CHƯƠNG
VI
LUẬN
VỀ BẢN CHẤT TỒN TẠI
Như
trên đã trình bày, trong thiên này mới chỉ lấy sinh mệnh
làm trung tâm để chuyển khảo sát những hiện tượng hoạt
động của sự tồn tại. Bây giờ, sau hết, lại phải nói
qua về vấn đề bản chất của sự tồn tại theo cách nhận
định của Phật ra sao. Nói một cách chặt chẽ thì trong thời
kỳ Phật Giáo Nguyên Thủy chưa có cái bộ phận được gọi
là thế-giới-quan hình-nhi-thượng học, tất cả sự khảo
sát đều xoay quanh những hiện tượng lấy sinh mệnh làm trung
tâm, điều đó tưởng không cần nói ai cũng hiểu. Nói đúng
ra thì vấn đề bản chất cũng đã nằm trong tất cả những
điểm đã được trình bày ở trên rồi. Tuy nhiên, để thích
ứng với các lập trường quan sát khác nhau, ở đây, nó cần
phải được đặt riêng thành một mục để khảo sát.
Song,
nói một cách khái quát, thái độ của đức Phật đối với
vấn đề này như thế nào? Xét ra vấn đề này cũng như những
giáo lý khác, có chỗ sâu, nông khác nhau, có vấn đề chuyên
đứng trên lập trường thường trực để giải thích, cũng
có vấn đề được khảo sát theo kiến địa triết học cao
xa, trong đó không thể nói một cách nhất luận được. Hơn
nữa, phần nhiều các vấn đề ấy không được quan sát như
vấn đề thế giới tự thân, mà lại được dùng làm bối
cảnh của việc tu dưỡng để trình bày, do đó, nếu đổi
chúng thành những vấn đề thuần túy lý luận mà khảo sát
theo thứ lớp, thì ta có thể chia thành nhiều lập trường.
Ở đây, ta hãy thử chia ra bốn lập trường để thảo luận.
Duy vấn đề này, về sau, đối với nguồn gốc phát khởi
của triết học Ðại Thừa và Tiểu Thừa, nó đã trở nên
một vấn đề rất to tát, bởi thế, ở đây, ta hãy đặc
biệt khảo sát nó theo kiến địa ấy.
1-
KHUYNH HƯỚNG THƯỜNG THỨC.
Vấn
đề bản chất, cứ theo tư tưởng được thấy phổ thông
nhất trong các kinh văn, có thể cho đó là khuynh hướng thực-tại-luận;
nghĩa là, lập trường cho rằng tâm, vật đều là những vật
phú bẩm, đều vô thủy vô chung. Như các thuyết Lục giới
(đất, nước, lửa, gió không thức) và Ngũ uẩn “sắc, thụ,
tưởng, hành, thức), Phật chỉ nhận chúng là những yếu
tố, đều là sự tồn tại độc lập, không do đâu dẫn khởi;
đến khi chúng trở thành tồn tại cụ thể thì tuy cần phải
nhờ các duyên hòa hợp, song mỗi yếu tố đều là vật phú
bẩm, không thể suy tầm đến khởi nguyên của nó được.
Lại nữa, về vật-chất-quan thì Phật cho đất, nước, lửa,
gió, (tứ đại) là bản chất, nghĩa là, hết thảy hiện tượng
vật chất đều phát xuất từ đó, để chia thành nội (ajjhattika),
ngoại (bahira), tức là những yếu tố nhục thể (nội) và
những yếu tố ngoại giới (ngoại), rồi chia thành cảm quan
và đối tượng của nó, tức là năm căn mắt, tai, mũi, lưỡi,
thân, và năm cảnh sắc, thanh, hương, vị, xúc. Tất cả tuy
đều được cho là những hiện tượng vật chất do tứ đại
tạo nên (1), nhưng, nếu đã là vật tứ đại phú bẩm thì
không luận đến khổ nguyên của nó. Lại nữa, khi đứng
về phương diện tinh thần mà khảo sát cũng thế, những yếu
tố tuy phải dựa vào nhiều điều kiện để trình hiện thành
những hiện tượng cụ thể, nhưng những yếu tố tự thân
thì bất luận là thức, hành, tưởng, thụ, cho đến tác ý,
xúc, tư v.v… mỗi mỗi đều là tác dụng tâm có đủ độc-lập-tính.
