CHƯƠNG
II
KHÁI
LUẬN VỀ ÐẠO ÐỨC
A-
PHƯƠNG DIỆN LÝ LUẬN
1-
Ý NGHĨA ÐẠO ÐỨC ÐỐI VỚI VIỆC TU ÐẠO
Sự
bắt nguồn cũng như phạm vi của tôn giáo và đạo đức vốn
không hẳn giống nhau, vì tôn giáo là sự quan hệ giữa con
người hiện thực và cái gọi là siêu nhân (nhưng không hẳn
là một vị thần nhân cách), còn đạo đức thì chủ yếu
được thành lập trên quan hệ giữa người và người; duy
có điểm giống nhau là cả hai đều lấy sự hy sinh tự kỷ
làm mục đích, hay ít ra cũng phải lấy đó làm yếu tố chủ
yếu. Tôn giáo vốn lấy sự hy sinh làm yếu tố lớn nhất.
Các tôn giáo ở trình độ thấp cho sự hy sinh bề ngoài đối
với thần thánh là điều kiện cần thiết cho sự cảm thông
giữa thần và người; các tôn giáo ở trình độ cao thì lấy
sự không hóa tự thân để hòa nhập siệu tự nhiên làm con
đường nhiếp lý và, dưới hình thức này, ta thấy sự hy
sinh là một lối hành trì trọng yếu. Ðạo đức thì cũng
thế. Cho dù sự bắt nguồn của đạo đức có phát xuất
từ lòng lợi kỷ đi nữa thì cái điều kiện đạo đức,
đến một trình độ nào đó, ít ra cũng phải lấy sự quên
mình vì người làm căn bản. Bởi thế, càng bớt được tâm
ích kỷ bao nhiêu thì giá trị đạo đức càng cao bấy nhiêu.
Như vậy, cả tôn giáo và đạo đức đều lấy việc xa lìa
ngã chấp, ngã dục lam dều kện trong yếu nhất, cho nên bản
chất của tôn giáo và đạo đức không thể tách rời nhau.
Phật
giáo cũng hoàn toàn xây dựng trên nguyên tắc đó. Nghĩa là,
Phật tuy đã không dựng nên một vị thần siêu tự nhiên,
nhưng, có thể nói, niết-bàn giải thoát siêu tự nhiên cũng
là bộ phận tương đương với vị thần nhân cách của các
tôn giáo khác. Vả lại, để thực hiện niết-bàn giải thoát,
không thể không hy sinh ngã chấp ngã dục, mà phương pháp
thoát ly ngã chấp, ngã dục là một mặt khuyến khích sự
sinh hoạt ly dục một cách tiêu cực, đồng thời, mặt khác
lại hết sức cổ vũ sinh hoạt đạo đức một cách tích
cực, cả hai mặt bổ trợ cho nhau mới đạt được mục đích.
Nhất Phật giáo lại là một tôn giáo không lập nên thần
kỳ, không câu nệ vào hình thức, đối với việc dạy dỗ
tín đồ tu đạo thì ngoài sự quy y Tam Bảo và lối sống
đạo đức ra, không có một phương pháp nào khác nữa, chính
vì thế mà tôn giáo và đạo đức không thể tách rời nhau.
Người thế tục nhờ sự tu luyện đạo đức mà dần dần
tiến đến địa vị bậc Ðại giác chính là cái mô phạm
ghi chép sự kinh lịch của Phật ở kiếp trước. Trong Bản-Sinh-Ðàm
(Jàtaka) thuật lại những hành vi lợi tha và hy sinh của Bồ-Tát,
tức Phật sở dĩ được gọi là Phật là vì ngoài sự tu
hành ở kiếp này ra, trong các kiếp trước, khi còn là người
thế tục, Phật đã chuyên sống theo đạo đức, hy sinh tất
cả cho kẻ khác, do kết quả đó mà thành Phật: đây là điều
cho thấy Phật giáo lấy sinh hoạt đoạo đức làm yếu tố
tôn giáo. Ðiều rất thú vị ở đây là chủ thuyết vô ngã
của Phật đã hiển nhiên khẳng định đại ngã đạo đức.
Áo-Nghĩa-Thư cũng đề cao đại ngã, về mặt lý luận tuy
thừa nhận cái ngã cộng thông của mọi người, nhưng về
mặt thực-tế-hóa đạo đức thì nó thiếu hẳn nổ lực
dựa vào lòng từ bi mà kết hợp con người với nhau. Ðằng
này, theo vô ngã luận của Phật, người ta phát huy được
lòng thương yêu kẻ khác, có thể thực hiện cái đại ngã
chân thật bằng cách sống theo đạo đức. Tóm lại, điểm
then chốt trong việc tu đạo của Phật là tôn trọng đạo
đức một cách cực đoan, đó là đặc sắc phát huy nền tôn
giáo cao đẳng. Ðặc điểm này của Phật không những khác
hẳn với các tôn giáo khác thời bấy giờ mà còn là một
trong những nguyên nhân mang lại cho Phật giáo một thế lực
lớn đối với xã hội nữa.
2-
CĂN CỨ TƯỞNG LỆ SỰ LÀM LÀNH, LÁNH DỮ
Hết
thảy đạo đức, chung cùng, đều hướng tới giải thoát
niết-bàn chí cao, chí thiện; nói ngược lại là phải lấy
giải thoát niết-bàn chí thiện, chí cao làm căn để thì đạo
đức mới có thể được giải thích một cách chân chính:
đó là thái độ của Phật đối với đạo đức đệ-nhất-nghĩa.
Duy có điều là: nếu hết thảy thế gian đều lấy dục làm
căn bản thì trong đó cái gọi là đạo đức cũng không thể
giải thoát ra ngoài phạm vi sinh hoạt của dục. Nói theo danh
từ chuyên môn thì tức là không thoát khỏi hữu lậu (sassavaka).
Vậy thì, giữa thế giới hữu lậu này, cái căn cứ của
những hành vi đạo đức lấy sự diệt trừ ngã chấp, ngã
dục làm bản chất, nhất là của sự tưởng lệ lòng thương
yêu kẻ khác, ở chỗ nào? Vấn đề này, Phật đã đứng
về nhiều phương diện để thuyết minh.
Thứ
nhất, căn cứ vào pháp tắc thiên nhân thiện quả, ác nhân
ác quả. Ðứng trên lập trường công lợi mà nói thì khi
làm ác có thể thỏa mãn được ngã chấp, ngã dục hay không
thì chưa biết, nhưng hậu quả của nó thì chắc chắn sẽ
là cái khổ vĩnh viễn vì thế, rốt cục, sẽ là bất lợi.
Còn như khi làm thiện, tuy có phải hy sinh tự kỷ đi nữa
nhưng quả báo sẽ là sự sung sướng lâu dài thì điều đó,
rốt cục, là lợi ích, bởi thế nếu muốn được thỏa mãn
hoàn toàn thì, trước hết, chỉ cần quên mình, thiệt mình
là được: đó là quan niệm của Phật và cũng là pháp tưởng
lệ sự lánh ác, tu thiện được thấy rải rác trong nhiều
kinh điển.
“Lấy
thọ cho người (cứu thọ mệnh của người) thì khi sinh vào
cõi người, cõi trời được sống lâu; lấy sắc đẹp cho
người thì khi sinh vào cõi người, cõi trời sẽ được sung
sướng, lấy sức cho người thì thì khi sinh vào cõi người,
cõi trời được mạnh khỏe; lấy trí tuệ cho người thì
khi sinh vào cõi người, cõi trời được sáng suốt” (1).
Phương
pháp dẫn dụ người đời chỉ biết công lợi trên đây là
một phương pháp rất hữu hiệu. Cứ theo Phật thì pháp tắc
nhân quả này cũng có cái cơ sở của sinh mệnh luận đã
trình bày ở trên, ở đây cũng lấy nó làm nền tảng để
nói rõ hiệu năng của đạo đức. Tuy nhiên, nếu nói như
một số học giả đã phê bình cho rằng đạo đức của Phật
chủ yếu không ngoài thuyết công lợi thì thật là vô cùng
sai lầm, vì đó hoàn toàn thuộc thế giới luân hồi, đạo
đức từ thấp đến cao chứ quyết không phải đạo đức
trên lập trường đệ-nhất-nghĩa, đó là điểm ta cần ghi
nhận.
