CHƯƠNG
V
LUẬN
VỀ MƯỜI HAI DUYÊN KHỞI
1-
LỜI TỰA
Trở
lên, tôi đã theo nhân duyên luận để nói về bản chất của
hữu tình và những hoạt động tâm lý của nó, do chỗ tạo
nghiệp mà phải lưu chuyển v.v… Tóm lại, tất cả các vấn
đề kể trên, phàm vấn đề nào thuộc về sự-thực-giới,
nhất là về hoạt động của sinh mệnh, tôi đã trình bày
xong về cách quan sát đại cương của đức Phật. Duy nhận
xét từ tổ chức giáo điều của Phật thì tất cả mọi
vấn đề ấy đều bao hàm trong thuyết mười hai nhân duyên,
tức là mười hai nhân duyên được chia thành từng đoạn
một để quan sát. Như tôi đã nói từ đầu, khi biên soạn
cuốn sách này, phương pháp của tôi là lấy vấn đề làm
trung tâm chứ không phải lấy giáo điều và sự chú giải
giáo điều làm chủ yếu, bởi thế, tuy có chia ra từng loại
để trình bày như trên, nhưng, dĩ nhiên, trong khi ấy, vẫn
luôn luôn nghĩ đến sự tổ chức của thuyết mười hai nhân
duyên. Ðến đây, để đúc kết lại, tôi xin trình bày thêm
về mười hai nhân duyên, vì, theo truyền thuyết, khi Phật
sắp thành đạo, trong lúc tư duy, thường nghĩ về thuyết
này. Trong giáo lý Phật giáo, nó đóng vai trò cực trọng yếu,
vả lại cũng rất khó hiểu. Không những chỉ đức Phật
dùng tổ chức mười hai nhân duyên để giải quyết một cách
thống nhất các vấn đề sống, chết, mà ngay các giáo lý
trọng yếu của Ðại Thừa sau này cũng lấy nó làm nền tảng
để khai triển. Người nghiên cứu Phật giáo cần phải hiểu
rõ ý nghĩa tích cực của nó, do đó, tôi lại phải dành riêng
một chương này để thảo luận thêm.
Trước
hết hãy điểm qua về danh mục như sau:
1-
Vô-minh (avijjà). Dựa vào vô minh mà có
2-
Hành (sankhara). Y vào hành mà có
3-
Thức (vinnara). Y vào thức mà có
4-
Danh sắc (namarupa). Dựa vào danh sắc mà có
5-
Lục nhập (salayatana) (cũng gọi là lục-xứ). Y vào lục nhập
mà có
6-
Xúc (phassa). Y vào xúc mà có
7-
Thụ (vedana). Dựa vào thụ mà có
8-
Ái (tanha). Y vào ái mà có
9-
Thủ (upadana). Y vào thủ mà có
10-
Hữu (bhava). Y vào hữu mà có
11-
Sinh (jati). Ý vào sinh mà có
12-
Lão tử (jaramarapa).
Trên
đây là hệ đệ của mười hai duyên khởi. Như sẽ được
trình bày sau, mười hai chi này không biết đã được cấu
thành một cách đầy đủ ngay từ đầu khi Phật mới thành
đạo, hay về sau chỉnh lý dần dần mà thành thì điều đó
vẫn còn cần phải thảo luận. Tóm lại, về hình thức mười
hai chi thì trong các kinh điển từ Luật Bộ Ðại Phẩm (Mahavagga)
cho đến Chi Phẩm (Nidama-Samyutta) Ba-Li-Tương-Ứng-Bộ(1) đại
khái đều nhất trí. Lại nữa, về danh từ duyên khởi (Paticcasamuppada,
skt Pretityasanmutpada) thì, sau này, giữa các vị luận sư của
A-Tỳ-Đạt-Ma tuy có nảy sinh nhiểu thuyết khác nhau, nhưng
về ý nghĩa của nó cho là “duyên hợp mà sinh”(2), tức
là cái pháp tắc quan hệ vật này dựa vào khác mà tồn tại,
thì đại khái cũng đều giống nhau. Vì thập-nhị-nhân-duyên-quan
là dựa vào điều kiện lão-tử, sinh (dựa vào sinh và tính
là duyên thứ 11) mà thuyết minh cái quan hệ y tồn của nó,
và chính do đó mà được mệnh danh là duyên khởi.
2-
DUYÊN KHỞI QUAN ÐƯƠNG THỜI VỚI THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN QUAN
Nếu
đứng về phương diện tự giác của Phật mà nói thì duyên-khởi-quan
này là chân lý chưa từng được ai phát kiến, nhưng nhận
xét về phương diện lịch sử thì nó cũng tương đồng với
các tư tưởng khác.
(1)
Smyutta nikaya No XII, Vol, 11, pp, 1-33
(2)
Ðại-Tỳ-Bà-Sa-Luận quyển 24; Visuddhimagga chap, XVII
Về
bối cảnh tư tưởng, ít ra duyên-khởi-quan này cũng đã dựa
vào những tư tưởng khác một cách gián tiếp để làm tài
liệu tư khảo, về điểm này, cứ tham chiếu tư-tưởng-giới
đương thời thì đủ rõ. Chính ông Warren cũng đã vạch ra
điều đó(1). Cho dù bản thân Phật không muốn thế đi nữa,
nhưng khi thẩm sát cái pháp tắc duyên khởi thì chung cục
không thể không dựa vào nhưng tư tưởng thuộc loại này.
Bây giờ ta hãy thử xem duyên-khởi-quan tương tự được các
phái ứng dụng khoảng trước và sau thời đại Phật như
dưới đây.
Cách
nay đã lâu, vào cuối thời đại Lê-Câu-Vệ-Ðà, có một
bài ca trứ danh (Nasadasija sukta), bài ca tán mỹ về sự sáng
tạo đã mô tả rõ quá trình khai triển của vũ trụ. Theo
đó thì lúc đầu vũ trụ chỉ là một khối mờ mịt, hỗn
độn, trong đo có một hạt giống (abhau-chủng tử), hạt giống
ấy nhờ ở sức chín (tapas-thực lực) mà triển khai thành
dục, rồi do dục mà triển khai thành hiện thực (manas), đó
là sự thành lập của vũ trụ. Như vậy tức là căn cứ vào
thứ tự của sự phát triển tâm lý mà quan sát vũ trụ. Cái
hệ lệ chủng-tử-dục-thức có khác nào hệ lệ vô minh-hành-thức?
(1)
Buddhism in Translation, p. 113
Do
đó, ta có thể thấy đại khái rằng, dù không có quan hệ
trực tiếp nhưng ba chi đầu của duyên-khởi-quan Phật giáo
cũng có quan hệ gián tiếp với loại chủng tử trên đây.
(1)
Trở
xuống đến Áo-Nghĩa-Thư, theo đà phát đạt của tư tưởng
chủ-ý-luận, tư tưởng cho vô minh (avidya; Pali, avijjà) là
nguồn gốc của hiện-thực-giới lúc đó đã rất rõ ràng;
và đối với sự quan sát tâm lý, tư tưởng cho ý dục là
căn bản của hết thảy mọi hoạt động cũng đã dần dần
thành thục. Ðể thích ứng với điểm đó, có rất nhiều
phương pháp thuyết minh gần giống như thuyết duyên khởi
của Phật giáo. Nhất là trong các tác phẩm như Brhadaranyaka
up. 445, có thuyết như sau:
“Con
người do dục(hama) mà thành, y vào dục mà có chí hướng
(kartu), nhờ vào chí hướng mà có nghiệp (karma) y vào nghiệp
mà có quả (phala)”.
Ta
hãy đối chiếu thuyết trên đây với duyên-khởi-quan xem sao.
Cái mà Phật giáo bảo là vô minh thì cũng tương đương như
cái mà thuyết này bảo là dục; hành thì giống như chí hướng,
rồi những hoạt động tâm lý y vào danh sắc trở xuống thì
cũng giống như thuyết trên đây gọi là nghiệp, và sau cùng,
sinh, lão tử có khác nào cái mà thuyết này bảo là quả?
Danh mục tuy có khác, nhưng cái tinh thần khảo sát thì hẳn
là có điểm giống nhau; đó là một sự thật không ai có
thể phủ nhận.
