CHƯƠNG
VII
CĂN
CỨ VÀ SỰ PHÁN ÐOÁN GIÁ TRỊ SỰ TỒN TẠI.
Những
điểm đã được trình bày ở trên - bản chất từ nhân duyên
luận đến thế giới quan – là nhân sinh quan và thế giới
quan sự thực phú bẩm mới chỉ được thảo luận theo kiến
địa khách quan mà thôi. Nghĩa là, trong đó tôi đã cố tránh
không đề cập đến cái giá trị của nó có bao nhiêu đối
với yêu cầu của con người, do đó, kết quả, cái phương
pháp quan sát ấy thuần nhắm vào sự tiện lợi cho việc thuyết
minh thôi chứ tuyệt không phải đã y cứ vào hình tướng
nói pháp của chính đức Phật. Vì trong các buổi nói pháp,
Phật đã không đề cập đến việc phán đoán giá trị mà
chỉ chuyên xiển minh sự thật thuần túy, có thể nói, không
một chỗ nào mà không thế, đó là lập trường của Phật;
bởi thế mà Phật hoàn toàn là một nhà tôn giáo hơn là một
nhà khoa học, và mục đích của Phật là lấy hết thảy sự
tượng làm việc phán đoán giá trị để thực hiện cái lý
tưởng tối cao của con người. Vì vậy, ở đây, sau sự thực
quan, cần phải thảo luận đến việc phán đoán giá trị
của sự thực để làm sáng tỏ ý nghĩa tôn giáo của nó,
bởi lẽ Phật giáo là một tôn giáo có căn cứ lấy sứ mệnh
luân lý làm cơ sở, cho nên, đứng về phương diện thực
tế mà nói, nó là một nến giáo lý có nghĩa cực kỳ trọng
yếu.
1-
HẾT THẢY LÀ KHỔ.
Thế
giới phú bẩm này, đối với yêu cầu của con người có
những giá trị và ý nghĩa gì? Nhận xét theo giá trị quan
của Phật thì có thể tóm tắt trong một tiếng Khổ (dukkha),
tức là con người không thể tin cậy hoàn toàn ở cái thế
giới khổ đau này: đó là sự phán đoán giá trị nhất ban
của tất cả các kinh văn. Ðứng về phương diện lịch sử
mà nói thì nhân sinh quan này đã không hẳn khởi đầu từ
đức Phật mà, ít ra cũng đã manh nha từ khoảng giữa thời
đại Áo-Nghĩa-Thư, thời đại mà con người bắt đầu so
sánh đối chiếu giữa lý tưởng và hiện thực, kết quả
đã nảy sinh tư trào chán ghét hiện thực và dần dần đã
xâm nhập toàn thể tư tưởng giới Ấn Ðộ mà thành nhân
sinh quan: điểm này tôi đã trình bày ở một chỗ khác (1),
tức là, sự khảo sát của Phật, nói về mặt lịch sử tư
tưởng, chẳng qua cũng chỉ là tiếp nối cai hệ thống ấy
mà thôi.
(1)
Ấn-Ðộ-Triết-học-Tôn-Giáo-Sử, pp. 501-502,
Song,
điểm đặc biệt là Phật đã cực lực khoáng trương nó
về mặt nội bộ, động cơ xuất gia của ngài chủ yếu là
để thoát ly cái khổ già, đau (ốm), chết, rồi sự giải
thoát của ngài cũng bảo là giải thoát sinh lãi bệnh tử
ưu bi khổ não, tất cả đều lấy các nổi khổ của người
đời làm trung tâm mà thành lập Phật giáo. (1) Do đó, trong
pháp Tứ-Ðế, thế giới phú bẩm này được trực tiếp mệnh
danh là Khổ-Ðế, và trong Thập Nhị Nhân Duyên thì lấy việc
tìm cho ra những điều kiện tạo nên lão bệnh tử ưu bi khổ
não làm khởi điểm cho Duyên Khởi Quan. Xem thế thì hiển
nhiên ta thấy khởi nguyên của Phật Giáo Nguyên Thủy, có
thể nói, cũng tương đồng với phái Số-Luận và Kỳ-Na-Giáo,
nghĩa là, đều nhằm vào một vấn đề lớn là giải quyết
những nổi khổ của kiếp người.
