luận (quyển 37, Ðại-Chính, 27 trang 192, trung).
Khi
người ta ở vào trạng thái tinh thần như thế nào thì có
mộng? Na-Tiên trả lời rất rõ ràng về câu hỏi này. Theo
ông (1) thì mộng là cái tượng trưng từ trung-tâm của tâm
mà ra, là trung gian đời của sự ngủ, là hiện tượng sinh
khởi trong vị Thụy-Miên (2). Tức là, trước hết cảm thấy
thân thể mỏi mệt, khiến cho tác dụng tâm-sở thành vô-lực,
lúc đó là bắt đầu ngủ. Như vậy, khi tác dụng tâm hoàn
toàn chìm vào tâm-thể thì sự ngủ đến giai đoạn chung kết,
nhưng trong lúc đó, những tư tưởng tán loạn, những tác
dụng giác tỉnh vẫn ở trong trạng thái dao động: đó là
vị trung gian và chính mộng hiện khởi vào lúc này. Nói cho
rõ hơn: khi tâm chỉ tức, những yếu tố tâm tuy biến thành
phân toái nhưng trong đó vẫn có một loại liên tưởng kết
hợp hiện khởi, đại khái đó là ý nghĩa của mộng. Ðại-tỳ-ba-sa-luận
bảo tự tính của mộng là, khi ngủ, tâm và tâm-sở chuyển
theo cảnh của các duyên, hay tự tính của mộng là ở ý,
hoặc là tác dụng ký-ức (niệm) hay lấy ngũ-uẩn làm thể.
Trong các thuyết đó, chính Bà-sa-luận thu dụng thuyết tâm
và tâm-sở (Ðại-chính, 28, trang 193, trung, hạ). Nhưng cái
trạng thái tinh thần đó như thế nào? Vấn đề này trong
Di-lan-đà-vương-vấn kinh cơ hồ vẫn chưa có một giải đáp
nào minh xác cả.
Song,
nguyên-nhân của mộng là gì? Trong Di-lan-đà-vương-vấn kinh
nói có sau loại, nhưng trong Ðại-tỳ-ba-sa-luận, sau khi luận
cứu xong, đã đưa ra năm lý do. Luận này bảo về nguyên nhân
của mộng, trong các thuyết của Diệu-Âm, Ðại Ðức và nhất
là Thế-Hữu, đưa ra năm loại (ở đây, Bà-sa có trích dẫn
một bài tụng của Thế-Hữu, như vậy, ta không thể cho Thế-Hữu
không phải là nhà biên tập luận Bà-sa), bài tụng như sau:
Do
nghi lự quán tập,
Phân
biệt, tằng cách niệm,
diệc
phi nhân sở dẫn,
ngũ
duyên mộng ưng tri.
Nghĩa
là: 2 Nghi và sợ điều đó là có, 2 trở thành thói quen, 3
tư-duy và mong cầu, 4 kinh-nghiệm từ trước, 5 do thiên thần,
quỷ thần bảo cho biết. Ðại-tỳ-ba còn trích dẫn cả bài
tụng trong Thọ-phệ-đà nữa. Trong bài tụng này nói có bảy
nguyên nhân sinh khởi mộng. Tức là: 1 – 3 do thấy, nghe, cảm
từ trước. 4 do mong cầu. 5 do tư-duy. 6 dự đoàn tương lai.
7 do quan hệ của chứng bệnh. Bà-sa-sư chiết trung lại và
cũng chủ trương có năm nguyên nhân như Thế-hữu, 1 do tha-dẫn,
tức là do Thiên-thần, chú-thuật và Tiên-Thánh báo cho biết.
2 do kinh-nghiệm từ trước. 3 do điểm lành hay dữ trong tương
lai. 4 do tư-duy, mong cầu v.v… 5 do các chứng bệnh (Ðại-chính,
27, trang 193, hạ).
Ngoài
ra, trong Thiện-kiến-luật Tỳ-bà-sa quyển 12 (Ðại-chính,
24, trang 760, thượng) đưa ra bốn nguyên nhân như sau: 1- do
thân thể không điều hòa, 2- do thấy trước. 3- do trời, người.