Vả lại, đối với những yếu tố tinh thần, đức Phật
thường khảo sát thêm về mặt tam thế nữa, nghĩa là thường
bao quát hết thảy quá khứ, hiện tại và vị lai để thuyết
minh.
“Hết
thảy sắc, hoặc quá khứ, hoặc vị lai, hoặc hiện tại,
hoặc trong, hoặc ngoài, hoặc thô, hoặc tế, hoặc thẳng,
hoặc liệt, hoặc xa, hoặc gần - tổng quát tất cả gọi
là sắc uẩn”.
(1)
Như Tượng-Tích Dụ trong Trung-Hàm, 7; Ma-Ha-Ðà, 28 Mahàhatthhipadopama,
Trên
đây là một thí dụ về sự thuyết minh định nghĩa của
Phật đối với sắc uẩn, và với thụ, tưởng, hành, thức
cũng cùng một định nghĩa như thế. Xem thế thì thấy Phật
đã cho những yếu tố không gian tồn tại một cách hỗn hợp,
đồng thời lại nhận các yếu tố thời gian tồn tại một
cách liên tục.
Do
đó, nếu nhận xét theo những hình thức thuyết minh rất phổ
thông này, thì có thể nói lập trường của Phật thuần là
thật-tại-luận, bởi vì từ vật, tâm nhị nguyên luận mà
tiến đến thế giới quan đa nguyên vậy. Về sau, trong các
bộ phái, Thuyết-nhất-thiết-hữu bộ lấy “tam thế thực
hữu, pháp thể hằng tồn” làm chủ trương cương yếu, phân
tích tâm, vật làm nhiều thứ để rồi đi đến quan hệ nhiếp
cả tâm, vật (tâm bất tương ứng), tức phô diễn tam thế
thực hữu, thật ra cũng không ngoài việc suy diễn cái khuynh
hướng thực tại luận của Phật.
2-
KHUYNH HƯỚNG QUAN NIỆM LUẬN.
Đứng
trên lập trường khoa học mà nhận xét thì vậy, tâm đều
là vật phú bẩm. Tuy nhiên, nếu lại tiến lên một bước
nữa mà nghiên cứu xem yếu tố nào đóng vai trò chủ yếu
trong việc thành lập thế giới thì, nói theo tinh thần của
Phật, dĩ nhiên là yếu tố tâm, vì tất cả giá trị thế
giới hoàn toàn do tâm người ta tạo tác; đó là lập trường
triết học của Phật. Về vấn đề này, Phật đã thuyết
minh bằng nhiều phương diện và trước hết, bây giờ ta hãy
khảo sát theo phương diện nhận thức luận.
Theo
Phật, hết thảy thế giới tuy được thành lập trên quan
hệ nhận thức lục căn, lục cảnh, nhưng trong đó phương
diện trực tiếp nhất không phải là khách quan mà là phương
diện chủ quan, nghĩa là, phải dựa vào yếu tố chủ quan
mà yếu tố khách quan mới được thành là khách quan: đó
là quan điểm của Phật.
“Có
tay nên mới biết lấy, bỏ, có chân nên mới biết đi, lại,
có khớp xương nên mới biết co, ruỗi, có bụng nên mới
biết đói, khát.
Như
thế, tỳ-khưu, vì có mắt mờ ở mắt tiếp xúc mà có cảm
giác bên trong, tức khổ, vui, hay không khổ không vui, cho đến
tai, mũi, thân, ý cũng lại như thế” (1)
Ý
trên đây chỉ cho thấy thế giới kinh nghiệm của người
ta, tất cả đều nhờ có cơ quan cảm giác mà phát sinh. Như
vậy, nếu không có cơ quan cảm giác thì không có thế giới
kinh nghiệm. Từ lập trường nhận thức luận này, còn một
điểm là sáng tỏ ý nghĩa thành lập khách quan nhất là cách
thuyết pháp về tứ đại và danh sắc (khách quan) tiêu diệt
ở vị danh nào.
(1)
Tạp-Hàm, 43, Các bản, trang 719; S, IV. Phật Giáo Nguyên Thủy;
171.
