THIÊN
THỨ BA
THẾ
GIỚI QUAN
CHƯƠNG
I
TỔNG
LUẬN
1-ĐỊNH
NGHĨA THẾ GIỚI QUAN
Thế-giới-quan
nói ở đây không có nghĩa là sẽ luận về bản chất, nguyên
nhân thành lập, hay ý nghĩa của thế giới, bởi vì tất cả
cái đó đã được trình bày ở thiên thứ hai, trong đề mục
vũ trụ quan rồi. Mà thế-giới-quan nói ở đây cũng không
có nghĩa như Weltanschauung hay cosmology, mà là về thế-giới-khởi-nguyên-luận
và thế-giới-hiện-tượng-luận xem A-tỳ-đạt-ma đã khảo
sát như thế nào: đó là vấn đề chúng tôi muốn bàn qua.
Có thể nói đây không phải là vũ-trụ-thực-thể-luận, mà
là vũ-trụ-hiện-tượng-luận về mặt sự thực.
2-
THẾ GIỚI QUAN CỦA PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY.
Đối
với vấn đề này, như thường lệ, trước hết phải bắt
đầu từ thái độ Phật giáo Nguyên thủy. Như đã nói nhiều
lần, mục đích của Phật là ở việc “Chuyển mê khai ngộ”,
nhưng để đạt đến chuyển mêkhai ngộ, đức Phật chủ
trương “trước hết phải nhìn thằng vào sự thực”. Nếu
không nhìn sự thực mà mng cấu tạo đối tượng tôn giáo
thì không thể bảo là sự khai ngộ chân thật được. Chính
do ý nghĩa ấy mà đức Phật đối với thế-giới sự thực,có
thế-giới-quan. Điều này tưởng không cần nói ai cũng đủ
hiểu.
Song,
có điều chúng ta cần chú là: Phật tuy trương như thế, nhưng
cái gọi là “như-thực-tri-kiến” của Phật không phải
chuyên lấy việc truy cứu làm chủ, mà là đối với thề
giới sự thực phải phê phán giá trị của nó một cách chính
đáng. Là vì sự phê phán chính đáng về giá trị của thế
giới sẽ trực tiếp cho chúng ta những nguyên lý chỉ đạo
cho yêu cầu tôn giáo, còn truy cứu sự thực thì không những
rất gián tiếp mà còn có khi vì quá câu nê vào sự truy cứu
ấy mà xao nhãng sự thạưc tu vốn như cấu tất yếu của
tôn giáo. Do ý nghĩa ấy nên đức Phật tuy chủ trương “nhìn
thẳng vào sự thật”, nhưng nếu một sự kiện nào không
có liên quan đến trực tiếp đến việc giải thoát mà ta
cứ cố lưu tâm chú ý, thì Phật cũng ngăn cản. Thế íơi
này có biến biến tế hay không biến biến tế? Thân, tâm
là một hay khác? Người sau khi chết có linh hồn hay không?
Đối với những vấn đề đó Phật không trả lời. Cho nên,
đứng về phương diện thế giới quan mà nhận xét thái độ
của Phật, thì Phật tuy lấy thế gian làm đối tượng quan
sát, nhưng đối với thế giới vật lý, sinh vật hiện tượng,
có thể nói Phật không quan tâm mấy. Bởi thế, nếu ai bảo
đức Phật đã luận cứu tất cả sự tượng từ thiên văn,
địa lý đến động vật, thực vật thì, dĩ nhiên, đó là
sự hiểu lầm rất lớn.