2-
VÔ THƯỜNG, VÔ NGÃ: CĂN CỨ CỦA KHỔ QUAN.
Song,
đức Phật đã căn cứ vào đâu để phán đoán thế giới
là khổ? Cái căn cứ thâm sâu thì sẽ được trình bày ở
mục sau, còn căn cứ thiển cận thì bao hàm trong nghĩa phán
đoán sự thực vừa được nói ở trên, mà điểm chủ yếu
đặc biệt là vô thường (aniccata), vô ngã (anatta) v.v…
(1)
Trung-Hàm 56, Thánh Cầu M. 26, Ariyapariyesana
Theo
Phật, hết thảy sự vật đều lưu chuyển không ngừng. “Pháp
này là vô thường (aniccata), là pháp biến dị (viparinamadhammata),
là pháp phá hoại (khayadhammata)” (1) là những lời mà trước
sau Phật thường đinh ninh chỉ dạy. Thegio (loka - thế gian)
đích thực là pháp phá hoại, do đó mà gọi là thế gian.
“Tại
sao được gọi là thế gian? - Tỷ-Khưu, vì phá hoại nên gọi
là thế gian – lujjatiti kho tasma lokati” (2).
“Những
pháp hoại, trong Thánh luật gọi là thế gian – Yam kho Ananda
palokodhamman ayam viccati ariyassa vinaye loko”. (3)
Như
vậy thì, cuối cùng tất nhiên Phật đã đi đến kết luận
là “hết thảy những cái phá hoại biến dị đều là khổ”
: đó là thái độ thông thường của Phật trong các buổi
nói pháp. Trong cái quá trình phá hoại biến thiên bất tuyệt,
tức sự lưu chuyển không ngừng ấy nếu con người hy vọng
được sống còn và cứ đi lên mãi thì không thể bảo vô
thường biến thiên là khổ, nhưng khốn nỗi, trong cõi nhân
sinh phú bẩm, trên thực tế, sự vô thường biến thiên ấy
hoàn toàn đi ngược lại với lòng kỳ vọng và mong ước
của con người, cho nên, cái tổng thể của nó, không thể
không nhận là khổ.
(1)
Như M. 28 I. p. 185; Trung-Hàm, 7. Tương Tích Dụ
(2)
S. IV, p, 52
(3)
Như trên, trang 53.
Con
người, ai cũng muốn trẻ mãi không già, sống hoài không chết,
ai cũng muốn được vinh hoa phú quý, nhưng đầu xanh tuổi
trẻ chẳng bao lâu đã trở thành tóc bạc da nhăn, vinh hoa
phú quý rồi cũng thoáng trôi đi như ngựa qua cửa sổ, sương
rụng đầu cành, tóm lại, tất cả đều không tránh khỏi
được vô thường biến thiên, như vậy há chẳng đi ngược
lại với lòng kỳ vọng đợi chờ của con người đó sao?
Nói một cách chặt chẽ hơn thì ngay trong một khắc cũng có
sự sinh diệt từng giây từng phút, cho nên chỉ trong một
khắc thôi người ta cũng không có sự an định chân chính,
như vậy người muốn tìm cầu một sự an định và vui sướng
thường hằng sẽ có được thỏa mãn không? Nếu đứng trên
lập trường toàn diện mà nói thì, dĩ nhiên, người ta không
thể phủ nhận trong đó cũng có khoái lạc, nhưng nếu lấy
sự tồn tại thường hằng làm lý tưởng mà phán đoán hết
thảy thì người ta cũng không thể không thừa nhận rằng
tất cả đều bất an, bất định, để rồi đi đến kết
luận trong thế gian hết thảy đều là khổ: người thông
đạt hẳn sẽ cho đó là kết luận tự nhiên, bởi đó chính
là một trong những lý do cắt nghĩa tại sao Phật đã
phán đoán giá trị thế gian là khổ. Xem thế thì thấy câu
cách ngôn “chư hành vô thường (sabbe sãkharà anicca) của
Phật một mặt đưa ra sự phán đoán sự thực, đồng thời,
mặt khác đã nói lên sự phán đoán giá trị vậy.
