CHƯƠNG
III
A-TỲ-ĐẠT-MA
DỰ TƯỞNG PHẬT TRUYỆN
Như
đã được trình bày ở trên, về Phật truyện, có rất nhiều
ký lục. Về những điểm tường tận thì trong các ký lục
đó tuy có rất nhiều chỗ không có nhất trí, nhưng về đại
cương thì tài liệu được truyền lưu giữa Nam và Bắc Phương
cũng có nhiều điểm nhất trí. Vả lại, những tài liệu
ấy đã được các bộ phái Tiểu thừa công hận là
cột trụ của Phật truyện, vì thế, ở đây ta cần phải
nói qua về Phật truyện của A-Tỳ-Đạt-Ma. Mà tài liệu căn
cứ chủ yếu là Nhân duyên đàm bản sinh kinh và tham chiếu
thêm những tài liệu khác để tường thuật nhưng vẫn phải
lấy đề mục của A-Tỳ-Đạt-Ma làm trung tâm.
Trong
Nhân-duyên-đàm, Phật truyện được chia thành ba thời kỳ:
1- Viễn kỳ, 2- Trung kỳ, 3-Cận kỳ. Viễn kỳ nói rõ sự
kinh lịch của Phật từ bốn a-tăng-kỳ trăm nghìn kiếp về
trước cho đến khi thành vị nhất-sinh-bổ-xứ ở trên cung
trời Đâu Suất; Trung kỳ kể lại việc từ cung trời Đâu
Suất giáng sinh làm thái tử. Tất-đạt-đa, rồi xuất gia
và thành đạo; Cận kỳ thuật từ khi thành đạo bắt đầu
thuyết pháp cho đến khi nhận Kỳ-viên-tinh-xá; còn sự tích
từ đây đến khi nhập Niết-bàn thì trong nhân-duyên-đàm
không nói đến. Như vậy, bộ phận còn lài này phải là nhiệm
vụ của Cận kỳ. Sau đây, tôi tưởng nên thay đổi thông
lệ trên một chút mà chỉ chia ra hai thời kỳ để khảo sát
bộ phận chủ yếu của Phật truyện.
I-
SỰ KINH LỊCH CỦA BỒ TÁT Ở QUÁ KHỨ.
Cách
đây bốn A-tăng-kỳ và trăm nghìn kiếp về trước (Bắc-Phương
lấy ba a-tăng-kỳ trăm nghìn kiếp trước làm thông lệ), tại
A-ma-la-ngõa có người Bà-la-môn tên là ThiệnTuệ, vì nhận
thấy đời là vô thường nên xuất gia tu đạo. Thiện Tuệ
đến Đản-ma-ca trong Tuyết Sơn tu thiền định để nhập
Niết bàn. Song, lúc đó Phật Nhiên Đăng (Dipankara, cũng gọi
là Đĩnh-Quang, Phổ-Quang, Định-Quang) xuất hiện để thuyết
pháp độ sinh, Thiện Tuệ bèn bỏ ý định nhập Niết bàn
mà một mặt muốn cứu độ hết thảy chúng sinh, mặt khác
quyết tu hành thành Phật. Thiện Tuệ trọn đời thờ Phật
Nhiên Đăng và cuối cùng được Phật thụ ký trải qua bốn
A-tăng-kỳ trăm nghìn kiếp sau sẽ được thành Phật hiệu
là Thích Ca. Đó là khởi đầu các kiếp làm Bồ tát của
đức Phật ở quá khứ, Bồ tát có nghĩa là tìm cầu Bồ
đề (trí tuệ) mà cái điều kiện chủ yếu của Bồ tát
hạnh là phải quên, vì người, nghĩa là, lấy việc “trên
cầu Bồ đề, dưới độ chúng sanh” làm tư cách. Nói cách
khác, đó là danh hiệu của tu hành cầu thành Phật. Sau khi
được thụ ký, Bồ tát đã trải qua nhiều đời kiếp sinh
vào các loài hữu tình để hoàn thành những hạnh nguyện
của mình: đó tức là những truyện về Bồ tát trong Bản-sinh-đàm.
