THIÊN
THỨ HAI
YẾU
TỐ THÀNH LẬP VŨ TRỤ
CHƯƠNG
I
BẢN
CHẤT TỒN TẠI
Tiết
thứ nhất:
VŨ-TRỤ-QUAN
CỦA NGUYÊN THỦY
PHẬT
GIÁO VÀ A-TỲ-ĐẠT-MA
Đặc
sắc của vũ trụ quan nguyên thủy Phật giáo là ở chỗ phủ
nhận tất cả những quan niệm cố định, như: thần, tự
ngã, hoặc để nhất nguyên lý màcho rằng vũ trụ được
thành lập do nhân duyên tức những mối quan hệ giữa các
hiện tượng. Mà cái pháp tắc quan hệ, tức pháp tính tự
thân, thì hằng thường, do đó mà quy định cái gọi là “hết
thảy pháp” đều vô thường: đó là quan niệm căn bản của
đức Phật về vũ trụ quan hiện thực (xem Nguyên Thủy Phật
Giáo Tư tưởng Luận, thiên thứ hai, chương I và chương 6).
Đương nhiên, mục đích chính yếu của Phật là, đối với
nhân sinh quan, cần nói rõ phương pháp tu hành thực tế để
đạt đến giải thoát niết bàn, chứ không phải chỉ đứng
trên lập trường lý luận mà luận cứu vũ-trụ-quan tự thân,
song, nếu ta biến đổi nhân-sinh-quan, và tu-dưỡng-quan thành
vấn đề vũ trụ thì ta có thể nhận định như trên. Theo
ý nghĩa này, vũ-trụ-luận của đức Phật thật đã được
thành lập theo một loại tương đối chủ nghĩa.
Song,
vì đức Phật vốn không đứng trên lập trường lý luận
để luận cứu vũ trụ,nên, tiến lên bước nữa, một vấn
đề lại được đặt ra là, cái bản chất của những hiện
tượng được quy định các mối quan hệ (nhân duyên) kia như
thế nào? Về vấn đề này, tùy theo sự nhận xét như thế
nào mà có những giải thích khác nhau: có ý kiến cho là thực-tại-luận,
tức là do hai yếu tố và vật cấu tạo; có ý kiến cho là
duy-tâm-luận, tức là thế giới do tâm quy định; tiến xa
hơn nữa cũng có ý kiến cho rằng hết thảy đều là giả
hiện mà hướng tới cái gọi là “vô-vũ-trụ-luận” (1)
(xem Phật Giáo Tư Tưởng Luận, thiên 2, chương 6). Nhưng đến
A-Tỳ-Đạt-Ma, người thừa kế và chỉnh lý Nguyên thủy Phật
giáo, luận về vấn đề này như thế nào? Dĩ nhiên, vào thời
kỳ đầu A-Tỳ-Đạt-Ma luận thư chuyên lấy việc chỉnh lý
các vấn đề tu dưỡng làm mục tiêu, còn về thế giới quan
thì vẫn chưa phát huy được đặc sắc hiển trứ nào cả.
Song, khi các bộ phái đua nhau phát khởi thì sự khảo sát
về vấn đề này, về mặt lý luận, hầu như đã dần trở
thành mục đích của các phái cho đến khi phát triển rõ rệt.
Và kết quả là các phái đã khai thác tất cả những cái
bao hàm trong Nguyên thủy Phật giáo để rồi cuối cùng đã
được đến điểm mong muốn mà trở thành thế-giới-quan
của các phái có căn cứ lý luận hẳn hoi. Nếu nói một cách
khác cực sơ lược về thành tích thì: các phái thuộc Thượng-tọa-bộ-hệ,
trên đại thể, chủ trương khuynh hướng thực-tại-luận;
các phái thuộc Đại-chúng-bộ-hệ thì có khuynh hướng quan-niệm-luận
hoặc vũ-trụ-luận. Về phía Thượng-tọa-bộ, bất luận
xét đoán đều gì đều trọng sự thật, có xu thế muốn
giải thích tất cả theo thường thức; còn về phía Đại-chúng-bộ,
nhờ vào tư tưởng tự do, giải thích hết thảy theo quan niệm
rất phóng khoáng. Kết quả, do đó, đã phát sinh sự bất
đồng giữa hai phái. Dĩ nhiên, nếu nói một cách chặt chẽ
thì trong Thượng-tọa-bộ-hệ cũng có phái chủ trương quan-niệm-luận,
như Kinh bộ chẳng hạn; cũng thế, trong Đại-chúng-bộ-hệ
cũng có rất nhiều khuynh hướng thực-tại-luận.
(1)
Tăng-ích-luận chủ trương thật có Bồ-đặc-già-la (budgala
- người) và các pháp khác: phân-biệt-luận thì cho rằng duy
chỉ có hiện tại, quá khứ, vị lai và nghiệp quả; Sát-na-luận
lại chủ trương duy chỉ có thể của thập nhị xứ trong
một hiện tại sát na; Giả-hữu-luận thì lại cho rằng tất
cả các pháp trong hiện tại đều chỉ là có giả; còn Đô-vô-luận
lại chủ trương hết thảy mọi pháp không có tự tính, giống
như hoa đốm giữa hư không (Đại chính, 29, trang 620, hạ).
Tóm
lại, nói một cách đại thể thì những khuynh hướng trên
là một sự thật hiển nhiên. Sau đây, tôi tưởng nên đứng
trên lập trường chủ yếu đó để khảo sát về tiến trình
triển khai của những khuynh hướng ấy.
Tiết
thứ hai
KHUYNH
HƯỚNG THỰC TẠI LUẬN
(Đặc
biệt lấy Hữu Bộ làm trung tâm).
1-
TIẾN TRÌNH KHAI TRIỂN CỦA THỰC TẠI LUẬN VỚI THUYẾT TAM-THẾ-THỰC-HỮU.
Giá
trị thế-giới-quan của Nguyên thủy Phật giáo là đem tất
quy về một tâm, nhưng, nếu đứng trên lập trường giá trị
cấu thành vật chất mà nhận xét, quan sát trên bề mặt thôi,
thì thế-giới-quan ấy có khuynh hướng thực-tại-luận. Theo
lập trường đó, yếu tố tâm và vật không có khởi nguyên
mà là vô thủy vô chung. Không những thế, đức Phật, đứng
trên lập trường luân hồi, nói rõ mối quan hệ nghiệp quả
trong ba thời kỳ, về mặt tu dưỡng, không những hiện tại
là mê vọng, như vậy, ít ra là về mặt thực tế, đã thừa
nhận có ba thời. Đức Phật nói: “Tất cả đều do nhân
duyên (quan hệ) mà thành, tuy vạn pháp biến dịch vô thường,
nhưng cái pháp tắc biến dịch ấy lại là thường hằng bất
biến”, như vậy, đức Phật đã thừa nhận sự tồn tại
của những quan hệ pháp tắc và ý nghĩa ba thời. Kế thừa
tư tưởng này để muốn thành lập thế-giới-quan là Thượng-tọa-bộ-hệ.