4- do tưởng đến mộng. Trí-độ-luận quyển 6 (Ðại-chính,
25, trang 103, hạ), nói; “Mộng có năm loại: khi trong thân
thể không điểu hòa, nếu nhiệt độ quá cao thì mộng thấy
lửa, thấy màu vàng, màu đỏ; nếu nhiệt độ quá thấp thì
mộng thấy nước, thấy màu trắng; nếu phong khí nhiều thì
mộng thấy mình bay bổng lên, thấy màu đen. Lại nữa, nếu
suy nghĩ nhiều về sự việc gì mà mình đã nghe, thấy thì
sinh mộng. Hoặc muốn biết những việc trong tương lai cũng
khởi mộng. Tất cả các thứ mộng như trên đều là vọng
kiến, không phải sự thật”. Sáu duyên trong Di-lan-đà-vương-vấn
kinh tuy hơi tương tự như năm loại trên đây, nhưng đặc
biệt về bệnh thì nói rõ hơn. Tức là theo Di-lan-đà-vương-vấn
kinh: 1- do phong-khí, 2- do bệnh đảm-trấp (đau mật); 3- do
đau ốm; 4- do thần dẫn dụ; 5- do tập quán; 6- do kinh-nghiệm
từ trước. Trong tất cả nguyên nhân trên đây, bết luận
là loại nào, đều thừa nhận mộng tưởng có thật. Nếu
đứng trên phương diện tâm lý học thuần túy mà nói thì,
điểm này, tuy không thoát khỏi sắc thái cổ-phong, nhưng trong
chỗ thâm sâu của tâm linh chúng ta cũng thừa nhận có năng
lực thấy suốt tương lai. Do đó, có thể nói, mộng luận
tựa hồ cũng có ý nghĩa.
(1)
Nimitam etam mahàraja supinàni nàmà yam cittassa upatham upa-gacchati,
text, p-2980.
(2)
Kapiniddapareto vokinnamkam jaggati.
2-
SỰ THỰC, HƯ CỦA MỘNG.
Trong
những lý do khởi mộng, cái gọi là chính mộng cũng biểu
thị một sự thật nào đó, nhưng vấn đề là: có phải những
hiện tượng thông thường trong mộng hoàn toàn hư giả cả
không? Hay với một ý nghĩa nào đó, cũng dự tưởng một
sự thực? (Về sự hư, thực của mộng, trong Trí-độ-luận
quyển 6 (Ðại-chính, 25, trang 103, hạ) cũng có luận đến).
Giữa các nhà thí dụ đã phát sinh ý kiến bất đồng về
mộng. Theo các nhà thí dụ thì mộng sự là hư giả, không
thật có. Ðiều này cứ xem ngay người nằm chiêm bao thấy
mình ăn uống mà khi thức tỉnh không thấy no cũng đủ rõ,
đây là một sự thật (Bà-sa quyển 37, Ðại-chính, 27, trang
193, trung; Thành-thật-luận quyển 4, Ý-phẩm 53). Còn Hữ-Bộ,
theo lập trường cố hữu của mình, chủ trương hiện tượng
mộng cũng là một thứ có thật. Theo Bộ này, hiện-tượng-mộng,
bất luận thế nào, đều có vẻ là hiện thực, trên ý nghĩa,
tuy không phải thật có, nhưng tất cả tài liệu căn nguyên
đều từ kinh-nghiệm thực-hữu mà ra. Chẳng hạn như người
nằm mộng thấy mình bỗng nhiên mộc sừng thì đó chẳng
qua chỉ là kinh-nghiệm về người và sừng hỗn loạn trong
mộng mà tụ vào một chỗ rồi hiện thành biểu tượng như
thế, tuy không phải thật có, nhưng cái yếu tố người và
sừng kia chính là từ kinh-nghiệm thực hữu mà ra. lại nữa
Bồ-tát ngày xưa, trong một đêm, đã thấy năm điều mộng
lớn (1). 1- Nằm trên đại- địa, lấy núi Diệu-Cao (Tu-di)
làm gối, tay phải khuấy biển tây, tay trái khuấy biển đông,
hai chân khuấy biển nam. 2- Có cỏ cát tường kiên cố từ
nơi rốn mộc lên và che cả hư không. 3- Có những côn trùng
và chim đều đen, mình trắng vào trong thân thể của Bồ-Tát.
4- Có chim bốn màu từ tứ phương bay đến tụ tập ở nơi
Bồ-Tát và biến thành một màu. 5- Ði trên phẩn-uế nhưng
không bị ô-nhiễm.. Dĩ nhiên đây chỉ là mượn điềm mộng
để nói lên cái sứ mệnh của Bồ-Tát và trình bày theo cách
thí dụ mà thôi. Song, Hữu-Bộ lại lấy đó làm vấn đề
tâm-lý-luận và thuyết minh cái căn cứ của nó, cho rằng
trong các kiếp tu hành ở quá khứ, Bồ-Tát từng lấy việc
nghe giáo pháp từ các Phật-quá khứ làm sự nghiệp của chính
mình - tiền-trưng thành phật – tuy là mộng-sự nhưng không
phải hoàn toàn hư giả.