“Hỏi:
Ở chỗ nào đất, nước, lửa, gió không đứng? Ở chỗ nào
dài, ngắn, nhỏ, thô, sạch, nhơ không đứng? Ở chỗ nào
danh sắc diệt hết không còn? Ðáp: ở thức không thể thấy,
hết thảy ánh sáng vô hạn (sabbatopabham) mà đất, nước,
lửa, gió không đứng, dài, ngắn, nhỏ, thô, sạch, nhơ không
đứng, hễ thức diệt thì tất cả đèu diệt”. (1)
ý
nghĩa trong đoạn văn trên đây đại khái cho rằng nhờ có
ánh sáng nhận thức mới thấy những vật chất đất, nước,
lửa, gió hoặc những hiện tượng thô, nhỏ, đẹp, xấu v.v…
Nói một cách đơn giản, phàm vật gì được thành lập là
danh sắc khách quan thì khi nào thức diệt, tất cả đều cũng
diệt. Ý nghĩa này đã được gói ghém một cách rất gọn
gàng bằng câu sau đây trong kinh Tập (Suttanipata):
“Hết
thảy đều dựa vào thức mà đứng” (vinnatthitiyosbbha) (2)
(1)
D, Kevadha vol, I, p. 223; Trương-Hàm 6, Kiên Cố Kinh, p, 841 (tham
chiếu Suttanipata, 1036 – 1137).
(2)
Suttanipata, 1114.
Như
vậy, ta thấy rằng thế-giới-quan của Phật tuy là thực-tại-luận-nhị-nguyên-luận,
nhưng một khi muốn đề cập đến những vấn đề nhận thức
mà không chủ trương quan niệm luận thì không thể được,
do đó mà lập trường của Hữu bộ đã không đúng với chân
ý của Phật (1).
Song,
ở đây có điểm cần chú ý là: không thể cho thế giới
quan nhận thức luận này chỉ là đại biểu cho khuynh hướng
quan niệm luận của Phật được, vì, theo Phật, bối cảnh
của nhận thức có đầy đủ ý chí mà nguyên nhân của nó
thì như đã được trình bày trong hữu-tình-luận ở chương
trên, cho nên, nếu biến nó thành thế giới quan thì tức nó
là thế giới quan chủ ý luận.
“Tâm
nắm giữ thế giới
Tâm
dẫn dắt thế giới
Tâm
ấy là một pháp
Hay
chế ngự thế gian”
(cittena
loko niyati
cittena
parikissati
cittassa
ekadhammassa
sabheva
Vasam) (2)
(1)
Tạp-Hàm 36, p, 682; (tham chiếu Trung-Hàm 45, Tâm Kinh).
(2)
S, I, p, 39; cf, A. 11, p. 177.
Trên
đây là tâm đối với những cái mà thức (vinnana) nhận thức,
hoặc có thể bảo là vật liên quan đến phương diện tình
ý; tức là hết thảy thế gian đều được tạo tác và chi
phối bởi một pháp duy nhất là dục vọng hay ý chí. Nếu
lại nói một cách rõ hơn, thì:
“Thế
gian bị dục dẫn đạo, bị dục trói buộc, chỉ do dục mà
hết thảy bị chế ngự”(1)
Ở
đây, cái tâm (citta) trong bài kệ trên kia đã được đổi
thành dục (tanhà) để nói lên thế-giới-quan-chủ-ý-luận
vậy. Và, ta nên nhớ rằng trong các kinh điển, phương diện
này đã được dùng để thuyết minh sự thành lập thế giới
nhiều hơn là phương diện nhận thức luận. Vì vậy, căn
cứ vào đó mà suy cứu thế giới quan của Phật, ta sẽ nhận
thấy nếu là yếu tố thì bất luận tâm hay vật đều là
vật phú bẩm, nhưng khi biểu hiện thành thế giới của người
ta thì có thể nói hoàn toàn lấy ý chí làm nguyên lý thứ
nhất, nhận thức làm nguyên lý thứ hai và đều do tâm con
người khiến ra như thế. Nếu lại suy cứu xa hơn nữa thì
cái điều kiện thành lập vạn hữu là pháp tắc nhân duyên
rốt ráo cũng không ngoài ý chí của người ta và pháp tắc
nhận thức: do đó mà thế giới quan “vạn pháp duy tâm”
được thành lập. Nếu nói một cách chặt chẽ thì mục đích
của những đoạn văn trích dẫn ở trên, dĩ nhiên, không phải
đứng trên lập trường lý luận mà là chủ trương quan niệm
luận; nhưng khốn nỗi Phật đã chưa từng nói rõ như thế,
cho nên, nếu chỉ căn cứ vào những đoạn ghi chép rải rác
ấy mà thẳng thắn cho thế giới quan biểu hiện của Phật
là quan niệm thì quyết không nên. Duy có điều là: nếu biến
đổi những tư tưởng bối cảnh tiềm tàng trong các câu văn
này thành lý luận, thì trong tư tưởng Phật giáo, dĩ nhiên
cái khuynh hướng thế-giới-quan-duy-tâm-luận, có thể nói,
đã trở thành rõ rệt; và nếu bảo rằng cách thuyết pháp
này của Phật, so với các khảo sát thực tại luận, thâm
thúy hơn thì điều đó hoàn toàn tin được. Triết học quan
niệm luận của Ðại-Thừa-Giáo sau này, có thể nói, chính
đã bắt nguồn từ đó, mà điểm đặc biệt rõ ràng hơn
cả là Phật giáo Bát-Nhã-Hệ theo lập trường nhận thức
luận và Phật giáo Duy-Thức-Hệ lấy chủ ý luận làm chủ
vậy.
