CHƯONG
VI
NIẾT
BÀN LUẬN
Vấn
đề Niết-Bàn thỉnh thoảng cũng đã được nói đến ở
trên, nhất là trong chương trước, khi luận về La-Hán, là
hoàn toàn muốn nói rõ cái cảnh tượng của Niết-Bàn (hữu
dư) này; nói cách khác, ý nghĩa của Niết-Bàn thực tiễn
như đã được trình bày ở trên đại khái ta cũng có thể
hiểu qua rồi. Tuy nhiên, trên bình diện Pháp tướng, nhận
xét về mặt lí luận, vấn đề này vẫn còn có điểm cần
phải được khảo sát; vì, về phương diện lí luận, it ra,
nó cũng là trung tâm tôn giáo của Phật giáo, cho nên, nó là
một vấn đề hết sức trọng yếu. Bởi vậy, ở đây, tôi
phải dành riêng một chương nữa để thảo luận vấn đề
này.
I-
HAI LOẠI NIẾT BÀN
Theo
Phật, Niết-Bàn có hai hình thức là Hữu-dư-niết-bàn (Saypadisesa
nibbàna) và Vô-dư-niết-bàn (Anupadisesa nibbàna). Hữu-dư-niết-bàn
là chỉ cho người đã đạt đến cảnh giới thoát khỏi vòng
luân hồi nhưng nhục thể vẫn còn tồn tại; Vô-dư-niết-bàn
là cảnh giới vĩnh viễn <<ẩn một>>, phần nhục thể
cũng không còn nữa. Hai loại Niết-Bàn này cũng giống như
hai loại giải thoát của phái Vê-đan-ta (Vedanta) là Hữu-thân-giải-thoát
(jivanmukti) và Vô-thân-giải-thoát (ajivanmukti) đã được phân
loại theo ý nghĩa giải thoát của tôn giáo Ấn-Độ. Vả lại,
như vừa nói ở trên, sự khu biệt Hữu-dư và Vô-dư này cũng
còn cần phải giải thích riêng biệt; tức là, quả Bất-Hoàn
thứ ba được gọi là Hữu-dư, quả La-Hán thứ tư được
gọi là Vô-dư. Xem trong A-Hàm, bản Hán dịch(1) thì sự giải
thích trên đây là phương pháp thông dụng cho đến ngày nay.
Lại nữa, theo sự giải thích này, trên vấn đề pháp tướng,
niết-bàn trở thành một vấn đề nan giải. Tóm lại, chỉ
giải thích như trên mà gọi là Hữu-dư và Vô-dư thì ý nghĩa
giữa hai loại Niết-Bàn vốn là “nhị nghĩa đẳng luân”,
không sai khác. Duy đúng về phương diện cách thức mà nói
thì Vô-dư-niết-bàn là cảnh giới trên Hữu-dư. Tại sao?
Vì còn có thân thể thì dù tâm có muốn thoát li già, bệnh,
chất đi nữa cũng không trách khỏi những nhược điểm của
phần nhục thể. Hơn nữa, còn có thân thể thì, như đã được
trình bày ở trên, đôi khi cũng còn nguy cơ thoái chuyển, cho
nên, chỉ khi nào rút bỏ cả phần nhục thể thì mới vĩnh
viễn an toàn. Song, đây chỉ nói về phương diện lý luận
mà thôi, nếu theo ý nghĩa tôn giáo thực tế mà nói thì Phật
lại coi trọng Hữu-dư hơn Vô-dư. Tóm lại, Phật là một
nhà theo chủ nghĩa tôn giáo thực nghiệm, ngài đã tự thể
nghiệm Niết-Bàn vĩnh viễn ngay trong hiện tại, và muốn khiến
cho những người khác cũng thể nghiệm được như Phật; đó
là bản nguyện của Phật mà ngài đã cố thực hiện cho đến
hơi thở cuối cùng.
(1)
Trung 5, Thiện Nhân Vãng Kinh, pp. 5-6; Tăng 7, p. 307. Sự khu biệt
Hữu-dư, Vô-dư này, theo tôi, là cách phân loại nguyên thủy
nhất, nhưng, về phía văn Ba-li, tôi chưa thấy có sự tương
đương nào, nên chưa dám đoán định. Đợi tham cứu sau.
“Như
thế không bao lâu, đến khi hết phiền não, thành vô lậu
thì được tâm giải thoát, tuệ giải thoát, đối với hiện
pháp, tự mình chứng tri, tự mình thực hiện”.
Trên
đây là những lời Phật thường nói với các đệ tử(1).