Có khi Bồ tát sinh làm Chuển-luân-thánh-vương, khi thì làm
ngư phụ, cũng có khi làm vượn, loài thỏ, v.v… tất cả
sự kinh lịch biến hình đó rốt cục cũng chỉ là để hoàn
thành hạnh nguyện “trên cầu Bồ đề, dưới cứu độ chúng
sinh” mà thôi. Tuy nhiên, trong quá trình đó,cũng có khi mang
thân phàm phu phiền não và, điều này, đến A-Tỳ-Đạt-Ma
đã trở thành một vấn đề nghị luận. Song, về mặt pháp
tướng, có điều cần chú ý là: trong các cảnh giới và thân
hình, Bồ tát tuy nỗ lực tu hành vạn thiện, nhưng công hạnh
đặc biệt của ngài thì được thâu tóm vào cái gọi là
“Mười ba-la-mật”. Lại nghĩa, trong khoảng thời gian bốn
a-tăng-kỳ trăm nhìn kiếp ấy, Bồ tát đã được gặp và
cúng dàng vô số Phật, nhưng mối quan hệ thâm thiết thì
chỉ có hai mươi bốn đức Phật mà thôi. Về mười ba-la-mật
thì trong Bản-sinh-đàm có nói đến ở nhiều chỗ, nhưng,
về hai mươi bốn Phật thì chỉ được ghi chép trong Phật
Sử P.T.S. của Phật-đà-vương-sa.
Mười
ba-la-mật là: 1- Bố-thí-ba-la-mật; 2- Giới-ba-la-mật; 3- Xuất-ly-ba-la-mật;
4- Trí-tuệ-ba-la-mật; 5- Tinh-tiến-ba-la-mật; 6- Nhẫn-nhục-ba-la-mật;
7- Chân-thực-ba-la-mật; 8- Quyết-định-ba-la-mật; 9- từ-bi-ba-la-mật;
10- Xả-ba-la-mật (trong Bồ-đề-tư-lương-luận của Long Thụ
cũng có kể đến mười ba-la-mật, nhưng hơi khác với danh
số trên đây).
Bố-thí-ba-la-mật
nghĩa là hỷ xả hết thảy gia tài trân bảo cho đến cả
vợ con và bản thân mình cũng thí xả vì một đích là cầu
Bồ đề. Giới-ba-la-mật là bảo toàn giới hạnh. Xuất-ly-ba-la-mật
là xa lìa thế gian. Trí-tuệ-ba-la-mật là bồi dưỡng trí
phán đoán chính xác. Tinh-tiến-ba-la-mật là nổ lực làm việc
thiện. Nhẫn-nhục-ba-la-mật là nhẫn nại chịu đựng. Chân-thực-ba-la-mật
là trong bất kỳ trường hợp nào đều nói thật, không bao
giờ dối trá. Quyết-định-ba-la-mật là quyết đoán một
cách bình tĩnh. Từ-bi-ba-la-mật là thương yêu hết thảy chúng
sinh. Xả-ba-la-mật là luôn luôn giữ tâm bình đẳng. Làm trọn
vẹn tất cả những đức mục trên đây gọi là ba-la-mật,
vì chữ parami hay paramita có nghĩa là hoàn toàn. Lấy sự phát
tâm từ thời đại Thiện Tuệ làm khởi điểm đến thời
gian cuối cùng an trụ nơi cung trời Đâu Suất, trong khoảng
bốn a-tăng-kỳ trăm nghìn kiếp sinh tử thật ra chỉ là những
giai đoạn hoàn thành mười ba-la-mật này: ít ra đây cũng
là quan niệm về Bồ tát của nhà ký thuật Phật truyện.
Còn hai mươi bốn vị Phật mà trong thời gian đó Bồ tát
được gặp và thân cận cúng dàng, theo Phật-đà-vương-sa
là những vị sau đây:
1-
Nhiên Đăng Phật, 2- Kiều-Trần-Như, 3- Cát Tường, 4-Thiện-ý-Tu-Ma-Da,
5- Ly-Bà-Đa, 6- Du-Tỳ-Đa, 7- Anomadassi, 8- Hồng-Liên-Hoa, 9- Na-La-Đà,
10- Thượng-Liên-Hoa, 11- Thiện Tuệ, 12- Thiện Sinh, 13- Piyadassi,
14- Atthadassi, 15- Dhammadassi, 16- Tất-Đạt-Da, 17- Để Sa, 18-
Bổ Sa, 19- Tỳ-Bà-Thi, 20- Thi Khí, 21- Tỳ-Xá-Bà, 22- Câu-Lưu-Tôn,
23- Câu-Na-Hàm, 24- Ca Diếp.