(1)
S.I, p. 39; cf A.11, p. 177.
3-
KHUYNH HƯỚNG VÔ VŨ TRỤ LUẬN
Như
vậy, thế giới quan của Phật, trên bề mặt, tuy là thực
tại luận, nhưng chiều sâu, có thể nói, là quan niệm luận.
Duy có điều là, theo Phật, cả hai khi thành lập các pháp
đều phải hội đủ tất cả mọi quan hệ. Song, nếu lại
tìm đến sự tồn tại vô điều kiện vượt lên trên mọi
quan hệ thì ý kiến của Phật ở chỗ nào? Vấn đề này,
cứ lấy lý mà suy thì ta không thể cho đó là “không” (sunnata),
tại sao? Vì trong giáo nghi của Phật Giáo Nguyên Thủy, nếu
xa rời nhân duyên thì không thể nào tìm cầu được pháp,
tức là, nói cách dễ hiểu hơn, vấn đề này vượt ra ngoài
vòng nhận thức.
“Thế
nào là kinh đệ-nhất-nghĩa không? – Các Tỷ-Khưu, mắt khi
sinh không có nơi đến, khi diệt không có chỗ đi, như vậy,
mắt không thật sinh, sinh rồi diệt hết; có nghiệp báo, không
tác-giả, ấm này diệt ấm khác tương tục, trừ pháp tục
đế, tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng lại như thế. Pháp tục
đế có nghĩa bảo rằng: cái này có nên cái kia có cái này
sinh nên cái kia sinh, như vô minh duyên hành, hành duyện thức”.
(1)
Ý
đoạn văn trên cho rằng pháp tắc nhân duyên tự nó tuy tồn
tại, nhưng hết thảy những cái đã do nhân duyên sinh chẳng
qua cũng chỉ đều là không mà thôi.
“Hỏi:
Bảo rằg thế gian là không, vậy ý nghĩa thế gian như thế
nào? Thế Tôn cho thế giới là không ư?
(1)
Tạp-Hàm 13, các bản, p. 555. Ðoạn văn trên đây là văn Ba-li,
nhưng trong Luận-Câu-Xá, quyển 9, cũng dẫn dụng một cách
tương tự. Dĩ nhiên đây là đoạn kinh văn thuộc chính hệ
cổ đại truyền lại.
Ðáp:
Vì ngã, ngã sở là không nên bảo thế gian là không, Ngã,
ngã sở không là thế nào? Là: mắt đối với ngã, ngã sở
là không, nhãn thức đối với ngã, ngã sở là không, nhãn
xúc đối với ngã, ngã sở là không; đến tất cả sự cảm
thụ khổ, lạc, xả vì nhờ vào nhãn xúc ấy làm duyên mà
sinh khởi nên thụ đối với ngã, ngã sở cũng là không. Bởi
thế, A-Nan, vì đối với ngã, ngã sở là không nên gọi thế
gian là không” (1)
Trên
đây là dựa vào lý do ở đoạn văn trích dẫn trước để
đi đến ngã, ngã sở mà thuyết minh nghĩa “không” một
cách rõ ràng hơn.