Chủ trương của Phật là phải tự chứng tri, tự thực hiện
pháp ngay ở hiện tại (hiện pháp); nếu pháp ở đây là Niết-Bàn
thì đó chính là thể nghiệm Hữu dư niết bàn. Cho nên, nếu
đó là chân tướng của Niết-Bàn thì, tuy khó dùng lời lẽ
để biểu hiện cho thích đáng, nhưng, trên thực tế, đối
với các đệ tử Phật, hiển nhiên nó có một tính chất
dễ lý giải. Tại sao? Là vì không những chỉ đối với Phật
là người đã thực sự thể hiện niết bàn trong cuộc sống
mới biết mùi vị niết bàn (giải thoát) như thế nào, mà
ngay đối với những người chứng ngộ được một chút cũng
có thể nhờ sự tự giác nôi bộ bộc phát mà thể nghiệm
được. Nhưng điều khó khăn hơn hết là sự lý giải và
thuyết minh niết bàn rốt ráo là cảnh giới Vô dư niết bàn
như thế nào: đó là vấn đề nan giải. Bởi vì đã đến
cảnh giới ấy rồi thì không còn phương pháp nào có thể
ứng dụng để diễn tả sự thực chứng của những người
đã thể nghiệm mà chỉ còn có thể có được một khái niệm
mà thôi. Song le, về thế giới quan, Phật lại bác bỏ
tất cả mọi khái niệm cố định, cho nên người ta cảm
thấy vô cùng khó khăn trong việc suy cứu lí luận. Ngay đến
những người đã thực chứng Hữu dư niết bàn mà cũng còn
cảm thấy vấn đề này khó khăn, huống hồ với những người
chưa đạt đến cảnh ấy thì sự lần mò, dò dẳm trong bóng
tối có chi là lạ? Sau khi Phật nhập diệt đã nảy sinh ra
vấn đề <<có>> <<không>> chính cũng liên quan đến
điều này: Cái lí do cắt nghĩa tại sao từ xưa đến nay đã
có bao nhiêu nghị luận về chân tướng của Niết-Bàn, nhưng
người ta vẫn chưa đi đến một kết luận có tính cách xác
định-mặc dầu chỉ trên bề mặt-cũng chính là ở đó. Sau
đây tôi xin trình bày thiển kiến riêng của tôi.
(1)
Như A, V p. 15.
2-
HỮU DƯ NIẾT BÀN
Trên
hình thức, trước hết hãy bắt đầu từ Hữu dư niết bàn
. Ngay thân này mà giải thoát tức là đã đạt đến Hữu
dư niết bàn. Đứng về phương diện tiêu cực mà nói thì
đó là trạng thái đã diệt trừ hết mọi phiền não; nói
theo nghĩa rộng là đã cắt đứt được mười thượng, hạ
phận kết; còn nói theo nghĩa hẹp thì đó là sự thủ tiêu
hoàn toàn ba độc tham, sân và si. Nếu lại luận từ căn bản
thì đó là cái đương thể của sự phá trừ hết vô minh
khát ái, tức là khử hết ngã chấp, ngã dục, chỉ còn cái
đương thể hoàn toàn vô ngã.Về điểm này, Phật thường
gọi Niết-Bàn là “tham, sân, si diệt”, “khát, ái diệt”
(tanha nibbàna), và “vô minh diệt” v.v…Xét về từ ngữ
niết bàn (nirvàna-nibbàna) thì nó bắt nguồn từ tiếng “dập
tắt” (nirva), chính Phật đã dùng cái nghĩa này để chỉ
cái đương thể đã “dập tắt” mọi phiền não, cho nên
mới gọi là Niết-Bàn.