Trước hết là Thượng-tọa-bộ tại Tích Lan. Bộ này, dĩ
nhiên, vẫn chưa biểu hiện đặc trưng nào rõ rệt, nhưng,
nói một cách đại thể, đã bao hàm khuynh hướng thực-tại-luận,
đó là một sự thật không thể phủ nhận. Nhìn vào Luận
Bộ Nam-Phương trong đó ta thấy không những không có một
chút khuynh hướng quan-niệm-luận mà còn tích cực giải phẩu
tất cả những hiện tượng và thừa nhận sự tồn tại của
chúng và của những pháp tắc quan hệ. Song, dù nói cách nào
đi nữa, về mặt lý luận, Thượng-tọa-bộ Tích Lan vẫn
chưa được thấu triệt, và thực-tại-luận đó vẫn chỉ
mới là giai đoạn phôi thai. Từ đấy, trải qua một giai đoạn
phát triển nữa mà chủ trương thực-tại-luận một cách
triệt để là Thuyết-nhất-thiết-hữu-bộ. Phái này rất
có thế lực trong mười tám bộ phái, và chủ trương của
nó, về nhiều điểm, đối với toàn thể tư tưởng Phật
giáo, cũng có ảnh hưởng rất lớn, vì thế, ở đây, ta cần
phải tìm hiểu qua tiến trình phát triển trong lập trường
của phái này.
Theo
Dị-bộ-tôn-luân luận thì Thuyết-nhất-thiết-hữu-bộ cùng
với Tuyết-sơn-bộ là hai bộ phái tối cổ và thuần chính
trong Thượng-tọa-bộ-hệ, nhưng, dĩ nhiên, đó không thể
được nhận là truyền thống. Theo Nam-truyền: từ Thượng-tọa-bộ
nảy sinh Hóa-địa-bộ và Bạt-xà-tử-bộ (Bắc truyền là
Độc-tử-bộ), lại từ Hóa-địa-bộ phát xuất hữu bộ.
Như vậy, tuy tôn nghĩa của Hữu Bộ cũng có nhiều đặc sắc
nhưng dù sao thì cũng không được coi là thừa kế chủ trương
phần chính của Thượng-tọa-bộ được. Nếu so sánh hai nhận
định trên đây, ta thấy nhận định của Nam truyền gần
với sự thật hơn là của Bắc truyền. Tóm lại, dù nói thế
nào đi nữa thì sự thật vẫn là Hữu Bộ thuộc Thượng-tọa-bộ-hệ
và là sản vật được khai sinh sau, quyết không thể chiếm
địa vị tối cổ. Còn về niên đại thành lập bộ này thì,
theo Tôn-luân-luận, vào năm đầu thứ hai trăm sau Phật nhập
diệt, niên đại này có thể được chấp nhận. Không những
thế, theo Luận Sự của Nam-Phương, vào thời đại A-dục-vương
(khoảng 250 năm sau Phật nhập diệt) đã có Hữu-bộ-tôn,
chủ trương thuyết Tam-thế-thực-hữu (K. VI, 6). Theo tôi, có
lẽ bộ này còn được thành lập sớm hơn thời gian này năm
hay sáu mươi năm. Song, nếu nói một cách chặt chẽ, ta không
thể đoán định một cách hấp tấp, nhưng, dù sao đi nữa
thì, trên đại thể, thời kỳ thành lập của bộ này cũng
được coi là vào khoảng hai trăm năm sau Phật nhập diệt.
Về nơi chỗ thành lập thì nhiều bằng chứng cho thấy là
tại Bắc Ấn Độ, đại khái lấy Kiện-đà-la hoặc Ca-thấp-di-la
làm trung tâm phát khởi. Theo truyền thuyết, giáo đồ của
Thượng-tọa-bộ (tức Hữu Bộ) lúc đầu tựu tập Ca-thấp-di-la,
hơn nữa, tất cả giáo pháp và tác phẩm trứ danh của Hữu
Bộ đại để đều đã sản sinh tại Bắc Ấn Độ. Nhưng,
ở đây ta cần chú ý là giáo lý của Hữu Bộ thường phát
đạt và biến thiên, quyết không thể nói là đã hoàn bị
ngay từ lúc đầu để mà thành lập bộ phái. Do đó, khoảng
hai trăm năm sau Phật nhập diệt là thời kỳ mà đến đây
giáo lý Hữu Bộ mới có đặc sắc thành lập, chứ trước
đó thì chỉ mới manh nha mà thôi. Song, bất luận nói cách
nào đi nữa, nền giáo lý của Hữu Bộ, khi hoàn thành, như
sẽ trình bày sau, là một nền giáo lý cực phức tạp; tuy
nhiên, nếu nói một cách đại cương thì, theo thuật ngữ,
nó chủ trương ”Tam-thế thực-hữu”, “Pháp-thể hằng
hữu”. Nghĩa là, chủ trương cho rằng tất cả những yếu
tố tạo thành hiện tượng giới đều thường hằng tồn
tại trong ba thời quá khứ, hiện tại và vị lai; căn cứ
trên quan hệ, về phương diện biểu hiện, những yếu tố
đó tuy có biến hóa vô cùng, nhưng về pháp thể, tức là
yếu tố tự thân, thì quyết không tiêu diệt, vì thế mà
có thuyết được mệnh danh là ”Vật-chất bất diệt, thế
lực hằng tồn”, và thuyết này chủ trương cho cả tinh-thần-giới.