Thứ
hai, căn cứ vào nguyên tắc đại khái cũng như nguyên tắc
trên, nhưng lại khảo sát theo một lập trường bất đồng;
nghĩa là, chúng sinh, nếu nói theo nhân quả ba đời, thì hết
thảy đều là anh em, do đó, phải thương yêu nhau, đây là
thuyết rất phù hợp với nhân tình tự nhiên. Vì, nếu bảo
vòng luân hồi là vô cùng tận thì hết thảy chúng sinh trong
các kiếp quá khứ có thể đã từng là cha mẹ họ hàng lẫn
nhau, mà quá khứ đã thế thì trong vị lai cũng vậy, điều
đó rất có thể tin được. Nhận xét theo thuyết này thì
tất cả chúng sinh đều có quan hệ cha mẹ, vợ con, anh em,
chị em với nhau cả.
(1)
A. III, p. 42.
“Nên
nghĩ như thế này: hết thảy chúng sinh trong quá khứ đều
đã là cha mẹ, vợ con, anh em, thân thuộc, thầy bạn, trí
thức của ta” (1)
Ngày
xưa, Từ Trấn Hòa Thượng có câu: “Nghe thấy tiếng
chim hót trên núi lại chợt nhớ đến cha mẹ ngày xưa” thật
đã dựa vào lý do trên đây mà bộc lộ tình cảm chân thành
nhất. Tức người ta ai ai cũng có bản năng yêu mến cha mẹ,
vợ con, nhưng nên mở rộng bản năng ấy để thương yêu
tất cả chúng sinh – không những chỉ nhân loại mà cả động
vật – đó là cái căn cứ sáng ngời của thuyết này.
(1)
Tạp 34, các bản, p, 666; Số-Luận, 10, pp 189 – 190 Therig 489,
Lại
nữa, nói theo thuyết nhân duyên thì hết thảy sự vật trong
thế giới đều do nhân duyên mà được thành lập, vậy nếu
trong nhân duyên bao hàm mối quan hệ giữa mình và người thì
thế giới này là nơi cộng đồng trách nhiệm, do đó, nếu
chỉ vì thỏa mãn tự kỷ mà tàn hại người khác thì, đứng
trên lập trường toàn thể mà nói, tức cũng gián tiếp tàn
hại chính mình, và giúp đỡ người khác tức cũng là giúp
đỡ chính mình. Bởi vậy Phật đã nói: “Bảo hộ mình cũng
tức là bảo hộ người, bảo hộ người cũng tức bảo hộ
mình” (1) đó là điều kiện tối cần cho sự cộng đồng
sinh tồn. Về sau, Hữu bộ Tôn cho thế giới là do cộng nghiệp
chiêu cảm, tức cho cái nghiệp của tất cả chúng sinh là
sản vật chung, thật đã nói rõ về tư tưởng trên đây.
Và riêng tôi cũng cho đó là căn cứ liên đới quan luân lý
(Soli-darity) của Phật giáo.
Thứ
ba, căn cứ trên lập trường đồng tình để tưởng lệ lòng
thương yêu kẻ khác, tức hễ cái gì mình không muốn thì
người khác không muốn, mà cái gì mình muốn thì người khác
cũng muốn. Ðiểm này, trong Tăng-Nhất-A-Hàm, 37, (2) gọi là
Tự Thông Pháp (attup-ànayiku dhammapariyaya) và cũng nêu lên cái
lý do tại sao người ta không nên sát sinh, trộm cắp, tà dâm,
nói dối, nói thêu dệt, nói lời hung ác và nói lưỡi hai
chiều như sau:
(1)
S. V. p, 168, Attanam rakkhanto param rakkhati, param rakkhanto atta-nam
rakkhati,
(2)
Tăng, 37, Cáp bản, p, 689 – 690; S. V, p, 353 ff
“Các
cư sĩ đệ tử của Phật nên nghĩ như thế này: ta muốn sống,
muốn không chết, muốn được sung sướng, muốn tránh khổ
đau; nếu có người nào cướp đi sự muốn sống, không muốn
chết, muốn tránh khổ đau và sinh mệnh của ta thì ta có vui
sướng không? Vậy mà, nếu ta phá hoại sự muốn sống, muốn
không chết, muốn được hạnh phúc, muốn tránh khổ đau và
sinh mệnh của kẻ khác thì, cũng như ta, kẻ khác đâu có
vui sướng? Phàm cái gì mình không ưa, không thích thì người
khác cũng không ưa, không thích thì người khác cũng không
ưa, không thích; vậy thì tại sao ta lại đem cái mình không
ưa, không thích mà tròng vào cổ kẻ khác! Nghĩ như thế rồi
thì tự mình không được giết hại, khuyên dụ người khác
giữ giới bất sát và luôn luôn tán thán những người không
sát sinh (về trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ, ác khẩu, ỷ ngữ,
lưỡng thiệt cũng giống như trên)
Tức
theo lập trường “kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” để
nói lên cai lý do bảy thiện nghiệp của thân và miệng gọi
đó là tự thông pháp, có thể nói, từ ngữ này rất xác
đáng. Phật còn tóm tắt ý nghĩa của nó trong một bài kệ
như sau:
“Tâm
rong ruổi tất cả phương hướng
Mà
không thấy người nào đáng yêu hơn mình
Như
thế, người khác cũng lại cho chính họ là người đáng yêu
hơn hết
Bởi
vậy, biết yêu mình thì đừng hại người (1)
Ngày
xưa vua Ba-Tư-Nặc thường hỏi Mạt-Lợi phu nhân là trên đời
có người nào đáng yêu hơn mình không thì phu nhân trả lời
là không. Nhà vua cũng tin như thế và đem chuyện ấy thưa
với Phật. Phật bèn nói ra bài kệ trên để khuyến dụ hai
người. Nghĩa là, Phật đã lấy tâm ích kỷ của con người
làm khởi điểm để dạy con người cũng phải đồng tình
với tâm ích kỷ của người khác, vì tưởng lệ đạo đức
theo phương diện này là một phương pháp khuyến dụ rất
thân thiết và thích đáng. Tiếng “đừng” ở đây tuy là
lời chỉ ác tiêu cực, nhưng, nếu chuyển đổi đi thì nó
biến thành hành thiện “lấy điều mình muốn mà cho người”,
tức đạo đức đích thực: điều đó tưởng không cần nói
ai cũng rõ.
Như
vậy là Phật, trong sự quan hệ hỗ tương, đã đứng trên
những lập trường khác nhau để nói rõ cái cơ sở luân lý
nhất ban, nhưng tất cả vẫn chưa thoát ly được lập trường
ngã chấp, mà là những thuyết cực kỳ thông tục. Duy có
điểm là những thuyết ấy, nói theo kiến địa thực hành,
ít ra cũng khuyến dụ người đời làm lành lánh dữ một
cách vô tri vô thức, thậm chí đến đạo đức vô ngã chân
chính, vì chính nó là bước tiến đến đạo đức rất hữu
hiệu. Về sau, A-Tỳ-Ðạt-Ma, khi giải thích nghĩa chữ thiện,
đã nói:
(1)
S. I. p, 75.
“Ðời
này thuận theo việc ích, đời khác làm thiện” (1)
Thật
đã không ngoài lập trường kể trên.
Tuy
nhiên, ở đây có điều ta cần chú ý là: đối với đạo
đức thế tục Phật đã đứng trên lập trường công lợi
để trình bày, nhưng quyết không phải luận về kết quả
mà là luận về động cơ của nó. Ðiểm này cứ xem lại
Nghiệp Luận đã trình bày ở trên thì đủ rõ. Vì, thông
thường Phật chỉ đặc biệt đối với hành vi hữu ý (sancetanika
kamma) để luận về thiện, ác, nếu hành vi vô ý thì sẽ
căn cứ vào kết quả của nó như thế nào mà phán định
đạo đức. Ðể hiểu nghĩa này hơn, xin đưa ra một thí dụ:
ngày xưa một vị Tỷ-Khưu vì đánh con rắn mà đập lầm
phải một người đến chết. Khi đưa ra phán quyết, Phật
xử phạt về tội giết động vật chứ không xử theo tội
giết người. Do đó, ta thấy, về hành vi đạo đức, Phật
căn cứ vào tâm là thứ nhất, vào kết quả của hành vi là
thứ hai, điều này, so với Kỳ-Na-Giáo cho hành vi là thứ
nhất, tâm là thứ hai, là một đặc sắc của đạo đức
Phật giáo. Phật thường bảo một ngọn đèn của nhà nghèo
bằng muôn ngọn đèn của trưởng giả đặc biệt là một
lý do quý trọng vậy (2).
(1)
Ðại Tỳ Bà Sa, 51, Vạn bản 213
(2)
Ngũ Phần Luật, 28, chương 2, p, 63.