Như
vậy thì phương diện tiêu cực tuy là thuộc tính trọng yếu
của Hữu du niết bàn, nhưng, đồng thời, phương diện tích
cực cũng không phải là không đáng kể. Như đã nói ở trên,
để đạt đến niết bàn, tức giải thoát, cần phải có
sự bộc phát nội bộ làm ánh sáng soi đường. Điều này
không có nghĩa như phái Số Luận bảo sự tồn tại của Thần
ngã là cái đương thể đạt được, mà cũng khác với phái
Vê đan ta (Vedanta) cho là sự phát triển cái đương thể của
Phạm. Trái lại, niết bàn là cái đương thể của phiền
não đã bị tận diệt, nó là cái năng lực tích cực mới
phát sinh mà từ xưa chưa từng được kinh nghiệm. năng lực
tích cực này là nguồn gốc của sự bộc phát, cho nên cũng
có thể bảo chính nhờ vào đó mà làm cho phiền não tận
diệt. Như trường hợp của Phật, ròng rã sáu năm trời chuyên
tâm chuyên trừ phiền não mà chưa thể thành công, nhưng chỉ
ngồi tĩnh lặng tư duy trong khoảng bốn mươi chín ngày thì
đạt đến đại bộc phát, là vì trong thời gian chuyên tâm
tiêu diệt phiền não đã dưỡng thành cái năng lực tích cực
rồi. Lại nữa , lúc ba mươi lăm tuổi thì Phật chứng niết
bàn (parinibbuta) rồi sau đó tích cực hoạt động truyền đạo
suốt bốn mươi lăm năm, vậy nếu không thừa nhận cái năng
lực tích cực này thì không thể hiểu được những hoạt
động ấy của Phật. Hơn nữa, điểm xuất phát của Phật
tuy lấy việc giải thoát khỏi già, đau, chết làm mục đích,
nhưng, trên thực tế, cho dù đã thành bậc Thánh, cũng không
tránh khỏi được cái tai họa ấy; nghĩa là, bản thân Phật
cũng đôi khi đau ốm, già yếu dần dần cho đến lúc tám
mươi tuổi cũng không tránh khỏi cái chết. Tuy nhiên, Phật
vẫn nói là đã thoát li già, bệnh, chết, không sợ sinh, lão,
bệnh, tử và còn tin chắc là trong tương lai không còn sinh
ra và chết đi nữa v.v…ấy cũng nhờ cái năng lực tích cực
và sáng suốt trong nội bộ không còn dính líu đến sinh, già,
bệnh, chết: Nhất là từ ngữ Niết-Bàn (nibbàna-nirvana), quyết
không phải chỉ có nghĩa là dập tắt, nghĩa là ta hãy gác
vấn đề ngữ nguyên(1) lại một bên mà chỉ bàn đến cách
dùng từ ngữ này thôi thì ở thời đại Phật, nó được
dùng để biểu thị cái cảnh giới diệu lạc tối cao. Chẳng
hạn như Trường Hàm và kinh Phạm Võng (kinh Lục Thập Nhị
Kiến) có đưa ra năm loại niết bàn hiện đại, mà bất luận
là loại nào cũng đều chỉ cho cái cảnh giới tích cực thích
ý, và trong đó cũng có chủ trương cho cảnh giới ham đắm
thú vui ngũ dục là niết bàn hiện đại nữa. Vậy, nếu từ
ngữ niết bàn chỉ có nghĩa là dập tắt, tiêu tan thì quyết
đoán đã chẳng có những cách dùng như thế. Bởi vậy, cái
mà Phật gọi là niết bàn cũng có nghĩa là cảnh giới diệu
lạc tích cực. Lại nữa, Phật bảo niết bàn là cảnh giới
bất tử (amala), là nơi tuyệt đối an ẩn (yogakikhama), là
mát rợi (sitibhava) vân vân, đích thực cũng là nói về cái
năng lực tích cực ấy. Bởi thế, cái lí do Phật lấy lí
tưởng thường, lạc, ngã, tịnh là trung tâm, cầu mong đạt
đến niết bàn mới thỏa mãn hoàn toàn là ở chỗ đó.
(1)
Về ngữ nguyên của Niết-Bàn, xem luận án của Dr W. Stel trong
Jonrnal of Pàli Text Society (1919-20).
“Tỷ
khưu! Bất sinh (ujata), bất thành (abhuta), vô tác (akata), vô
vi (ankhata), Tỷ Khưu, nếu không có bất sinh, bất thành, vô
tác, vô vi thì sinh, thành, tác, hữu vi không có chỗ y chỉ
(nissarana). Tuy nhiên, Tỷ khưu, vì có bất sinh, bất thành,
vô tác, vô vi nên sinh, thành, tác, hữu, vi mới có chỗ dựa(1)”.
Bất
sinh, bất thành, vô tác, vô vi là chỉ cho cái đương thể
của niết bàn, vì có cái đương thể của niết bàn nên thế
gian sinh diệt mới có chỗ dựa tối hậu. Như vậy thì niết
bàn quyết không phải là cảnh giới tiêu diệt, tán hoại
hay dập tắt.
Tóm
lại, cảnh giới Hữu dư niết bàn, về phương diện tiêu
cực, là nơi không còn phiền não, đồng thời, về phương
diện tích cực, thì đó là căn cứ của cảm giác về cái
năng lực thường hằng bất biến. Bất luận khảo sát về
phương diện lực dụng của nhân cách người thể nghiệm,
hay về phương diện suy đoán đạo lý, người ta đều không
thể phủ nhận hai ý nghĩa trên đây của niết bàn. Chỉ vì
Phật giáo không dùng nguyên lí biểu hiện cái gọi là Thần
(Isvara), Phạm (Brahman), Thần ngã (Atman) vân vân, nên, khi diễn
tả, chỉ khuynh hướng về hai phương diện tiêu cực và tích
cực mà thôi. Về sau người ta miễn cưỡng gọi cái năng
lực tích cực không thể dùng ngôn ngữ bình thường để
diễn tả được ấy là cái “Sức không” (Không lực).