Tóm
lại, đứng về phương diện nhận thức luận, Kinh-Bộ chủ-trương
rằng nhận-thức của người ta, dù có lấy hư-vô làm đối-tượng
cũng có thể sinh khởi được. Còn Hữu-Bộ thì cho rằng trong
tất cả nhận thức đều có căn cứ sự thực.
(1)
Ngũ-đại-mộng thấy trong kinh quá-khứ-hiện-taị-nhân-quả
quyển thứ nhất: 1 thấy nằm trong biển lớn, 2 gối đầu
lên núi Tu-Di, 3 thấy tất cả chúng sinh trong biển lớn đều
vào trong thân. 4 một tay nắm mặt trời, 5 một tay bắt mặt
trăng (Ðại-Chính, 3, trang 622, hạ),
3-
MỘNG VÀ TRÁCH NHIỆM ÐẠO ÐỨC.
Một
vấn đề Hữu-quan khác được đặt ra là: chúng ta có nên
hay không đứng về mặt đạo đức mà phê phán những hành
vi trong mộng? Về điểm này, Kinh-Bộ và Thành-thật-luận
hoàn toàn coi mộng là hư giả, chonên không phải đặt ra một
trách nhiệm nào đối với những hành vi trong mộng cả. Chẳng
hạn như hành dâm trong mộng không phải sa đọa: đó là ý
kiến của Thành-thật-luận (quyễn 4, Ý-phẩm 63). Theo Luận-Sự
22, 6 thì Bắc-đạo-phái cũng cùng một ý kiến như thế. Phái
này cho rằng “tất cả tâm trong mộng đều là vô-ký”.
Lý do là: như mộng thấy giết người mà thật-tế không giết
người, như vậy, những hành vi trong mộng không có một trách
nhiệm đạo đức nào cả.Ngược lại. Thượng-tọa-bộ Nam-phương
và Hữu-Bộ thì cho rằng những hành vi trong mộng cũng có
đủ ba tính thiện, ác và vô-ký. Tức là, về phương diện
đạo đức, tùy theo thiện mộng, ác-mộng, trung-gian-mộng
mà tăng trưởng phúc-nghiệp-phi-phúc-nghiệp và trung-gian-nghiệp.
Theo họ thì mộng rút cuộc thì cũng chỉ là sự kế tục
và phản ánh của hiện thực, bởi thế những hành vi hiện
thực được phê phán về mặt đạo đức như thế nào thì
những phản ánh của mộng cũng phải được phê phán như
thế ấy, do đó mà hành vi trong mộng trở thành nguyên nhân
của tội phúc (Bà-sa quyển 37 Ðại-chính, 27, trang 193 thượng).
Song, hành vi trong mộng chỉ là tự nhiên, là cơ-giới (gọi
là sinh đắc) chứ không phải là hữu-vi (gia-hành), bởi thế
nếu do những hành vi ấy mà định cuộc đời tương lai thì
không thể dẫn đến cái gọi là “chúng-đồng-phận”, chẳng
qua chúng chỉ là những yếu tố làm cho chúng đồng-phận
viên mãn mà thôi, vì vậy mà trách nhiệm của những hành
vi trong mộng không được coi trọng cũng là lẽ tự nhiên
(Bà-sa quyển 37, Ðại-chính, 27, trang 193, thượng).
4-
NHỮNG LOÀI NÀO HAY THẤY MỘNG.
Ðiểm
sau hết cần phải bàn qua: đó là những loài sinh vật nào
hay thấy mộng? Về vấn đế này, theo Bà-sa-luận, trong bốn
ngả súc-sinh, ngã-quỷ, nhân gian và thiên-giới đều có mộng
cả. Tại địa-ngục không có mộng, vì ở địa ngục quá
đau khổ, không còn một chút thoải mái nào để mà thấy
mộng nữa. Nhưng có thuyết lại bảo ở địa ngục khi có
làn gió mát thoảng qua, những nỗi khổ dịu bớt, thì lúc
đó chúng sinh vẫn thấy mộng. Tựu trung ở cõi người, phàm-phu
hay thánh-nhân (La-Hán) đều có mộng, nhưng Phật thì không.