B-
PHƯƠNG DIỆN THỰC TẾ
3-
ÐẠO ÐỨC GIA ÐÌNH
Lòng
thương yêu bắt đầu từ tình thương yêu giữa vợ chồng,
cha con, đó là tình tự nhiên. Phật giáo thường lấy đó
làm khởi điểm để đưa ra cái lý hết thẩy chúng sinh phải
thương yêu nhau, như thí dụ ở đoạn trên đã nói rất rõ.
Nhưng, trên thực tế, đôi khi giữa cha mẹ, con cái, vợ chồng,
anh em thường không được hòa mục ái kính, vì thế mà phải
giữa đạo đức trong gia đình. Vấn đề này, Phật đã đứng
về nhiều phương diện để trình bày nhưng, ở đây, để
được tiện lợi, chúng tôi sẽ trình bày về hai phương diện:
đó là phương diện kinh tế và phương diện đạo đức gia
đình.
Kinh
Tế Gia Đình. Muốn duy trì sự kiện toàn gia đình không thể
không có một nền kinh tế vững chắc, mọi người trong gia
đình, nhất là người gia trưởng phải đặc bệt chú ý đến
điều này. Ngày nay cũng thế mà ngày xưa tại Ấn Ðộ cũng
vậy. Ở thời đại Phật, vì nên văn minh tại các đô thị
phát đạt nên thế lực kinh tế rất rõ rệt. Cứ xem Ca-Chiên-Diên,
khi nói với vua Ca-Du-La về sự bình đẳng giữa bốn giai cấp
có thêm vào một khoản về thế lực của tiền tài thì đủ
thấy đối với các vấn đề gia đình Phật đã cho kinh tế
là một yếu tố cần phải đặc biệt lưu ý và cứ nhắc
đi nhắc lại về điểm này. Nhưng có điều đáng tiếc là,
chiếu theo văn hiến, tất cả các điều trên đây chỉ thấy
trong các bả Hán dịch chứ trong Ba-Li ít thấy có. Hoặc giả
trong Ba-Li do Thượng Tọa Bộ lưu truyền cho những vấn đề
đó là thế tục mà cắt bỏ, không ghi chép, còn Hán dịch
thì cứ thế mà truyền bá chăng? Tuy nhiên hiện nay vẫn có
chỗ cả Ba-Li lẫn Hán dịch đều nhất trí, chẳng hạn như
kinh Thiện Sinh trong Trường-Hàm, 11 (D. 31, Shingalovada), Phật
đã thường nói đến sau loại nguyên nhân làm hư hao tiền
của, và như vậy thì biết Phật cũng đã từng chú ý đến
vấn đề này: đây là một sự thật không thể chối cãi.
Theo
Phật, để củng cố cơ sở kinh tế, trước hết phải lựa
chọn nghề nghiệp mưu sinh chính đáng, nếu không, vì lòng
tham muốn làm tiền quá độ sẽ đưa đến những hành động
phạm tội, điều này, trong kinh Thiện Sinh bản Hán dịch bảo
là “trước phải học kỷ thuật rồi sau mới kiếm tiền
của”. (1) Về nghề nghiệp nên theo thì Phật thường chỉ
bày những nghề sau đây: làm ruộng, buôn bán, chăn nuôi, nhà
cho thuê, thợ mộc, mở tiệm ăn, làm công chức, làm thư ký
và kế toán, v.v… (2). Tóm lại, nếu mở rộng tinh thần trên
đây thì nó bao gồm tất cả mọi chức nghiệp.
Đến
cách sử dụng tiền của do theo những nghề nghiệp trên mà
kiếm được lại càng phải chú ý. Cách sử dụng ấy, theo
Phật, chủ yếu không ngoài việc thu và chi, điểm đặc biệt
thú vị là Phật chia thành bốn phần. Kinh Thiện Sinh, bản
Hán dịch nói:
(1)
Trung-Hàm 33, Thiện Sinh Kinh, cáp bản, p. 162; Trường-Hàm II,
Thiện Sinh Kinh, cáp bản, p. 820.
(2)
Tạp-Hàm 4’ cáp bản p 504: A. IV, p 281 – 283; Tạp-Hàm 43,
cáp bản, 570 p.
“Chia
làm bốn phần: một phần để ăn uống hàng ngày, một phần
để cày cấy, một phần tích trữ để đề phòng những bất
trắc có thể xảy ra bất thường, còn một phần cho vay để
sinh lợi tức” (1)
Tức
là một phần chi tiêu hàng ngày, một phần để kinh doanh,
một phần để dành trong nhà khi cần đến cấp kỳ, còn một
phần nói theo ngôn ngữ ngày nay, là đầu tư vào các xí nghiệp,
hoặc cho vay hay ký thác trong các ngân hàng. Vấn đề này không
phải chỉ được đề cập đến trong kinh Thiện Sinh, bản
Hán dịch, mà ngay trong Tạp-A-Hàm, 48 (cáp bản, trang 750) cũng
có nói đến: một phần chi phí hàng ngày, hai phần để kinh
doanh, một phần để dành, đủ bốn phần như trên duy có
điểm khác là thiếu mất mục sinh lợi tức. Ðây hiển nhiên
là nguyên tắc kinh tế gia đình mà Phật thường chỉ dạy
cho tín chúng. Hoặc giả, nếu khảo sát sâu hơn, đó là thực
dụng học (arthasàstra) đương thời mà Phật đưa ra làm thí
dụ thì cũng chưa thể biết được. Tóm lại, nếu ý kiến
trên đây là do chính đức Phật nói ra thì, có thể bảo,
nền tảng kinh tế gia đình của Phật giáo là phương pháp
“bốn phần” vậy.
(1)
Trung 33, Thiện Sinh Kinh, Cáp bản, 162, Trường 11 Thiện Sinh,
p. 280.
Điều
đáng ngăn ngừa nhất trong vấn đề kinh tế gia đình là việc
chi tiêu quá độ. Phật thường đưa ra những nguyên nhân làm
tiêu hao tiền của để cảnh giới mọi người, đặc biệt
Phật nhấn mạnh về sự lười biếng và phóng đãng. Những
nguyên nhân ấy, trong kinh Thiện Sinh (Singalovada) kể trên, gồm
có sáu ý dưới đây:
1-
Say sưa rượu chè (surà-meraya-majja pamàdatthànà-nuyoga)
2-
Chơi bời (vikàla-visikhà cariyà-nuyoga = lang thang ngoài đường
phố những lúc không thích hợp)
3-
Ham mê ca kỹ (samajjàbhicarapa)
4-
Mê cờ bạc (jutappamàda tthanànuyoga)
5-
Giao du với bạn xấu (àpamittanuyoga)
6-
Lười biếng (okàlassanuyoga) (1)
Trên
đây là những họa hại (dĩ nhiên là trái với đạo đức)
mà Phật đã bảo phải nên tránh để giữ gìn tài sản. Ngoài
ra, trong Tạp-A-Hàm, quyển 36 (cáo bản, p. 658) cũng kể ra tám
nguyên nhân làm tiêu tán tiền của như: nạn vua quan, nạn
giặc cướp, nạn nước, nạn lửa, tự nhiên tiêu hao, cho
vay bị giật, oán gia phá hoại, con hư lãng phí v.v… để
một mặt cảnh giác người ta phải chú ý đến kinh tế, mặt
khác, để nói lên sự bấp bênh của tiền bạc là những
thứ mà con người không thể hoàn toàn trông cậy được.
Về điểm này, ta thấy thật là khẩn thiết.
(1)
Trường II, cáp bản, p. 819; D, 31, III, 182. Lại trong A.
IV, p, 283, đưa ra bốn nguyên nhân làm tiêu hao tiền của như
sau: mê đàn bà (itthidhutta), nghiện rượu (suradhutta), cờ bạc
(akkhadhutta), chơi với bạn xấu (pàpamitta pàpasampavanka)
Tóm
lại, theo Phật thì trước hết phải học tập và lựa chọn
những nghề nghiệp chính đáng, sau đó kiếm tiền để cung
cấp cho gia đình, nếu còn dư thì để dành phòng khi bất
trắc: đó là nền tảng để kiện toàn sinh hoạt gia đình.