(1)
Ấn-Ðộ-Triết-học-Tôn-Giáo-Sử, trang 188-105
Rồi
lại trở xuống đến thời đại học phái, về vấn đề
nhân sinh đã từng khảo sát nhiều loại nhân quả, và thuyết
có liên quan với duuyên khởi quan của Phật giáo nên chú ý
trước hết là thuyết Nhị-thập-tứ-đế của phái Số-Luận,
tức là hệ lệ tự tính (prekrti) – giác (budahi) – ngã-mạn
(ahankarà) – ngũ-duy (tanmatra) – 11 căn 5 đại vậy. Hệ lệ
này cũng tương tự như duyên-khởi-quan của Phật giáo và
được tất cả các học giả thừa nhận. Khi trình bày
về mối quan hệ giữa Số-Luận và Phật giáo tôi cũng đã
từng nhắc đến sự so sánh của Kern (1) để dẫn chứng.
Ðương nhiên, theo chỗ tôi biết, Số-Luận đã hoàn thành
hệ lệ trên đây chậm hơn thời đại Phật, bởi thế, nếu
cho rằng hệ lệ ấy đã trực tiếp đưa đến duyên-khởi-quan
của Phật giáo thì tôi không thể đồng ý, nhưng nếu thừa
nhận giữa Số-Luận và Phật giáo có sự quan hệ gián tiếp
thì điều đó không còn hồ nghi gì nữa. Lại có điểm nên
chú ý hơn cả cái hệ lệ kể trên là sự ghi chép trong truyện
Phật, bản Hán dịch, kể lại rằng, lúc Phật còn trong thời
kỳ tu hành, ông tiên A-La-La đã nói pháp cho Phật nghe về
nguyên nhân của sinh và già.
(1)
Sáu phái triết học Ấn Ðộ trang 90-91.
Về
điểm này, tôi đã nói qua ở trên, nhưng, vì tính cách trọng
yếu của nó nên ở đây tôi lại phải chép lại, tức đó
là;
Minh
sơ – ngã mạn – si tâm - nhiễm ái – ngũ vi trần khí (ngũ
duy) – ngũ đại (nhục thể) – tham dục sân huệ - sinh lão
tử ưu bi khổ não (1).
nếu
quả thật như thế thì duyên-khởi-quan của Phật rốt cuộc
cũng chỉ là sản vật đã được cải tạo từ giáo thuyết
trên đây mà thôi. Tức vô minh là minh sơ gọi khác đi, hành
là tên khác của ngã mạn, thức là si tâm đã được nhất-ban-hóa,
ái, thủ, là nhiễm ái, hữu tức là ngũ vi trần khí và ngũ
đại và xúc, thụ là tham dục sân huệ. Duy có điều đáng
tiếc, như đã nói ở trên, là không biết có thật tiên A-La-La
đã dùng thuyết này để truyền day cho những người tu hành
ở thời đại Phật không, từ xưa, chưa một sự ghi chép
nào đã có thể chứng minh về điểm này, cho nên người ta
không biết rõ mối liên lạc của nó. Dù sao thì điều đó
cũng cho thấy thuyết này đã từng được lưu hành khoảng
trước hay sau thời đại Phật, và như thế, dĩ nhiên nó cũng
là một tài liệu rất trọng yếu.
(1)
Quá khứ Hiện tại Nhân Quả Kinh, quyển 3, trang 18a.
Bây
giờ hãy thử xem Kỳ-Na-Giáo, cùng thời đại Phật và giao
thiệp nhiều nhất với Phật giáo. Theo chỗ tôi biết, sự
lập thuyết của đạo này tuy không được tề chỉnh như
Phật giáo, nhưng cũng hơi có điểm tương tự. Chẳng hạn
như trong Acaranga sutta 1.3.4. nói.
“Biết
sân thì biết mạn, biết mạn thì biết dối trá, biết dối
trá thì biết tham, biết tham thì biết muốn, biết muốn thì
biết ghét, biết ghét thì biết lừa dối, biết lừa dối
thì biết thức, biết thức thì biết sinh, biết sinh thì biết
tử, biết tử thì biết địa ngục, biết địa ngục thì
biết thú, biết thú thì biết khổ.. cho nên, bậc hiền giả
không thể không tránh xa sân, mạn, dối trá, tham, muốn, ghét,
thức, sinh, tử, địa ngục, thú và khổ”.
Đoạn
văn trên đây thật vô trật tự và tư tưởng cũng rất ấu
trĩ, tuy nhiên, nó cũng có thể được coi là tương đương
với duyên-khởi-quan của Phật giáo.
Cũng
vào khoảng này, còn một loại tự nữa cũng ang áng như duyên
khởi quan của Phật giáo mà người ta cần chú ý, đó là
nhân thế quan của phái Ni-Dạ-Da. Nyaya sutta 1.2 nói:
“Ðời
này khổ đau là vì có sinh (janma); mà sở dĩ có sinh là do
tác nghiệp (pravrti); lấy phiền não (dosa) làm nền tảng, phiền
não lấy vô tri (mityyajnana) làm căn cứ; do đó, nếu con người
muốn thoát khổ thì không thể không diệt trừ vô tri”.
Thứ
tự của đoạn văn trên đây như thế này: vô tri - phiền
não - nghiệp – sinh - khổ (lão tử), lệ số tuy ít nhưng
rất giống với hệ lệ của Phật giáo. Thuyết này của phái
Ni-Dạ-Da được thành lập sau thời Phật, nhưng không thể
vin vào đó mà bảo nó chịu ảnh hưởng của Phật giáo, (1)
và nếu cho nó là một trong những tư tưởng tiên khu của
Phật giáo cũng là sai lầm. Duy có điều là loại tư tưởng
này có lẻ đã được lưu hành giữa các phái, hoặc đã được
các phái thu dụng làm một loại chứng cứ, và, nếu vậy,
nó cũng là một tài liệu cần thiết để tìm biết cái bối
cảnh của duyên khởi quan Phật giáo.
Ngoài
ra, nếu sưu tập thêm thì giữa các phái người ta vẫn còn
thấy nhiều tư tưởng tương tự như tư tưởng duyên khởi
của Phật giáo. Tóm lại, điều đó cho thấy khoảng trước
hay sau thời đại Phật tư tưởng tương tự như thế cũng
đã thịnh hành giữa các phái. Có điều đáng tiếc là chúng
tôi không thể biết rõ duyên khởi quan của Phật giáo lúc
bấy giờ đã chiếm một địa vị lịch sử như thế nào.
Nói khác đi, chúng tôi không thể tìm ra manh mối xem duyên
khởi quan của Phật giáo đã lấy hệ lệ nào làm tài liệu
để thành lập; đó là điều rất đáng tiếc. Mặc dầu Phật
đã đề cao duyên khởi quan, cho rằng trước kia chưa từng
đã có người nào phát minh, nhưng, nếu đứng về phương
diện lịch sử mà nói, thì loại tư tưởng ấy vẫn đã ngấm
ngầm tồn tại, và có thể bảo là đã làm bối cảnh cho
duyên khởi quan của Phật: đó là một sự thật không thể
phủ nhận.
(1)
Sáu Phái Triết Học Ấn Ðộ, trang 499,
Song,
đã vậy thì cái đặc trưng của duyên khởi quan Phật giáo
ở chỗ nào? Thứ nhất, về phương diện hình thức, duyên
khởi quan Phật giáo tề chỉnh hơn cả, vì, trong các duyên
khởi, so với 12 duyên khởi quan của Phật thì tất cả đều
thiếu sót (trong 24 đế quan của Số-Luận có đủ ý nghĩa
duyên khởi quan). Thứ hai, xét về phương diện nội dung thì
đặc trưng của duyên khởi quan Phật giáo là chú trọng đặc
biệt về điều kiện tâm lý, nhất là điều kiện nhận thức,
tức là dựa vào mối quan hệ giữa thức và danh sắc để
nói rõ cái thứ tự phát khởi của những hoạt động tâm
lý lục nhập, xúc, thụ, ái, thủ v.v… là những yếu tố
buộc chặt thế giới (hữu). Trong các duyên khởi luận khác,
người ta chưa từng thấy cái đặc chất đó, và nó cũng
chính là bộ phận trung tâm của 12 nhân duyên vậy; bởi lẽ,
cai hệ lệ vô minh – hành - thức thì từ Vô-Hữu-Ca trở
xuống, trải qua Áo-Nghĩa-Thư cho đến lập trường của Chủ-ý-luận
là cái mà người ta rất dễ phát hiện, cho đến sinh, lão,
tử cũng là những sự thật hiển trứ ai ai cũng có thể thấy
rõ. Còn lấy chủ thể của nhận thức là thức làm điểm
xuất phát, trải qua khách thể nó là danh sắc và điều kiện
nhận thức tâm lý, cho đến kết hợp cá nhân với thế giới
để luận cứu thì đó duy chỉ là đặc trưng của nhân duyên
quan này mà thôi. Cho nên đây là bộ phận mà Phật đã tận
lực thuyết minh và điều đó tưởng cũng không có gì là
lạ cả. Phật tuy lấy nhiều nhân duyên quan làm bối cảnh
nhưng đã tuyên bố đó là do trí-vô-sư-tự-ngộ của ngài
phát kiến, và chưa từng có người đã biết đến trước
ngài, chính cũng là ở điểm này. Nhưng, như sẽ trình bày
sau, trong các kinh điển thường thường bỏ bớt hai hệ lệ
vô minh và hành, mà chỉ lấy mối quan hệ giữa thức và danh
sắc để thuyết minh cái căn bản của duyên khởi đại khái
là bộ phận chủ yếu do Phật phát minh.