Nếu giải thích một cách tường tế hơn thì Hữu Bộ chủ
trương Đa-nguyên-luận, đem tất cả những yếu tố thành
lập vạn hữu chia ra làm mấy chục loại. Trong Câu Xá, tuy
chỉnh lý lại và chia thành bảy mươi lăm pháp, nhưng trong
phát trí, Phẩm-loại-túc và Bà sa v.v…con số đó có lẽ
đến gần một trăm. Thế Hữu, trong Phẩm-loại-túc-luận,
lại chia những yếu-tố ấy thành năm loại lớn là sắc,
tâm, tâm sở, tâm-bất-tương-ưng-hành và vô vi. Đó là cách
phân loại mà Thế Hữu, một nhân vật trọng yếu của Hữu
Bộ, đã đề xướng trước hết trong Phẩm-loại-túc luận
của ông. Sắc có nghĩa là vật-chất; tâm tức là tâm vương,
có thể nói là chỉ cái chủ thể của tâm; tâm sở chỉ tất
cả tác dụng của tâm; tâm-bất-tương-ưng-hành không phải
tâm mà cũng không phải vật, nó chỉ là cái quan hệ, trạng
thái và tính chất của cả tâm lẫn vật; còn vô vi là pháp
không biến hóa sinh diệt. Trong năm loại này, Hữu Bộ đã
thu nhiếp tất cả các pháp để chỉnh lý thành những yếu
tố vạn hữu và mọi yếu tố đếu tồn tại. Mà thành phần
phát huy cái đặc sắc thực-tại-luận của Hữu bộ đến
cao độ là những pháp bất-ưng-tương-hành; chẳng hạn, cái
gọi là đắc, sinh, trụ, dị, diệt, danh, cú, văn, chúng-đồng-phận
(I) v.v…vì quan hệ và trạng thái của chúng, có thể là yếu
tố vật chất hay yếu tố tinh thần đều được cả. Vì,
dù có giải phẫu vạn hữu thành bao nhiêu yếu tố, bất luận
là vật hay tâm, đi nữa thì chung cục cũng không thể thâu
nhiếp hết được, cho nên, nếu không xem những quan niệm
trừu tượng về quan hệ, trạng thái và tính chất là những
vật cụ thể tồn tại thì không thể được. Về điểm này,
rõ ràng là thuyết của Hữu Bộ có chỗ tương tự như tư
tưởng của Thắng Luận. Theo tôi, có lẽ cả hai chịu ảnh
hưởng tư tưởng thực-tại-hóa danh từ trừu tượng của
Văn-điển-phái. Tóm lại, vì bộ này thừa nhận tất cả
những yếu tố đó và thừa nhận luôn thực-tại-tính của
chúng nên mới được mệnh danh là Thuyết-nhất-thiết-hữu
bộ. Mà điểm đặc trưng của Hữu Bộ là những yếu tố
đó không những chỉ đồng thời tồn tại về phương diện
“hoành” mà, nói về thế gian, còn tồn tại dị thời về
phương diện “tung”. Theo Hữu Bộ, trừ ba pháp Vô vi, còn
tất cả bảy mươi hai pháp kia (tạm căn cứ theo pháp số
của Câu xá) điều sinh diệt biến hóa, nhưng sự biến hóa
ấy chỉ phát sinh do sự phát khởi liên tiếp của các hiện
tượng, chứ cái thể tính của nó thì vẫn y nhiên tồn tại.
Nói cách khác, Hữu Bộ cho rằng vị lai tồn tại một cách
tạp loạn, tuy nhịên pháp thể của các yếu tố thuộc năm
loại trên cũng vẫn y nhiên tồn tại. Nếu không thừa nhận
của các pháp vị lai, thì không hiện tượng hiện tại sẽ
không có căn cứ phát sinh. Song, sở dĩ những pháp thể vị
lai tạp loạn đó có được trật tự ở hiện tại là vì
pháp thể vị lai không phải chỉ hiện ra trước mắt trong
nhất thời mà trong đó còn có tác dụng nhân duyên để tạo
nên thuận tự hiển hiện. Như vậy, dĩ nhiên, những hiện
tượng trước mắt là có thật, nhưng, theo Hữu Bộ, hiện
tại là một sát na, những cái đồng thời hiển hiện đó,
ở một sát na sau, đã rơi vào quá khứ. Nhưng, khi rời vào
quá khứ, nó sẽ biến thành hư vô? Hữu Bộ cho là không phải
thế. Dù cho là đã rơi vào quá khứ, nhưng pháp thể vẫn
y nhiên vì sự tồn tại của quá khứ mà tiếp tục tồn tại.
Mà dù giả định quá khứ hư vô đi nữa cũng không đủ để
ành hưởng đến hiện tại. Hữu Bộ cho rằng pháp thể y
theo tác dụng hoặc vị trí mà phân biết có quá khứ, hiện
tại và vị lai, song pháp thể tự thân thì vẫn kế tục tồn
tại. Nếu nói theo ngôn ngữ ngày nay thì hiện tượng quan
của Hữu Bộ cũng giống như sự hoạt động của một cuốn
phim ảnh. Nghĩa là, những hình ảnh được chiếu trên màn
bạc tuy chỉ là giây lát, nhưng vì một mặt thật chất bất
đồng, mặt khác, tính chất tương tự, “xen” này “xen”
khác cứ tiếp tục biểu hiện trên màn ảnh mà tạo thành
một hiện tượng thống nhất trên màn bạc, và cái bộ phận
đã biểu hiểu hiện y nhiên là sự tồn tại của cuốn phim.
Quan niệm về “Tam thế thực hữu” của Hữu Bộ thật cũng
đúng như thí dụ trên. Duy có điểm bất đồng là: trong phim
ảnh, vị lai quyết định trước, trái lại, theo Hữu Bộ,
vị lai không quyết định mà là bất động mà bị chi phối
bởi phương biểu hiện do quá khứ và hiện tại mang lại,
Tam-thế-thực-hữu-luận của Hữu Bộ thật đã được thành
lập thời gian chuyển qua không gian. Tuy nhiên, về nhiều điểm,
nó có ý nghĩa rất sâu xa, đó là điều ta cần ghi nhận.
(1)
Phẩm-loại-túc-luận 1, đưa ra 16 Bất-tương-ưng-hành: đắc,
vô-tưởng-định, diệt-tận-định, vô-tưởng-sự, mệnh căn,
chúng-đồng-phận, y-đắc, sự đắc, xứ đắc, sinh, lão,
trụ, vô-thường-tính, danh, cú, văn ( Đại chính, 26, tr. 692,
hạ). Pháp-uẩn-túc luận 10, thi cử: đắc, vô-tưởng-định,
diệt định, vô-tưởng-sự, mệnh căn, chúng-đồng-phận,
trụ đắc, sự đắc, xứ đắc, sinh. Lão, trụ, vô thường,
danh thân, cú thân, văn thân, (Đại chính, 26, tr. 500, hạ).
Câu-Xá thi cử: đắc, phi đắc, mệnh căn, chúng-dồng-phận,
vô-tưởng-quả, vô-tưởng-định, diệt-tận-định, sinh, trụ,
dị, diệt, danh, cú, văn, tất cả có 14 (Câu xá luận quyển
4).
2-
TAM-THẾ-THỰC-HỮU-LUẬN VỚI GIÁO CHỨNG VÀ LÝ CHỨNG.
Lập
trường trên đây của Hữu Bộ được nhận là phù hợp với
lời Phật nói, và nó cũng hợp lý, nhưng lấy gì để chứng
minh cho điều đó?