Phật
tuy khích lệ sự tích trữ, nhưng cực lực chê trách những
người vì tích trữ mà trở nên quá hà tiện, sẻn nhặt,
thụ hưởng một cách quá thấp so với lợi tức thu được,
đó là điểm ta cần ghi nhớ. Ngày xưa, một chàng thanh niên
Bà-La-Môn tên là Bạt-xà-ca (Byagghapajja) hỏi Phật làm thế
nào để được an vui trong hiện tại. Phật bảo phải làm
bốn điều sau đây:
1-
Phương tiện cụ túc (Utthanasampada)
2-
Thủ hộ cụ túc (Arakkhasampada)
3-
Thiện trí thức cụ túc (Kalyana-Ni Mittata)
4-
Chính mệnh cụ túc (Samajivika) (1)
Thứ
nhất, phương tiện cụ túc nghĩa là hoàn bị sự học tập
chức nghiệp. Thứ hai, Thủ hộ cụ túc nghĩa là phải bảo
tồn của cải. Thứ ba, thiện trí thức cụ túc nghĩa là kết
thân với bạn tốt để tăng thêm đạo đức. Thứ tu, chính
mệnh cụ túc, nghĩa là đừng lãng phí của cải mà cũng đừng
quá keo kiệt, thụ hưởng không tương xứng với lợi tức
mình thu được, tức sống theo đúng chính mệnh cụ túc, là
phải tránh cả lãng phí và bỉ lận (atibina). Ngày xưa Phật
thường ví lối sống “bóc ngăn cắn dài” (Ulara) như cái
quả ưu-đàm-bát không có một hột (hạt) và lối sống “vắt
cổ chày ra nước” như con chó chết đói (ajadhamarka) để
răn mọi người. Tóm lại, ở đây, Phật đề xướng lối
sống trung đạo là cần thiết.
(1)
Tạp 4, cáp bản, p, 504; A. IV, p, 281.
Như
vậy là đức Phật đã chú ý đến kế hoạch kinh tế gia
đình, và kế hoạch ấy, theo Phật, không phải chỉ để “vinh
thân phì gia” mà mục đích của nền kinh tế gia đình là
phải khiến cho gia đình có khả năng làm thiện. Tức là ngoài
việc nuôi thân và vợ con ra, còn cần phải cung phụng cha
mẹ, giúp đỡ họ hàng và cứu trợ những người nghèo khó
và cúng dâng các bậc Sa-môn, Bà-La-Môn v.v… Ngày xưa, nhân
thấy một người Bà-La-Môn tế lễ một cách vô ý nghĩa,
Phật bèn dạy họ cách tế Tam Hỏa để thay cho Tam Hỏa của
Bà-La-Môn Giáo như sau: căn bản hỏa, cư gia hỏa và phúc điền
hỏa. Căn bản hỏa là dùng của cải để cung phụng cha mẹ;
cư gia hỏa là dùng của tiền nuôi vợ con, giúp đỡ bạn
bè và thân thuộc; phúc điền hỏa là cúng dàng các vị Sa-Môn,
Bà-La-Môn v.v… (1) Trên đây là phương pháp giáo hóa một
cách uyển chuyển, nhưng hoàn toàn lấy việc sử dụng
tiền tài cho hợp nghi, trúng cách làm chính, đó là điểm
có liên hệ với vấn đề kinh tế gia đình mà người ta cần
phải hết sức chú ý. Bốn pháp an vui mà Phật dạy cho Bạt-Xà-Ca
để mưu sinh trên đây, đời sau thêm vào một pháp nữa là
thí cụ túc (cagasampada), tức dùng tâm vô sở đắc (vigàtamalanacchena
cetasa) để làm hạnh thí giải thoát (muttacapa) (1)
(1)
Tạp 4, cáp bản, p, 505
Nếu
vì kiếm tiền mà làm việc xấu thì, với bất cứ lý do nào,
Phật cực lực lên án. Cho nên ngài nói: “Cho dù vì nhà vua,
vì cha mẹ, vì vợ con cũng không được làm việc ác”, (2)
nghĩa là vì phải nuôi dưỡng cung phụng những người ấy
mà làm tiền một cách bất chính thì cũng trái hẳn với tinh
thần trong chính sách kinh tế của Phật. Sự vững vàng về
kinh tế phải được xây dựng trên nền tảng đạo đức
gia đình, bởi thế, đường lối làm tiền cũng như phương
pháp tiêu tiền phải hoàn toàn đặt trên cơ sở đạo đức:
đó là tinh thần căn bản của Phật mà ta cần ghi nhận.
Nghĩa
vụ của mỗi người trong gia đình
Nền
đạo đức gia đình mà Phật cổ xúy và tôn trọng chủ yếu
là ở như mọi người trong gia đình phải hiểu và thương
yêu nhau, cùng nhau làm điều thiện để gây niềm tin tưởng.
Phật thường tùy theo địa vị và nghĩa vụ riêng của mỗi
người mà chỉ bày những đức mục nên làm để kiện toàn
đạo đức gia đình. Tựu trung điều Phật nhấn mạnh và
quý trọng nhất là con gái phải nghĩ đến ân nghĩa sâu dày
của cha mẹ, có nhiệm vụ hiếu dưỡng để đền đáp; thứ
đến là quan hệ giữa vợ chồng thì Phật đặc biệt tán
dương sự trinh tiết của người vợ, và lòng thương yêu
vỗ về của người chồng, đó là nền tảng của sự thuận
hòa trong gia đình.
(1)
Tạp 4, cáp bản, p. 505
(2)
Trung 6, Ðà Nhiên Kinh, cáp bản, p. 27; M. 97 Dhananjani 11. p. 188
-189
Tuy
nhiên, về bổn phận cũng như nghĩa vũ của mỗi người trong
gia đình đối đãi với nhau như thế nào thì vẫn chưa được
nói đến một cách đầy đủ, mặc dầu trên kia chúng tôi
đã trích dẫn kinh Trường bộ, văn Ba-Li, 33 (Singalovada) và
Hán dịch quyển 11, Kinh Thiện Sinh (Trung 33, Thiện Sinh kinh
dịch riêng Thi-ca-la-việt lục-phương-lễ kính) nhưng vẫn
còn thiếu sót. Bởi thế, ở đây, mặc dầu hơi phiền phức
nhưng muốn tránh sự trích dẫn linh tinh, tôi xin dịch trọn
bộ phận trọng yếu trong kinh Lục phương văn Ba-Li ra đây
để tiện việc theo dõi của độc giả.
Thi-ca-la-việt
(Thiện Sinh) là người con Bà-La-Môn, y theo tập quán di truyền
của ông cha để lại, cứ mỗi buổi sáng ra lễ sáu phương
trời đất, Phật thấy thế bèn đổi ý nghĩa lễ sáu phương
thành ý nghĩa luân lý. Hiện nay có ba bản Hán dịch; nó là
một trong những kinh điển trứ danh nhất trong A-Hàm-Bộ. Giữa
Ba-Li và Hán dịch tuy có một vài chi tiết khác nhau, nhưng
trên đại thể thì vẫn nhất trí.
“Lời
tựa.
“Này
con của trưởng giả kia! Các Thánh đệ tử (ariyasavoka) nên
lễ sáu phương như thế nào? Ngươi không thể không biết
đến điều này. Hãy nghe ta nói: cha mẹ là phương đông, thầy
trò là phương nam, vợ chồng là phương tây, bạn bè là phương
bắc, chủ, tớ là phương dưới, sa-môn, Bà-La-Môn là phương
trên.
“Quan
hệ giữa cha mẹ và con cái”.
“Làm
con phải lấy năm điều đối với cha mẹ là phương đông.
Thứ nhất, gìn giữ lấy tài sản của cha mẹ: thứ hai, thừa
kế gia nghiệp; thứ ba, phải lập phổ hệ của cha mẹ, thứ
tư, sinh sản con cháu; thứ năm, truy tiến tổ tiên (1).
(1)
Về năm điều này, giữa Ba-li và bản Hán dịch Trường-Hàm
có hơi khác. Tức Hán dịch là: (1) Phải cúng dàng đầy đủ;
(2) Làm việc gì cũng phải được sự đồng ý của cha mẹ;
(3) Không được trả lời cha mẹ; (4) Phải tuân theo mệnh
lệnh của cha mẹ; (5) Không được dứt bỏ chính nghiệp của
cha mẹ (Cáp bản, trang 923), trong Thiện Sinh Kinh trong Trung-Hàm
là: (1) Tăng thêm của cải của cha mẹ (2) Lo liệu mọi việc;
(3) Cúng dàng những vật gì cha mẹ muốn; (4) Không trả lời
cha mẹ; (5) Lấy vật riêng của mình cung cấp cha mẹ. Ðến
việc cha mẹ muốn con cái giữ gìn tài sản, sinh sản con cháu,
chết rồi mong được con cúng bái thì trong Amguttara 111, p.
43 cũng có chép. Y hẳn văn Ba-li cũng gần với cách thuyết
pháp nguyên thủy hơn?