Nên
chú ý, trên đây là thứ tự do Nam-Phương truyền lưu, có
điểm không nhất trí với sự lưu truyền của Bắc-Phương.
Nghĩa là bên Bắc-Phương cũng có những truyền thuyết về
chư Phật, nhưng ngoài điểm tương đồng lấy Phật Nhiên
Đăng là tối sơ và năm vị Phật từ Tỳ-bà-thi trở xuống
ra, còn các vị khác chưa chắc đều giống như thuyết trên
đây của Phật-dà-vương-sa (xen bài tựa trong cuốn P.T.S. Buddhavamsa,
p. V,VII, của Richard Morris). Thuyết này nguyên là một hệ phổ
thần thoại nên sự lưu truyền có nhiều chỗ bất đồng,
điều đó tưởng cũng không có gì là lạ. Tóm lại, Nam, Bắc-Phương
đều nhất trí ở điểm là thừa nhận có nhiều Phật khác
trước Phật Thích Ca. Trong Kỳ-na-giáo (Jainism), trước vị
Khai tổ Đại Hùng cũng lập nên hai mươi bốn vị tổ khác
có lẽ cùng thuộc thuyết này.
Như
vậy, sự thực chứng thể nghiệm giáo pháp bao hàm cái phổ
biến tính Phật đại khái phải cầu ở quá khứ hay sao? Vấn
đề này sau đến A-Tỳ-Đạt-Ma đã trở thành đề mục luận
cứu về những sứ mệnh và tính chất dị đồng của Phật,
và chính đã trở thành vấn đề thần học, đó là điểm
trước hết chúng ta cần phải ghi nhận. Do đó, ở đây, ta
lại cần phải luận cứu qua xem vấn đề truyện ký của
chư Phật như thế nào, vì đây là vấn đề cần phải so
sánh trong Phật sử của Phật-đà-vương-sa, tiểu sử của
tất cả hai mươi bốn vị Phật đều được ghi chép sơ lược.
Đều đáng chú ý là trong Đại-bản-kinh, Trường-a-hàm (Đại-Chính,
I, tr. 1, phần giữa), truyện Phật Tỳ-bà-thi rất rõ ràng.
Vì trong Trường-a-hàm cũng có đủ hai mươi bốn vị Phật,
nhưng đặc biêt là truyện Phật Tỳ-bà-thi không những được
ghi một cách rất tường tận mà nó còn có quan hệ rất mật
thiết với truyện Phật Thích-Ca hiện tại.
Phật
Tỳ-bà-thi ra đời cách nay đã chín mươi mốt kiếp, lúc đó
người thọ tám vạn bốn nghìn tuổi. người thuộc dòng Sát-đế-lỵ,
phụ vương tên là Bàn-đầu, mẫu hậu là Bàn-đầu-bà-đề,
và thủ đô cũng tên là Bàn-đầu-bà-đề. Sau khi tu hành,
Tỳ-bà-thi ở cung trời Đâu-Suất, thấy thời gian đã đến,
liền từ thiên cung thác thai theo hông bên hữu của Vương
phi Bàn-đầu-bà-đề. Thân thể mẫu hậu rất an tường, trong
thai hoàn toàn thanh tịnh, tất cả các căn đều đầy đủ.
Sau khi đủ ngày tháng, Bồ tát Tỳ-bà-sa, từ bên hông hữu
mẹ xuất sinh và ngay lúc đó đã đi bảy bước mà nói rằng:
“Trên trời, dưới trời chỉ có ta là tôn quý; ta sẽ độ
cho chúng sinh thoát khỏi sinh, lão, bệnh, tử”.
Bồ
tát sinh ra đã đủ ba mươi hai tướng (chi tiết, xin xem D.H.
tr. 17-19 và Đại-bản-kinh chữ Hán). Một vị tiên xem tướng
rồi nói: “Nếu nối ngôi vua sẽ là Chuyển-luân-vương, còn
nếu xuất gia tu hành thì sẽ thành một vị Phật”. Khi lớn
lên, ra chơi bốn cửa thành, thấy bốn cảnh già, bệnh, chết
và tu hành liền có ý tưởng xuất ly, và năm hai vạn chín
ngàn tuổi, sau khi có một người con, bèn bỏ nhà đi tu đạo.