3-
SỐ MỤC CỦA CÁC CHI DUYÊN KHỞI
Chiếu
theo kinh điển, như đã trình bày ở trên, trong Ðại Phẩm
của Luật và trong Chi Phẩm của Tương Ứng Bộ đều thấy
là 12, nhưng những thành phần quan trọng và nguyên thủy nhất
thì lại không được đầy đủ. Chẳng hạn kinh Ðại Duyên
trong Trường Bộ (D.19. Mahanidàna sutta), có thể gần được
coi là đại biều cho những kinh điển thuyết minh về duyên
khởi tường tế nhất, nhưng trong đó, nếu phán đoán theo
văn Ba-Li không có vô minh và hành, và lục nhập cũng được
thu nhiếp vào thụ và xúc, về mặt biểu hiện, tổng cộng
chỉ có chín chi mà thôi. Lại nữa, Trường Bộ Ðại Bản
Kinh (D. 14. Mahàpadana II. P. 31) khi nói về nhân duyên chứng
ngộ của Phật Tỳ-Bà-Thi (Vipassi Buddha), trong đó, cũng phán
đoán theo văn Ba-Li, vẫn thiếu vô minh và hành và tổng số
chỉ có 10 chi. Duy trong bản Hán dịch thì ta thấy cả hai kinh
đều là 12 chi, có lẽ hai chi sau này mới được thêm vào
chứ không phải là nguyên hình như được truyền từ xưa.
Do đó, mới thành vấn đề là sự quan hệ giữa 10 chi và
12 chi vậy. Về sau, vấn đề này trở thành vấn đề giáo
tướng và giữa các luận sư của A-Tỳ-Ðạt-Ma đã phát sinh
nhiều nghị luận, (1) nhưng, theo chỗ tôi biết, vấn đề
trước mắt là phải đoán định cái quá trình lịch sử thành
lập, tức là thuyết 12 chi đã hoàn bị ngay từ đầu rồi
sau chỉnh lý mà thành 12? Nếu thế thì cái quá trình đó ra
sao? Về vấn đề này đã có một sử liệu rất trọng yếu
mà cả Hán dịch lẫn Ba-li đều nhất trí và cần phải được
chú ý đặc biệt, đó là tài liệu được ghi trong một kinh
của Tạp-A-Hàm.
(1)
Ðại tỳ bà sa luận quyển 24; Diệu Âm, Ðại Ðức v.v…
đều đã bày tỏ ý kiến về vấn đề này, Vạn Bản, trang
100
Nếu
phải dịch hết thì hơi phiền tỏa, cho nên, ở đây tôi chỉ
phiên dịch một bộ phận trọng yếu trong văn Ba-li như sau:
“Các
Tỳ-Khưu! Xưa kia, khi ta còn là Bồ Tát, chưa thành chính giác,
ta tự nghĩ: cõi đời này thật do những nỗi lo khổ (kiccha)
ràng buộc; sinh, già, chết, để rồi lại sinh ra, và vẫn
chưa biết thoát ly cái khổ của già, chết thì làm sao biết
được cái khổ của già, chết để thoát ly? Lúc đó ta tự
hỏi: nhờ đâu có già chết?
Bấy
giờ, nhờ sự tư duy chính đáng (Yon so manasikà-ra) mà ta phát
trí hiểu biết đích thực (abhisamaya) như vầy: nhờ có sinh
mà có già, chết, do sinh làm duyên mà có già, chết.
Lúc
đó ta lại tự nghĩ; nhờ đâu mà có sinh, có hữu, có ái,
có thụ, có xúc, có lục nhập, có danh sắc, cho đến đâu
mà có danh sắc?
Bấy
giờ nhờ sự tư duy chính đáng mà ta phát trí hiểu biết
đích thực nhhư vầy; do có thức mà có danh sắc, nhờ thức
làm duyên mà có danh sắc.
Rồi
ta lại tự hỏi; do đâu mà có thức, lấy gì làm duyên mà
có thức?
Bấy
giờ ta tự nghĩa, thức này là vật có thể trở lại, lên
trên danh sắc, chỉ nhờ vào đó (chúng sinh) có già, sinh, chết,
và tái sinh, tức lấy danh sắc làm duyên mà có thức, lấy
thức làm duyên mà có danh sắc, lấy danh sắc làm duyên mà
có lục nhập, lấy lục nhập làm duyên mà có xúc, v.v… như
vậy thuần là nguyên nhân của khổ uẩn.
Lớn
thay những nguyên nhân ấy! Thế là, với ta, chưa từng nghe
pháp ấy mà sinh mắt, sinh trí, sinh tuệ, sinh sáng, sinh ánh
sáng.
Bây
giờ ta lại tự nghĩ, làm thế nào không có già, chết? Cái
gì diệt thì già, chết diệt?
Rồi
nhờ sự tư duy chính đáng mà ta phát trí hiểu biết đích
thực như vầy, không sinh thì không già, chết, sinh diệt thì
già, chết diệt.
Lúc
đó ta lại tự nghĩ, làm thế nào có được không sinh, không
hữu, không thủ, không ái, không thụ, không xúc, không lục
nhập, không danh sắc, cho đến cái gì diệt thì danh sắc diệt?
Rồi
nhờ sự tư duy chính đáng mà ta phát trí hiểu biết đích
thực như vầy: không có thức thì không có danh sắc, thức
diệt thì danh sắc diệt.
Bấy
giờ ta lại tự nghĩ, làm thế nào để không có thức? Cái
gì diệt thì thức diệt?
Rồi
nhờ sự tư duy chính đáng mà ta phát trí hiểu biết đích
thực như vầy: không có danh sắc thì không có thức, danh sắc
diệt thì thức diệt.
Lúc
đó ta lại tự nghĩ, cái đạo mà ta vừa ngộ có thể đạt
được, tức là, danh sắc diệt thì thức diệt, thức diệt
thì danh sắc diệt, do danh sắc diệt mà lục nhập diệt, lục
nhập diệt thì xúc diệt, cho đến … như vậy là thuần diệt
những khổ uẩn.
Lớn
thay sự tiêu diệt ấy! thế là, với ta, chưa từng nghe pháp
ấy mà sinh mắt, sinh trí, sinh tuệ, sinh sáng, sinh ánh sáng.
Ðiều này cũng giống như một người ta đang tha thẩn trong
cánh đồng hoang bỗng phát hiện con đường mòn của người
xưa đã đi và cứ theo lối mòn ấy mà thấy được làng mạc
và thành quách của người xưa với vường, sân, rừng cây,
ao sen và tường hoa v.v… (1)
Toàn
bộ đoạn văn trên đây là diễn tả quá trình phát kiến
duyên khởi đầu tiên nhờ đó mà thấy được nguyên nhân
của sinh tử và phương pháp giải thoát sinh tử. Ở đây,
ý nói nhờ vào pháp của chư Phật trước mà thành chính giác,
nhưng thật thì cũng có thể bảo đó là xiển minh sự tự
giác của Phật và cái quá trình thành lập duyên khởi quan.
Ðây là một tài liệu rất quý báu. Song, vấn đề trước
mắt mà ta cần phải chú ý là: trong 12 nhân duyên lấy sự
quan hệ hỗ tương giữa thức và danh sắc làm cuối cùng,
từ đó về sau không thể tiến lên nữa. Tức câu “thức
này là vật trở lại, vượt trên danh sắc mà không tiến
tới” (paccudavattati kho idhm vinnanam namarupamhà naparamgacchati)
nên được giải thích như thế nào Nó có nghĩa sẽ cò tiến
tới nhưng ngừng lại, hay sẽ không còn tiến nữa mà ngừng
lại? nếu bảo chỉ dựa vàoo đó (etàvata) mà có sinh, tử
thì không cần phải thêm hai chi vô minh và hành vào để khảo
sát. Song, để giải quyết vấn đề sinh, tử tất phải có
sự tự giác đầy đủ. Cứ theo sự phân tích ấy thì thuyết
10 chi trong kinh Ðại Duyên và kinh Ðại Bản trực tiếp là
thuyết trình bày sự khảo sát đầu tiên của Phật chứ không
phải là thuyết 12 chi được tỉnh lược đi.