“Như
thế, Thích-Ðề-Hoàn-Nhân, tất cả cái có đều quy về không,
không ngã, không nhân, không thọ, không mệnh, không sĩ, không
phu, không hình, không tướng, không nam, không nữ, cũng như
gió, Thích-Ðề-Hoàn-Nhân phá hoại cây lớn” (2)
Tức
là xa lìa nhân duyên thì hết thảy mọi hiện tượng đều
là không, không thể tìm cầu được cái danh tướng của bất
cứ vật gì. Nghĩa là trong không, ngoài không, trong, ngoài đều
không đi đến rốt ráo là không (3). Thuyết này không là tư
tưởng sâu xa nhất trong các thời nói pháp của Phật, cho
nên, trong các kinh có câu thường được láy lại, như “Cái
mà Phật nói có đầy đủ ý nghĩa thâm diệu tinh vi, siêu
việt hẳn các kinh nghĩa không của thế gian”.
(1)
S. IV, p. 54; Tạp 9, Các bản, p. 528,
(2)
Tăng -Nhất 6, p, 303; (tham chiếu Căn Bản Phật giáo, p. 208).
(3)
M. 121-122 Culasunnata, Mahàsunnata Trung-Hàm, 50 hai kinh Tiểu không,
Ðại không xiển minh pháp tu nội không, ngoại không, nội
ngaọi không v.v…
Cứ
theo đó mà suy thì thế giới quan đệ-nhất-nghĩa của Phật
sẽ trở thành vô-vũ-trụ-luận. Nói một cách thự tế thì
mục đích của chủ trương thuyết không của Phật dĩ nhiên
là chỉ để tiện cho việc tu dưỡng(1), nhưng nếu chuyển
đổi nó thành thế giới quan thì hiển nhiên nó là chủ nghĩa
“nhất thiết không”. Về sau, trong các phái Ðại Thừa,
có phái chủ trương hết thảy chỉ là giả danh, không có
thực thể cũng chính là kết quả đã được suy diễn từ
tư tưởng trên. Ðến như phạm vi bao quát và thành tích hiển
trứ nhất của nó thì phải kể đến phái Trung-quán lấy
Bát-Nhã làm trung tâm. Câu danh ngôn “Những pháp do nhân duyên
sinh, ta bảo đó là không” (Nhân duyên sở sinh pháp, ngã tức
thuyết vi không) (2) chẳng qua cũng chỉ được coi như đã
tóm thâu cái tư tưởng trên đây trong Phật giáo nguyên thủy
mà thôi.
(1)
Hai kinh trên toàn đứng trên lập trường tu dưỡng để xiển
minh nghĩa không, đặc biệt lấy đó làm công án để tư duy
thiền định gọi là không tam muội (sunnata sàmadhi) và là
sở trường của Tu Bồ Ðề. Lại gồm với vô tướng, vô
nguyên gọi là ba loại tam muội, rồi hợp với vô thường,
khổ, phi ngã gọi là tứ niệm trụ v.v… như thế đủ thấy
ý nghĩa không của sự tu dưỡng cực kỳ rộng rãi.
(2)
Trung Quán Luận quyển 1: ”Các pháp do nhân duyên sinh, ta bảo
độ tức không không, cũng gọi là giả danh, cũng gọi là
nghĩa Trung Ðạo”.
4-
KHUYNH HƯỚNG HÌNH NHI THƯỢNG HỌC THỰC TẠI LUẬN.
Như
vậy, thế giới quan của Phật tựa hồ như không luận, nhưng
thật có phải chỉ ngừng ở không không? Ðứng trên lập
trường lý luận mà khảo sát thì Phật tuy bảo các pháp do
nhân duyên sinh, xa lìa nhân duyên thì là không như đã được
đoán định trong kinh Ðệ-Nhất-Nghĩa-Không trích dẫn ở trên,
nhưng cái pháp tắc nhân duyên tự thân thì không bảo là không
mà, thay vì; lại nói là pháp tính thường trụ (Dhammatthitata),
pháp tính tự nhiên như thế (Dham-maniyamata), và tả nó đến
cùng cực là vật bất biến bất động như đã trình bày
ở mục Pháp Quan trong thiên thứ nhất. Cái gọi là pháp tính,
đương nhiên, là trỏ cho cái pháp tắc nhất định bất động
trong những cái biến động mà, nếu quan sát nó như nguyên
lý hình-nhi-thượng-học thì nó quán triệt hết thảy mọi
hiện tượng, là căn để của hết thảy hiện tượng và,
như vậy, nó cũng có thể được coi là sự tồn tại lý tưởng
quan niệm bất động, tức là, nếu ngoài những hiện tượng
vật chất là không ra còn nhận có không gian tuyệt đối thì,
cũng thế, ngoài hết thảy hiện tượng hoạt động là không
ra không thể không thừa nhận có cái gọi là pháp tính thường
hằng vậy. Tuy Phật đã không nói rõ hẳn như thế, nhưng
cứ theo ý nghĩa chứa đựng trong nội dung Pháp Quan mà nhận
xét thì người ta thấy rất rõ điều đó. Cho nên, cái mà
Phật bảo là không, rốt cục, chẳng qua cũng trỏ pháp tính
ấy mà thôi. Ở nguyên vị của nó, nó là cái đương thể
bất hoạt động, nhưng dù có chuyển dịch nó sang tư tưởng
tích cực hoạt động mà khảo sát cũng không phải là điều
sai lầm. Nghĩa là, Pháp tính, khi động, tuy là hiện tượng
quan hệ tương đối ở trong phạm vi nhận thức của người
ta, nhưng khi ở nguyên vị tuyệt đối bất động của nó
thì hết thảy hiện tượng tiêu diệt, siêu việt tất cả
nhận thức của con người, do đó mới nói hết thảy là không.