(1)
Itivuttka 43 text p. 37.
3-
ĐƯƠNG THỂ CỦA VÔ DƯ NIẾT BÀN
Khi
khảo sát về Hữu dư niết bàn thì mặc nhiên ý nghĩa của
vấn đề Vô dư niết bàn cũng đã được hiểu ngầm rồi.
Tại sao? Vì, như Phật nói, Hữu dư hay vô dư chỉ là do thân
thể còn hay không còn mà khu biệt mà thôi, chứ bản chất
của nó thì không sai khác. Duy có điểm khó khăn nhất về
đề Vô dư niết bàn là ở chỗ khi cùng kết hợp nó với
vấn đề thực tại thì sẽ khảo cứu nó như thế nào. Tức
là, Hữu dư niết bàn thì cảm ngộ cái năng lực tích cực
đạt được, còn vấn đề Vô dư niết bàn thì nân phải
sử lí ra sao?
Trước
hết hãy bắt đầu từ vấn đề thực tại biểu diện. Theo
Phật, như đã thường nói nhiều lần, hết thẩy đều do
nhân duyên sinh, ngoài nhân duyên ra không có một vật gì tồn
tại, và đây là một luận thuyết không hiểu được một
cách dễ dàng. Nhưng, Vô dư niết bàn tất kính là chỉ cho
cái đương thể đã thoát li mọi nhân duyên ràng buộc, tức
là cái đương thể của “vô minh diệt thì hành diệt, hành
diệt thì thức diệt, cho đến sinh, lão, tử, diệt”, do đó
Phật bảo “Trước biết pháp trụ, sau biết Niết-Bàn”
(Pubbe dham-matthitinànam pacchà nibbàne nànanti)(1). Bởi thế,
đứng về phương diện lí luận mà nhận xét thì Niết-Bàn
rốt ráo chỉ là cái tên gọi khác đi của Hư vô mà thôi.
Tại sao vậy? Bởi vì đó cũng tức là cái đương thể của
vo minh, tức ý chí sống đã bị diệt hết, không còn một
vật gì cả. Hơn nữa, chính Phật và các đệ tử của ngài
cũng thường ví dụ Vô-dư-niết-bàn như ngọn đèn hễ “dầu
hết thì lửa tự tắt”. Và cứ theo ví dụ ấy mà suy ra
thì không thể không bảo là hư vô được. Cho nên, giải thích
ý nghĩa của Vô dư niết bàn là hư vô tịch diệt, trên phương
diện lí luận, tựa hồ như rất xác đáng. Ngay trong hàng
ngũ đệ tử Phật, từ rất sớm, đã có người chủ trương
ý kiến ấy rồi. Trở xuống đến thời đại Bộ phái thì
như Kinh Lượng Bộ (Sautrantika, Suttanta) cũng là phái chủ trương
mạnh về phương diện này. Nhất là trong số các học giả
Đông Tây hiện nay cũng có rất nhiều người chủ trương
ý kiến này. Chẳng hạn như Joseph Dahlmann trong Niết Bàn Luận
(Nirvàna s. 1-25), Pischel trong phần kết luận của Diệt Đế
Luận (Leben und der Buddhas, s. 76), Childers giải thích trong Từ
Điển Ba Li; và gần đây, như De La Vallée Poussin trong The Way
of Nirvana vân vân, đều chủ trương ý kiến này.
(1)
S. 111. pp. 100-II5; Tạp 34, p. 510.
Thú
thật, chính tôi cũng đã từng nhận ý kiến ấy là đúng,
người nào không cho như thế thì bất quá đó chỉ là sự
tự biện hộ. Nhưng, sau nhờ đi sâu vào sự nghiên cứu một
chút để tìm cầu cái tinh thần đích thực của Phật ngoài
những câu văn và mặt chữ, đặt biệt là về Hữu dư niết
bàn như đã được khảo sát ở trên, thì, đối với thuyết
“hư vô”, tuyệt nhiên tôi không thể đồng ý.