Vì Phật đã xa lìa tất cả mọi tập-khí điên đảo. Cũng
có thuyết nói tâm Phật thường ở trong định (thống nhất)
không cần phải tiết chế thống-giác, chonên không thấy mộng
khởi. Thuyết này có lẻ là của Ðại-chúng-bộ-hệ (xem mục
Ðại-chính-bộ trong Tôn-luân-luận). Sau nữa, Ðại-chính-bộ
chủ trương phật thường không ngủ (Tôn-luân-luận), còn
Hữu-bộ bảo Phật cũng ngủ như thường. Như những lúc cực
nóng đức Phật tạm ngủ nghỉ sau bữa ăn (có lẽ là ngũ
trưa). Ðiều ấy cứ xem Phật trả lời những câu hỏi của
Ni-kiền-tử thì đủ rõ. Song sự ngủ của Phật hoàn toàn
không ô nhiễm, bởi thế mà nói không có mộng (Bà-sa quyển
37, Ðại-chính, 27, trang 194, thượng).
5-
MỘNG VÀ HIỆN THỰC.
Nói
chung, mộng sự là một vấn đề đã từng được các học
giả từ cổ chí kim, từ Ðông sang Tây gia công nghiên cứu,
nhất là sự phân biệt nghiêm khắc giữa kinh-nghiệm khi tỉnh
và kinh-nghiệm lúc mộng là một vấn đề đã làm cho các
nhà triết học rất nhọc công. Khang-Ðức theo luật-nhân-quả
để luận về sự bất đồng giữa mộng và tỉnh, nhưng Tiêu-bái-ân-hào-uy-nhĩ
thì cho đó chẳng qua là vấn đề trình độ mà thôi. Trong
cuốn Leviathan (1651) của mình, Hoắc-Ba-Tư nói: “Khi người
ta dự định một kế hoạch hay một mưu tính gì trong tâm
và luôn luôn nghĩ đến chúng thì khi chiêm ba người ta thấy
chúng hiện ra như thật vậy. Trong lúc đó người ta không
thể phân biệt rõ ràng là mình ngủ hay thức. Mộng là dung
hợp trong thực tế”. (thấy trong Die Welt als Willa und Vorstellung
I, 5. 1819, của Schopenhauer). Tại Ấn-Ðộ có Mộng-tỉnh-đồng-nhất-luận
cũng là ý ấy. Nay đến A-tỳ-đạt-ma chuyên đứng trên lập
trường tâm-lý-luận để thuyết-minh vấn đề này, tuy vẫn
chưa ứng dụng nó vào hình-nhi-thượng-học, nhưng dù sau sự
chú ý thâm thiết của A-tỳ-đạt-ma đến nó cũng đáng quý
lắm rồi.
6-
NGUYÊN NHÂN CỦA SỰ PHÁT CUỒNG.
Thứ
đến, xin nói qua về sự phát cuồng. Dĩ nhiên, thường cũng
hệt như mộng, phát cuồng là hiện tượng dị thường trình
hiện trong tác dụng tinh thần. Phật-giáo tuy không luận cứu
vấn-đề này một cách tường tế như vấn-đề mộng, nhưng
cũng có đề cập đến. Theo chỗ tôi biết, kết hợp vấn
đề phát cuồng để luận cứu là Phát-trí-luận (quyển 12
Ðại-chính, 26 trang 981, thượng). Luận này bảo có bốn nguyên
nhân đưa đến phát cuồng. Thứ nhất, gặp những hiện tượng
hay sự kiện rùng rợn do loài phi nhân hiện ra mà mất bình
thường. Thứ hai, là bị loài phi nhân tức giận mà đánh
đập. Theo sự giải thích của Luận-Bà-Sa thi làm hạnh bất
tịnh trong các đền chùa miếu mạo, làm ô uế nơi công viện,
lúc ấy bị các thiên thần tức giận đánh đập đương-sự
mà phát cuồng. Thứ tư, do tiền nghiệp chiêu cảm, có thể
nói là do tiên thiên bao hàm ý tứ vận mệnh. Và theo sự giải
thích của Câu-xá, Bà-sa thì do kiếp trướ làm não loạn người
khác, hay cho họ uống thuốc hoặc rượu khiến phải mê loạn,
vì thế mà phải trả nghiệp này. Ngoài bốn nguyên nhân trên
đây, Bà-sa lại thêm một nguyên nhân thứ năm nữa, đó là
do ưu sầu. Do kết quả của sự khổ muộn cực độ mà phát
cuồng (Bà-sa quyển 126, Ðại-chính 27, trang 658, thượng, trung).
Phát-cuồng-luận của Tạp-tâm-luận (quyển 11, Ðại-chính,
2, trang 960, thượng) và Câu-xá (quyển 15) đại khái cũng tương
đồng với luận Bà-sa.
7-
CÁC VẤN ÐỀ PHÁT CUỒNG.