Nhưng hết thảy ở đây không có nghĩa là hư vô: đó là cho
trương lý thuyết về pháp tính. Sau này, lấy Bát-Nhã làm
chỗ chí cực của không không, rồi lại cho nó là chân như
pháp tính để chuyển thành nguyên lý khế cơ tích cực cũng
hoàn toàn do ở điểm trên. (1) Bởi thế, đứng riêng về
phương diện thế giới quan của Phật Giáo Nguyên Thủy mà
nói, ta có thể quả quyết mà không sợ sai lầm rằng, thế
giới quan này cũng đã đi đến khuynh hướng đó.
(1)
Cùng tác giả: Chân Như Quan của Bát-Nhã (Ðại Chính, năm
thứ 8, Tu Dưỡng Tạp Chí).
Bây
giờ lại đứng về mặt thực tế mà nhận xét thì ta thấy
chủ trương không của Phật cũng chỉ là cái công án cho việc
tu luyện tâm thân, mục đích của ý nghĩa không ở phương
diện này là khiến cho người ta xả ly tất cả mọi tướng
cá biệt và tướng biến hóa để chỉ trụ vào cái tâm niệm
bình đẳng vô sai biệt. (1) Nếu đứng về phương diện khái
niêm mà nói thì cái cảnh giới ấy có vẻ như một cảnh
hư vô, nhưng đứng về phương diện người thể nghiệm mà
nói thì chính là sự thoát ly tất cả mọi ràng buộc cá biệt
để trở thành cái đương thể sung thực cực kỳ tự do:
điều này cứ xem những trường hợp thực tế của người
tu hành không quán đã đạt được tối đại dụng lực thì
đủ rõ. Do đó, nếu căn cứ vào sinh hoạt tinh thần của
cảnh giới ấy mà cấu thành thế giới quan, thì về mặt
khái niệm, tuy có thể chỉ bảo đó là rốt ráo không, nhưng,
về mặt ý nghĩa của nó thì quyết không phải nghĩa hư vô
mà là cái thực tại hình-nhi-thượng không thể dùng ngôn
ngữ mà diễn tả được; hay cũng có thể bảo đó là cái
thực tại hình-nhi-thượng-lực đặc hữu; thiết tưởng sự
giải thích tất nhiên phải như thế. Lại nữa, nếu theo thế
giới quan của Phật và các đệ tử của Ngài là lấy cảnh
giới tinh thần làm nền tảng để xây dựng, thì sự suy định
trên đây lại càng được coi là có căn cứ.
Sau
khi đã khảo sát về cả hai phương diện lý luận và thực
tế như thế, ta thấy thế giới quan không của Phật không
phải chỉ ngừng lại ở không mà là đả phá hết tất cả
để tiến đến yếu tố hình nhi thượng thực tại luận:
đó là một sự thật không thể chối cải. Về sau, các nguyên
lý hình nhi thượng trong thế giới quan của Ðại Thừa Giáo
đều đã bắt nguồn và triển khai từ tư tưởng này. Về
vấn đề này, xin xem lại mục Pháp Quan đã trình bày trong
thiên thứ nhất và Niết-Bàn-Quan sẽ được nói đến trong
thiên thứ ba ở dưới thì càng dễ hiểu hơn.
(1)
Trung-Hàm 50, Không Kinh M. 121-122 Snnata.
TVHS