Như
thế, cha mẹ là phương đông cũng phải lấy năm điều đối
đãi với con cái. Thứ nhất, cấm con không được làm việc
ác. Thứ hai, dạy con làm thiện. Thứ ba, cho con đi học hành.
Thứ tư, hỏi vợ gả chồng cho con. Thứ năm, khi nào đến
lúc thì trao quyền làm chủ gia đình cho con … Như vậy thì
phương đông sẽ được an ổn, không lo.
“Quan
hệ giữa thầy trò”.
“Trò
phải lấy năm điều đối đãi với thầy là phương nam. Thứ
nhất, thấy thầy đi qua phải đứng dậy. Thứ hai, phải gần
gũi hầu thầy. Thứ ba, chú ý nghe thầy nói. Thứ tư, tôn
kính thầy. Thứ năm, phải ghi nhớ những lời thầy dạy bảo.
Ðáp lại, thầy cũng phải lấy năm việc đối đãi với trò.
Thứ nhất, khéo dạy trò. Thứ hai, làm cho trò ghi nhớ những
điều mình dạy. Thứ ba, phải dạy trò tất cả những điều
mình biết. Thứ tư, dạy bảo trò giao thiệp với bạn hiền.
Thứ năm, đi đâu cũng phải bảo vệ trò … như thế thì
phương nam an ổn không lo.
“Quan
hệ giữa vợ chồng”
“Chồng
phải lấy năm điều đối đãi với vợ là phương tây. Thứ
nhất, kính trọng vợ (Hán dịch là lấy lễ đối xử với
vợ). Thứ hai, không coi thường vợ. Thứ ba, phải giữ trinh
tháo. Thứ tư, giao toàn quyền trong nhà cho vợ (issariyo-Vossaggena).
Thứ năm, tùy thời may mặc cho vợ. Ðáp lại, vợ cũng phải
lấy năm việc đối đãi với chồng. Thứ nhất, phải dọn
dẹp nhà cửa cho có ngăn nắp. Thứ hai, phải chăm nom hầu
hạ chồng. Thứ ba, phải giữ tiết hạnh. Thứ tư, giữ gìn
gia sản. Thứ năm, siêng năng làm việc … Như thế thì phương
tây an ổn không lo.
“Quan
hệ giữa bạn bè”
“Này
con nhà kia (Kullaputta hoặc nói là thân sĩ) Phải lấy năm điều
đối xử với bạn bè là phương bắc (mittamacca), Thứ nhất,
phải giúp đỡ bạn khi cần (bá thí). Thứ hai, nói lời yêu
thương (ái ngữ), Thứ ba, làm lợi ích cho bạn (đồng sự).
Thứ năm, không thốt ra những tiếng xấu.
Thế
rồi bạn bè cũng phải lấy năm việc mà đối đãi lại.
Thứ nhất, bảo vệ khi bạn bị c1m dỗ. Thứ hai, khi bạn
bị dụ hoặc thì phải bảo vệ tài sản của bạn. Thứ ba,
che chở cho bạn khi bị đe dọa. Thứ tư, khi gặp hoạn nạn
quyết không bỏ bạn. Thứ năm, tôn trọng con cháu của bạn
… Như thế thì phương bắc được an ổn không lo.
“Quan
hệ giữa chủ, tớ.
“Chủ
nhà cũng phải lấy năm điều đối đãi với người giúp
việc trong nhà là phương dưới và những người làm công
(Dosa pamamakara). Thứ nhất, căn cứ theo khả năng mà giao phó
công việc, Thứ hai, tùy thời tiết mà may cho áo quần. Thứ
ba, khi đau ốm phải cho thuốc thang. Thứ tư, tùy thời thưởng
cho ăn ngon (accariyanam-rasanam sam-vibhaya) Thứ năm, đúng giờ
giấc cho nghỉ ngơi. Người ở và người làm công cũng phải
lấy năm việc đối xử lại với chủ nhà. Thứ nhất, phải
dậy sớm. Thứ hai, đi ngủ sau chủ nhà. Thứ ba, chỉ lấy
cái gì chủ nhà cho (không cho thì không được lấy). Thứ
tư, làm việc chuyên cần. Thứ năm, không được nói xấu
chủ. Như thế thì phương dưới được an ổn không lo.
“Quan
hệ giữa người xuất gia và tín đồ.
“Người
tín đồ phải lấy năm việc đối đãi với các bậc Sa-môn
và Bà-La-Môn là phương trên. Thứ nhất, thân làm việc lành.
Thứ hai, miệng nói lời lành. Thứ ba, tâm nghĩ việc lành.
Thứ tư, miệng nói lời lành. Thứ ba, tâm nghĩ việc lành.
Thứ tư, không đóng cửa khi Sa-môn, Bà-La-Môn tới nhà (cho
ra vào tự do). Thứ năm, cúng dàng thức ăn uống.
Ðáp
lại, Sa-môn, Bà-La-Môn cũng phải lấy sáu điều đối đãi
với tín đồ. Thứ nhất, cấm tín đồ làm ác. Thứ hai, khiến
làm lành. Thứ ba, lấy thiện tâm thương tín đồ. Thứ tư,
dạy cho nghe những điều gì tín đồ chưa được nghe. Thứ
năm, làm cho những điều họ nghe rồi được thanh tịnh. Thứ
sáu, mở bày cho họ con đường giải thoát … Như thế thì
phương trên được an ổn không lo …”
Sự
phân loại trên đây tuy quá chặt chẽ, bất lợi cho sự truyền
giáo linh họat, nhưng trình bày một cách khái quát thì nó
cực bình dị, chất trực, rất hợp với đạo đức gia đình,
và rất thân thiết nữa. Ta có thể nói, ngay ngày nay chúng
ta cũng có thể dùng nó để kiện toàn nền đạo đức gia
đình tại Nhật Bản này.
Ngoài
ra, người ta còn thấy những lời thuyết pháp liên quan đến
đạo đức gia đình rải rác ở nhiều chỗ, nhưng chủ yếu
cũng không ngoài ý nghĩa được trình bày trong một phần của
kính Lễ sáu Phương trên đây. Hoặc nếu nói rộng ra thì
tức kinh lễ Sáu Phương trên là đại biểu, còn những chỗ
khác chỉ là sơ lược mà thôi.
4-
ÐẠO ÐỨC XÃ HỘI.
Ý
nghĩa xã hội là trỏ cho đoàn thể đặc thù và lớn hơn
gia đình, chẳng hạn như hàng xóm, đô thị (gama, jana-poda)
v.v… Lại tiến lên một bậc nữa mà nói thì như đoàn thể
một quốc gia cũng thuộc loại này. Trong khi thuyết giáo, ngoài
đạo đức gia đình ra, tuy Phật đã không đề cập đến
đạo đức đặc thù của đoàn thể, nhưng xét rằng cũng
có nhiều điểm thích dụng. Cho nên tôi xin bàn qua về vấn
đề này (1).
(1)
A. 11, p, 32.
Thâu
tóm đạo đức của tất cả đoàn thể thì cái đức mục
mà Phật nhấn mạnh hơn cả là cái gọi là nhiếp sự (sanghaavatthu)
vậy. Vì nhiếp sự có nghĩa là cái điều kiện làm cho chúng
sinh đoàn kết với nhau, cứ theo danh xưng thì ta thấy đó
chính là đối với đoàn thể. Nhiếp sự có bốn và được
gọi là Tứ nhiếp sự: Thứ nhất bá thí (dana); Thứ hai ái
ngữ (piyyavujja); Thứ ba lợi hành (atthariyà); Thứ tư đồng
sự (samanattata). Ðó là trích ra từ mục Quan Hệ Bạn Bè trong
kinh Lễ Bái Sáu phương kể trên. Bá thí nghĩa là người giàu
dùng của cải giúp đỡ kẻ nghèo, người hiền dùng trí tuệ
giúp đỡ kẻ ngu, do sự hỗ trợ lẫn nhau ấy mà khiến cho
sự sinh hoạt của đoàn thể không có gì trở ngại và nhờ
thế mà tiến bộ. Ái ngữ nghĩa là phải dùng lời vui vẻ
nhã nhặn mà nói chuyện và an úy lẫn nhau, cho đến trong việc
giao thiệp hằng ngày cũng thế, đó là yếu tố không thể
thiếu để làm cho đoàn thể được dung hợp. Lợi hành nghĩa
là sinh hoạt lợi ích của đoàn thể, tức phải lưu ý đến
việc công ích. Nếu nói theo ngôn ngữ ngày nay thì đó chính
là sự phục vụ xã hội. Sau hết, đồng sự có nghĩa là
tự mình đồng hóa với đoàn thể, tức là phải hành động
theo đúng quy tắc và tập quán của đoàn thể, vì đó là
đức mục trọng yếu nhất trong đoàn thể, nếu thiếu tinh
thần đồng hóa thì xã hội không thể nào trở thành một
đoàn thể. Tuy nhiên, nếu đoàn thể tội ác mà mình cũng
đồng hóa thì Phật ngăn cấm, bởi thế, Phật đặc biệt
nhấn mạnh là “ư pháp đồng sự”. Tức là, nếu quy tắc
và tập quán của đoàn thể phù hợp với pháp, không
một chút phản bội thì mình đồng hóa được, còn nếu không
thì phải thoát ly đoàn thể, mà nếu không thoát ly được
thì phải cực lực đề xướng cải cách; đó là tinh thần
của Phật. Do đó, Ðạo Nguyên Thiền Sư bảo đồng sự có
nghĩa là Trước phải hòa mình với kẻ khác, sau rồi làm
cho kẻ khác hòa đồng với mình” (1) thật là một sự giải
thích rất lý thú.