Trong
A-tỳ-đạt-ma, đặc biệt là Ðại-tỳ-bà-sa, cho phát cuồng
là thuộc tâm-lý-luận, và nêu lên những câu hỏi: 1) phát
cuồng do tâm-hữu-lậu mà ra hay do tâm vô-lậu, tức tâm phiền
não mà ra. 2) phát cuồng là việc của đệ-lục thức hay năm
thức trước cũng có quan hệ? Nói cách khác, phát cuồng là
do ý thức bất điều hòa hay cũng do cảm giác bất điều
hòa nữa? Ðó là một vấn đề. Và đối với câu hỏi đó,
các A-tỳ-đạt-ma luận-sư cho rằng phát cuồng là do sự phân
tế của ý thức chứ không liên quan gì đến cảm giác. Do
tâm cuồng mà thấy hai mặt trời chứ không phải con mắt
biết lầm, cho cảm giác không thể là kết quả của sự phát
cuồng. 3) Câu hỏi này hơi tinh mật một chút, tức là, khi
tác dụng cuồng loạn sinh khởi thì khởi từ tâm phát cuồng
hay từ tâm không phát cuồng? Vấn đề này được đặt ra
là vì phát cuồng có tính cách đột phát, dù cho không bịnh
cũng có, cho nên bản tính nó là kiện toàn, chẳng qua chỉ
trong một lúc tác-dụng tâm cuồng mà hiện ra như thế thôi.
Về vấn đề này, sự giải thích của Luận-đại-tỳ-ba-sa
có điểm rất thú vị. Theo đó thì trong con người có đủ
khả-nămh-tính của cả tâm cuồng loạn lẫn tâm không cuồng
loạn. Khi gặp duyên cuồng loạn thì tâm mất kiện khang và
cuồng tâm phát khởi, khi gặp duyên kiện khang thì tâm cuồng
loạn mất và tâm kiện khang khởi. Ðây tuy là kết-luận từ
thuyết Tam thế thực-hữu, nhưng bảo trong con người có đủ
cả yếu tố phát cuồng thì thật là một thuyết minh rất
có ý vị (Bà-sa quyển 126, Ðại-chính, 27, trang 658, hạ). 4)
Có bao nhiêu loài hữu-tính có khả-nămh-tính phát cuồng? Ðây
là hiện tượng chỉ hạn cục trong Dục-giới, tuy tràn lan
các ngả súc-sinh, ngã-quỷ, nhân-gian, thiên-thượng, nhưng
ở cõi người thì tại Bắc-câu-lư-châu không có phát cuồng.
Cái gọi là “Ðại chủng vì bội” (thân thể không điều
hòa), tức sinh mệnh thì thánh nhân cũng không thoát khỏi.
Song, cũng hệt như mộng, Phật tuyệt đối không phát cuồng
(Bà-sa quyển 126, Ðại chính, 27, trang 658, trung, Tạp-tâm-luận
quyển 10, Ðại-chính, 27, trang 656, trung, Tạp-tâm-luận quyển
10, Ðại-chính, 28 trang 960, trung. Câu-xá quyển 15). Lại trong
Thành-thật-luận quyển 4, cuối phẩm căn-trần-hợp-ly 49,
trong những phiền não phá hoại tâm ý, có kể đến: cuồng
điên, quỷ nhập, kiêu dật, thất tâm, say rượu, bị thuốc
mê, tâm muộn loạn, tham giận và phóng dật v.v… (Ðại-chính,
32, trang 269, trung).
TIẾT
THỨ TÁM
VÔ-Ý
THỨC LUẬN
(Tính-Cách
và Khí-Chất)
Những
điểm đã được trình bày ở trên tuy là tâm-lý-quan-hiện-tượng,
nhưng ngoài những điểm đó ra, trong tâm-lý-học Phật-giáo,
vẫn còn một đề mục nữa cần phải luận cứu: đó là
vô-ý-thức-thái, nếu ta có thể gọi nó như thế. Và nếu
đứng về phương diện hoạt-động tâm-lý mà nói, thì nó
là một trạng thái có quan hệ rất lớn.
Trong
vấn đề tâm-lý-học, ta có thể hay không thừa nhận trạng-thái
vô-ý-thức. Đây là một vấn-đề tâm-lý-luận cận đại.
Phật-giáo tuy không phối hợp nó với vấn-dề-tâm-lý-luận,
nhưng, trên một lập trường nào đó, trên cơ sở tác dụng
tâm-lý, thừa nhận trạng thái vô-ý-thức, và theo một ý
nghĩa nào đó, thừa nhận nó có một quan hệ trọng đại,
so với tác-dụng tâm-lý của ý-thức.