Nhưng
thế giới hiện tượng luận (quan sát về thế giới vật
lý, và thế giới sinh vật) của Phật giáo cứu kính đã phát
sinh như thế nào? Khi Phật nói về giá trị của thế giới,
tuy không phải lấy thế sự thực làm mục đích, nhưng có
khi không thể tránh khỏi đung chạm của nó. Nếu lìa sự
thật mà chỉ bàn đến giá trị thì điều đó không thể
nào làm được. Cho nên, khi Phật thu dụng thế-giới-quan đương
thời được lưu hành mà nói về núi Tu-Di, đề cập đến
thuyết Nam-diêm-phù-đề, nói đến địa ngục, quỷ thần,
v.v… thì hiển nhiên, không nhiều thì ít, đã đụng chạm
với vấn đề sự thực, và đó là khởi đầu của sự quản
sát về thế giới thực sự của Phật giáo. Điều này tuy
có vẻ vụn vặt, nhưng trong các kinh điển được coi là xưa
nhất đã thấy rãi rác rất nhiều. Có điều đáng tiếc là
cho đến nay chúng ta vẫn chưa được biết những điều đó
được thu dụng vào thời đại nào? Nhưng điều đáng tin
cậy là đức Phật trong khi thuyết minh, thường đã thu dụng
thế-giới-quan ở thời đại Phật, hoặc thế-giới-quan được
lưu hành ở các địa phương khác. Tại sao? Vì chính ngay sự
thuyết minh đó cũng quyết không phải là mục đích của Phật,
cho nên không thể cho đó là sáng kiến của Phật, cũng vì
lý do ấy.
3-
THẾ-GIỚI-QUAN CỦA A-TỲ-ĐẠT-MA.
Điều
chắc chắn là thế-giới-quan sự thực của Phật giáo Nguyên
thủy là nói theo học thuật thường thức của đương thời.
Do đó, theo ý nghĩa này, thế-giới-quan của Phật giáo, vấn
đã cổ kính, lại càng có vẻ cổ kính hơn, bởi vì tự nó
đã chẳng có mấy đặc sắc. Có lẽ thế-giới-quan sự thực
có đức Phật đã cải tạo ít nhiều quan niệm đương thời
để biến nó thành của Phật giáo, vì đặc đặc sắc của
Phật giáo vốn là thu dụng những tư tưởng thời bấy giờ
rồi biến đổi để trở thành một trào lưu Phật giáo. Nhất
là đến các vị luận sư của A-tỳ-đạt-ma dần dần đã
coi thế-giới-quan này là một vấn đề tự thân cần phải
luận cứu, và cũng đã dần dần biến cải nó thành một
trào lưu Phật giáo.
Chú
ý của Phật giáo từ xưa vẫn cho rằng ta có thể điều hòa
giữa thế-giới-quan luân-lý-tâm-lý và thế-giới-quan sự
thực. Nhưng một khi đã tiến đến giai đoạn được cải
tạo thì tất cả không còn bị hạn chế trong cái thế-giới-quan
nhất-ban của đương thời nữa. Tức là, ngoài thế-giới-quan
của Bà-la-môn-giáo, của Kỳ-na-giáo, cuối cùng người ta
đã thấy thế-giới-quan của Phật giáo cũng được thành
lập một dòng riêng. Do ý nghĩa ấy, khi nghiên cứu sự phát
đạt của thế-giới-quan Phật giáo, một mặt chúng ta phải
chú ý tới cái thế-giới-quan nhất ban của đương thời,
mặt khác, đồng thời lại phải cố gắng tìm hiểu cái quá
trình và nguyên do phát đạt của chính Phật giáo nữa.
4-
TÀI LIỆU VỀ THẾ-GIỚI-QUAN.
Song,
những tài liệu liên quan đến sự phát đạt của thế-giới-quan
Phật giáo như thế nào? Dĩ nhiên, nếu đề cập đến tất
cả thì tất nhiên, ở đây chúng tôi chỉ nêu lên những tài
liệu chủ yếu mà thôi.
Trước
hết là tài liệu rãi rác trong A-Hàm-Bộ, nhất là những tài
liệu nhất trí giữa Hán văn và Ba li. Những tài liệu này
tuy không thể bảo là Nguyên thủy, nhưng ít ra chúng cũng có
thể được coi là gần với nguyên thủy. Nếu sưu tập thêm,
thì ngoài Trường-A-Hàm, Trung-A-Hàm ra, trong Tạp-A-Hàm và Tăng-Nhất-A-Hàm
cũng có rất nhiều. Nhất là trong A-ân-cô-tha-lạp bằng văn
Ba li hiện có rất nhiều tài liệu (chẳng hạn trong Anguttara
l,p. 227 và Vô-vi-pháp, p. 59, v.v…, nói: “Một mặt trời mặt
trăng chiếu khắp một thế giới, một nghìn thế giới cũng
như thế. Trong nghìn thế giới, có nghìn mặt trời, nghìn
mặt trăng, nghìn núi Tu-Di, nghìn diêm-phù-đề, nghìn Câu-đa-ni,
nghìn Uất-đan-việt…”). Trước tiên chúng tôi hãy căn cứ
theo những tư liệu này để nghiên cứu thế-giới-quan Phật
giáo Nguyên thủy, nhưng đồng thời, chúng tôi sẽ không quên
đem so sánh nó với thế-giới-quan đã phát đạt sau này.