Trước
hết, về điểm phù hợp với lời Phật nói thì có cái gọi
là “ giáo chứng” để chứng minh. Trong khi có những câu
văn ngụ ý về Tam-thế-thực-hữu-quan mà bắt đầu Luận-Sự,
rồi đến Bà sa và Câu Xá rất thích dẫn dụng. lại như
Trung bộ Ni-kha-gia, khi thuyết minh về Ngũ uẩn, có những câu
như:
“Này
các Tỳ Khưu! Sắc là gì? Hết thảy sắc, tức quá khứ, hoặc
vị lai hay hiện tại, hoặc trong hay ngoài, ưu hay liệt, hoặc
xa, hoặc gần, tất cả đều gọi là sắc. Thụ là gì? Hết
thảy thụ, hoặc quá khứ, hoặc vị lai, hoặc hiện tại…”.
Trên
đây có nói đến quá khứ, vị lai, hiện tại, vậy nếu Phật
không thừa nhận thuyết Tam-thế-thực-hữu thì đã không biểu
hiện như trên. Rồi Thức-thân-túc-luận cũng trích dẫn những
câu của Phật như “dĩ quán, kim quán, đương quán” để
chứng minh cho thuyết Tam-thế-thực-hữu. Chẳng hạn, Thức-thân-túc-luận
quyển thứ nhất (Đại chính, 26, trang 531, thượng) nói: “Ba
căn bật thiện – tham bất thiện, sân bất thiện, si bật
thiện - đối với tham, hoặc đã quán, đang quán, sẽ quán
đều là bất thiện”… Ngoài ra còn dẫn dụng cả những
câu “ phiền não đã đoạn, đang đoạn, sẽ đoạn” (Đại
chính, 26, trang 533, thượng, trung). Lại như Câu-xá-luận (quyển
20, Phẩm-tùy-miên thứ 2) còn trích dẫn những câu sau đây
trong Khế Kinh và cho đó là một trong những giáo chứng về
thuyết Tam-thế-thực-hữu:
“Này
các Tỳ Khưu! Nếu không có quá khứ sắc thì các đệ tử
ta đa văn của ta đã chẳng cần bất cố quá khứ sắc: vì
có quá khứ sắc nên các đệ tử đa văn của ta mới không
nhìn lại (bất cố) quá khứ sắc”. (Tạp-A-Hàm quyển 3,
kinh 719, Đại Tạng, 2, trang 20, thượng trụ).
“Bí
sô nên biết: nếu quá khứ sắc không có thì các đa văn Thánh
đệ tử đã không đối với quá khứ sắc cần tu yếm xả;
vì quá khứ sắc có nên các đa văn Thánh đệ tử mới đối
với quá khứ sắc cần tu chán bỏ”. (K. VI, 6, 63, dẫn dụng
S.N. II, p. 101).
Nghĩa
là những phiền não đó nếu không phải là phiền não có
trong ba thời thì những từ ngữ “đã quán, đang quán, sẽ
quán”, và “ quá khứ sắc yếm xả” v.v… đều là vô
nghĩa. Chân ý của Phật, ít ra là trong hai giáo chứng trên,
không phải muốn chủ trương sự tồn tại trong ba thời, mà
trái lại, chỉ dùng như một thủ tục mà nói quá khứ, vị
lai, hiện tại, hoặc dĩ đoạn, kim đoạn, đương đoạn v.v…,
nhưng Hữu Bộ đã chiếu theo văn tự dẫn ra để chứng minh
cho lý thuyết của mình.
Song,
muốn tìm căn cứ về thuyết Tam-thế-thực-hữu của Hữu
Bộ, không phải tìm ở giáo chứng mà phải tìm ở lý chứng,
vì, về đạo lý, nếu không thế, không được. Lý chứng
đó có hai loại:
Thứ
nhất, theo Nghiệp luận để chứng minh; thứ hai, theo Nhận-thức-luận
để chứng minh. Về nghiệp luận, tức là căn cứ theo nghiệp
mà nói, những nghiệp tạo tác trong quá khứ mang lại quả
báo ở hiện tại, những nghiệp tạo ác ở quá khứ và hiện
tại sẽ kết quả ở vị lai, giả sử không có quá khứ và
vị lai thì thuyết Tam thế nhân quả này không thể thành lập;
quá khứ hoạt động ở hiện tại, vị lai do sức của hiện
tại dẫn khởi, nếu không nói đồng tồn tại trong tam thế
thì thuyết đó không có căn cứ. Quá khứ bị thu nhiếp vào
hiện tại trong một sát na, hiện tại dưỡng thành vị lai,
sự thật này, như mọi người đều biết, là quan niệm chuyển
sang không-gian-luận: Thuyết nghiệp này có vẻ là căn cứ
rất Nguyên thủy của Thực-hữu-luận.
Theo
Luận-Sự (I) thì: Ẩm-quang-bộ chủ trương tồn tại không
phải là toàn thể và vị lai mà chỉ là một bộ phận; để
làm căn cứ cho chủ trương của mình, bộ này vẫn dựa vài
sự quan hệ nghiệp quả. Xem thế đủ biết sự quan hệ giữa
Nghiệp luận và Tam-thế-luận không phải chỉ là nghị luận
riêng của Hữu Bộ.
Thứ
đến, căn cứ theo nhận-thức-luận thì theo chủ trương của
Hữu Bộ mà cho là “vô-sở-duyên-tâm”. Nghĩa là, nhận thức
không nhất định cứ phải nhờ vào đối tượng mới phát
khởi, mà là và đối tượng cộng đồng phát khởi (Câu xá
quyển 20, Tùy miên phẩm thứ 2). Chủ trương này, trong Thức-thân-túc-luận,
các luận giả chủ trương “hiện-tại-nhất-sát-na” cũng
đã nói đến cái gọi là “vô-sở-duyên-tâm” rồi, Hữu
Bộ chẳng qua chỉ cực lực thuyết minh rộng thêm mà thôi.
(Thức-thân-túc-luận quyển 1, Đại chính, 26, trang 535, thượng).
(I)
K.VI, 8 và Bà sa quyển 54 (Đại chính, 23, trang 263, hạ) nói:
Ẩm-quang-bộ cho rằng các nhân quả dị thục, khi ở vào thục
vị thì thể chúng vẫn có, nếu quả chín rồi thì thể sẽ
không còn. Như gieo hạt giống, khi hạt chưa nảy mầm thì
thể vẫn còn, khi nảy mầm thì thể cũng mất”.
Lại
như Thành-thật-luận quyển 3 (Đại chính, 32, trang 258 hạ)
nói: “Ca-diếp-bộ đạo nhân cho rằng khi chưa thụ báo nghiệp
thì quá khư thế có, ngoài ra, không có quá khứ”.
Nhưng
Câu-xá-luận quyển 20 lại nói: “Phải cho đó là chủ trương
của phân biệt thuyết bộ, chứ không phải bộ này”.