Cái
gọi là “hết thảy là vô thường”, đứng về phương diện
phán đoán sự thực mà nói, là căn cứ phủ định cái ngã
thường hằng cũng tương đồng với cái gọi là “vô ngã”
và “chư hành vô thường” là lý do đặc thù để phán đoán
giá trị hết thảy là khổ. Vì, theo phật, cái gọi là ngã
tuy chẳng qua là trỏ sự tự chủ, nhưng, nếu bảo “đích
thực không, là cái thường của đời” thì, dĩ nhiên, đời
không có cái gì chân chính gọi là tự chủ cả, cho nên, vô
ngã, tức vì mất tự do mà bảo là khổ.
“Bấy
giời Thế Tôn bảo năm vị Tỷ-Khưu rằng sắc là vô ngã;
nếu sắc không là vô ngã thì sắc ấy đã không chuyển biến
một cách bất như ý. Ðối với ngã mà có sắc, nhưng trong
sắc ấy không có ngã, cho nên không thể bảo sắc là vô ngã.
Cho nên, đến thụ, tưởng, hành, thức cũng là vô ngã, nếu
thụ tưởng hành thức không là vô ngã thì chúng đã không
chuyển biến một cách bất như ý; đối với ngã mà có thụ,
tưởng, hành, thức, nhưng trong đó lại không có ngã nên thụ,
tưởng, hành, thức là vô ngã.
Này
các Tỷ-Khưu! Theo ý các ông thì sắc là thường hay vô thường?
- Bạch Thế Tôn! Sắc là vô thường. Hết thảy vật vô thường
là khổ hay vui? - Bạch Thế Tôn! Là Khổ. Trong tất cả các
pháp bến dị là khổ đó có thể tìm thấy cái gì là “vật
của ta”, là “cái tự ngã” không? - Bạch Thế Tôn! Không!
(1).
Ý
nghĩa trong đoạn văn trên đây có liên quan đến vô thường
luận, một mặt đưa ra căn cứ của vô ngã luận, mặt khác,
đồng thời, đứng trên lập trường ấy, vạch ra cái căn
cứ đưa đến sự phán đoán giá trị cuộc đời là khổ,
tức ở đâu có vô thường thì ở đo không có sự tự chủ,
mà đã không có sự tự chủ thì không có cái ta, cái của
ta, không có sự tự do của ngã, ngã sở: đó là phương pháp
lập luận về khổ. Tóm lại là lấy sự tự do tuyệt đối
của cái ta làm tiêu chuẩn để phán đoán. Lại nữa, Như
đã trình bày ở trên, nếu căn cứ theo triết học của Phật
thì vận mệnh của con người rốt ráo chỉ là vật do ý muốn
của con người khai thác tuy có vẻ như có tự chủ nhưng thật
thì phải dựa vào pháp tắc nhân duyên làm hạn định, chứ
quyết không phải là vô điều kiện. Vả lại, xét ở một
phương diện khác, cái pháp tắc tự tác tự thụ (mình làm
mình chịu) liên tục trong ba đời đã trói chặt con người
làm cho mất tự do, bởi thế, trong thế gian, con người không
thể nào tìm cầu được sự tự chủ tuyệt đối. Mà cái
con người hằng mong cầu tìm kiếm mà không được thì hẳn
là phải khổ rồi, do đó mới phán định sự tồn tại là
khổ và do đó mà luận cứ rất xác đáng. Xét ra thì lập
luận này đã được đúc kết và rút ra từ vô ngã luận.
(1)
Vinaya I, p. 100 (Tạp-Hàm 53, p. 513, xem Hỏa Chủng Cư Sĩ)
Lý
do đưa đến sự phán đoán tồn tại là khổ tuy có nhiều,
nhưng cái căn cứ lớn nhất là căn cứ vô thường, vô ngã
đã được nói ở trên. Tất cả những lý do được thấy
rải rác trong các kinh có thể được tổng hợp lại thành
ba điều kiện mà ý nghĩa của nó được quy nạp trong kinh
Pháp-Cú như sau. (1)
“Các
hành đều vô thường; khi dùng trí tuệ mà thấy được như
thế thì sẽ nhàm chán và xa lìa mọi thống khổ. Ðó là đạo
thanh tịnh.