Trước
hết hãy lấy các kinh làm trưng chứng. Tuy đức Phật chưa
nói rõ Vô-dư-niết-bàn là cảnh giới tích cực như thế,
nhưng, nếu bảo nó là cảnh giới hư vô thì tôi cực lực
phản đối, bởi lẽ, bảo nó là “có” cũng không đúng
mà cho nó là <<không>> cũng không được. Chẳng hạn,
có người hỏi sau khi Phật nhập diệt thì cái tâm giải thoát
(Vimuttacitta) “có” hay “không”, Phật nói:
“Này
Bạt-Ta (Vaccha)! Dựa theo sắc mà lường tính Như-Lai thì Như-Lai
đã bỏ sắc ấy cũng như cây Đa-La đã tuyệt gốc không còn
sinh phận, trong vị lai là pháp bất sinh. Bạt-Ta! Như-Lai giải
thoát sắc ấy rồi thì cũng như biển lớn sâu xa không thể
lường tính được; nếu bảo là tái sinh mà không tái sinh
thì không đúng; mà bảo là không tái sinh nhưng cũng không
phải không tái sinh thì cũng lại sai. Dựa theo thụ mà lường
tính Như-Lai thì Như-Lai đã bỏ thụ ấy v.v…(cho đến trưởng,
hành, thức cũng thuyết minh như sắc)” (1).
Tức
ý nghĩa đoạn văn trên đây bảo rằng đương thể của Vô-dư-niết-bàn
đã thoát li năm uẩn là cái cảnh giới “li tứ cú”, “tuyệt
bách phi” “duy chỉ bậc Thánh biết được” (Panditanedaniya),
ngoài ra, không thể dùng khái niệm trên kinh nghiệm về có,
không, đi, lại, vân vân, mà lường tính được. Ở đây có
điều ta cần chú ý là; phủ định có nhưng, đồng thời,
cũng phủ định luôn cả không, vậy nếu như hư vô là chân
tướng của Vô-dư-niết-bàn thì phủ định có đã đành là
đúng, nhưng tại sao phủ định luôn cả không? Tức cảnh
giới Vô-dư-niết-bàn tuy không là một loại thể tướng (thường
được coi như thể hí luận) của cái gọi là Thiên quốc,
Thần, Phạm, ngã, nhưng là cảnh giới siêu việt cả có, không,
một sự tồn tại không thể diễn tả, không thể tưởng
tượng, không thể nghĩ bàn được.
(1)
M 72. Aggi-Vacehagotta. Vol. I. pp. 487-488; Tạp-Hàm 35. p. 66a.
Điều
này không phải chỉ có đoạn văn trên đây, mà tất cả các
kinh điển khác khi thuyết minh về Vô-du-niết-bàn đều nói
như thế(1). Ở đây lại có điểm ta cần đặc biệt chú
ý là: trong số các đệ tử của Phật nếu có ai hiểu Vô
dư niết bàn là hư vô thì Phật và các đệ tử niên trưởng
đều quở trách và dẫn dụ cho họ hiểu một cách chân chính.
Chẳng hạn trường hợp Diệm ma ca tỷ khưu (Yamaka), ông này
thường cho rằng Lậu tận La Hán là cõi “tuyệt vô”, không
có một vật gì cả. Các tỷ khưu khác thấy thế đều cho
Diệm ma ca bị tà kiến lung lạc bèn hết sức khuyên can, nhưng
Diệm ma ca không chịu từ bỏ ý kiến ấy của mình; cuối
cùng họ phải thỉnh Xá lợi phất nói pháp cho Diệm ma ca
hiểu. Xá lợi phất bảo Diệm ma ca rằng năm uẩn không phải
là Như Lai, nhưng, đồng thời ngoài năm uẩn cũng không có
Như Lai.
Kinh
Bản Sự. Về cách thuyết minh Vô-dư-niết-bàn, trong các kinh
đều có một hình thức nhất định, và có thể được coi
là điển hình nữa. Xin trích như sau:
<<Thế
nào gọi là cõi Vô-dư-niết-bàn? Này các Bật-Sô! Đó là
trạng thái đã chứng được La-Hán, đã nết sạch các phiền
não, phạm hạnh đã được thành lập, việc cần đã làm
trọn đủ, đã vứt bỏ mọi gánh nặng, đã chứng tự nghĩa,
đã khéo giải thoát, đã được biết khắp. Tất cả đều
cảm thụ bây giờ điều không do nhân dẫn đến, không còn
cầu mong, hi vọng cũng hết, rốt ráo tịch lặng, vĩnh viện
trong mát, ẩn lặc không hiện (lại nữa), chỉ còn y vào cái
thanh tĩnh không hí luận, không thể bảo rằng có, chẳng thể
nói rằng không, mà cũng không thể cho là cũng có, cũng không,
mà cũng chẳng thể bảo là chẳng phải có, chẳng phải không
mà chỉ nói không thể bày đặt, rốt ráo niết bàn, cho nên
gọi là cõi Vô-dư-niết-bàn>>. (Bản
Sự kinh quyển 3 tờ 350b. Itivuttaka 44).