(1)
Số-Luận, 11, pp 101-106; Tạp 12, Cáp bản, trang 546.
Tuy
nhiên, nếu cho vô minh và hành là do đời sau thêm thắt vào
thì cũng lại không đúng. Cũng như Ðại Bản kinh, kinh Tỳ-Bà-Thi
trong Tương-Ứng-Bộ (Vipassi sutta)(1) như đã trích dẫn ở
trên, khi nó về duyên-khởi-quan của Phật Tỳ-Bà-Thi, có đề
cập đến duyên-khởi-quan của Bồ-Tát-Thích-Ca (1) mà trong
văn Bà-La-Môn-li hiển nhiên đã là 12 chi. Bởi thế, nếu nhìn
ở một phương diện thuyết pháp khác mà nói thì Phật cho
vô minh là nguồn gốc của hết thảy hữu tình, như vậy,
trong những thuyết giáo được coi là xưa nhất cũng đã có
vô minh rồi. Cũng thế, như đã trình bày ở trên, chính Phật
cũng đã đứng trên lập trường đệ-nhất-nghĩa mà chủ
trương hành là yếu tố hoạt động căn bản của hữu tình.
(1)
S, 11, pp. 5-7; p, 10-11
Do
đó, cho dù vô minh và hành có được đời sau thêm thắt vào
cái hệ lệ của duyên khởi nguyên thủy đi nữa thì cũng
rất phù hợp với tinh thần của Phật, huống chi, điều này,
khảo sát trong các kinh điển, lại do chính đức Phật đã
lấy vô minh làm khởi điểm mà thuyết minh duyên khởi quan,
vậy mà bảo do đời sau thêm thắt vào há chẳng là đoán
định một cách hấp tấp sao? Chẳng hạn như trong Trung-Bộ
38, văn Ba-li (Mahàtanhasankhaya sutta) Trung Hàm 54, Trà Ðế Kinh),
Phật đã quở trách Tỷ Khưu Trà-Ðế cho thức là chủ thể
của luân hồi mà bảo thức cũng do nhân duyên sinh. Nhưng Phật
hay dùng thuyết Tứ Thực để nói rõ về tổ chức của hữu
và, để nêu lý do thực do nhân duyên sinh, cũng nói theo thứ
tự vô minh – hành - thức – danh sắc - lục nhập – xúc
- thụ - ái - tứ thực (hữu). Ở đây ta cần chú ý là không
phải kinh này muốn nói về duyên khởi đã được A-Tỳ-Ðạt-Ma
chỉnh lý, và phương pháp lập chi của nó cũng không hẳn
đầy đủ như thông lệ mà bỏ hữu đi rồi thay vào đó bằng
tứ thực. Nhưng trong đó, vô minh và hành đã được kể vào
hệ lệ duyên khởi rồi, bởi thế, nếu đứng trên lập trường
duyên khởi tự thân mà nói, thì có lẻ khi thuyết pháp Phật
đã sơ lược vô minh và hành, nhưng sau đó đã được bổ
khuyết, và vô minh và hành đã chẳng phải là kết quả được
thêm vào do sự chỉnh lý của A-Tỳ-Ðạt-Ma sau này. Ðây há
không phải là một minh chứng cụ thể sao? Tóm lại, cho dù
duyên khởi quan nguyên thủy có thiếu vô minh và hành đi nữa,
nhưng, nếu bảo do đời sau thêm vào thì cái lý do đó cũng
khó đứng vững.
Nhưng,
như vậy thì cái ý nghĩa của nó ở chỗ nào? Duyên khởi
quan là thế giới quan (hay đúng hơn là nhân sinh quan) căn bản
của đức Phật, và nó đã được chia xẻ ra thành nhiều
tiết mục. Nếu khảo sát một cách chặt chẽ về quan hệ
của nó thì ban đầu hình như nó chưa được xác định, nghĩa
là, mối quan hệ trung tâm của nó dĩ nhiên là thức và danh
sắc, nhưng từ đó, tất cả hoạt động tâm lý lấy nó làm
cơ sở mà cũng tiến tới hữu thì, trong sự tư duy ban đầu
của Phật, chưa hẳn đã là con số xác định mười chi hay
mười hai chi. Ðó là lý do cắt nghĩa tại sao trong các kinh
văn lại có những nhân duyên quan dài, ngắn khác nhau vậy.
Chẳng hạn luận Ðại-Tỳ-Bà-Sa đã dùng nhiều hình thức
như thuyết Một duyên khởi (hết thảy pháp hữu vi), thuyết
Hai duyên khởi (nhân và quả), thuyết Ba duyên khởi (hoặc,
nghiệp, sự), thuyết Bốn duyên khởi (vô minh, hành, sinh, lão,
tử) cho đến mười hai duyên khởi v.v… để thuyêt minh duyên
khởi quan. (1) Giả sử đây không phải là chủ trương ban
đầu về số mục thì nó cũng có thể được thêm hoặc bớt
tùy theo sự tiện lợi của việc quan sát. Nếu đứng trên
lập trường nào đó mà nhận xét, thì lấy số mục ấy làm
nền tảng để bao quát toàn thể cũng là một phương pháp
cần thiết. Hãy thử nhận xét kinh văn đã trích dẫn ở trên,
Phật chủ trương tiến tới quan hệ giữa thức và danh sắc
và đó là mối quan hệ do chính đức Phật phát minh; vì thời
bấy giờ Phật chuyên quan sát những hoạt động hiện thực
của thân va tâm để xiển minh những hoạt động hiện thực
vốn là điều kiện căn bản để thành lập hình thức. Trên
hình thức, trước hết cần phải như thế mới có được
một sự kết thúc, bởi vì, mối quan hệ giữa thức và danh
sắc là mối quan hệ giữa chủ quan và khách quan; có chủ
quan nên có khách quan, có khách quan nên có chủ quan, nếu bảo
dựa vào sự kết hợp của cả hai mà có sự kết hợp thì
trước hết nhận thức luận phải được hoàn thành: đó
là lập trường của Khang-Ðức. Tuy nhiên, như đã trình bày
ở trên, lập trường của Phật cũng phảng phất cái phong
thái của Ước-biên-hà-ngạch-nho, cho nên bảo ý chí vô minh
là căn cứ của thức thì thật ra đó chỉ là thức chủ thể,
nhưng thế cũng không thể giải quyết được tất cả. Ðứng
về phương diện diệt-quan mà nói thì tuy cho rằng do thức
diệt mà danh sắc diệt, nhưng nếu ngược lại mà nói thì
tại sao thức không thể diệt được? Bởi vì từ căn để
của thức này đã có nghiệp phiền não từ vô thủy và đó
chính là vô minh và nghiệp cho nên không thể không là căn
cứ tất nhiên của duyên khởi quan. Do đó, sự khảo sát đầu
tiên của Phật bảo “thức trở về” đó là theo lập trường
bình diện, nếu đổi thành lập trường lập thể mà quan
sát thì chắc đã nghĩ đến vô minh và nghiệp và cho đó là
căn để của thức. Giải thích như thế thiết tưởng rất
xác đáng. Vả lại, như đã trình bày ỏ trên, cái hệ lệ
vô minh – hành - thức đã bắt đầu từ sáng-tạo-ca trong
Lê-câu-vệ-đà trở đi, như vậy, hình thức duyên khởi quan,
nhận xét về quan hệ bối cảnh của tư tưởng, cũng không
thể được coi như không dính líu gì đến cái hệ lệ ấy.
(1)
Ðại-Tỳ-Bà-Sa quyển 24, Vạn Bản, trang 98.
Cứ
theo chỗ tôi thấy, nếu bảo duyên khởi chỉ ngay từ đầu
đã là mười hai thì dĩ nhiên là một kiến giải sai lẩm;
song, đồng thời, nếu cho vô minh và hành là do đời sau thêm
vào thì cũng lại sai lầm nốt. Vậy sự thật như thế nào?
Có lẽ Phật đã dự dùng nhiều phương pháp để thuyết minh
duyên khởi quan mà ngài đã thể chứng dưới gốc cây Bồ-Ðề,
trong đó đã dự tưởng thành lập những phân chi của nó,
rồi về sau, khi các giáo điều dần dần được cố định
hóa thì duyên khởi quan cũng được xác định là mười hai.