Như
vậy, theo Hữu Bộ, người ta đã có nhận thức tất nhiên
phải có đối tượng nhận thức; do đó, người ta có biểu
tượng quá khứ, vị lai: đó là sự chứng minh tồn tại của
quá khứ và vị lai. Kết luận này của Hữu Bộ, về phương
diện nhận-thức-luận, vẫn chưa thoát hẳn kết quả của
thực-tại-luận tố phác. Chính vì lý do ấy mà luận bộ
Nam-Phương, hãy đơn cử Thi Thiết chẳng hạn, đã cho “bất-tương-ưng-hành-pháp”
là vật thật tại (trở lên, xem Câu-xá-luận quyển 20, về
Tam-thế-thực-hữu luận).
3-
SỰ KHU BIỆT VỀ TAM THẾ.
Như
trên ta đã thấy, Hữu Bộ chủ trương ba thời (quá khứ,
hiện tại, vị lai) có thật, song, nếu tiến lên trước nữa
là khải sát, thì: ba thời đã là có thật, vậy sự khu biệt
giữa ba thời như thế nào? Khi vấn đề này được đặt
ra thì các vị luận sư của Hữu Bộ tựa hồ cũng có nhiều
ý kiến khác nhau. Bà sa quyển 77 (Đại chính, 27, trang 396,
thượng) (Câu xá quyển 20, phẩm Tùy miên thứ 2) nói: “Đối
với vấn đề này, có bốn vị đại luận sư đã đề xướng
ý kiến riêng của mình: đó là các vị Pháp Cửu, Diệu Âm,
Thế Hữu và Giác Thiên”. Bốn vị này, tuy từ xưa đến
nay vẫn được coi là những biên tập gia của luận Bà sa,
nhưng theo chỗ tôi nghiên cứu, đã không có dấu tích gì cho
thấy họ đã tham dự vào việc biên tập luận Bà sa (“Nghiên
Cứu A-Tỳ-Đạt-Ma luận” thiên 4, trang 218).
Song,
bốn vị đại luận sư này đã đưa ra ý kiến như thế nào?
Trước hết là pháp cứu. Pháp Cứu cho rằng, cái gọi là
Tam Thế tất kính chỉ là trạng thái phân biệt (Huyền Trang
dịch là “loại”; Tạp-a-tỳ-đàm-tâm-luận quyển II (Đại
chính, 27, trang 962, thượng) dịch là “phận”; Bệ-bà-sa
luận quyển 7 (Đại chính, 28, trang 466, trung) dịch là “sự”.
Như hủy bỏ một vật bằng vàng này để chế tạo một vật
bằng vàng khác thì chỉ khác nhau về hành trạng (trạng thái
-
loại) chứ thể của nó vẫn là một; hoặc như sữa biến
thành ván sữa, bản chất của nó vẫn là đồng nhất. Cũng
thế, cái gọi là Tam thế chẳng qua là khu biệt trạng thái
mà thôi, chứ pháp thể tự thân vẫn là một. Bà sa bình luận
về điểm này như sau: “Xa lìa tự tính của pháp thì không
có được loại (trạng thái) nào khác, cho nên, nếu căn cứ
vào loại mà phân biệt pháp thể của trên thế là sai lầm”
(Bà sa quyển 77, như trên) Câu xá thì phê bình như sau: “Quan
điểm này giống như “chuyển-biến-vô-thường-quan” của
phái Số Luận, không phù hợp với thuyết minh của Phật giáo”.
Nhưng, sự giải thích trong Thuận-chính-lý-luận, quyển 52
(Đại chính, 29, tr. 902, thượng), v.v… thì cho rằng,
cái gọi là “bhàva” với thuyết “tác dụng” (vị) của
Thế Hữu chỉ là đại đồng tiểu dị. Hay, có thể nói như
thế này: vị lai là thế lực tiềm tàng, hiện tại là thế
lực hoạt động, khi đã phát tán ra quá khứ tức đã được
coi là thế lực rồi.
Thứ
đến Diệu Âm. Theo Diệu Âm thì sự khu biệt về Tam thế
chỉ do phương pháp biểu hiện cái tướng Tam-thế-tương-tức
như thế nào mà có sự sai khác. Đối với Diệu Âm, pháp
thể đều có ba tướng quá khứ, hiện tại, vị lai, trong
đó, tùy theo sự biểu hiện như thế nào mà thành quá khứ,
vị lai hoặc hiện tại. Diệu Âm thí dụ: Giáp thương vợ
Ất, tình thương của Giáp do vợ Ất mà có được đặc trưng,
song, vì khả-năng-tính, Giáp có thể thương những đàn và
khác nữa. Tướng của Tam thế cũng vậy. Nhưng, nếu vậy
thì như Quang Ký quyển 20 (Đại chính, 41, 310, hạ) giải thích
rằng ngoài Tam thế tướng còn có một tướng thứ tư hay
sao? Hay đó là ý nghĩa về tướng trạng như Độn Lân đã
giải thích trong phần chú thích Tụng sớ? Vế điểm này,
vẫn còn có chỗ chưa rõ ràng lắm, vì thế, khi nói đến
nghĩa đích thực của nó, người ta cảm thấy rất khó khăn.
Giả sử nó là ý nghĩa về tướng trạng thì đã chẳng có
gì khác với thuyết “loại” của Pháp Cứu và thuyết “vị”
của Thế Hữu. Nhưng Bà sa và Câu xá, khi phe bình ý kiến
này, cho rằng, trong Tam thế lạl có tam thế, như vậy, tướng
của Tam thế rất hỗn tạp. Giả định thuyết của Diệu
Âm có lập riêng tướng của Tam thế ngoài tứ tướng đi
nữa, thì tứ tướng và tam tướng ấy cũng chỉ là một đứa
trẻ hổn huyết (sang mêlé) mà thôi.
Ý
kiến thứ ba về vấn đề này là ý kiến của Thế Hữu.
Theo Thế Hữu, sự khác biệt giữa Tam thế chẳng qua là sự
bất đồng về vị trí mà thôi. Nghĩa là, Tam thế cũng như
vị số trên một chiếc bàn toán: nếu đặt con số ở vị
trí một thì nó thành số một, mà đặt nó vị trí 10, nó
sẽ thành số 10. Pháp thể cũng vậy, khi ở vị trí quá khứ
thì gọi là quá khứ, khi ở hiện tại và vị lai thì thành
hiện tại, vị lai. Thuyết này, mới nhình qua, tuy cùng với
hai thuyết trên hầu như khôn khác lắm, nhưng, Bà sa và Câu
xá lại đặc biệt giải thích nó theo tác dụng. Chưa có tác
dụng thì gọi là vị lai, khi tác dụng phát khởi thì gọi
là hiện tại, và khi tác dụng qua rồi thì gọi là quá khứ,
và cho đó là chân lý Tam thế.