Sau khi xuất gia, đến một nơi yên tĩnh ngồi để quan sát
mười hai nhân duyên (trong văn Ba-li chỉ nói đến mười hai
nhân duyên thôi) và cuối cùng đã thành chính giác. Sau đó,
nhận lời thỉnh cầu của Phạm thiên, bắt đầu thuyết pháp
tại vườn Lộc-Dã trong thành Đầu-bàn-bà-đề. Ở đây độ
cho nhiều đệ tử và phái đi các nơi để truyền đạo, và
sáu năm sau lại trở vể Bàn-đầu-bà-đề để thống nhất.
Trên
đây là nhân duyên của Phật Tỳ-bà-thi trong Đại-bản-kinh
hầu như toàn bộ đều nhất trí với truyện Phật Thích Ca.
Truyện Phật Tỳ-bà-thi tuy được coi là phỏng theo truyện
ký của đức Phật, nhưng, trái lại, theo Âu-độc-phú-lan-cấp-thị,
truyện ký của Phật Thích Ca sau này lại được ứng dụng
theo thần thoại của Phật Tỳ-bà-thi. Ở đây, chúng ta không
nên quyết đoán đâu là sự thật, thế nhưng có điều ta
không thể phủ nhận được là giữa truyện Phật Tỳ-bà-thi
và truyện Phật Thích Ca có một mối quan hệ rất mật thiết.
Tóm
lại, trong những kiếp làm Bồ tát như đã nói ở trên, Phật
Thích Ca đã gặp được nhiều Phật, mà mỗi lần gặp một
vị Phật đều hy sinh tự kỷ để cúng dàng đức Phật đó,
nhận chịu sự giáo hóa của ngài và con số đó không thể
kể hết. Cứ như thế Bồ tát Thiện Tuệ đã trải qua bốn
a-tăng-kỳ trăm nghìn kiếp, dần dần tiến đến chính-đẳng
giác và thành một vị nhất-sinh-bổ sứ trên cung trời Đâu
Suất là tối hậu thân của ngài.
2-
TỪ ĐẢN SINH ĐẾN NIẾT BÀN.
Bồ
tát ở cung trời Đâu Suất được mấy nghìn tuổi thì thời
gian thành Phật đã đến. Lúc đó, trên thiên cung, các thiên
sứ tuyên ngôn về sự xuất hiện của Phật, nói: “Từ nay
đến một ngàn năm sau, ở cõi này có một vị Phật ra đời”.
Nghe xong, chư thiên tụ họp lại để thỉnh cầu Bồ tát sớm
thành Phật. Lúc đó, Bồ tát liền dự liệu về thời gian
giáng sinh, Châu, quốc độ, chủng tộc và thân mẫu, và sau
đã quyết định thác thai vào hoàn hậu Ma Da, vương phi của
vua Tịnh Phạn, dòng Sát-đế-lị thuộc cõi Diêm-phù-đề.
Để thích ứng với điều đó, hoàng hậu Ma Da đã thấy một
giấc mộng đẹp. Vào một buổi cuối mùa hạ, sau khi hoàng
hậu đã cử hành bá thí cho mọi người, lui về yên nghỉ,
thì thấy bốn vị thần đến khiêng giường hoàng hậu đi
về phía Tuyết sơn, đặt dưới gốc cây Sa la rồi mời hoàng
hậu vào tắm trong ao A-nậu-đạt. Lúc đó, một con voi trắng,
vòi quấn vào một bông sen trắng đến lạy hoàng hậu rồi
theo đường hông bên hữu mà vào thac thai. Hai hôm sau, nhà
vua cho triệu thầy tướng vào cung để hỏi vể giấc mộng
kỳ lạ đó. Thầy tướng cho đây là điềm mang thai và người
con sau này sẽ là một vị Chuyển-luân-vưong, nếu không, thì
sẽ thành một vị Phật.