Vì, cứ suy từ sự chế định luật và cái thái độ biến
đổi thì, đối với giáo điều, Phật cũng nhận là có sự
tiếp tục chỉnh lý và tăng bổ. Nhưng, từ đó trở đi, các
vị đại đệ tử, nhất là các vị có khuynh hướng A-Tỳ-Ðạt-Ma
như Xá-Lợi-Phất, Mục-Kiền-Liên và Câu-Hi-La v.v… dĩ nhiên
là đã tổ chức và nghiên cứu nó một cách rộng rãi. Trong
luận Ðại-Tỳ-Bà-Sa có chép:
“Ðại
Ðức nói, do chỗ quan sát về duyên khởi có mười hai chi
tính khác nhau mà Xá-Lợi-Tử thành A-La-Hán” (1)
Tôi
không được rõ do đâu mà Ðại Ðức (Pháp Cứu?) đoán định
như thế? Tuy nhiên, nó đã cho ta thấy được cái học phong
của Xá-Lợi-Phất như thế nào rồi. Như vậy ta có thể cho
rằng mười hai chi đã do Xá-Lợi-Phất kiến lập và củng
cố và Phật có thể đã chấp nhận. Nhưng đây chỉ là một
thiển kiến mà tôi đề ra để gợi ý cho việc tham khảo
thôi.
4-
PHƯƠNG PHÁP GIẢI THÍCH THÔNG THƯỜNG VỀ MƯỜI HAI DUYÊN KHỞI.
“Cái
này có thì cái kia có,
Cái
này sinh thì cái kia sinh,
Cái
này không thì cái kia không,
Cái
này diệt thì cái kia diệt”.
(1)
Luận Ðại-Tỳ-Sa, quyển 99, trang 416.
Đó
là định nghĩa của duyên khởi. Mười hai nhân duyên chính
là quan sát vấn đề lão tử để nói rõ cái điều kiện
thành lập của nó. Tuy vậy, điều chúng ta cần chú ý trước
hết là: Khi giải thích, nếu cho mười hai nhân duyên một
ý nghĩa nhất định, khong di dịch, thì điều đó không những
sẽ cực khó hiểu mà còn rất lờ mờ nữa. Bởi vì khi trình
bày về thuyết này, Phật chỉ mới nói một cách đại khái
chứ chưa đi sâu vào chi tiết, cho nên, cũng là mười hai nhân
duyên quan, nhưng tùy theo những lập trường khác nhau mà đã
phát sinh những phương pháp quan sát bất đồng, đó cũng là
lẽ tự nhiên. Bởi thế, nếu quan sát qua ba đời (tam thế),
quy luật liên tục của các hiện tượng, hay những hoạt động
của thân, tâm người ta trong một tích tắc thì trong đó cũng
đã có sự vận hành của pháp tắc mười hai nhân duyên rồi,
đó là lý rất hiển nhiên. Như vậy thì quả thật khó mà
có được một giải nghĩa nhất định. Do đó, về sau, Hữu-Bộ-Tôn
đứng trên bốn lập trường mà chia duyên khởi quan thành
sát-na (trong một tích tắc có đủ quan hệ của mười hai
nhân duyên), liên tục (quan hệ trước, sau nối nhau), phận
vị (phô bày cái pháp tắc của ba đời) và viễn tục (phô
bày cái quy định và vô hạn) để quan sát, và có thể nói,
cái quan sát ấy rất đúng đắng. Ở đây, dĩ nhiên, tôi không
căn cứ theo sự giải thích đó, nhưng, ít nhất, cũng phải
theo hai hay ba lập trường để quan sát và giải thích.
Ở
đây tôi sẽ dựa trên sư sai khác giữa vãng quan và hoàn quan
để nghiên cứu và giải thích duyên khởi. Vãng quan tức là
sự quan sát xem lão tử bắt đầu từ đâu, rồi lão tử đến
sinh, từ sinh đến hữu và cứ thế lần lượt đến vô minh.
Còn hoàn quan là sự quan sát lấy vô minh là khởi điểm rồi
quy kết đến đâu mà có lão tử. Bởi thế, nói theo nguyên
tắc thì vãng quan và hoàn quan cố nhiên phải nhất trí; nhưng
đứng ở một phương diện khác mà nói thì do sự bất đồng
giữa vãng quan và hoàn quan, lập trường của nó hơi khác
nên sự giải thích cũng có khác. Vì vãng quan lấy sự thực
phú bẩm làm khởi điểm để tìm ra những điều kiện y tồn,
quan hệ ấy rộng rãi; còn hoàn quan thì thứ tự phát sinh
cũng như thứ tự luận lý đều biến đổi, không thể dùng
qui định đồng nhất của vãng quan để thuyết minh nó. Do
đó, nói theo tinh thần Phật Giáo Nguyên Thủy thì trong hai
cái đó, vãng quan được coi là trọng yếu, còn hoàn quan chẳng
qua là chỗ quy túc của luận lý mà thôi: điều này cứ xem
các phương pháp thuyết minh duyên khởi trong các kinh thì đủ
rõ. Duy bản thân Phật thì đã đứng về cả hai phương diện
nào cũng đều được cả. Như vậy, dĩ nhiên, nghiên cứu
và khảo sát theo hướng nào cũng đều thỏa đáng, nhất là
về phương diện hoàn quan cho đến phát sinh, tức cách xử
lý về phận vị, thì đã trở thành đại biểu cho luật nhân
quả của Phật giáo, về điểm này, ta cần phải biết rõ
về chân tướng của nó.
Để
tiện cho việc giải thích, ở đây tôi sẽ quan sát theo ba
lập trường. Thứ nhất, theo lập trường vãng quan nguyên
thủy; Thứ hai dựa vào lập trường vãng quan để giải thích
hoàn quan; và thứ ba, quan sát chúng theo lập trường phân đoạn
qua tam thế (ba đời).
5-
GIẢI THÍCH THEO LẬP TRƯỜNG VÃNG QUAN.
Khi
đứng trên lập trường vãng quan đã giải thích thì tài liệu
có thể làm căn cứ là kinh Ðại Duyên trong Trường Bộ (Mahanidana
sutta). Bộ kinh này là Phật giảng giải rõ cho A-Nan về vô
ngã luận, do đó mà đã đi đến thứ tự duyên khởi. Và
như đã nói ở trên, trong văn Ba-Li thiếu mất hai chi vô minh
và hành, đặt lục nhập sau xúc, nhưng trong bản Hán dịch
thì đầy đủ hết, và thuyết minh cũng khá cặn kẽ. Ở đây
tôi sẽ chỉ căn cứ theo đó để trình bày về sự quan hệ
hỗ tương của mười hai chi, và nhiệm vụ của mỗi chi.
1-
LÃO TỬ (Jara marana).
Già,
chế, lo, thương, buồn khổ là vận mệnh không thể tránh
khỏi của kiếp người, như do đâu mà có những cái đó?
Ðây chính là khởi điểm của sự quan sát vậy.
2-
SINH (Jati).
Người
ta có già chết buồn lo chẳng qua vì người ta có sinh ra, nếu
không có sinh thì làm gì có những nổi buồn khổ lo âu, như
thế,
sinh là điều kiện của lão tử.
Nhưng,
tại sao người ta sinh ra? Ðó chính là đầu mối của sự
quan sát về duyên khởi. Những điều kiện khiến cho con người
sinh ra tuy có nhiều, nhưng, theo Phật, cái điều kiện trọng
yếu hơn hết là:
3-
HỮU (Bhava)
Nói
về phương duện trừu tượng thì đó tức là sự tồn tại,
và, dĩ nhiên, nếu không có sự tồn tại thì cũng không sinh.
Lại đứng về phương diện cụ thể mà nói thì, theo Phật,
vì có sinh nên có y báo (khí giới), chính báo (hữu tình) trong
ba cõi là Dục giới (Kamobhava), Sắc giới (rupabhava) và Vô
sắc giới (arupabhava) v.v… Ðó là lý do cắt nghĩa tại sao
người ta sinh ra và đặt hữu vào hàng thứ ba.
Song,
tại sao ba cõi đó lại là cảnh giới của người ta? Là vì
tại con người ham đắm chấp trước mà có.
4-
THỦ (rupadàna).