Tóm
lại, nhỏ như một gia đình, lớn như toàn thế giới, nếu
muốn tổ chức lại thành một đoàn thể thì Tứ nhiếp Pháp
là đức mục không thể thiếu. Ðiều này cũng như Phật bảo
“nhờ đó mà thâu tóm toàn thế giới như chiếc xe dựa vào
sự điều khiển của người Xà-ích vậy. (2) Tăng già của
Phật cũng nhờ ở tinh thần ấy mà được thống lĩnh. Lại
như đệ tử tại gia của Phật là Thủ Trưởng Giả (Hatthaka)
cũng nhờ có Tứ nhiếp Sự mà thống nhiếp được năm trăm
đại chúng và Phật thường tán thưởng cái thành tích trác
việt đó (3) Bởi thế tôi có thể nói rằng, nếu như ngày
nay ta cũng ứng dụng Tứ nhiếp Pháp để đoàn kết các đoàn
thể thì chắc chắn những sự phân hóa cũng được điều
hòa.
(1)
Chính Pháp Nhãn Tạng, quyển Tứ Nhiếp Pháp.
(2)
A. 11, p, 32; Trung 33, Thiện Sinh, cáp bản, p. 162; Tạp 26, p.
323
(3)
Trung 9, Thủ Trưởng Giả Kinh, cáp bản, p; 46. A. IV, pp. 218-219
Còn
về Lợi hành trong Tứ Pháp Phật cũng nói rất nhiều thứ.
Ở đây tôi xin góp nhặt những điểm đáng chú ý nhất về
sự tiện lợi cho những người đi đường như sau: bắc cầu
qua sông, tiếp tế thức ăn, xây ký túc xá cho họ nghỉ ngơi,
đào giếng để cung cấp nước khi họ khát v.v…
“Trồng
cây lấy bóng mát và trái ăn, bắc cầu qua sông (cho lữ khách)
để gây công đức, đào giếng uống nước, làm nhà nghỉ
chân, những công đức như thế ngày ngày thêm lên, đầy đủ
như pháp, nhờ thế được sinh thiện (1)
Đó
là cái mà Phật gọi là con đường sinh lên cõi trời, vì
chính bản thân Phật cũng là một nhà lữ hành trường kỳ
nên mới cảm thấy những cái đó rất cần thiết. Vả lại,
nó cũng còn là nhu cầu tất yếu cho sự giao thông nhất ban
giữa các nước thời bấy giờ. Tóm lại, có thể nói, Phật
đã đặc biệt chú ý đến những thiết bị của thời văn
minh và đó là điểm cực kỳ hứng thú.
(1)
Trường-Hàm, Du Hành kinh thứ 2, Cáp bản: 777; Tạp 36. p. 680;
S. 1, 5, 7: Vanaropa 1, p, 33
5-
LUẬN VỀ CHÍNH TRỊ
a)
Chính trị thực tế
Phật
là người đã vứt bỏ cái địa vị chính trị thực tế
để tìm cầu một cái gì vĩnh viễn. Tuy nhiên, từ những
hành động của Phật sau khi giải thoát đến các vấn đề
mà Phật chỉ bày, ít ra, trong cái gọi là “nhân thiên giáo”
(nói pháp cho người và trời) cũng có liên hệ nhiều về
phương diện chính trị; ví trong số tín đồ của Phật có
nhiều quốc vương, đại thần mà quan điểm chính trị của
họ có những chỗ bất đồng lợi hại, và cứ mỗi khi phát
sinh một sự kiện khó khăn thì họ lại đến hỏi ý kiến
Phật và, thừa cơ hội ấy, Phật đã đứng trên lập trường
đạo đức mà chỉ dạy những vấn đề chính trị. Chẳng
hạn như cuộc chiến tranh giữa hai nước Ma-ha-đà và Câu-tát-la,
vua Ma-ha-đà là A-Xà-Thế bị bắt sống, Phật bèn tự đóng
vai tài phán mà phóng thích. Lại như vua nước Câu-tát-la là
Tỳ-lưu-đà (Viruddha) muốn đánh chiếm cố hương của Phật
là thành Ca-tỳ-la-vệ, Phật cũng tự mình dẫn đầu đoàn
quan viễn chinh hi vọng là vua Tỳ-Lưu-Ðà thức tỉnh mà rút
quân về. Phật hành động như thế là vì bấy giờ Phật
thường đóng vai trọng tài để hòa giải những mối tranh
chấp giữa các quốc gia. Lại nữa, khi dân tộc Bạt-Kỳ (Vajji)
thành lập nước cộng hòa có đến hỏi ý kiến Phật và
Ngài đã chỉ bảo cho các điều kiện để kiện toàn quốc
gia và, đứng trên quan điểm chính trị mà nhận xét, thì
cực kỳ thú vị. Sự kiện này được ghi lại trong Trường-Hàm,
Du-hành kinh thứ 2 (D. 16 Mahàparinibhàna sutta) mà cả Hán dịch
lẫn Ba-li đều nhất trí.
Những
điều kiện ấy là:
1-
Phải nhóm họp luôn (Hán dịch: phải nhóm họp luôn để bàn
luận về chính sự).
2-
Nhóm họp trong tinh thần hòa hợp (samagga), lấy tâm hòa hợp
mà làm việc nước (Hán: vua tôi hòa thuận, trên, dưới kính
nhường).
3-
Tuân theo phép nước truyền thống, không đặt ra những quy
luật mới một cách bửa bãi Vajjiappa-nnatam na pannapenti, pannatam
samucchidanti, Yathàpannatte porane Vajjidhamme samàdàyavattanti (Hán:
tuân theo pháp cấm kỵ, không trái lễ độ).
4-
Kính trọng các bậc gia cả trong nước, nghe theo ý kiến của
họ (Hán: hiếu thuận ch mẹ, cung kính sư trưởng).
5-
Ðàn bà trong nhà phải giữ trinh tháo.
6-
Tôn trọng những nơi đền miếu trong nước (Hán: tôn trọng
tôn miếu, trí kính quỷ thần).
7-
Cung kính các bậc A-La-Hán và bảo hộ họ một cách đúng
như pháp (trọng các bậc sa-môn, kính những người giữ giới).
Tất
cả những điều kiện trên đây đều là đạo đức, vì lẽ
tôn trọng tập quán lịch sử của một nước, nhân dân hòa
thuận với nhau, sùng thượng đạo đức, kính ngưỡng tôn
giáo là những điều kiện căn bản làm cho nước mạnh vậy.
Ðến như cái hiệu quả thực tế của nó thì nhờ làm theo
bảy điều kiện ấy mà nền cộng hòa của dân Bạt-Ký đã
không bị thôn tính bởi địch thủ lớn mạnh của nó là
Ma-ha-đà, bằng chứng là thành hoa-Thị (Pàtaliputta) được
dân Bạt-Kỳ kiến trúc và trở nên hưng thịnh. Trong kinh Niết-Bàn
cũng có chép sự kiện này. Vào những năm cuối của cuộc
đời Phật, vua A-Xà-Thế muốn chinh phục dân tộc Bạt-Kỳ
bèn sai đại thần Võ-Xá (Vassakàra) đến thỉnh ý Phật, Phật
bảo dân Bạt-Kỳ giữ đúng theo bảy điều kiện trên đây,
cho nên khó mà chinh phục được họ, sau quả nhiên như thế.