Rồi
lại bắt đầu từ năm uẩn là vô thường, là khổ mà nói
rõ sự quan hệ giữa năm uẩn và vô ngã để cho Diệm ma ca
biết ý kiến của mình là sai lầm(1). Điểm ta cần lưu ý
ở đây là: các đệ tử Phật một khi cho La-Hán sau khi chết
là hết là những người ta kiến, cần phải được thuyết
phục cho họ từ bỏ chủ trương của họ. Thượng Tọa Xá
lợi phất cũng đã nói nhiều pháp nghĩa để thuyết phục
Diệm ma ca cho ông này từ bỏ thành kiến của mình. Xem thế
đủ biết, nếu các đệ tử Phật mà hiểu niết bàn là cảnh
hư vô tuyệt diệu thì hiển nhiên là đã phản bội Phật
rồi. Đứng về mặt biểu hiện mà nói thì lời thuyết pháp
của Xá lợi phất trên đây, dĩ nhiên, đã không trực tiếp
nói đến cái đương thể của niết bàn, nhưng, khi Diệm ma
ca nghe về Như Lai giải thoát năm uẩn và vô ngã v.v… thì
liền từ bỏ chủ trương của mình, như vậy, rò ràng trong
đó Diệm ma ca cũng đã mặc nhiên hiểu qua cảnh giới niết
bàn như thế nào rồi. Nhất là đương thể của cái gọi
là “năm uẩn không phải Như Lai, mà lìa năm uẩn cũng không
có Như lai” và “phi-tức-phi-lí-uẩn-ngã” cũng đã được
đề cập và chính nó đã giúp cho việc giải quyết vấn đề
niết bàn.
Tóm
lại, khi đứng trên lập trường nhân-duyên-luận để khảo
sát các vấn đề thực tại, về mặt biểu diện, trong số
các đệ tử của Phật, tuy cũng có người chủ trương thuyết
Hư Vô nhưng đã bị Phật và toàn thể đệ tử khác khiển
trách; đó là một sự thật lịch sự. Do đó, nếu ai theo
gót họ mà cho cái năng lực tích cực nội bộ do chứng Hữu
dư niết bàn mà có là Không, hoặc cho cảnh giới Vô-dư-niết-bàn
là tuyệt diệt thì hiển nhiên điều đó không thể chấp
nhận được.
(1)
S, III, pp. 109-115, Tạp 34, p. 510.
“Nếu
không có cái bất sinh, bất thành, vô vi, vô tác kia thì cái
sinh, thành, vi, tác cũng không có chỗ dựa”
Tức
cái đương thể của bất sinh, bất thành, vô vi, vô tác chính
thực là nơi nương tựa thường hằng, nơi tuyệt đối an
ẩn, tuy là cái tuyệt đối không biểu tượng, nhưng bản
thân nó lại là cảnh tuyệt đối hữu mà người ta có thể
chứng nghiệm được. Bởi thế tôi rất đồng ý với thuyết
của Hữu-Bộ giải thoát về Niết-Bàn cho là: “Trong tất
cả các pháp, Niết-Bàn là hơn hết; là thiện, là thường,
siêu việt hẳn các pháp khác” (1)
Song
mà, nếu liên kết nó với vấn đề thực tại thì nên phải
giải thích niết-bàn như thế nào? Về điểm này, tôi đã
trình bày ở cuối thiên trước, trong vấn đề bản chất
của thế giới, đại ý muốn quy vào một cảnh giới của
đương thể pháp tính, tức là kết hợp phương diện động
của pháp tắc duyên khởi và pháp tắc giải thoát với phương
diện tĩnh của đương thể làm một: theo tôi, điều này ổn
thỏa hơn cả.
“Biết
thụ chân chính (vedana) mà được hiện pháp vô lậu, thân
thể dù diệt nhưng trụ nơi pháp (dhammattha) mà thành Thánh
nhân (vedayà), cũng không còn luân hồi nữa” (1)
(1)
Đại-Tỳ-Bà-Sa-Luận 88, p. 414b.