Thủ
có nghĩa là tìm cầu và giữ chặt lấy. Trong kinh chia ra bốn
loại là dục thủ, kiến thủ, giới thủ, và ngã thủ. Tóm
lại là cái ý chí đối với tự ngã, lấy chấp trước làm
nền tảng, để tìm cách thỏa mãn mọi dục vọng. Nghĩa là,
vì có sự chấp trước ấy mà con người mới phải rơi vào
các cảnh giới trong ba cõi; nếu không có sự chấp trước
đó thì dù ba cõi đó là sự tồn tại vật lý đi nữa cũng
không thể là thế giới của con người (Die Welf-fur-uns), điều
này đủ nói lên cái quan hệ mật thiết giữa Hữu và Thủ
vậy. Tuy nhiên, chấp trước cũng có khởi nguyên của nó và
đó chính là:
5-
ÁI (tànha).
Ái
ở đây tức là dục ái, khi Phật nói về pháp Tứ Ðế, thì
gọi nó là tập đế tức nguồn gốc của thế giới hiện
thực. Như đã nói ở trên, lấy sinh-tồn-dục (bhava tànha
= hữu dục) làm trung tâm, rồi phát ra hai phương diện tính
dục (kamatànha) và phồn-vinh-dục (vibhavàtànha): đó chính
là cái sức căn bản của hoạt động sinh mệnh vậy. Ðến
đây theo kiến địa của thể hệ Chủ-ý-luận thì duyên-khởi-quan
của đức Phật đã đến một giai đoạn hoàn kết. Tại sao?
Bởi vì nguồn gốc của dục tự thân không thể bắt đầu
ngoài cái sinh-mệnh-dục muốn sống, tức con người do có
dục hữu sinh nên mới có chấp thủ, do chấp thủ mà có sinh
tồn (Hữu), do sinh tồn mà có sinh, do có sinh nên mới có lão
tử; đó chính là cái tinh thần của hai đế Khổ và
Tập trong pháp Tứ Ðế. Mà duyên-khởi-quan thì không ngoài
việc giải thích hai đế trên, cho nên, có thể nói, năm chi
trên đây đã thuyết minh rõ mối quan hệ giữa Khổ và Tập
rồi.
Tuy
nhiên, nếu lại tiến lên mà khảo sát dục như hiện tượng
tức nếu coi nó là một hiện tượng trong những hoạt động
tâm lý, nghĩa là một trong những hoạt động ý thức, thì
sự phát sinh của dục này vẫn có thể được coi là điều
kiện của những tâm lý khác. Ðể hiểu rõ điểm này, ta
hãy quan sát những yếu tố sau đây:
6-
THỤ (vedana)
7-
XÚC (phassa)
8-
LỤC NHẬP (salayatana)
Cái
gọi là ái và dục, nếu khảo sát sâu hơn chút nữa thì tuy
là nguồn gốc trọng yếu nhất trong những hoạt động sinh
mệnh, song, nếu chỉ coi chúng là một loại hoạt động tâm
lý thì chẳng qua chúng cũng chỉ là một trong những tình cảm
đặc thù mà thôi. Biết được điều đó rồi, ta cần xét
đến cái bối cảnh thành lập của ái là tình cảm nhất
ban, tức là cần phải có cảm tình mới thành lập được
ái, cho nên phải có một chi về cảm tình, tức là Thụ. Tuy
nhiên, như phật nói, cảm tình cũng là một vật không thể
tự thân phát khởi, mà nó phải nhờ vào phản ứng của sự
yêu, ghét khích thích mới phát sinh, cho nên sự thành lập
cảm tình lại cần phải có cảm giác, nghĩa là cảm tình
phải dựa vào cảm giác, cho nên Xúc được đặt vào hàng
thứ bảy. Nhưng cảm giác này lại phải nhờ có những cơ
quan cảm giác mới phát sinh được, bởi thế mới đặt Lục
nhập hay Lục căn vào hàng thứ tám.
Ba
chi Thụ, Xúc, Lục nhập trên đây phải tìm những điều lệ
tâm lý trong sự hoạt động của chi thứ năm là Dục rồi
từ đó mới tiến đến các cơ quan nhận thức của cảm giác.
Bởi thế, đứng về phương diện kinh-nghiệm-luận mà nói,
cái thể hệ duyên khởi lấy dục làm điều kiện, ít ra,
cũng có thể được coi là một đoạn kết cục. Tại sao?
Vì trong quá trình tâm lý, bắt đầu từ cơ quan cảm giác
cho đến hoạt động của dục tâm, đã có những điều kiện
như trên.
Nhưng
vấn đề được đặt ra là lục căn dựa vào đâu để tồn
tại? Muốn giải đáp được vấn đề này lại phải tiến
lên bước nữa mà khảo sát, đó tức là:
9-
DANH SẮC (namarupa).
Như
đã trình bày trong Hữu-tình-luận ở trên, danh sắc bao gồm
câu thân sắc danh tâm, nghĩa là tổ chức do thân, tâm hợp
lại mà thành, do đó, mối quan hệ giữa Lục nhập và danh
sắc, sự thành lập lục căn cần phải y tồn nơi toàn thể
tổ chức thân và tâm, nếu không thì lục căn không thể được
thành lập.
Song,
danh sắc lại dựa vào đâu để tồn tại? Danh sắc tuy là
toàn thể tổ chức của sinh mệnh, nhưng chủ yếu cũng chỉ
là một phức-hợp-thể-hữu-cơ của Ngũ uẩn, phải lấy ngũ
uẩn làm nguyên lý cho tổ chức thể, do đó, trên lập trường
nhận-thức-luận, Phật đã đặt nhận thức chủ quan thành
một chi độc lập với danh sắc, tức là:
10-
THỨC (vinnana) vậy.
Thức
tuy vốn là một bộ phận trong danh sắc, nhưng nếu coi danh
sắc như nhận-thức-thể, thì thức trở thành vật trung tâm,
cho nên, sự thành lập toàn thể danh sắc tức nhiên sẽ phải
dựa vào nó. Cũng như một gia đình bao gồm vợ chồng, con
cái, nhưng trong đó phải có một chủ nhà làm tường cột.
Nói cách khác, điều kiện thành lập thức là phải dựa vào
danh sắc khách quan, nếu không danh sắc khách quan thì thức
tuyệt đối không thể đứng một cách độc lập được.
Ðây chính là điểm mà Tỳ-khưu Trà-Ðế đã chủ trương
cho rằng thức và chủ thể của luân hồi và đã bị Phật
quở trách nặng nề. Ðây cũng lại chính là điểm mà như
đã trích dẫn ở trên, Phật cho quan hệ giữa thức và danh
sắc cũng như những bó lau nương tựa vào nhau vậy. Và, như
đã dẫn dụng Tương-Ứng-Bộ, ở tiết thứ ba trong chương
này, Phật đã không tiến xa hơn cái mối quan hệ hỗ tương
giữa thức và danh sắc cũng lại hoàn toàn do ở lập trường
nhận thức luận này; có thể nói, Phật đã thuyết minh một
cách cực kỳ sáng suốt và cao tột.
Như
đã trình bày ở trên, nếu chỉ lấy sự quan sát những điều
kiện hoạt động hiện thực của người ta làm mục đích
thì chỉ mười chi trên đây cũng đã hoàn thành được duyên-khởi-quan
một cách đại cương. Tại sao? Vì lấy lão tử phú bẩm làm
mệnh đề rồi cứ theo những điều kiện tất nhiên của
nó mà tiến tới thì sẽ đạt đến nhận-thức-luận rất
căn bản, bởi va cho nên từ kinh Ðại-Duyên đến các kinh
khác đều chỉ thành lập có mười chi thôi.
Nhưng,
nếu chỉ khảo sát một cách tỉ mỉ, thì đây chẳng qua mới
chỉ là một thuyết minh về hiện thực, không những nó chưa
cắt nghĩa được cái lý do tại sao sự sống chết lại vô
cùng, mà ngay cả đến nhận thức về bản chất của sinh
mệnh, nghĩa là ý chí, theo tinh thần, căn bản của đức Phật,
nó cũng không thể biểu hiện được do đó, nguồn gốc của
thức cần được nói rõ, tức là:
11-
HÀNH (sankàra) và,
12-
VÔ MINH (avijja) vậy.
Dựa
vào đâu mà thức có được những hoạt động nhận thức?
Ðiều này tất phải có nguồn gốc của nó là ý chí, Thức
rốt ráo chỉ là cơ quan thực hiện những mục đích của
ý chí (hành). Ðứng về mặt biểu diện mà nói thì hành là
nguyên động-lực thúc đẩy những hoạt động thân, khẩu,
ý, còn về mặt nội tại thì nó chỉ là nghiệp, tức tính
cách ý chí. Như thế truy tầm đến điểm tựa căn bản cuối
cùng của ý chí thì đó là vô minh, tức hoạt động sinh mệnh
của con người là do ý chí mà quáng từ vô thủy mà có và
cứ dựa vào nguồn gốc ấy mà tiếp diễn không cùng. Nếu
kết thúc lại thì đây là điểm tối chung của duyên-khởi
(về ý nghĩa vô minh, xem lại sinh mệnh lận ở trên).