Sau
hết là ý kiến của Giác Thiên. Theo Giác Thiên, sự khác biệt
giữa Tam thế là do lập trường quan sát, nghĩa là, khi các
pháp phát khởi thì theo lập trường quan sát trước hay sau
mà có quá, hiện, vị, chứ thật ra trong đó không có sự
khu biệt tuyệt đối. Cũng như cùng một người đàn bà, do
cách nhận xét khác nhau mà gọi là đàn bà, hoặc gọi là
mẹ. Thuyết này muốn quy thời gian vào tác dụng chủ quan,
tuy cũng có hứng vị đấy, nhưng lại cho quá khứ, hiện tại,
vị lai, hết thảy đều có Tam thế, như vậy, không tránh
khỏi cái lỗi hỗn tạp vế thế tướng mà Bà sa và Câu xá
đã phê bình.
Tóm
lại, về sự khu biệt Tam thế, tuy đã có bốn thuyết như
đã trình bày ở trên, nhưng, nói đúng ra, tất cả thuyết
ấy đều chỉ lý luận trừu trượng, không được rõ ràng
chính xác, đồng thời, tất cả đều chưa được triệt để.
Nói theo tác dụng thì thuyết của Thế Hữu, như Bà sa và
Câu xá đã phê bình, có vẻ thỏa đáng hơn cả, song,
nếu suy nghĩ kỹ một chút, ta vẫn thấy không khỏi có chỗ
sai lầm. Nghĩa là, thuyết đó vẫn chưa cho biết làm thế
nào để giải thích quá khứ, hiện tại, vị lai có động
lực trong những vấn đề sự thực. Vấn đề này, như sẽ
trình bày sau, chính là lý do đã khiến Kinh bộ bài bác thuyết
tác dụng để triệt hạ Tam-thế-thực-hữu luận.
Tóm
lại, thuyết “Tam-thế-thực-hữu, pháp-thể-hằng-hữu”
của Hữu Bộ là cái khuynh hướng của Nguyên thủy Phật giáo
thực-tại-luận đã đạt đến kết luận tất nhiên phải
có. Đứng về phương diện học thuật mà quan sát, trong đó
người ta có thề thừa nhận thuyết “vật-chất-bất-diệt,
thế-lực-hằng-tồn”, về điểm này, ta thấy có ý nghĩa
rất lý thú. Không những thế, nếu so sánh triết học sử
Tây phương, ta thấy thuyết đó bất đồng với thực-tại-luận.
Về điểm này – so sánh tư tưởng Đông – Tây – cũng rất
có hứng vị. Song, nếu đứng về phương diện nhận-thức-luận
mà phê phán thì thực-tại-luận đó vẫn chưa thoát hết được
tính tố phác: chẳng hạn Tam-thế-thực-hữu luận hoàn toàn
từ thời gian chuyển sang không gian, đó là điểm có thể
thấy một cách dễ dàng. Về sau, Hữu Bộ lại tiến xa hơn
Kinh Bộ và được thu nhập Duy thức Phật giáo, đồng thời,
chủ nghĩa thực tại, qua nhiều giai đoạn phê phán, đã mau
chóng đưa đến sự thành lập Quan-niệm-luận.
4-
TƯ TƯỞNG HỮU BỘ VỚI SỰ QUAN HỆ CỦA CÁC GIÁO PHÁI KHÁC.
Đến
đây vấn đề được đặt ra là: có phải tư tưởng Hữu
Bộ đã hoàn toàn khai triển từ luận lý của Nguyên thủy
Phật giáo hay trong đó có chịu ảnh hưởng tư tưởng của
các giáo phái khác nữa? Nếu nói một cách đại thể thì
ta có thể coi tư tưởng Hữu Bộ đã khai triển từ luận
lý của Phật giáo Nguyên thủy, nhưng ta cũng không thể hoàn
toàn phủ nhận được sự thật là, không trực tiếp thì
gián tiếp, tư tưởng Hữu Bộ cũng có chịu ảnh hưởng tư
tưởng của các giáo khác. Nói một cách đơn giản, trong Phật
giáo, có Hữu-bộ-tôn chủ trương tư tưởng Cực vi. Nhưng,
theo chỗ tôi nghiên cứu, từ Bà sa trở về sau, tư tưởng
Cực vi mới được công khai biểu hiện; như vậy, có lẽ
Hữu Bộ đã chịu ảnh hưởng của một phái khác, đó là
một ví dụ. Nhưng mà chịu ảnh hưởng của phái nào nhiều
nhất? Vào khoảng trước hay sau thời đại Phật giáo, đặc
biệt vào thời đại mà tư tưởng của Hữu Bộ phái đại
(B. C. 400-A. D. Ioo), khuynh hướng thực-tại-luận trong tư-tưởng-giới
Ấn Độ đã rất hiển trứ: đó là sự thật không thể che
dấu. Tựu trung, giáo phái có nhiều điểm cộng thông với
tư tưởng Hữu Bộ và Văn-pháp phái; phái này có khuynh hướng
muốn thực-tại-hóa khái niệm. Song, không may người ta vẫn
chưa hiểu rõ cái thứ tự của sự khai triển tư tưởng triết
học của phái này. Ta chỉ biết một cách đại thể là tư
tưởng của phái này bắt đầu vào thế kỷ thứ tư trước
Tây lịch. Trước tiên, họ nghiên cứu và phân loại các tiếng
như danh từ, động từ, hình-dung-từ, rồi dần dần tiến
đến quan niệm về thực thể, tác dụng, tính chất, sau đó
tìm thực tại thích ứng khái niệm, và cuối cùng, phổ-biến-hóa
thực tại để trong mỗi tiếng đều có một đối tượng,
khi đạt đến điểm này thì sự thực trở nên rõ ràng. Như
vậy, ta thấy giữa cái phương pháp tìm thực thể trong tiếng
nói này của Văn-pháp-phái và phương pháp thực-tại-hóa quan
niệm trừu tượng của Hữu Bộ có quan hệ rất mật thiết:
nhất là trong những pháp “bất-tương-ưng-hành” lập ra
phương diện thực thể của Danh, Cú và Văn: tôi cho rằng
chính ở điểm này Hữu bộ đã chịu ảnh hưởng của tư
tưởng Văn-pháp-phái.