Ý
nghĩa đoạn văn trên cho rằng nhờ sự ức chế cảm giác,
cảm tình mà được Hữu dư-niết bàn ngay trong hiện tại,
và sau khi chết thì được Vô-dư niết bàn. Duy có điểm ta
cần chú ý ở đây là: “sau khi chết, trụ nơi pháp” thì
câu nói này cũng thuộc bộ loại luân hồi. Thử đối chiếu
với những câu: “Trước được trí tuệ pháp trụ (nhân
duyên), sau được trí tuệ niết bàn” đã dẫn dụng ở trên,
thì nếu pháp trụ trước chỉ cho phương diện động của
pháp tính, thì pháp trụ sau có thể bảo là chỉ cho phương
diện tĩnh, tức Pháp tính tuyệt đối. Chính Phật cũng đã
nói rõ về điểm này. Duy có điều ta nên lưu ý là, như tôi
đã trình bày ở trên, bất luận duyên khởi pháp hay giải
thoát pháp, nếu khảo sát một cách sâu hơn, thì chúng đều
trở thành pháp tắc ý chí tự thân. Do đó Vô-dư-niết-bàn
rốt cục có thể bảo là cái đương thể của ý chí tuyệt
đối được hợp nhất. Tại sao? Vì pháp tính tuyệt đối,
nhận xét theo kiến định này, chủ yếu là sự tồn tại
của ý chí hoặc cũng có thể bảo là ý chí tính. Lại như
Xá-lợi-phất bảo lìa năm uẩn không có Như-Lai mà năm uẩn
tự nó cũng chẳng phải Như Lai cũng chỉ là nói rõ cái nghĩa
đương thể của Vô-dư-niết-bàn, tức đương thể của tâm
giải thoát. Về sau, kinh Niết Bàn của Đại Thừa giải thích
là đương thể của Ngã, Tịnh, Thường, Lạc thật ra không
ngoài ý nghĩa trên đây. Bởi thế, đứng trên lập trường
biểu diện của Phật giáo nguyên thủy mà nói thì sự giải
thích ấy cũng là thừa, chẳng qua trên bước đường nghiên
cứu không thể không tiến đến khuynh hướng ấy, chứ thật
ra nó đã bao hàm đầy đủ trong Phật giáo nguyên thủy rồi;
đây là một sự thật hiển nhiên.
(1)
S, IV, p. 207, Tạp 17, p. 574 (Căn Bản Phật Giáo, p. 267)
“Tri
thức chỉ là ánh sáng tự nhiên, tức chỉ là sự khoáng sung
của lòng tham muốn mà đi tìm ánh sáng tự nhiên. Chúng ta
không có được cơ quan siêu-tự-nhiên để mà hiểu nên đối
với cảnh giới hình-nhi-thượng, chúng ta chỉ có thể dùng
những danh từ phủ định như: Vô dục, phủ định ý chí,
Niết-Bàn, không vân vân, để biểu hiện và thuyết minh mà
thôi.
Song,
cái cảnh giới ấy tự nó lại có tích-cực-tính và thực-hữu-tính,
và nếu đem so sánh thì nó rõ ràng là một đại vũ trụ,
chứ đâu phải là bóng, là hơi thở, là hư vô?” (1)
Trên
đây là những lời thuyết minh về cảnh giới phủ định
ý chí. Tôi tưởng có thể mượn những câu này của P. Deussen
để thuyết minh cảnh giới Vô-dư-niết-bàn. Cái mà P. Deussen
bảo là tích-cực-tính, thực-hữu-tính chính là
pháp tính tuyệt đối, mà tức cũng là đương thể của ý
chí tuyệt đối vậy.
(1)
P, Deussen; Etemente der Metaphysik s, 550.
4-
NIẾT-BÀN GIỚI CỦA PHÁP TÍNH TUYỆT ĐỐI
VỚI
NHỮNG TƯ TƯỞNG ĐỜI SAU
Như
vậy, cảnh giới Vô-dư-niết-bàn là đương thể của pháp
tính tuyệt đối hợp nhất, nhưng, nó có tác dụng như thế
nào? Vấn đề này, nếu chỉ nói theo Phật giáo nguyên thủy
thì đó là cảnh giới tuyệt đối vắng lặng, vĩnh viễn
bất động: vì nó là đương thể của pháp tính tuyệt đối,
của ý chí tuyệt đối. Nhưng , nếu đứng trên lập trường
hiện tượng giới mà nhận xét thì đó chẳng qua chỉ là
thực hiện cái lí tưởng “ẩn mất không hiện” mà thôi.
Cho nên, đứng ở một phương diện khác mà quan sát thì đã
là pháp tính, ý chí tính, tất phải có đầy đủ sức tác
dụng năng động, nếu không thì hiển nhiên là không phù hợp
với bản nguyện độ sinh của chính đức Phật, bởi lẽ,
nếu vĩnh viễn an trụ nơi Vô-dư-niết-bàn, không, hoạt động
lại thì làm sao mà độ sinh? Do đó, về sau Đại-Thừa-Giáo
đã khai triển nhiều về mặt tôn giáo và triết học; tức
Đại-Thừa lấy niết-bàn pháp tính tuyệt đối, ý chí tuyệt
đối làm nền tảng rồi sáng lập phương pháp trở lại quan
sát hiện tượng giới. Bây giờ hãy lấy một vài tư tưởng
trọng yếu làm điểm xuất phát để trình bày về trường
hợp này.