Các
hành đều là khổ; khi dùng trí tuệ mà thấy được như thế
thì sẽ nhàm chán và lìa xa thống khổ. Ðó là đạo thanh
tịnh. Tất cả pháp đều vô ngã; khi dùng trí tuệ mà thấy
được như thế thì sẽ nhàm chán và xa lìa mọi thống khổ,
đó là đạo thanh tịnh.”
(Sabba
sankhara anccà, ti Yada pannàya passati, atha nibbindati dukkhe, esa
Maggo visuddhiyà Sabbe sankkara dukhà ti Yadà pannàya passati, athe
nibb-indati dukhe esa Maggo visuddhiyà.
Sabba
dhamma anattà ti Yadà pannaya passati, atha nibbindati dukkhe, esa Maggo
visuddhiyà) (1).
Ba
điều trên đây (chư hành vô thường, chư pháp vô ngã, chư
hành khổ) đích thực là sự tổng kết về cách quan sát đối
với thế gian của Phật. Nhưng ba điều này còn được thêm
một điều thứ tư nữa là “hết thảy pháp đều không”
để tạo thành cái gọi là “Tứ niệm trụ” (Satipathana)
vốn là một giáo điều trọng yếu trong trong đạo nhất thừa
của chư Phật. Trong các bản Hán dịch kinh pháp Cú hiện nay
cũng có đủ bốn điều. Duy trong đó, cái gọi là “Không”,
đứng ở một phương diện mà nói thì như đã trình bày ở
trên, tuy liên quan đến sự phán đoán về chân tướng thật
của sự thực, nhưng đứng ở một phương diện khác mà nói
thì nó lại là sự phán đoán về giá trị. Ðứng về mặt
giá trị, thì hết thảy pháp - lấu sự đối chiếu với cách
phán đoán lý tưởng tối cao làm hạn định - đều đầy
đủ, nhưng tuy có mà cũng như nghĩa không làm chủ, cho nên
mới lấy phương diện không làm chủ. Bởi thế, tổng quát
sự phán đoán giá trị của Phật về hết thảy pháp sẽ
là khổ và không, tức bao gồm nghĩa đầy dẫy khổ sở và
tuy có mà cũng như không.
(1)
Pháp Cú Ðối Chiếu, Ðại Học Xuất Bản, trang 26.
Nhưng
có điều ta cần hết sức chú ý là: suphan đoan gia tri nay,
như đã nói ở trên, chủ yếu là so sánh đối chiếu với
lý tưởng tối cao, chứ quyết không phảo lấy sự sinh hoạt
thường nhật làm tiêu chuẩn. Ðến A-Tỳ-Ðạt-Ma đã nói
một cách minh bạch rằng hết thảy khổ tất kính chỉ là
kiến địa của bậc Thánh chiếu rọi thấy mà thôi. Xem thế
thì thấy kiến địa của Phật hiển nhiên cũng là kiến địa
yếm thế. Duy ở một phương diện khác mà noí thì sự chán
đời của Phật là nhắm tới ánh sáng vĩnh viễn chiếu rọi
lý tưởng tối cao, chứ không phải sự chán đời tuyệt vọng,
đó là điểm ta cần ghi nhận. Nếu hiểu một cách hời hợt
mà cho rằng yếm thế quan của Phật giáo cũng đồng nghĩa
với chữ Pessamism của tiếng Anh thì đó là điều rất sai
lầm, trái hẳn với chân ý của Phật. Vì cái gọi là yếm
thế quan của Phật chủ yếu nhắm tới lý tưởng tối cao
có tính cách triết học và tôn giáo. Như sẽ được bàn đến
trong thiên sau, Phật là một bậc Thánh hơn hẳn bất cứ một
bậc Thánh nào tại Ấn-Ðộ đã khẳng định hiện thực một
cách rất sâu xa, nhất là khẳng định sinh hoạt đạo đức:
đó là một sự thực hiển nhiên. Thât ra, đức Phật sở
dĩ đã hoàn định thế gian là khổ là không, chỉ vì muốn
cảnh tỉnh đa số người đời không chú ý đến lý tưởng
cao thâm, chỉ ham đắm dục lạc trước mắt, không chịu tìm
cầu ý nghĩa đích thực của cuộc đời, những người chỉ
biết có đốm lửa trong hang là ánh sáng duy nhất mà không
biết rằng bên ngoài hang còn có ánh sáng vô tận của rừng
thái dương bất diệt.