Theo
Phật-giáo-nguyên-thủy, những yếu tố tâm-lý là năm uẩn
sắc, thụ, tưởng, hành, thức, bởi thế, nếu giải thích
theo văn tự, thì tâm của người ta luôn luôn là ý-thức.
Song, quan sát theo kinh-nghiệm, không những chỉ khi ngủ say
mới có trạng thái vô-ý-thức, mà, đứng về phương diện
luân-hồi mà nhận xét, thì tổ-chức của chủ-thể luân-hồi
thay vì là ý-thức thì lại là ý-thức. Hơn nữa, tâm của
người ta dù là khi ý-thức, bộ phận hoạt động trong cõi
thức là một bộ phận rất nhỏ, còn phần lớn kinh-nghiệm
thì ở ngoài cõi thức. Theo ý nghĩa ấy, ta có thể nói hoạt
động tâm-lý của người ta thường thường dự tưởng trạng-thái
vô-ý-thức. Về điểm này, nhất là đứng trên lập trường
tu dưỡng mà nói, có một ý nghĩa hết sức trọng đại. Hoạt
động ý-thức có hạn định, dù một kẻ cực ác đi nữa
cũng không phải nhất định lúc nào cũng khởi ác tâm; đồng
thời dù là một bậc thánh đi nữa cũng không nhất định
lúc nào cũng an trụ nơi thánh tâm. Như vậy, nếu theo tác
dụng ý-thức mà nói thì, trong một trường hợp nào đó,
có thể nói kẻ ác, người thiện là đồng nhất. Nhưng, sở
dĩ không thể nói như thế được cũng chính vì cái quan hệ
của vô-ý-thức-thái như thế nào. Ðiểm này, đến bộ phái
phật giáo đã phát sinh nghị luận về “tuỳ-miên” là ý-thức
(tâm-tương-ưng) hay là vô-ý-thức (tâm bất-tương-ưng)? Nhưng
về vấn đề này, tôi đã trình bày ở trên rồi. Như vậy,
về phương diện theo kiến giải cơ-giới chủ-nghĩa thì chủ-trương
thuyết ý-thức, còn về phương diện theo kiến giải sinh-cơ
chủ-nghĩa thì chủ-trương thuyết vô-ý-thức. Về vấn đề
này, ý kiến của các bộ-phái tuy rất rõ ràng, nhưng, đứng
trên lập-trường nhất ban-luận mà nói thì, trong Phật-giáo,
bất luận là học phái nào cũng đều vận dụng một hình
thái nào đó mà thừa nhận là có vô-ý-thức; điều này tưởng
không cần nói ai cũng biết.
Chiếu
theo Luận-Bộ Nam-phương, danh từ được dùng để biểu thị
vô-ý-thức-phái, hoặc hạ-từng-ý-thức-thái, là “hữu-phần”,
nếu nó là một thuật-ngữ thì dĩ nhiên chỉ đã được ứng
dụng sau Ni-lha-da (danh từ đơn tuy trong A. N. 72, vol. II, p. 79,
có những chữ như rupangam, vedanangam, sannangam, bhavangam v.v…
nhưng không phải là ý nghĩa hiện nay). Chỉ-đạo-luận và
Di-lan-đà-vương-vấn-kinh, khi thuyết minh về chữ “miên:
ngủ”, đã dùng tiếng vangatassa và tôi cho rằng cách dụng-ngữ
này đã có rất sớm. Tuy có nghĩa một bộ phận, nhưng ở
đây lại bảo là anga, có nghĩa là nguyên nhân, lý do, điều
kiện v.v… tóm lại, là nghĩa cơ sở tồn tại, đó là theo
người chú giải (Compendium pf Ph.p.9, ibid pp. 265 – 267). Trong
Ðại-Thừa-Thành-Nghiệp-Luận, Thế-Thân nói “trong Xích-đồng-diệp-bộ
kinh có thành lập Hữu-phần-thức” (Ðại-chính, 31, trang
78, thượng), chính là vô-ý-thức-thái. Kinh-nghiệm của người
ta tuy suy-biến mà tách rời khỏi cõi thức thì được thu
vào “hữu-phần” này, đợi khi nào có sự kích thích từ
bên ngoài đưa vào tâm người ta mà khởi lên hoạt động
nhận thức thì tất phải dựa vào sự chấn động của hữu-phần
này: đó là ý kiến của Phật-Âm (The Expositor I, p. 96, Atthasalini
p. 72 f.). Nếu theo các nhà chú giải sau này thì hữu-phần
và ý-thức-thái lại đứng ở hai phương diện đối lập
nhau, nghĩa là khi nào hữu-phần diệt thì lúc đó ý-thức
mới có thể khởi (Compendium of Ph. P. 266). Tóm lại, nếu nói
theo thí dụ thì: hữu-phần như nước lặng, còn ý-thức-thái
có thể được coi như sóng. Nhưng, nước lặng đây không
có nghĩa là tù hãm mà là chảy xiết không ngừng, bởi thế
mà hữu-phần có khi được mô tả như một dòng nước. Nhất
là khi muốn thuyết minh về trạng thái luân hồi thì thông
lệ thường phụ thêm hữu-phần này (Compendium of Ph. P. 10).