Với
dụng ý trên đây nên bước thứ hai cần phải nghiên cứu
những tài liệu còn truyền lại trong văn Ba li, Phạm ngữ
và Hán văn. Tựu trung về phương diện Ba li thì chủ yếu
là Bản-sinh-đàm (VI, 125, và p, 432), hoặc là tài liệu trong
A-tha-li-nị, v.v… Về phương diện Phạm mgữ thì có Thiên-nghiệp-thí-dụ,
Đại-sự (tham chiếu Kirfel; Die Kosmographie der Inder S. 186), v.v…
Nhưng tài liệu trọng yếu nhất về vấn đề này là bản
Hán dịch Kinh-Lâu-Thán (kinh Thế Khởi). Bộ kinh này được
dịch từ Trường-A-Hàm, quyển 18 đến 20 (do Phật-đà-da-xá
và Trúc-Phật-niệm cùng dịch vào thời Hậu Tần). Những
bản dịch khác thì có Khởi-Thế-Kinh, 10 quyển (do Xà-na-quật-đa
dịch đời Tùy); Thế-nhân-bản-kinh, 10 quyển (do Đạt-ma-cấp-đa
dịch, cũng đời Tùy). Tất cả có các phẩm sau đây:
1-
Diêm-phù-đề-châu-phẩm; 2- Uất-đan-việt-phẩm; 3- Chuyển-luân-thánh-vương-phẩm;
4- Địa-ngục-phẩm; 5- Long-điểu-phẩm; 6- A-tu-long-phẩm; 7-
Tứ-thiên-vương-phẩm; 8- Đao-lợi-thiên-phẩm; 9- Tam-tai-phẩm;
10- Chiến-đấu-phẩm; 11- Tam-trung-kiếp-phẩm; 12-Thế-bản-duyên-phẩm.
Tất
cả những tài liệu trên đây được thành lập vào thời
gian nào thì điều này vẫn chưa được rõ lắm, nhưng có
điều chắc chắn chúng là những sản vậ Tam-thế-thực-hữu
của thời kỳ mà nên thần học A-tỳ-đạt-ma đã được
xây dựng.
Trong
lần kết tập thứ tư, những kinh điển thuộc loại này được
phụ và Trường-A-Hàm (lúc đầu, kinh văn và thế-giới-quan
đích xác đã thuộc bộ loại, điều cứ xem có hai bản dịch
khác cũng đủ rồi). Do đấy thế-giới-quan Phật giáo đã
được thống nhất, về hình thức tuy đã được nhất định,
nhưng nếu đem so sánh nó với những sự tập hợp sau này,
thì về nhiều phương diện, nó chưa được luận cứu đến.
Thế-khởi-kinh,
về mặt vật chất, tuy là A-tỳ-đạt-ma, nhưng trên danh nghĩa
thì vẫn thuộc Khế-Kinh. Tuy nhiên, về danh nghĩa, nếu đặt
nó vào địa vị A-tỳ-đạt-ma thì đó chính là “Phật-thuyết-lập-thế-a-tỳ-đàm-luận”
(10 quyển, do Chân Đế dịch, Đại chính, 32, trang 173-226).
Bộ luận chia các chương thành 25 phẩm đối lại với 10 phẩm
trong kinh Thế-Khởi. Đó là:
1-
Địa-động-phẩm; 2- Nam-diêm-phù-đề-phẩm; 3- Lục-đại-quốc-phẩm;
4- Dạ-xoa-thần-phẩm; 5- Lâu-xà-kỳ-lợi-tượng-vương-phẩm;
6- Tứ-thiên-hạ-phẩm; 7- Số-lượng-phẩm; 8- Thiên-trụ-xứ-phẩm;
9- Hoan-hỷ-viên-phẩm; 10- Chúng-xa-viên-phẩm; 11- Ác-khẩu-viên-phẩm;
12- Tạp-viên-phẩm; 13- Ba-lợi-dạ-đa-viên-phẩm; 14- Đề-đầu-lại-tra-thành-phẩm;
15- Tỳ-lưu-lặc-xoa-thành-phẩm; 16- Tỳ-lưu-bác-xoa-thành-phẩm;
17- Tỳ-sa-môn-thành-phẩm; 18- thiên-phi-thiên-chiến-đấu-phẩm;
19- Nhật-nguyệt-hành-phẩm; 20- Vân-hà-phẩm; 21-Thụ-sinh-phẩm;
22- Thọ-lượng-phẩm; 23- Phẩm-địa-ngục (trong đó có 10
phẩm nói 11 địa ngục); 24- Tiểu-tam-tai-phẩm (trong đó Tật-dịch-đao-binh
và Cơ-ngã ba phẩm); và 25- đại-tam-tai-phẩm (hỏa tai).