Trở
lên, tôi đã lấy các kinh làm nền tảng để tìm tòi ý nghĩa
và thêm phần giải thích về mười hai duyên-khởi; đến đây,
điểm cần chú ý trước nhất là: thứ tự của mười hai
chi kể trên, nếu đi ngược lên cái quan hệ tiến hành liên
tục của chúng, ta có thể chia nhỏ ra thành năm hệ. Bây giờ
thử chiếu theo sự thuyết minh ở trên đồ biểu như sau:
(1)
Lão tử - Sinh - Hữu
(2)
Hữu - Thủ - Ái
(3)
Ái - Thụ - Xúc - Lục nhập – Danh sắc
(4)
Danh sắc - Thức
(5)
Thức – Hành – Vô minh.
Hệ
thứ nhất chuyên quan sát những sự thực và vận mệnh phú
bẩm, tức trình bày về thân phận nhất định đã có được
(hữu), rồi lần lượt cho đến quan hệ sự thực của lão
tử. Hệ thứ hai, từ lập trường chủ-ý-luận khảo sát
đến sự kinh quá đạt được thân phận nhất định. Hệ
thứ ba, xiển minh sự phát động của căn bản dục và quá
trình tâm lý. Hệ thứ tư, đứng trên lập trường nhận thức
luận để nói rõ tổ chức của thân tâm và nguồn gốc của
hoạt động. Hệ thứ năm, thuyết minh căn nguyên của sinh
mệnh đạt đến phát động nhận thức. Nói một cách dễ
hiểu hơn, phương pháp khảo sát của mười hai nhân duyên
trên đây chủ yếu lấy ý dục căn bản là vô minh làm cơ
sở để nói rõ từ quan hệ nhận thức giữa thức và danh
sắc đến quá trình phát sinh tâm lý của ái, rồi đúc kết
ở cái kết uả dục sáng tạo là hữu. Do đó, điểm thứ
hai ta cần chú ý là sự khảo sát về mười hai nhân duyên
không cần phải dõi theo thứ tự thời gian, bở lẽ phần
lớn đã nói sự quan hệ y tồn đồng thời rồi. Tóm lại,
lấy tổ chức hữu tình và những quan hệ hoạt động rồi
quan sát theo nhiều lập trường, để làm cho những yếu tố
chính cũng như những yếu tố phụ liên hợp lại với nhau
theo thứ tự, người ta đã đạt đến kết quả cua chung là
mười hai chi. Ðiểm khó khăn cho việc giải thích hệ lệ
mười hai nhân duyên chính là ở đó, nhưng, đồng thời, cũng
chính nhờ ở điểm đúc kết toàn bộ lại mà người ta mới
thấy trong đó ngụ nhiều điểm khảo sát có tính cách triết
học của đức Phật.
6-
CĂN CỨ VÀO SỰ TRÌNH BÀY TRÊN ÐÂY ÐỂ GIẢI THÍCH THEO HOÀN
QUAN.
Vấn
đề duyên khởi tuy nói có lão tử nhưng thật thì đó chỉ
là hữu (tồn tại) mà thôi. Cái gọi là lão tử rốt cục
cũng chỉ là lấy cái quá trình biến hóa qua từng sát-na của
hữu, tức tồn tại, để hoạch định một đời người rồi
do lập trường vận mệnh mà đặt tên đó thôi, cho nên, mục
đích của duyên-khởi-quan tất kính cũng không ngoài việc
xiển minh sự biến hóa không ngừng, tiến trình kinh quá và
nguyên động lực của hữu ấy mà thôi. Từ kiến địa ấy
mà quan sát vô minh, và hành, nếu muốn thấy rõ cái nguồn
gốc chung cùng của sự tồn tại là do nơi ý chí muốn sống
thì trước phải là vô minh. Bản thân vô minh tuy là vật còn
lờ mờ, nhưng đến khi phát động thì nó có đủ khả-năng-tính
để trở thành ngũ uẩn, do đó, chi thứ nhất tức vô minh,
được coi là nguyên lý của sinh mệnh. Nhưng đây mới chỉ
quan sát về phương diện tĩnh mà thôi, như thế chưa đủ,
còn cần phải quan sát về phương diện động nữa, do đó
mà có chi thứ hai là hành. Tự thân vô minh vốn cũng là động
rồi cho nên hành và vô minh không rời nhau, vì thế hành được
đặt vào địa vị thứ hai. Sở dĩ hữu, tức tồn tại, hoạt
động không ngừng cũng do bắt nguồn từ vô minh và hành,
tức là vô minh và hành hoạt động thường xuyên từ nơi
căn để của hữu. Nhưng nếu chỉ dựa vào vô minh và hành
để dẫn đạo hoạt động của hữu thì hữu vẫn không khỏi
là vật lờ mờ bởi lẽ đã không có ánh sáng chiếu rọi
vào những hoạt động của nó. Ðến đây, cái cơ quan dẫn
đạo ấy, tức cái ánh sáng chiếu rọi vào bóng tối, là
chi thứ ba thức, nhờ đó mà các sinh vật hoạt động; nếu
là những hoạt động tâm lý thì hữu cũng phải dựa vào
đó mới đạt được những mục đích mong muốn, nhưng, đồng
thời, trên căn bản, vẫn không quên những hoạt động thường
xuyên của hai chi trước. Như vậy, nhận thức, tức ánh sáng
chủ quan, nế phát sinh thì, đồng thời, theo quy định đương
nhiên, phải phát khởi đối tượng khách quan của nó là danh
sắc. Tóm lại, đây chỉ là kết quả của hữu – quy phạm
nhận thức - tự chia thành nội, ngoại mà thôi. Nếu đứng
về phương diện hữu mà quan sát thì thứ là tự thân, mà
danh sắc cũng là tự thân, trong đó không có sự phụ thuộc
tự hay tha. Cái ý nghĩa chặt chẽ của đức Phật vốn không
phân biệt thế giới và người, mà cùng được gọi là thế
gian (loka) thật ra cũng chính kết hợp thúc thức và danh sắc,
tức chủ quan và khách quan, làm một mà gọi đó là hữu.
Thế
thì, đứng về phương diện phát sinh mà nói, cái sinh mệnh
quan bắt đầu từ vô minh và chung kết ở danh sắc đến đây,
có thể nói đã được hoàn thành. Tại sao? Bởi vì đến
đây nó đã hoàn bị tri-tính và ý-chí-tính, chủ quan và khách
quan để trở thành hữu cụ thể. Song, như đã từng đề
cập ở trên, đứng về phương diện lịch sử mà nói thì
sinh mệnh quan này có điểm rất tương đồng với cái gọi
là Phát-triển-thuyết (Parinamavada) của Lê-Câu-Vệ-Đà mà
duyên khởi quan Ấn Ðộ đã lấy đó là căn cứ điển hình.
Bốn
chi trên đây chủ yếu là luận về căn bản vô minh đã trải
qua những quá trình như thế nào mà trở thành hình thức cụ
thể của hữu. Bây giờ, nếu muốn biết rõ những hoạt động
của hữu, quy định những quá trình trải qua trong tương lai
thì lại cần phải nói rõ hơn, vì lục-nhậ, xúc, thụ, ái,
thủ v.v… đều là những thành phần thuyết minh tình hình
hoạt động tâm lý của hữu. Nhưng điều nên chú ý trước
hết là những hoạt động này chẳng qua chỉ là những tướng
khác nhau của hữu mà đã được thành lập bởi bốn chi trên,
tức lục-nhập xúc, thụ muốn xiển mình cái quan hệ nhận
thức cảm giác giữa thức và danh sắc, còn ái và thủ là
căn cứ vào phản ứng của nhận thức ý chí, và tất cả,
tóm lại, đều có thể được coi là những hoạt động ý
thức của vô minh và hành. Ðến thành phần cuối cùng là
thủ thì đặc biệt được quy định là vật tự thân (hữu),
nếu coi nó là ý thức thì tuy là sự chấp trước của dục,
nhưng nếu coi nó là hoạt động vô ý thức thì nó chỉ là
nghiệp (tính cách) của sinh mệnh, điều này cứ xem ý nghĩa
cho rằng “ ngũ uẩn do nghiệp kết hợp nên gọi là ngũ uẩn”
thì dủ rõ. Dựa vào thủ mà tự thân hữu vận hành sinh ra
biến hóa: đó chính là nghĩa “lấy thủ làm duyên mà có
hữu”. Lấy sự biến hóa của thủ phối hợp với một đời
người mà khảo sát ta sẽ thấy có cái gọi là sinh-sinh-tử-tử
như đã trình bày ở trên vậy.