Từ
đây trở đi, những điểm phảng phất giống như truyện Phật
Tỳ-bà-thi cũng được thừa nhận là sự hiển hiện của
sự thực lịch sử: đó là truyện Thái tử mà cả Nam và
Bắc-Phương đều lưu truyền. Nghĩa là, sau khi thụ thai, hoàng
hậu cảm thấy thân tâm rất nhẹ nhàng, thấy Bồ tát trong
thai các căn đều đầy đủ, trong thai cũng không có gì ô
uế. Khi đủ mười tháng, hoàng hậu phải về cha mẹ tại
thành Thiên Chỉ để sinh; nhưng mới đi được nửa đường
đến khu vườn Lâm-tì-ni thì sinh Thái tử. Lúc ấy các thiên
sứ hiện xuống dùng tay đỡ lấy Thái tử, Long vương thì
phun nước cam lộ tắm cho Thái tử. Thái tử liền nói lên
mấy câu mà ngày nay chúng ta đều biết là: “Sinh tử đến
đây đã hết. Ta là đệ nhất; ta là tối thượng”. Song
truyền thuyết cho rằng Thái tử sinh từ hông bên phải của
hoàng hậu thì không được nhất trí. Trong Nhân-duyên-đàm
tuy không nói rõ, nhưng trong các bản dịch Hán văn được
lưu truyền, các bản cổ thì không có mà các bản mới thì
lại có. Tiên A-di-ta xem tướng rồi nói rằng sau sẽ là Chuyển-luân-vương
nếu nối ngôi vua, và sẽ thành một vị Phật nếu xuất gia
tu đạo: điểm này rất giống với truyện Tỳ-bà-thi. Tính
tình Thái tử rất trầm tịch, ngay từ thủa nhỏ đã tỏ
ra nhiều suy tư. Vua cha thấy thế rất lo âu bèn sai thiết
lập cho Thái tử ba tòa cung điện cho thích hợp ba mùa rồi
tuyển cho vài trăm cung nữ ngày đêm hầu hạ mong Thái tử
quyến luyến mà ở lại cung điện. Song, sau khi ra chơi bốn
cửa thành thì ý tưởng xuất gia đã lởn vởn trong đầu
óc Thái tử, và sau khi La-hầu-la ra đời thì Thái tử quyết
định rời bỏ hoàng thành. Lúc đầu theo hai ông tiên A-la-la-dà-ma-la
và Uất-đà-la-la-ma lúc đó đang tu ở gần nước Ma-kiệt-đà,
nhưng ít lâu sau vì không được thỏa mãn nên lại bỏ hai
ông này mà đi theo ông Ưu-lâu-tần-loa để tu khổ hạnh. Trong
thời gian này, Thái tử có năm người bạn cùng theo tu với
ngài. Sau sáu năm tu khổ hạnh không thấy có kết quả, Thái
tử liền bỏ khổ hạnh rồi nhận sự cúng dàng của Thiện-sinh-nữ
để khôi phục lại sức khỏe, từ đó chỉ chuyên tinh tiến
tu luyện tinh thần. Năm người bạn cùng tu thấy thế cho là
Thái tử đã thoái chí liền bỏ Thái tử mà đi. Từ đây
đến ngày thành đạo, Thái tử đã dùng mọi hình thức chiến
đấu ma vương và cuối cùng đã đạt đến thắng lợi tuyệt
đối. Vào một đêm, lúc canh một chứng được “túc-mệnh-thông”,
thấy suốt các kiếp quá khứ; canh hai được “thiên-nhãn-thông”,
thấy rõ ba cõi, và cuối cùng, lúc canh ba thì chứng được
trí “duyên khởi”, quán thông thời gian và không gian, biết
rõ pháp tắc sinh khởi của vạn, đến đây đã thành bậc
đại giác tức là thành Phật, thành Như lai. Từ đây, Phật
còn lưu lại gốc cây Bồ đề và đổi chỗ ngồi bốn lần
để hưởng “pháp hỷ thiền duyệt” (các học giả của
A-Tỳ-Đạt-Ma Ba-li bảo rằng trong thời gian này Phật ngồi
để suy nghĩ về A-Tỳ-Đạt-Ma). Đức Phật tự nghĩ cái pháp
mà ngài liễu ngộ quá sâu xa, người thường khó có thể
hiểu được, nên tốt hơn cứ nhập Niết-bàn ngay tại đó.
Nhưng lúc ấy, Phạm-thiên hiện ra và thỉnh cầu Phật truyền
đạo độ sinh và Phật đã nhận lời. Phật liền nghĩ đến
năm người bạn thân ngày trước hiện đang tu tại vườn
Lộc-dã và đặc biết đến đấy để độ cho họ trước.