Về điểm này, trên đại thể, Thượng-toa-bộ Nam-phương,
vốn đứng trên lập trường cơ-giới chủ-nghĩa, cũng gần
biến thành một thứ kiến giải sinh-cơ chủ-nghĩa. Nhưng theo
chỗ tôi tận lực nghiên cứu, cái gọi là hữu-phần-thức
này, vì hoàn toàn là thụ-động nếu thiếu hẳn phương diện
năng-động. Xâu dựng nó trên một cơ-sở tư-niệm đồng
nhất, nhưng dần dần đã coi trọng phương diện năng động
chính là Phật-giáo Bắc-phương vậy.
Trong
các bộ-phái Phật-giáo Bắc-phương, Hữu-Bộ là phái đầu
tiên đã chú ý rất nhiều về vấn đề này mặc dầu bản
thân họ đứng trên lập trường cơ-giới chủ-nghĩa. Ðó
chính là thuyết “vô-biểu”. Kinh nghiệm ý-thức của người
ta, nhất là hành vi ý chí, khi tác dụng tâm lý tuy diệt nhưng
sau đó lưu lại vô-biểu-nghiệp, hay vô-bỉ6u-sắc để hình
thành tính cách hoặc khí chất của người ta, đồng thời,
là nhân tố chiêu cảm quả báo tương lai. Ðương nhiên, nếu
chiếu theo văn hiến thì không phải chỉ trong kinh điển của
Hữu-Bộ mới nói đến vô biểu, mà trong Xa-Lợi-Phất-A-tỳ-đàm-luận
quá hỗn tạp, nên ta có thể coi những ý kiến đó vẫn chịu
ảnh hưởng của Hữu-Bộ Phát-trí-luận, trong Nghiệp-uẩn,
cũng luận cứu về thuyết vô-biểu qua chương Biểu-vô-biểu-nạp-tức,
và cũng là đề tài mà Hữu-Bộ đã tận lực khảo sát (Ðại-tỳ-ba-sa-luận
quyển 122 – 124 thuyết minh vấn đề này một cách tường
tế). Song, nói rõ cái tính chất của vô biểu như thế nào
và lại kết hợp nó một cách đơn giản thì tôi nhận thấy
có luận Câu-xá, bởi thế, thử xin trích ra như sau: “Loạn-tâm,
vô-tâm tùy theo tịnh hay bất tịnh, tính chất tạo đại chủng
do đó mà bảo là vô-biểu”. Ở đây nói loạn tâm có nghĩa
là cái tâm không giống với tâm khi hành vi (như đối với
thiện tâm, ác tâm là loạn tâm, đối với ác tâm, thiện
tâm là loạn tâm). Vô-tâm là đối với hữu-tâm mà nói. Tóm
tắt, một khi đã làm rồi thì cái dư-tập của hành vi, nếu
khởi tâm không cùng một tính chất thì tuy hoàn toàn ở vào
một trạng thái vô-ý-thức, nhưng luôn luôn tùy chuyển không
ngừng. Nhưng vì không thể biểu hiện nên gọi nó là vô-biểu.