3-
THƯỜNG LẠC NGÃ TỊNH: CĂN CỨ CỦA KHỔ QUAN.
Như
vậy là Phật đã căn cứ vào cái lý vô thường, vô ngã để
đoán định hết thảy là khổ, nói cách khác, hết thảy đều
biến thiên, mà biến thiên thì không có tự chủ. Do đó, nếu
suy ngược lại thì lý tưởng của Phật hẳn là phải ở
cái thường hằng thật có và ở sự thực hiện cái chân
ngã tự chủ. Giả sử khảo sát theo kiến địa của Phật
thì nếu thế giới hiện thực này không phải là vô thường
biến thiên và nếu cái ngã thể của con người có sự tự
chủ tuyệt đối thì chắc chắn Phật đã không đoán định
nó là khổ, là không. Lại nữa, nếu nói một cách phân
biệt thì lý tưởng của Phật là duy tâm có thường lạc
ngã tịnh, bởi thế mới đoán định hiện thực là vô thường,
vô ngã, là khổ, là không. Xem thế thì thấy, về mặt lịch
sử, lý tưởng của Phật cũng vẫn được khơi nguồn từ
tư tưởng Saccidanandam (Sat = thật có, cit = tâm, ngã, ananda
= diệu lạc), tức tư tưởng Phạm-Ngã trong Áo-Nghĩa-Thư từ
xưa (1). Nhưng Phật cho cái lý tưởng đó không có quan hệ
gì với chuẩn tắc phán đoán hết thảy giá trị, do vậy
mà phủ nhận thần Saccidanandam phú bẩm, phủ nhận luôn cả
sự tồn tại của ngã. Bởi vì, theo Phật, thực tại của
cái gọi là thuần, Phạm và Thường ngã phú bẩm chẳng qua
cũng chỉ là ước nguyện, nếu không đưa ra được chứng
cứ của sự tồn tại như hiện thực phú bẩm thì rốt cục
nó vẫn chỉ là một ước nguyện, không thể tin ở sự tồn
tại của nó.
(1)
Về Saccidanandam, xin xem Ấn-Ðộ-Triết-học-Tôn-Giáo-Sử, trang
323-324; Sáu Phái Triết học Ấn-Ðộ, trang 638-640.
Nếu
cứ nhẹ dạ tin càn thì chẳng khác gì người nghèo mong trở
thành cự phú, nuôi cái ảo vọng ấy tuy lúc đó cũng cảm
thấy vui vui, nhưng sau chợt tỉnh thì thấy nó chỉ là một
trường xuân mộng. Bởi thế người ta không thể xây dựng
lý tưởng của mình trên cái nền tảng không tưởng như thế
mà phải đặt nó trên một lập trường hoàn toàn khế hợp
với chân tướng của sự thực: đó là cái nguyên lý mà Phật
đã dựa vào để bài xích thường lạc ngã tịnh và cực
lực chủ xướng nghĩa vô thường, khô, không và vô ngã. Tuy
nhiên, Phật trước sau vẫn duy trì cái lý tưởng đối với
sự vĩnh viễn, bất biến và tự chủ, thậm chí còn cho đó
không phải là phú bẩm nữa, bởi thế con người có thể
đạt đến cái cảnh giới do chính mình mở ra, cảnh giới
ấy chính là niết-bàn; đó là điểm đặc sắc nhất của
Phật. Về sau, Ðại Thừa cho cảnh giới niết-bàn có đủ
bốn thuộc tính thường, lạc, ngã, tịnh chính thực đã bắt
nguốn từ đó, tức là cảnh giới lý tưởng không xa lìa
Phật tâm. Vấn đề này sẽ được nói rõ sau, ở đây chỉ
sơ lược thế thôi.
4-
CĂN CỨ CỦA TÂM LÝ THƯỜNG, LẠC, NGÃ, TỊNH.