Trước
hết bắt đầu từ phương diện triết học. Chẳng hạn thế
giới quan phiếm thần rất đặc sắc của Đại-Thừa Phật
giáo thật ra đã bắt nguồn từ đây, vì tư tưởng phiếm
thần của Phật giáo đã qua một giai đoạn phủ định thế
giới hiện thực rồi sau đó trở lại khẳng định nó mà
phát sinh. Sở dĩ đạt đến điểm hồi chuyển này là vì
lấy Niết-Bàn tuyệt đối không (biểu tượng) làm pháp tính,
rồi từ lập trường ấy mà trở lại tuyệt đối hữu (diệu
hữu). Tư tưởng biểu hiện quá trình này rõ ràng hơn hết
là vào thời đại từ “chân không” của Bát-Nhã chuyển
sang “diệu hữu” (1). Về sau, tư tưởng chân-như và tư
tưởng phiếm thần quan trọng trong Hoa-Nghiêm cũng đều phát
xuất từ hệ thống này.
Rồi
biểu hiện điểm này một cách cụ thể với sắc thái tôn
giáo đặc biệt sâu đậm là Pháp-Hoa, vì đặc sắc của Pháp-Hoa
là thành lập “Chư-pháp-thực-tướng-quan” để nói lên
sự cứu độ phổ cập và vĩnh cửu của Phật và các Bồ-Tát.
Chư-pháp-thực-tướng-quan của Pháp-Hoa, dĩ nhiên, đã bắt
nguồn từ tư tưởng diệu hữu của Bát-Nhã; đến thuyết
Phật sống lâu vô thượng (chủ ý của phẩm Như-Lai Thọ
Lượng) và thuyết cứu tế của Bồ-Tát Quan-Âm (chủ ý của
phẩm Phổ-Môn) trong Pháp-Hoa thì chính là lấy Vô-dư-niết-bàn
diệu hữu làm ý chí tuyệt đối hướng hạ hoạt động để
mà giải thích tác dụng niết bàn.
(1)
<<Chân Như Quan Của Bát-Nhã>> Đại Chính thứ 8, Tạp
chí Tân Tu Lưỡng.
Rồi
lại lấy cứu tế hữu kết hợp với tư tưởng sau khi chết,
đó là tư tưởng Bồ-Tát Di-Lặc, nhất là tư tưởng vãng
sinh lấy Di-Đà làm trung tâm; đến đây thì cảnh giới
Vô-dư-niết-bàn đã được thông-tục-hóa một cách cùng cực,
và Bồ-Tát lấy ý chí tuyệt đối làm nhân cách, hay tịnh
độ lấy Phật làm trung-tâm mà quán chiếu đã trở thành
cụ thể hóa để nói rõ cái năng lực cứu độ.
Xem
thế thì thấy Đại-Thừa sau này-đặc biệt là về phương
diện lí tưởng-không trực tiếp thì gián tiếp, đã xuất
phát từ quan niệm Vô-dư-niết-bàn-pháp-tính tuyệt-đối này,
và đặc sắc của Đại-Thừa thì ở chỗ coi pháp tính là
động. Sau Đại-Thừa đã dùng danh từ chân-như-pháp-tính
và Bất-trụ-niết-bàn để tích-cực-hóa và hoạt-động-hóa
ý nghĩa niết bàn, nhưng đây chẳng qua cũng chỉ là triển
khai niết-bàn-quan của Phật-giáo nguyên thủy về phương diện
tích cực mà thôi. Giáo sư Tỷ-ký đã chia quá trình khai triển
này thành ba tư trào để quan sát, đó là: tư tưởng không
của Bát-Nhã, Chư pháp thực tướng quan của Pháp-Hoa và tư
tưởng Di-Đà của kinh Đại Vô Lượng Thọ(1). Tôi rất khâm
phục ý kiến trác việt này của giáo sư Tỷ-Ký và xin thêm
rằng tất cả phương diện lí tưởng của Đại-Thừa, có
thể nói, cũng đều đã bắt nguồn từ ba trào lưu tư tưởng
này.TVHS
(1)
Căn Bản Phật Giáo p. 301 ff.
HẾT
Xem
Tiếp:
Tiểu
Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận và
Đại
Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận của
cùng một Tác Gỉa và Dịch Gỉa
Chân
thành cảm ơn Thầy Thích Đồng Thường và quý Thầy cùng
Phật tử Chùa Giác Nguyên đã hoan hỷ giúp đánh máy vi tính
ba quyển Phật Giáo Tư Tưởng Luận do HT. Thích Quảng Độ
dịch và bộ Kinh Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật do Hoà Thượng Thích
Trí Tịnh dịch (Tâm Diệu)