Nội
dung các phẩm trên đây là lấy thế giới hiện tượng làm
nền tảng để nói về những hoạt động của các loài hữu
tình trong đó. Tuy mang cái tên là “Phật thuyết” nhưng thật
ra nó đã được các vị luận sư của A-tỳ-đạt-ma sau này
chỉnh lý, do đó, chắc chắn ta có thể coi nó đã được
chế tác theo kinh Thế-Khởi.
Thế-giới-quan
của Phật giáo, đến đây đã dần dần được chỉnh lý,
chế tác và, đến một trình độ nào đó, được xử lý
như một đề mục độc lập để rồi cuối cùng đã được
thống hợp thành một phân khoa trong các A-tỳ-đạt-ma luận
thư. Trước hết là Thi-thiết-luận bản Hán dịch tuy có một
phẩm Nhân-Thi-Thiết gồm 7 quyển (Đại chính, 26), nhưng ở
Tây Tạng, ngoài Nhân-Thi-Thiết ra còn có Nghiệp-Thi-Thiết
và Thế-Gian-Thi-Thiết ba phẩm. Trong phần phụ lục của hai
phẩm đầu, De la Valleepoussin giới thiệu tác giả là Thế
Thân và Xưng Hữu. Phẩm Thế-gian-thi-thiết tức là luận về
thế-giới-quan mà chủ yếu là căn cứ vào kinh Thế Khởi
trong Trường-A-Hàm và lấy đó làm phong thái để luận cứu
của A-tỳ-đạt-ma. Điều này đã được thừa nhận ở thời
đại Long Thụ, cho nên trong luận Trí Độ quyển 2 có nói
như sau:
“Có
người cho rằng trong sáu phần A-tỳ-đàm thì Phân-biệt-thế-xứ-phận
thứ 3 gồm 8 phẩm (kinh Lâu Thán cũng đặc vào phần thứ
3 trong 6 phấn) là do Mục Kiền Liên trứ tác (Đại chính,
25, trang 70, thượng).
Nghĩa
là, trong sáu bộ luận A-tỳ-đạt-ma (Lục-túc-luận của Hữu
Bộ?), Thi-thiết-luận được đặt vào hàng thứ 3. Mà phần
chú thích thì căn cứ vào kinh Lâu-Thán, cho nên, về điểm
này, đã ám chỉ luận Thi-Thiết đã được thoát thai từ
kinh Thế-Khởi trong Trường-A-Hàm. Vả lại, trên thực tế,
đem đối chiếu giữa Thế-Khởi kinh và Thế-gian-thi-thiết,
người ta thấy có nhiều điểm nhất trí, đó là một sự
thật không thể phủ nhận. Điều này chúng tôi đã trình
bày qua trong “A-tỳ-đạt-ma-luận-nghiên cứu”, thiên thứ
3.
Về
Hán dịch, luận Thi-Thiết tuy chưa được truyền một cách
toàn thể, nhưng tại Ấn Độ, nó mang một ý nghĩa rất trong
yếu, không những là một trong Lục-túc-luận của Hữu Bộ,
mà đối với các bộ khác, nó cũng được rất coi trọng.