Những
điều kiện trên đây tuy dạy cho nước cộng hòa của dân
Bạt-Kỳ, nhưng đối với các nước quân chủ cũng có thể
ứng dụng cùng một nguyên tắc, chỉ khác ở chỗ khi cùng
nhau họp bàn việc nước thì sẽ lấy quốc vương làm trung
tâm. Cứ theo điều thứ hai trong bảnHán dịch đổi lại là
“vua tôi hòa hợp, trên dưới kính nhường” thì cách dịch
ấy há không trỏ cho nền chính trị quân chủ đó sao? Tuy
nhiên, theo Phật, điều cần chú ý trong các nước quân chủ
là đời sống đạo đức của nhà vua, vì trung tâm chính trị
của các nước quân chủ đều lấy vua làm nguyên tắc. Nói
một cách thự tế thì các vua chúa của Ấn Ðộ cũng như
các chư hầu tại Trung-Hoa ở thời đại chiến quốc, phần
lớn đều nhờ vào binh lực mà giữ được ngôi vua, bởi
thế sự sinh hoạt của họ tốt hay xấu đều trực tiếp
ảnh hưởng đến việc trị hay loạn của quốc gia. Sau đây
tôi xin dịch đầy đủ mười đức (thập đức) của nhà
vua được ghi chép trong Tăng-Nhất-A-Hàm quyển 42 (các bản,
trang 449):
1-
Thanh liêm và khoan dung
2-
Khéo nghe lời can gián của bày tôi
3-
Hay thi ân cho dân cùng vui
4-
Việc thu thuế phải y theo pháp định
5-
Việc phòng the phải chỉnh túc
6-
Không để rượu làm rối loạn tinh thần
7-
Siêng năng, không cười đùa cợt nhã, phải giữ gìn uy nghiêm
8-
Phải xét xử theo luật pháp, không thiên vi quanh co
9-
Phải hòa hợp với quần thần, không cạnh tranh với họ
10-
Luôn luôn phải để ý sức khỏe của thân thể
Mười
điều trên đây chủ yếu để bồi đắp tư đức để làm
nền tảng cho công đức, lấy tư đức làm cơ sở mà cai trị
công chúng, điểm này điều này rất giống với chính trị
quan của Nho Giáo; còn như việc đánh thuế và phán xét phải
y theo luật pháp thì cũng lại rât phù hợp với những cái
mà thời cận đại đang thực hành, đó là một sự thật
hiển nhiên. Về nghĩa vụ của nhà vua thì trong pháp điển
Bà-La-Môn cũng có nói đến, như trong Ðại-Tự-Sự-Thi (Mahabharata)
chẳng hạn, vậy hoặc giả mười đức trên đây có liên
quan gì chăng? Tóm lại, Phật đã cho đó là những điều kiện
khẩn yếu mà một vì vua phải thành thực tuân theo, và chính
vua Ba-Tư-Năc (Passenadi) của thành Xá-Vệ đã lấy đó làm
đức mục cũng là do Phật chỉ dạy. Còn như nghĩa vụ của
thần dân đối với quốc vương phải phục tùng mệnh lệnh,
thì dĩ nhiên, đó là cái yếu đạo trong chính trị. Nhưng,
cứ theo chỗ tôi nghiên cứu thì trong các kinh điển nguyên
thủy đã không thấy có chỗ nào đặc biệt thuyết minh một
cách tổng hợp về nghĩa vụ của thần dân đối với nhà
vua, vì chính trị luận của phật chủ yếu lấy giai cấp
thống trị thời bấy giờ làm đối tượng để thảo luận.
Ðứng ở một phương diện khác mà nói thì các vua chúa lúc
đó, có thể nói, hầu hết đều ngược đãi nhân dân, cho
nên, những lời khuyên can nhà vua bằng cách gắng sức làm
tròn nghĩa vụ thì có, mà tuyệt nhiên ta không thấy một lời
nào Phật đã nói ra để tán thán những ân huệ của nhà
vua đối với nhân dân cả. Xem thế thì biết các ông vua thời
đó đều mất lòng dân. Duy có điều là, cứ theo tinh thần
của Phật mà suy thì trong cái gọi là “hòa hợp tâm” (samaggà)
đã bao hàm ý nghĩa nhân dân đối với quốc vương nên phải
tận trung. Về sau, kinh Tâm-Ðịa-Quán đã đặt ơn của đức
vua vào hàng thứ ba trong Tứ-Ấn, bảo rằng “nếu trong nước
có kẻ ác phản nghịch nhà vua thì hiện thời phúc đức suy
giảm và sau khi chết phải đọa địa ngục” (1) có lẽ Phật
đã đối với các ông vua lấy đức trị dân mà chủ trương
như vậy.
Tóm
lại, theo Phật chính sách kiện toàn quốc gia là phải lấy
đạo đức và tôn giáo làm cơ sở, trên dưới hòa mục, tôn
trọng luật pháp v.v… thiếu những điều kiện đó thì quốc
gia không thể đứng vững. Một điều đáng chú ý là về
phía Bà-La-Môn thì cho bốn giai cấp là nền tảng của trật
tự quốc gia, nhưng Phật thì không cho đó là trật tự tuy
Phật thừa nhận sự phân biệt bốn giai cấp về mặt nghề
nghiệp, cho rằng mỗi người phải làm tròn chức nghiệp của
mình theo đúng pháp luật, nhưng Phật không chấp nhận sự
phân biệt về đặc quyền; đó chính là chủ trương nói lên
sự bình đẳng giữa bốn giai cấp. Xem thế thì thấy Phật
muốn ngấm ngầm giải phóng chế độ chính trị giai cấp,
và trong thời kỳ Phật giáo thịnh hành thì thế lực Ấn-Ðộ
cũng trở nên cường thịnh, vì không nhận tư tưởng phân
chia giai cấp thì quốc gia được đoàn kết, mà đoàn kết
tức là sức mạnh vậy. Về sau, Ấn-Ðộ-giáo phục hưng thì
tư tưởng giai cấp và sự phân chia lại hồi được sinh,
do đó năng lực quốc gia ngày càng suy giảm và, cuối cùng,
đã lâm vào cái kiếp vận diệt vong.
(1)
Tâm-Ðịa-Quán quyển 2, bộ 2, 52b.
b)
Chính trị tư tưởng.
Chính-trị-quan
trên đây chủ yếu là thích ứng với tình hình thực tế
của người đương thời mà nói, chứ đến cái chính trị
lý tưởng của Phật thì quyết không phải ở các quốc gia
vụn vặt ấy mà là ở sự thống nhất tất cả làm một
khối: đó chính là lý tưởng Chuyển-Luân-Vương (Cakkavatti).
Xét về lý tưởng chuyển-luân-vương thì nó đã có trước
và sau thời đại Phật. Lúc bấy giờ Ấn-Ðộ phân chia thành
nhiều nước nhỏ và đã có xu thế thống nhất, do đó, người
ta trông đợi một vì vua lý tưởng để đáp ứng yêu cầu
ấy. Khi Phật còn là Thái Tử chắc cũng đã được ấp ủ
trong niềm hy vọng chung, cho nên, dù đã xuất gia, tuy từ bỏ
lý tưởng chuyển-luân về mặt chính trị, nhưng, để thay
thế, vẫn có ý thức một vị Pháp-Vương thống trị pháp
giới. Do đó, khi bày tỏ quan niệm về chính trị thực tế,
đương nhiên, Phật đã không thể không chịu ảnh hưởng
của lý tưởng Chuyển-luận-thánh-vương.
Nhưng
cái tư cách của Chuyển-luân-vương như thế nào? Về vấn
đề này tuy có thuyết “Thành tựu thất bảo”, nhưng
chủ yếu nhất là Luân Bảo (Chakkaratana) và Luân-Vương cũng
từ đó mà ra. Vì vua tin mình có tư cách này, vào đêm rắm
trăng sáng từ trên trời hiện xuống. Tư cách ấy chủ yếu
là chỗ thực hành đáng theo Chính Pháp. Trong kinh Chuyển-Luân-Vương-Tu-Hành
(D, 26, Cakkavatti) nói như sau:
“Ông
phải y theo chính Pháp, trọng Pháp, kính Pháp, tư duy về Pháp,
tôn pháp, xưng tán Pháp, dựng phướn Pháp, cờ Pháp, y vào
pháp mà bảo, hộ từ thể nữ, nội quan, quân nhân, Sát-đế-lợi,
Bà-La-Môn, cư sĩ, thôn xóm, thành thị, Sa-môn, Bà-La-Môn, cho
đến chim thú v.v…” (1)
Tức
đến khi thực hành những điều đó thì Bảo-Luân tự nhiên
từ trên trời hiện xuống, và có đủ tư cách của Chuyển-Luân-Vương,
rồi lấy bánh xe bán làm tiêu xí (cờ) đi theo bốn đạo binh,
trước đánh phương đông, nhờ uy lực của Bảo-Luân (bánh
xe báu) tức năng lực chính nghĩa, không dấy động can qua
mà tự nhiên những chỗ nguy hiểm đều bằng phẳng và những
chỗ quanh co đều thẳng thắn, cho đến các phương tây, phương
nam, phương bắc cũng như thế mà bình định được bốn thiên
hạ.