Bấy
giờ nếu lại tiến lên một bước nữa mà nghiên cứu thì
Phật đã do đâu mà có được lý tưởng thường, lạc, ngã,
tịnh? Về vấn đề này, đứng về phương diện lịch sử
mà nói, dĩ nhiên nó dẫn khởi từ hệ thống Áo-Nghĩa-Thư,
nhưng vì Phật đã không chấp nhận Phạm Ngã phú bẩm nên,
về mặt lý luận, tất nhiên sẽ phải tìm căn cứ ở một
chỗ khác. Vấn đề này duy đối với tư tưởng Ðại Thừa
sau này rất có quan hệ, còn đối với Phật Giáo Nguyên Thủy
tựa hồ không quan thiết, tuy nhiên, ở đây, chúng tôi thấy
cần phải thảo luận qua.
Theo
Phật thì hết thảy đều lấy “dục” làm cơ sở và, tuy
bán thân Phật chưa nói rõ hẳn, nhưng căn cứ tâm lý của
thường, lạc, ngã, tịnh vẫn không thể không tìm cầu ở
dục, tức trong vô minh. Xét về tính chất của vô minh, nếu
quan sát từ sự hoạt động bề ngoài thì đó là cái cơ sở
dục cầu của sự sống, là cái xung động làm thỏa mãn những
dục vọng mù quáng; nhưng, nếu khảo sát về ý nghĩa nội
dung của nó thì trong đó ám thị một cách tiềm tàng cái
sinh mệnh vô cùng vậy. Như đã nói ở trên, theo Phật, dục
của con người ấy hữu dục (bhavatanhà) làm trung tâm để
tiến đến ái dục (Kàmatanhà) và phồn vinh dục (vibhavatanhà)
ba loại. Nhưng, những hoạt động của dục, đứng về mặt
biểu diện mà nói, tuy không ngoài cái yêu cầu bảo tồn và
kế tục cá thể và chủng tộc, khoáng đại bản năng nhưng,
nếu suy rộng về ý nghĩa nội tại của nó thì không đạt
đến được sinh mệnh vô hạn, tức là lý tưởng sinh mệnh
thường hằng, phổ biến và tự chủ tuyệt đối thì không
ngừng. Mặc dù hành động vô ý thức, hết thảy sinh vật,
nhất là loài người, không trực tiếp thì gián tiếp, đều
lấy sinh mệnh tuyệt đối làm mục tiêu cuối cùng để hoạch
định tất cả: đó là một sự thật không thể chối cải.
(1) Cái uyên nguyên của lý tưởng thường, lạc, ngã, tịnh
chính cũng lấy lý tưởng sinh mệnh tuyệt đối này làm trung
tâm để phát sinh. Nếu phối hợp chúng với ba loại dục
kể trên mà khảo sát thì Thường có thể cho là hữu dục
mà phát sinh, Lạc là do ái dục mà xuất phát, Ngã là do tư
chủ dục (tức phồn vinh dục) mà khởi điểm, còn duy có
Tịnh thì lấy sự tịnh hóa một cách tuyệt đối những dục
vọng kia làm lý tưởng để phát sinh.
(1)
Về những hình tướng hoạt động của dục vọng; xin xem
tạp chí Cải-Tạo số 1 và 2 “Giải quyết vấn đề nhân
sinh lấy dục vọng làm cơ sở”.
Người
thường, đối với nội dung của sinh mệnh, tuy có hoài bảo
cái lý tưởng ấy, nhưng không lấy đó làm ý thức mà chỉ
bị ràng buộc bởi những hoạt động hời hợt bên ngoài.
Ðức Phật, trái lại, phát huy ý nghĩa thâm thúy bên trong
và lấy đó làm trực cảm để đạt lý tưởng tối cao của
kiếp người. Tham chiếu, so sánh mà phán đoán tất cả thì
có thể tóm tắt trong một câu như thế này, người thường
bị trói buộc bởi cái tiểu dục trước mắt, còn Phật thì
tiến thẳng đến tới đại dục vô hạn, tức là cái dục
tuyệt đối vậy. Về sau, giáo lý Đại Thừa bảo tất cả
mọi người đều có Phật tính, thậm chí bảo phiền não
tức Bồ-Ðề thật đã thấu triệt cái lý ấy. Vì nếu chỉ
nhìn dục vọng ở bề ngoài thì tuy là phiền não đấy, nhưng
nếu đi sâu vào ý nghĩa nội dung của nó thì đó chính là
cái Bồ-Ðề tìm cầu sự vô hạn bất tử. Nếu tất cả
sinh vật đều có đủ khả-năng-tính như thế thì cũng có
thể nói hết thảy chúng sinh đều có Phật tính.