Cho nên, Thế-gian-thi-thiết-luận đã được coi như một quyền
uy về thế-giới-quan của Phật giáo. Nhất là trong Hữu Bộ
Tôn, tức là trong các luận bộ khác, cũng là đề cập thế-giới-quan
(chẳng hạn như Tập-dị-môn-túc-luận, quyển 11, thuyết minh
về ngũ-thú, quyển 17, thuyết minh về Thất-thức-trụ, quyển
19, thuyết minh về Cữu-hữu-tình-cư; rồi đến Pháp-uẩn-túc-luận
quyển 10 đến 12 thì có Căn-phẩm, Đa-giới-phẩm, Duyên-khởi-phẩm,
và Thức-thân-túc-luận quyển 2 thì có Bổ-đặc-già-la-uẩn;
sau hết, Phẩm-loại-túc-luận, quyển 6 nóI về Dị-sính-pháp,
và quyển 8 thuyết minh về Cữu-hữu-tình-cư, v.v…). Đến
khi tập hợp lại thì, về thế-giới-quan, luận Thi Thiết
được coi là đặc biệt trọng yếu. Luận Đại-tỳ-bà-sa,
vì là giải thích luận Phát Trí, nên không có chương đặc
biệt về thế-giới-quan. Tuy nhiên, cũng thỉnh thoảng có chỗ
nói đến thế giới và, về điểm này, đã lấy tài liệu
từ Thế-gian-thi-thiết. Trong luận Pháp-Thắng-A-Tỳ-Đàm-Tâm
tuy không có chương nào nói vể thế giới, nhưng trong luận
A-tỳ-đạt-ma Câu xá của Thế Thân, vốn là tập đại thành
của Pháp-thắng-a-tỳ-đàm-tâm luận, thì tong chương thứ
3, có lập một phẩm là Thế-gian-phẩm mà tôi cho rằng đã
phỏng theo thể tài của luận Thi Thiết kể trên. Mà tinh thần
phê bình của luận Câu xá tựa hồ còn triệt để hơn cả
tinh thần đó trong Đại-tỳ-bà-sa, và nếu đem biểu hiện
nó vào thế-giới-quan trong Thế-gian-phẩm thì, theo một ý
nghĩa nào đó, có thể nói nó đã đạt đến điểm cao nhất
trong các A-tỳ-đạt-ma luận thư. Chính vì thế mà xưa nay
hễ cứ đề cập đến thế-giới-quan của Phật giáo là lập
tức người ta nghĩ ngay đến Thế-gian-phẩm trong luận Câu
xá. Biện-duyên-khởi-phẩm trong Thuận-chính-lý-luận, hoặc
Hiển-tôn-luận chắc chắn đã dựa theo những tài liệu trên
đây làm nền tảng tiêu chuẩn.
5-
SỰ PHÂN LOẠI THẾ GIỚI.
Trước
khi đi sâu vào đề tài chính, tôi tưởng cần nói qua về
phương pháp phân loại thế giới đã.
Trong
Phật giáo, thế giới (tức là thế gian) có hai nghĩa: một
là vật khí thế gian, và một là hữu tình thế gian. Khí thế
gian là chỉ nơi cư ngụ của các loài hữu tình, tức thế
giới vật khí; còn hữu tình thế gian là chỉ cái tổng thể
của sinh vật cư ngụ trong thế giới vật khí này. Hai cái
đó tuy vốn không thể rời nhau, nhưng để tiện cho việc
quan sát nên chia thành hai loại như thế: đó là cái thông
lệ của nền giáo học Phật giáo. Do đó, chúng tôi tưởng
cứ theo cách phân loại trên đây để quan sát thế-giới-quan
của Phật giáo cho tiện lợi. Song, thế-giới-quan của Phật
giáo vốn quan sát cái gọi là “Hữu tình thế gian”, vì
đó là chủ yếu, nên trong khí-thế-gian-luận cũng bao hàm
cả Hữu-tình-luận: điều tưởng không cần nói ai cũng đủ
hiểu.
6-
SÁCH THAM KHẢO.
khi
nghiên cứu về vấn đề này, ngoài những tư liệu đã nói
ở trên, những sác sau đây cũng là những tài liệu chủ yếu
cần tham khảo:
a)
Viên-Huy, Câu xá luận tụng sớ, quyển 8 đến 12.
b)
W, Kirfel, Die Kosmographie (2te Abschnitt, Die Kosmographie der Buddisten)
1920 Bonn
c)
Hastings, Encyclopaedia of Religion and Ethics (vol. IV, phàm phu. 129-138);
Cosmogony and Cosmology (Buddist) by De la Valleepoussin.