Song,
tư tưởng của Hữu Bộ không những chỉ chịu ảnh hưởng
của Văn–pháp-phái mà thôi. Theo sự suy định của tôi, ngoài
Văn-pháp-phái, Hữu Bộ còn có rất nhiều điểm cộng thông
với Thắng- Luận- Phái, nhất là về phương diện khai triển
thế-giới-quan, đây cũng là một sự thật hiển nhiên, không
thể phủ nhận. Đặc biệt như Đa-nguyên-luận, Thực-tại-luận
cực đoan, về vật-chất-quan thừa nhận Cực vi. Không phải
chúng tôi muốn chủ trương Hữu Bộ trực tiếp chịu ảnh
hưởng của Thắng Luận (tuy nhiên, theo truyền thuyết ở Tây
Tạng thì các học giả Thắng luận có tham dự vào công việc
biên tập luận Đại-tỳ-bà-sa), nhưng ít ra cũng gián tiếp
tiếp xúc với tư tưởng Thắng Luận rồi tự chú ý mà bày
trận thế. Trong “bất-tương-ưng-hành-pháp” ta thấy nhiều
câu mà ý nghĩa tương tự như của Thắng Luận, nhất là đến
Đại-thừa-a-tỳ-đạt-ma-tập-luận của VôTrước thì điều
đó càng rõ ràng. Bởi thế mà ai cũng biết ngoài mười bốn
pháp “bất-tương-ưng-hành” ra, còn thêm dị-sinh-tính, lưu
chuyển, định dị, tương ưng,thế tốc, thứ đệ, thời,
phương, số, và hòa hợp (Đại thừa A-Tỳ-Đạt-Ma tập luận
quyển I (Đại chính, 31, trang 665, trung), phần giải thích về
những pháp này, xin xem Đại thừa A-Tỳ-Đạt-Ma tập luận
của An Tuệ, quyển thứ 2 (Đại chính, 31, trang 700, thượng).
Cái gọi là định dị, tương ưng, hòa hợp, thời, phương,
số, thế tốc, tất cả đều có thể tìm thấy căn cứ trong
triết học Thắng Luận. Dĩ nhiên, Đại thừa A-Tỳ-Đạt-Ma
tập luận không phải là sách giáo khoa của Hữu Bộ mà là
xây dựng trên nền tảng A-Tỳ-Đạt-Ma luận thư của chủ
nghĩa Đại thừa duy thức, cho nên đến đây đã chịu ảnh
hưởng của Thắng Luận, hay có thể đã do Hữu Bộ chỉnh
lý lại cũng nên, điều đó chưa được biết chắc. Nhưng,
tư tưởng “bất tương ưng” này vốn khai triển từ trong
Hữu Bộ, hơn nữa, tác giả của là Vô Trước, lúc đầu
xuất gia theo Hữu Bộ, nhất là A-Tỳ-Đạt-Ma tập luận của
Vô trước đem chia vạn hữu thành năm loại đã rất có cái
khí vị của Hữu Bộ, hiện đã thừa nhận là “bất-tương-ưng-hành-pháp”
chịu ảnh hưởng Thắng Luận, thì trở về trước, mười
sáu hoặc mười bốn pháp “bất-tương-ưng” của Hữu Bộ,
trên nguyên lý, không nhiều thì ít, cũng có điểm khí mạch
tương thông với tư tưởng Thắng Luận: đó là một sự thật
không thể chối cãi.
Tóm
lại, tư tưởng của Hữu Bộ, trên bước đường thành lập,
có thể nói, ngoài Phật giáo ra, không nhiều thì ít, cũng
đã gián tiếp chịu ảnh hưởng của tư tưởng giới đương
thời, đó là điều chúng ta cần phải ghi nhận.
Tiết
thứ ba:
KHUNH
HƯỚNG DUY-TƯỢNG-LUẬN
1-
CÁC BỘ PHÁI CÓ KHUYNH HƯỚNG DUY-TƯỢNG-LUẬN VÀ ĐẶC SẮC
HỌC THUYẾT CỦA HỌ.
Như
thế là chủ trương Tam-thế-thực-hữu, Pháp-thể-hằng-hữu-luận
của Hữu Bộ, về hình thể cũng như về số lý, đã trở
nên rất có thế lực trong các bộ phái Phật giáo. Song, thế-giới-quan
của chính đức Phật không phải chỉ giới hạn trong khuynh
hướng thực-tại-luận,còn có khuynh hướng từ quan-niệm-luận
tiến đến khuynh hướng vô-vũ-trụ-luận, điểm này tôi đã
nói qua trong Nguyên Thủy Phật Giáo Tư Tưởng Luận (trang 270-277).
Mà khuynh hướng quan-niệm-luận hay vô-vũ-trụ-luận này so
với khuynh hướng thực-tại-luận thì thuộc về phương diện
thâm sâu hơn trong thế-giới-quan của đức Phật. Ở đây
chúng ta tạm gọi những khuynh hướng này một cách tổng quát
là khuynh hướng Duy-tượng-luận. Thật ra giữa quan-niệm-luận
và vô-vũ-trụ-luận có hơi khác nhau, nhưng chính vì những
hiện thực sự tượng tất kính không phải tồn tại mà duy
chỉ là hiện tượng, nên, về điểm này, chúng là đồng
nhất, khó có thể phân biệt một cách nghiêm mật giữa hai
khuynh hướng.
Song,
bộ phái nào đã kế thừa thế giới quan Duy-tượng-luận
mà chủ trương quan niệm đó? Rất không may là tài liệu về
vấn đề này trong luận điển của Hữu Bộ không lưu lại
được bao nhiêu, nhưng nếu chỉ phán định theo các tài liệu
rải rác còn truyền lại thì dĩ nhiên chủ trương quan niệm
đó là Đại-chúng-bộ phái. Đại-chúng-bộ phái, vốn là
những người lý tưởng chủ nghĩa, hầu như muốn căn cứ
trên lập trường thực hiện lý tưởng Niết bàn để quan
sát hết thẩy, nên kết quả, tất nhiên phải lấy Diệt và
Đạo để làm tiêu chuẩn để cấu thành thế-giới-quan của
mình, và cũng tất nhiên phải lấy tưởng Diệt đế làm sự-thực-quan.
Theo truyền thuyết, những phái đã phát huy đặc trưng củ
thế-giới-quan này là Nhất-thiết-bộ, Thuyết-xuất-thế-bộ
và Kê-dận-bộ thuộc Đại-chúng-bộ-hệ vào lần phân phái
đầu tiên. Luận-Sự đã nói rõ rằng tôn nghĩa chủ yếu
của Kê-dận-bộ cho “hết thẩy các pháp hữu vi chẳng qua
chỉ là tro tàn”. Cái gọi là Kukkutika thật ra đã từ tro
mà có, và khi hóa thành Sainskrt thì cuối cùng được dịch
thành chữ Kê (tham chiếu phần phụ lục Quốc dịch Tôn-luân-luận,
Kết Tập Phân Phái Sử Khảo, trang 37). Tóm lại, cho hết thảy
hiện tượng đều không có giá trị tồn tại, thế-giới-quan
của phái này thật đã có khuynh hướng Duy-thức-tượng-luận
rất mạnh.