Tóm
lại, nói một cách đơn giản, bốn chi vô minh, hành thức
và sắc, nếu chỉ nói rõ về mặt động thì chúng nói những
hoạt động sinh mệnh, rồi tiến đến quá trình hoạt động
tâm lý, nhưng nếu xét về phương diện tĩnh thì chúng là
những yếu tố thành lập đã hoàn thành hữ. Lại như năm
chi lục-nhập, xúc, thụ, ái, thủ là tình hình hoạt động
tâm lý nhằm xiển minh những yếu tố thành lập của chúng,
dựa vào những hoạt động ấy mà hữu được trở thành
hữu cụ thể đích thực; theo những hoạt động ấy, tự
thân hữu vận hành biến hóa mà có những tường trạng sinh,
lão, tử: điểm này rất thích ứng với sự giải thích nghiệp
luận ở trên. Xem thế thì thấy mục đích chủ yếu của
duyên-khởi-quan, sau này tuy có đề xướng những thuyết nhị-thế-nhất-trùng,
tam-thế-lưỡng-trùng v.v… nhưng thay vì xiển minh quy định
hận đoạn sinh tử thì lại nói rõ pháp tắc sát-na sinh diệt,
bởi vì vấn đề phân đoạn sinh tử chính tự nó đã nhờ
ở quy định sát-na sinh diệt mà được giải quyết: đó là
kiến địa đệ-nhất-nghĩa-đế của đức Phật.
7-
MANH NHA CỦA SỰ GIẢI THÍCH PHẬN ÐOẠN SINH TỬ.
Trên
đây, chúng tôi đã trình bày cái chủ ý lớn nhất của duyên
khởi quan. Về sau, bất luận là Nam-tuyền hay Bắc-truyền
cũng đều cho chủ ý ấy là nhằm thuyết minh những mối quan
hệ duyên khởi của phận đoạn sinh tử. Rồi nếu lại cho
đó là nhằm xiển minh các mối quan hệ nhân quả của Tam-Thế-Lưỡng-Trùng
thì cả Nam Phương Thượng Tọa Bộ cũng đều đồng ý. Bởi
thế, cho dù cách giải thích này có không đúng với tinh thần
tối đại của đức Phật đi nữa thì nó cũng vẫn có chỗ
sở cứ. Theo chỗ tôi biết, trong các kinh điển cổ tuy không
đưa ra toàn bộ các chi duyên khởi, chia ra những thuyết Tam
thế, Nhị thế, nhưng như thế không có nghĩa là người ta
không thể thấy cái manh nha của nó. Ðiểm này, như tôi đã
từng trích dẫn ở trên, trong Trung-A-Hàm, 45, Trà Ðế kinh
(M.38 Mahatanhasankhaya sutta) cũng có một đoạn mà tôi sẽ dịch
ra (từ văn Pàli) sau đây để làm chất liệu quan sát thêm
và duyên khởi quan và, đồng thời cũng để xiển minh những
điểm then chốt của A-Tỳ-Ðạt-Ma Phật giáo sau này.
“Tỳ-khưu!
Ba việc hòa hợp mới có thác thai, do đó khi ba mẹ hòa hợp,
nếu người mẹ không có tinh thuỷ (utuni) và hương ấm (gandhabha:
Càn-thát-bà) không hiện diện thì không thách thai; khi cha mẹ
hòa
hợp, tuy mẹ có tinh thủy nhưng nếu hương ấm không hiện
diện thì cũng không thác thai. Này Tỳ-Khưu! Khi cha mẹ hòa
hợp, mẹ có tinh thủy hương ấm hiện tiền, cả ba việc
ấy hòa hợp thì ta co thac thai.
Thế
rồi người mẹ mang nặng con mình trong thai trong khoảng thời
gian chín tháng hay mười tháng và rất lo âu sơ hãi. Tỳ-Khưu!
Sau chín hay mười tháng lo âu, mẹ mới sinh con và sau khi sinh
lài dùng chính tinh huyết của mình để nuôi con. Tỳ-Khưu!
Tinh huyết ấy, trong Thánh luật gọi là sữa mẹ.
Thế
rồi, Tỳ-Khưu, đứa con lớn dần (thành đứa trẻ) cho đến
khi các căn phát dục thì đứa trẻ chơi những trò chơi như
câu cá, múa gậy, nhảy cao, thả diều, nắm đá, cỡi xe, bắn
tên, v.v… Cứ thế đứa bé lại lớn thêm, các căn nảy nở,
rồi bị các cảnh ngũ dục trói buộc sai khiến, tức là nhờ
vào mắt mà biết các sắc cảnh đáng thương, đáng yêu mà
sinh lòng ham đắm sắc cảnh; nhờ vào tai mà biết các thanh
cảnh đáng thương đáng yêu rồi sinh lòng ham đắm thanh cảnh,
cho đến nhờ vào mũi, lưỡi, thân mà biết các cảnh hương,
vi, xúc đáng thương đáng yêu rồi sinh lòng ham đắm hương,
vị, xúc cảnh và bị chúng trói buộc sai khiến. Thế là,
khi mắt thấy sắc thì ham đắm cái sắc đáng yêu, nếu gặp
sắc không đáng yêu thì sinh ý niệm ghét bỏ, không trụ vào
thân mà theo sự sai khiến trói buộc của tâm để hành động,
cho nên bảo rằng những pháp diệt hết tâm giải thoát, tuệ
giải thoát khiến cho không biết được cái như thực.
Thế
là bị những cảm giác (thụ) mãn túc và bất mãn túc chi
phối, hoặc vui hoặc khổ, hay là không khổ không vui, hân
hoan đón nhận “thụ”, bị “thụ” chinh phục, bởi thế
mới khởi tình vui sướng, sự vui sướng do thụ phát khởi
tức là thủ lấy thủ, làm duyên mà có hữu, do hữu làm duyên
mà có sinh, do sinh làm duyên mà có lão tử, ưu bi, khổ não”.
Bây
giờ, nếu quan sát theo cái kiến giải duyên khởi được phô
diễn trong đoạn văn trên đây, thì điểm nên chú ý trước
hết là: bắt đầu nói từ kiếp trước đến đời vị lai,
lấy ái làm thời kỳ đạt đến tuổi trẻ, khi chạy theo
các cảnh ngũ dục mà khởi những tác dụng tâm và kết quả
của nó là thủ, nhờ ở thủ mà có hữu dể rồi trở xuống
kết thúc ở sinh lão tử. Tức trong đó tuy chưa trình bày
toàn thể mười hai chi, nhưng do sự thuyết minh từ thụ và
thủ trở xuống mà đã dung quán được tinh thần toàn thể,
nghĩa là khởi điểm từ đời trước cho đến sinh lão tử
ở kiếp sau thì trong khoảng đó không thể không công nhận
là đã nói lên toàn thể mười hai chi rồi. Nói cách dễ hiểu
hơn: nếu lấy lúc thác thai làm khởi điểm mà đặt
vô minh vào đó, rồi lấy năm chi hành, thúc, danh sắc, lục
nhập, xúc phối hợp với thời kỳ đạt đến tuổi trẻ
thì cái lý của nó cố nhiên là phải như thế. Do đó, lấy
vô minh phối hợp với quá khứ, lấy thức làm ý thức thác
thai, lấy danh sắc, lục nhập làm quá trình phát dục của
thân, tâm trong thai, lấy xúc làm thời kỳ trẻ con nô đùa,
lấy thụ, ái, thủ là những phiền não mới ở đời hiện
tại làm vị trí tích tụ nghiệp, lấy hữu làm vị trí quyết
định vận mệnh vị lai khi chết, lấy sinh, lão, tử phối
hợp với một đời trong tương lai để giải thích: đó tức
là thuyết Tam-Thế-Lưỡng-Trùng-Nhân-Quả của Hữu-Bộ.
Xin
biểu đồ như sau:

Trên
đây là Tam Thế Lưỡng Trùng Nhân Quả. Tuy nhiên, đứng trên
lập trường của Phật mà nói thì cách giải thích này Phật
đã nói theo quan điểm rất thông tục chứ quyết không phải
là đệ-nhất-nghĩa. Ðó là điều chúng ta cần ghi nhận. TVHS