Nhưng,
tại sao ở thời Phật Giáo Nguyên Thủy dục vọng không là
khẳng định mà trước sau vẫn bị phủ định. Xét về vấn
đề này thì ví sinh mệnh tuyệt đối, tức lý tưởng thường,
lạc, ngã, tịnh là do dục vọng dẫn khởi, bởi thế, theo
tiêu chuẩn ấy mà quan sát những sinh hoạt dục vọng hiện
thực thì ta thấy chúng hoàn toàn tương phản, trong đó, nếu
nói một cách tương đối thì chúng rất cách xa nhau. Vì lý
tưởng tuy hoàn toàn nhưng sinh hoạt dục vọng thì có nhiều
khu biệt, cảnh lý tưởng thì thường hằng mà sinh hoạt,
hiện thực thì lại vô thường, cảnh lý tưởng tuy thuần
khiết nhưng sinh hoạt dục vọng thì không thuần khiết, cảnh
lý tưởng là nơi tuyệt đối mãn túc, còn dục vọng hiện
thực thì thường không mãn túc: đó là đặc chất của nó.
Nói cách đơn giản, về mặt tương đối dục vọng hiện
thực và lý tưởng cảnh giới hoàn thoàn trái ngược nhau,
trong đó không có cái thế có thể thỏa hiệp, bởi vậy,
người muốn tìm cầu lý tưởng chân chính không thể không
do hiện thực mà được giải thoát: đó là chủ trương dứt
khoát của Phật.
Song,
nếu khảo sát ngược lại thì cảnh giới lý tưởng vốn
là do dục vọng hiện thực kéo dài ra, nếu nội dung của
dục vọng hiện thực bao hàm lý tưởng cảnh mà chỉ xả
bỏ sinh hoạt dục vọng hiện thực không thôi thì chưa hẳn
đã là con đường thực hiện lý tưởng mà, trái lại, cái
phương pháp đưa dần đến cảnh giới lý tưởng là phải
thanh-tịnh-hóa và hướng-thượng-hóa những sinh hoạt hiện
thực. Phương pháp thực hiện lý tưởng của Phật là một
mặt cổ xúy chủ nghĩa xuất gia, mắt khác, hết sức tịnh-hóa
mọi sinh hoạt thông tục về phương diện đạo đức và tôn
giáo chính là ý ấy. Nếu lại tiến lên một bước mà nói
thì, theo nguyên tắc “phiền não tức Bồ-Ðề”, khẳng định
sinh hoạt hiện thế, tức thực hiện cảnh giới lý tưởng
ngay trong thế giới hiện thực: đó chính là thuyết “Tức
thân thành Phật” của Ðại Thừa sau này.
Nói
một cách dễ hiểu hơn, đức Phật chủ yếu căn cứ vào
ý nghĩa nội tại của dục để kiến lập tiêu chuẩn công
cộng của lý tưởng và theo đó mà quan sát và phê bình dục
vọng hiện thực để rồi, đứng trên lập trường tương
phản của chính dục vọng, thấy hiện thực là vô thường,
là khổ, không, là vô ngã, nên mới phán định đời là vô
thường, là khổ v.v…
Lại
nữa, Phật mệnh danh nguồn gốc của hiện thực là vô minh
nếu chỉ định nghĩa nó là vô tri thì phải giải thích dục
vọng tự thân là không biết hướng tới cái lý tưởng chân
chính của chính mình mà chỉ dựa vào sự hoạt động biểu
diện để hình thành thế giới, do đó, Phật mới đề cao
trí tuệ (panna – bát-nhã) và cho đó là con đường hành đạo
đích thực; người ta phải nhờ vào duệ trí mới thấy được
cái lý tưởng lớn bao hàm trong nội dung dục vọng, nếu thiếu
duệ trí thì không thể nào thoát ra khỏi cái thế giới luân
hồi triền miên bất an bất định này. Phương pháp thực
hiện lý tưởng, nếu xét theo Tứ Ðế thì đó là hai đế
sau, còn nếu xét theo mười hai nhân duyên thì đó chính là
dựa vào cái gọi là “diệt quan duyên khởi” vậy.
TVHS