Đến
thế-giới-quan đặc thù của Nhất-thuyết-bộ và Thuyết-xuất-thế-bộ
thì, theo chỗ tôi tận lực nghiên cứu, tuy ở Ấn Độ đã
không có kỹ lục nào làm quyền chứng, nhưng, theo Bộ-chấp-dị-luận-sở
của Chân Đế thì Nhất-thuyết-bộ chủ trương “tất cả
pháp thế gian và xuất thế gian đều chỉ là giả danh, không
có thật thể”, và đây chính là tông nghĩa của bộ này
(Tam-luận-huyền-nghĩa-kiểm-u-tập quyển 5, Phật-giáo-đại-hệ
trang 379 và 386 dẫn trích ý trên).
Thuyết-xuất-thế-bộ
thì chủ trương “Thế-gian-pháp, tức thực thế giới, vì
do tâm điên đảo mà sinh nên chỉ là giả danh, không thật;
nhưng xuất-thế-pháp, tức Niết bàn, thì thật tại” (cũng
trích dẫn như trên).
Như
vậy, ta thấy giữa ba phái này tuy có chỗ bất đồng, nhưng
đến điểm cho thế giới này là giả dối, không có thực-tại-tính
thì đồng nhất. Duy có điều không may là sự thuyết minh
về chủ trương trên không còn truyền lại, cho nên người
ta đã không biết rõ các bộ phái ấy đã căn cứ như thế
nào mà chủ trương như vậy. Tuy nhiên, chúng ta có thể hiểu
được rằng tất cả đều do tình thế mà sản sinh. Rồi
tổng hợp tất cả quan niệm trên mà chủ trương thuyết “không”
là Án-đạt-la phái. Trong phần chú thích Luận-Sự, Phật Âm
có nói: “Trong các bộ phái, có một phái mệnh danh là Phương-đẳng-phái,
cũng gọi là Đại-chúng-phái”, tôi cho có lẽ đây là Án-đạt-la
phái. Mà chủ trương “không” này về sau tiến triển đến
Đại thừa chính là Bát nhã.
Như
vậy, điểm xuất phát của Phật giáo thuộc Đại-chúng-bộ-hệ,
tuy lấy chủ trương Duy-tượng-luận làm đặc trưng, nhưng
chưa hẳn chỉ là đối lập với chủ nghĩa thực tại của
Hữu Bộ mà có thể còn là do kết quả của sự bất mãn
đối với thực-tại-luận thường thức của Thượng-tọa-bộ.
Tuy nhiên, những tư tưởng trên đây không phải đã chi phối
toàn bộ Đại-chúng-bộ-phái mà trong đó cũng có nhiều phái
muốn điều hòa lập trường thực-tại-luận-hệ. Chẳng hạn,
lần phân phái thư ba đã xuất hiện một phái một phái là
Thuyết-giả-bộ. Theo thuật ký của Từ Ân thì phái này chủ
trương: “Thế pháp có giả, có thật; xuất thế pháp cũng
có giả, có thật” (do chủ trương như vậy nên Chân Đế
dịch là Phân-biệt-thuyết-bộ). Nhất là đến Ẩm-quang-bộ
thì giữa Tam-thế-luận và Thực-hữu-luận đã có ít nhiều
thỏa hiệp; còn nói đến sự tồn tại của nghiệp quả,
vô quả ở quá khứ, và định tụ nghiệp tồn tại trong vị
lai (K. VI, 8 Bà sa quyển 51, Đại chính, 27, tr. 265, hạ).
Tuy
vậy, nếu nói một cách đại thể thì tư tưởng Đại-chúng-bộ
là Duy-tượng-luận, do đó, để đối lại Tam-thế-thực-hữu
luận của Hữu Bộ, Đại-chúng-bộ chủ trương quá khứ và
vị lai vô thể, chỉ có hiện tại là tồn tại trong một
sát na (1). Họ nói: “Hết thảy pháp hữu vi đều diệt trong
sát na; quá khứ đã qua rồi, vị lai vẫn chưa đến, như vậy
thì sự tồn tại chân chính há không phải chỉ là một sát
na?”. Đó là đại thể chủ trương cốt tử của Đại-chúng-bộ
và nó đã được cổ xúy một cách rộng rãi để đối lại
với chủ trương của Hữu Bộ. nghĩa là, để đối lại với
Tam-thế-thực-hữu luận của Hữu Bộ, giáo đồ của Đại-chúng-bộ
cực lực chủ trương Quá-vị-vô-thể, Hiện-tại-nhất-sát-na-luận:
đó là điều mà tất cả những tài liệu còn lại đều cho
ta thấy rõ. Và, dĩ nhiên, về phía Hữu Bộ cũng thường phải
biện bác Quá-vị-vô-thể-luận để khiến cho luận pháp của
mình tiến bộ. Mà điểm này được nhấn mạnh ngay từ rất
sớm trong Thức-thân-túc-luận của Đề-bà-thiết-ma, tức
trong Mục-kiền-liên-uẩn (quyển I, 2, Đại chính, 26, trang
531-537) nói hoàn toàn vì mục đích này mà đặt riêng một
tên gọi là “Sa-môn-mục-kiền-liên” (có lẽ giáo đồ của
Đại-chúng-bộ, nhưng không phải đệ tử trực tiếp của
Ma-ha-mục-kiền-liên như có thuyết nói). Sa môn này chủ trương
“Quá khứ, vị lai, hiện tại, vô vi, hữu” (quá khứ, vị
lai không có, hiện tại và vô vi thì có – Hóa-địa-bộ,
Quốc dịch Tôn-luân-luận trang 55), và Mục-kiền-liên-ẩn
đã đứng về mọi phương diện để bác kích chủ trương
này. Vả lại, đến Đại-tỳ-bà-sa luận và Thuận-chính-lý-luận,
khi phê bình, vấn đề này thường được luận cứu đến
luôn, do đó, chung cục nó đã trở thành mầm mống cho một
cuộc đại tranh luận trong nội bộ giáo hội. Điều này cứ
xem ngay trong Thành-Thật-luận, phẩm nhị-thế-hữu và phẩm
nhị-thế-vô, trong đó, luận sư Ha-lê-bạt-ma đã đưa ra một
nghị đề “Tam-thế-thực-hữu? Phi hữu?” làm một thí dụ
của dị-chấp, cũng đủ rõ (Thành-thật-luận, quyển 2, Đại
chính, 32, trang 255, trung).
(1)
chủ trương Tam-thế-thực-hữu là Hữu Bộ và những chi phái
của Hóa-địa-bộ; còn chủ trương Quá-vị-vô-thể-luận
là Đại-chúng-bộ, Kinh bộ và bản phái Hóa-địa-bộ.
Xem
Tiếp Trang Kế