Khi đến Lộc-Dã, Phật bắt đầu nói pháp “Tứ đế”
và buổi thuyết này được gọi là “Sơ chuyển-pháp-luân”.
Nghe xong, Kiều-trần-như liễu ngộ trước, rồi lần lượt
đến bốn người khác là Bà-phả, Bà-đề, Ma-ha-nam và A-thuyết-thị
cũng đều liễu ngộ. Đến đây thì Phật, Pháp, Tăng tam bảo
đã được hoàn thành và chính đó là nguồn gốc Phật giáo
vậy. Sau đó, độ cho một trưởng giả là Gia-Xá và dần
dần các đệ tử khác và kể cả Phật cộng tất cả là
mười một vị A la hán. Phật liền sai các đệ tử ấy đi
các nơi để truyền đạo. Còn chính Phật thì đến khu rừng
Ưu-lâu-tần-loa độ cho ba anh em Ca Diếp, rồi vào thành Vương
Xá hội kiến vua Tần-tỳ-sa-la và tiếp nhận Trúc Lâm tinh
xá. Trong thời gian này độ cho hai vị đại đệ tử là Xá-lợi-phất
và Mục-kiền-liên, từ đó giáo đoàn càng ngày càng hưng
thịnh. Ít lâu sau, Phật trở về cố hương là Ca-tỳ-la-vệ
gặp phụ vương và Da-du-đà-la, lại tiếp nhận La-hầu-la
và các vương tử trong dòng học Thích vào giáo đoàn. Sau lại
trở về Ma-kiệt-đà, đến thành Xá vệ thuộc Câu-tát-la
nhận sự cúng dâng của trưởng giả Cấp-cô-độc và nhận
luôn Kỳ-hoàn-tinh-xá làm căn cứ an trụ. Khi giáo đoàn phát
đạt mạnh thì Đề-bà-đạt-đa (Devadatta) âm mưu phá hoại
giáo đoàn, nhưng nhờ nhân cách cảm hóa vĩ đại của Phật,
Phật giáo trong thời đại của Ngài đã là một thế lực
rất mạnh, không một ai phá nổi. Nhưng, như đã nói ở trên,
trừ một vài năm sau thành đạo, còn từ đó về sau, thứ
tự niên đại của sự tích Phật rất lờ mờ, bất cứ trong
cuốn Phật truyện nào cũng vậy, đều không thấy ghi rõ niên
đại của sự tiến triển của giáo đoàn: đó là điều rất
đáng tiếc! Đức Phật nhập diệt năm tám mưoi (hoặc bảy
mươi chín) tuổi, ba tháng trước khi nhập diệt tuy đã lâm
trọng bệnh, nhưng do tinh thần lực Ngài đã tự trị
liệu, trong kinh gọi đó là “lưu thọ hạnh” (danh từ “lưu
thọ” được dùng trong kinh Du hành, Đại chính, I, tr.17).
Sau mùa an cư tại Tỳ-xá-li, cùng A-nan đi thị giả, Phật
đi về phía thành Câu-thi-na-già-na của chủng tộc Ma-la, nhận
sự cúng dàng của Thuần-đà, rồi lại lâm bệnh và cuối
cùng đã nhập diệt tại Câu-thi-na-già-la dưới gốc cây Sa-la.
Sự tích trong thời gian này được ghi chép một cách khá rõ
ràng trong kinh Du hành của Trường-a-hàm từ quyển hai đến
quyển tư (Dại Chính, I, tr.11-30). Trong kinh Du hành nói về
quá trình nhập diệt như sau: trước hết vào Sơ thiền, đến
Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, lại qua Tứ-vô-sắc định
cho đến diệt thụ tưởng định. A nan cho thế là Phật đã
nhập diệt, nhưng, sau đó, Phật từ diệt định trở xuống
định phi tưởng, phi phi tưởng, rồi lần lượt theo thứ
tự xuống Sơ thiền, lại tiến lên Nhị thiền, Tam thiền,
sau cùng vào Tứ thiền và đến đây mới thật nhập đại
ban niết bàn (kinh Du-hành, quyển thừ 4. Đại chính, I, tr.
26, giữa; D. vol. II, p. 156).