Nhất là đặc sắc của Hữu-Bộ cho vô-biểu, trên hình thể
diễn tập, vì là dư tập, nên về hình thể cũng là sắc
pháp (vật chất không thấy, không đối), lý do chính là ở
điểm này. Như ai nấy điều biết, cơ giới chủ-nghĩa bảo
nó giống như một thứ vật chất, tuy có điểm hơi lạ, nhưng
chủ trương cho rằng, một khi kinh nghiệm đã diễn xuất quyết
không diệt ngay thì, bất luận theo theo tâm-lý-học hay luân-lý-học,
đều có giá trị rất đáng được chú ý. Song, điều đó
có tính cách quá máy móc nên Kinh-bộ đã phản đối thuyết
này, và điều này đã xảy ra tranh luận ngay trong thời đại
luận Ðại-tỳ-ba-sa được biên tập. Ðiểm này cứ chiếu
theo Bà-sa quyển 122 trong đó các nhà thí dụ đã nhất khái
phủ nhận biểu nghiệ và vô-biểu-nghiệp thỉ đủ rõ. Nhất
là đến Câu-xá-luận, vì bênh vực Kinh-Bộ, nên đã giới
thiệu phủ-định-luận đó một cách rất tường tận (Câu-xá
quyển 13). Kinh-Bộ bảo rằng Hữu-Bộ tuy cho biểu nghiệp
là trạng thái thực-hữu, nhưng thực ra đó chỉ là ý chí
của người ta thông quá thân, khẩu mà phát hiện ra ngoài
thôi, tự nhiên không có vật gì đặc biệt tồn tại cả.
Song nói thế không có nghĩa là không có một cái gì tương-đương
với vô-biểu-sắc. Ðó là hành vi hay kinh nghiệm tập thành
cái gọi là “tư-chủng-tử”. Nói cách khác, kinh-nghiệm
tại bản thân ý chí lưu lại dư tập, rồi tương tục chuyển
biến một cách rất vi tế mà hình thành tính cách, đồng
htời trở thành nhân tố cảm chiêu hậu-quả (Câu-xá-quyển
13). Ðây chính là muốn theo kiến giải sinh-cơ chủ-nghĩa để
thuyết minh và nó đã là nguồn gốc để tiến đến thuyết
minh và nó đã là nguồn gốc để tiến đến thuyết chủng-tử
sinh mệnh hiện-hành của Duy-thức sau này, điều đó tưởng
không cần phải nhắc lại. Thành-thật-luận tuy lấ sự kế-tục
ý kiến của Kinh-bộ làm thông lệ, nhưng thật ra thì luận
này lại có vẻ như thái thủ thuyết chiết-trung. Trong Thành-thật-luận
quyển 7, Phẩm-Vô-Tác 96 (Ðại-chính, 32, trang 290, thượng)
hiển nhiên đã thừa nhận vô-biểu-sắc và định nghĩa là
“Do tâm sinh tội phúc, thuỳ miên, muộc v.v…, luôn luôn sinh
khởi nên gọi là vô-tác”. Nhưng Hữu-Bộ thì cho đó là
nhiếp trong sắc-pháp, Thành-thật-luận lại cho là nhiếp trong
hành-uẩn và coi như một ý chí tiềm thế.
Tóm
lại, về cái đương thể của vô-ý-thức, giữa các Bộ-phái
tuy có nhiều luận thuyết khác nhau, nhưng có thể nói tất
cả các bộ-phái đều nhất trí ở điểm thừa nhận tác
dụng năng động, có thể nói đây là một đặc trưng phát
đạt của tâm-lý-luận Phật-giáo. Từ đó Phật-giáo nói
rộng ra để thuyết minh về sự bất đồng của vận-mệnh-khổ,
vui, đồng htời, nếu chỉ đứng về phương diện tâm-lý
mà nói, đem quy tính cách hoặc khí-chất khác nhau của mỗi
người cho sự phát động vô-ý-thức này thì vấn đề đồng
thời vừa là luân lý, vừa là tâm-lý. Nhưng, như đã nói
về ý chí luận ở trên, chúng ta không nên hiểu lầm rằng,
Phật-giáo cho tính-cách hay khí-chất của mỗi người là do
tiên thiên quy định, không thể biến cải được. Ðời sau,
như Duy-thức-phái chẳng hạn, theo lập trường tu dưỡng,
chủ-trương Ngũ-tính-cách-biệt-luận cho năng lực tu dưỡng
của mỗi người do tiên thiên mà có khác nhau, nhưng đây không
phải là một định-thuyết của Phật-giáo để giải quyết
tất cả mọi vấn đề. Trong A-tỳ-đạt-ma dĩ nhiên, không
phải luận vấn đề trên ý-thức – tuy vẫn thừa nhận sự
bất đồng của tính cách hoặc khí chất tiên thiên, nhưng
cũng thừa nhận rằng, nhờ tập-quán của vô-ý-thức mà kinh-nghiệm
hậu thiên có thể được biến cải.
Vấn
đề này, sau đây khi bàn đến Nghiệp-luận, hay Luân-hồi-luận,
còn rất nhiều điểm cần phải được luận cứu một cách
tường tế hơn, bởi thế, trở lên chỉ chuyên hạn cục trong
phạm vi của lập-trường tâm-lý mà bàn sơ lược như thế
thôi.