(1)
D. 111, p, 61; p. 796.
Còn
về pháp lệnh của vua thì chuyên lấy năm giới làm cơ sở,
bởi thế, những huấn thị mà Luân-Vương ban cho phó vương
(Patiraja) ở nơi biên ải thường là “không giết, không trộm,
không gian dâm, không nói dối, không uống rượu” v.v… Theo
bản Hán dịch thì các lời lẽ còn rõ ràng hơn nữa. Nghĩa
là, dọc đường đi chinh phục bốn cõi, Ðại Vương được
các phó vương bày tiệc đón mừng, Ðại Vương gạt đi nói
rằng: Không nên! Nếu các ông muốn thiết đãi ta thì chỉ
cần sửa trị theo đúng chính pháp, đừng đề cho có những
hành vi phi pháp trong nước” (1) Xem thế thì biết bốn
cõi đầy dẫy, tất cả đều hóa thân của nền chính trị
chính pháp, tức Chuyển-Luân-Vương. Bởi vậy, tại bất cứ
nơi nào, thần dân dưới quyền thống trị của Luân-Vương
đều được như ý nguyện, không một sự bất bình cũng
không có ai tranh giành với ai. Ðó chính là điều mà Hán dịch
bảo là “Ðất đai phì nhiêu, nhân dân giàu có, tính khí
nhu hòa, từ hiếu trung thuận” (2)
Theo
Phật thì trong quá khứ, vị lai đều có Luân-Vương xuất
hiện. “Ðời có chính pháp thì Luân-Vương kế tục không
ngừng”. Tại bất cứ nơi nào, hễ có chính pháp là có Luân-Vương,
do đó, quốc gia hoặc quốc vương phải luôn luôn làm đúng
chính pháp, nỗ lực phát huy lý tưởng đó. Ðiểm đặc biệt
thú vị là khi Phật Di-Lặc (Maitreya) ra đời thì trạng thái
quốc gia do Chuyển-Luân-Vương quản trị sẽ thay đổi hẳn.
Theo chỗ tôi tận lực nghiên cứu, trong văn Ba-li tuy không
thấy có chỗ nào tường tận, nhưng Hán dịch thì miêu tả
rất rõ ràng về quốc gia lý tưởng ấy. Xin trích dẫn như
sau:
Người
vì động cơ không thuần chính chăng nữa cũng được chấp
nhận để rồi tất cả đều được dìu dắt đến chính
đạo: đó là
“Lúc
đó, đấy Diêm Phù (toàn thế giới), bốn phương đông, tây,
nam, bắc mười vạn do tuần, các nơi núi, sông, vách đá đều
tự tiêu diệt, nước bốn bể lớn đều dồn về một phương;
bấy giờ đất Diêm Phù cực kỳ bằng phẳng, trong sánh như
gương, lúa thóc đầy dẫy, nhân dân phồn thịnh, có nhiều
của báu, các thôn ấp nằm sát nhau, gà gáy iên tiếp. Lúc
ấy những cây trái xấu, những thứ nhơ bẩn cũng tự biến
mất, nhường chỗ cho những cây trái thơm ngon, những thứ
hương ngào ngạt tràn lan khắp đất.
Lúc
bấy giờ khi trời hòa dịu, bốn mùa thuận tiết; trong người
không có bệnh tật, không phát sinh tham dục, sân huệ, ngu
si, nhân tâm hòa hợp, đều cùng một ý, gặp nhau là vui mừng,
nói với nhau những lời tốt lành, cùng nói một thứ tiếng,
không có sai khác, hệt như những người Uân-đàn-Nhật (Uttarakura)
vậy.
Nhân
dân trong Diêm Phù, lớn bé đều cùng một mối, không có sai
biệt; khi muốn đại, tiểu tiện thì đất tự nhiên mở ra,
xong rồi, đất lại khép lại.
Bấy
giờ, trong cõi Diêm Phù thóc gạo tự nhiên sinh, mùi rất thơm
ngon, ăn không biết chán. Vàng, bạc, trân bảo, xà cừ, mã
não, san hô, hổ phách, nằm la liệt trên mặt đất mà không
ai thèm nhặt. Lúc đó, có người cầm trong tay mà tự nói
rằng “Ngày xưa, vì những thứ ngọc quý này mà con người
tàn hại lẫn nhau, gây bao tội ác để phải đọa địa ngục
mà chịu không biết bao nhiêu khổ não. Còn bây giờ thì các
thứ này cũng như gạch ngói, không ai thèm lấy”. Nói rồi
lại vứt xuống đất mà đi. Lúc ấy có pháp Vương ra đời
tên là Nhương Khư, dùng chính pháp mà hóa trị, thành tựu
bảy thứ báu, tức là; luân bảo (xe báu), tượng bảo (voi
báu), mã bảo (ngựa báu), châu bảo (ngọc báu), nữ bảo (thiện
nhân), điển binh bảo, thủ tam tạng bảo; đó là bảy thứ
báu. Trong lãnh thổ cõi Diêm Phù không dùng dao gậy mà tự
nhiên mà phải hàng phục”. (1)
Mới
nhìn qua sự diễn tả trên đây người ta có cảm tưởng như
là một thế giới hoàn toàn không tưởng. Ðiều đó không
có gì lạ cả, bởi cái quốc gia lý tưởng thì bao giờ cũng
thế. Song có điều thú vị là, nói theo một ý nghĩa nào đó,
căn cứ vào hiện trạng, ngày nay người ta đã thực hiện
được một số sự kiện lý tưởng trên đây. Chẳng hạn
như núi, sông, vách đá tự tiêu diệt thì đã thực hiện
cầu cống, đường hầm; cùng một thứ tiếng thì chính các
học giả đang tìm mọi phương pháp để tạo thành một thế
giới ngữ; đại tiểu tiện xong đất bèn khép lại thì nay
hầu hết các đô thị đã hoàn bị hệ thống ống cống,
hầm cầu; còn như mặt đất bằng phẳng như gương thì cứ
nhìn những con đường nhựa bóng loáng tại các đô thị lớn
trên thế giới hiện nay cũng đủ thấy rõ. Duy có điểm còn
cách xa với sự miêu tả kể trên là về mặt đạo đức,
tức ý niệm tham dục, sân huệ càng ngày càng hát mạnh. Vì
tham vàng bạc của báu quá đỗi đến khiến cho người và
người, quốc gia với quốc gia tàn hại nhau mãi không ngừng.
Nếu con người dần dần sửa chữa được điểm này - điểm
rất căn bản mà cũng rất khó khăn – thì vị tất những
điều được miêu tả trên kia đã là không tưởng, mà trái
lại, sẽ lần lượt được thực hiện, hay ít ra, cũng là
trạng thái thế giới có thể thực hiện được. Tôi tin rằng,
trong tương lai chắc chắn có ngày thế giới sẽ thống nhất,
không dám dự đoán khi nào là Chuyển-Luân-Vương ra đời và
sẽ xuất hiện dưới hình thức nào. Nhưng có điều chắc
chắn là vì vua ấy sẽ lấy chính pháp làm trung tâm để mưu
hợp toàn thế giới thành một quốc gia nhất thể, đó chính
là một quốc gia lý tưởng của Phật giáo đồ. Nếu lại
kết hợp thời đại Di-Lặc với sự ghi chép về Chuyển-Luân-Vương,
nếu chưa thực hiện được lý tưởng đó ở thời đại
Phật thì sau này, đối với chiều hướng ấy, cái trách nhiệm
và sự nỗ lực của Phật giáo đồ càng nặng nề hơn nữa.
Song, nếu chỉ nói trong phạm vi một nước Ấn-Ðộ thôi thì
khoảng hơn hai năm sau Phật nhập diệt, lý tưởng ấy đã
có lần được vua A-Dục thực hiện: có thể nó đó là cái
bảo chứng của sự thực hiện hóa trong quá khứ, và cũng
là cái căn cứ cho kỳ vọng ở tương lai vậy.
TVHS