CHƯƠNG
IV
NGHIỆP
VÀ LUÂN HỒI
1-
Ý NGHĨA LUÂN HỒI QUAN TRONG GIÁO LÝ PHẬT GIÁO
Những
điểm này đã được trình bày trong hai chương trước là
mới chỉ lấy tổ chức của hữu tình ở hiện tại làm chủ
yếu để nói về những hoạt động tâm lý nhất ban mà thôi.
Nhưng, theo Phật, sự sống của người ta quyết không phải
chỉ trong một thời kỳ mà, vì nghiệp lực, là sự tồn tục
vô thủy vô chung, và, thích ứng với tính chất của nghiệp,
con người sinh vào nhiều cảnh ngộ và dưới những hình trạng
sinh vật khác nhau: đó là thuyết “y nghiệp luân hồi” (samsara
– lưu chuyển). Thuyết y nghiệp luân hồi dĩ nhiên không phải
bắt nguồn từ Phật giáo, mà tư tưởng này của Ấn Ðộ
đã xuất hiện từ cuối thời đại Phạm Thư, và mãi đến
thời đại Áo-Nghĩa-Thư nó mới được hình thành cùng một
lúc với thuyết thường ngã, về điểm này, tôi đã nói rồi.
(1) Từ đó trở đi giáo lý ấy đã dần dần được nhất-ban-hóa,
và đến thời đại Phật, trừ những nhà duy-vật-luận cực
đoan, nhân-thế-quan này dưới một hình thức nào đó, đã
được tất cả các học phái thừa nhận. (2) Cứ xem thế
thì luân-hồi-quan và Nghiệp-quan của Phật giáo, có thể nói,
tất kính cũng đã bắt nguồn từ giáo lý nhất ban ấy. Nhưng,
Phật giáo khác với các giáo phái khác. Các phái, nếu thu
dụng thuyết nghiệp và luân hồi thì tất cũng thừa nhận
có cái ngã thể thường còn; trái lai, như đã nói ở trên,
Phật giáo thì cho sinh mệnh do nhân duyên cấu tạo mà chủ
trương vô-ngã-luận. Nghiệp luận và luân-hồi-luận của
các phái có liên quan đến thường ngã mà phát khởi, tức
các phái, trong khi thuyết minh về sự tương tục của linh
hồn sau khi chết, bảo rằng tự ngã như viên đạn, nhờ hỏa
lực của nghiệp đưa đến một nơi nhất định, rồi lại
từ nơi ấy, nhờ hỏa lực mới đưa đến một nơi khác,
như thế là căn cứ vào sự bất diệt của linh hồn mà nhận
có luân hồi. Ðối lại, Phật giáo không thừa nhận sự hằng
tồn của viên đạn mà chỉ thừa nhận hình thức luân hồi
nhờ vào hỏa lực mà thôi. Như thế, mới nhìn qua, giữa vô-ngã-luận
và luân-hồi-luận của Phật giáo hầu như mất sự điều
hỏa; đức Phật đã bị vây hãm vào giáo lý luân hồi luận
mà không biết hay chỉ vì khi đối đáp với người đương
thời mà dẫn dụng thuyết cũ thôi? Ðó là vấn đề khiến
người ta không thể không nghĩ đến.
(1)
Ấn-Ðộ-Triết-học-Tôn-Giáo-Sử, trang 275-284 và 350-365
(2)
Như trên trang 509-510
Trong
số các học giả Phật giáo Âu, Mỹ ngày nay cũng có nhiều
người thắc mắc về điểm này. Như nhà đại Phật học
Rhys Davids cũng đã bày tỏ như sau
Có
thể cho đây là ý kiến đang thịnh hành ở thời bấy giờ
mà được thêm vào giáo lý căn bản của Phật giáo nhưng
hoàn toàn không có một chút dung hợp với luận lý của giáo
lý căn bản (1).
Theo
tôi, dĩ nhiên, không thể cho sự phê bình trên đây là chính
xác, nhưng nhận xét trên bề mặt, ý kiến ấy vẫn có điểm
có thể chấp nhận: đó là một sự thật. Ðúng thế, khi
Phật xử lý về thuyết này thì thường chỉ chú ý đến
phương diện thực tiễn chứ không hề lưu tâm về mặt lý
luận, cho nên không thể tìm ra sự dung hợp với luận lý,
đây là vấn đề mà các nhà Phật học xưa kia cũng cho là
khó khăn. Nhưng đứng ở một phương diện khác mà khảo sát,
thuyết nghiệp và luân hồi có một ý nghĩa rất trọng yếu
đối với nhân-sinh-quan Phật giáo, nếu không có nó thì không
thể nào thuyết minh được những hình tướng nhân sinh, thậm
chí không thể nói rõ chỗ quy hướng của lý tưởng nhân
sinh. Vì tính cách trọng yếu của nó như thế nên không thể
bảo nó là vật không tương dung với luận lý được. Song,
nếu thế thì làm cách nào để điều hòa thuyết vô ngã và
thuyết nghiệp?. Từ xưa, đây là một vấn đề trọng đại
của Phật giáo, và lấy đó làm trung tâm triển khai mọi giáo
lý. Theo chỗ tôi biết, sở dĩ có sự khó khăn ấy là vì
người ta hiểu vô-ngã một cách quá máy móc. Nếu ta hiểu
được sinh mệnh quan của Phật một cách đúng đắng thì,
trái lại, có thể thấy thuyết nghiệp và thuyết luân hồi
chỉ sau khi du nhập Phật giáo mới có đầy đủ ý nghĩa triết
học chân chính. Bởi thế, đối với vấn đề này, ở đây
chúng tôi lại xin được luận cứu và so sánh với sinh-mệnh-quan
đã được trình bày ở chương trước để có thể hiểu
rõ luận lý của thuyết luân hồi ở chỗ nào.
(1)
Rhys Davids; Early Buddhism, p. 77.
2-
NHẬN XÉT QUA VỀ SỰ TƯƠNG TỤC SAU KHI CHẾT
Cho
được tiện lợi, trước hết hãy bàn về tình hình nhất
ban của luân hồi. Con người ở đời phải có một thân phận
nhất định, đó là tính tất nhiên của sinh mệnh; từ lúc
sinh ra cho đến khi chết, hoạt động không ngừng, đó tức
là sự sống (biva), hay còn được gọi là thọ mệnh (agus).
Những đặc trưng biểu hiện ra ngoài, nói về nhục thể,
thì có khí ấm (usma – noãn khí), có hô hấp, nói về tâm
lý, thì có thức, tóm lại, là có thọ, noãn, thức, tức có
cái gọi là sinh mệnh vậy, (1) Rồi, đến một thời hạn
nhất định, thọ, noãn và thức không còn có thể duy trì
được sự điều hòa giữa chúng và thoát ra ngoài thân thể:
đó tức là chết, là thọ tận, (ayusankhaya), là sự tan loãng
của tứ đại. Nhưng, vấn đề được nêu ra là: tại sao
đến một kỳ hạn nhất định thì phải chết? Về điểm
này, tuy không có một thuyết minh đặc biệt rõ ràng, nhưng
nó là một sự thật không thể che dấu. Nếu nói một cách
đại khái thì điều đó là tác dụng của nghiệp, tức cái
gọi là tự nhiên nhi nhiên.
Hai
pháp thường theo nhau, đó là nghiệp và thọ, không nghiệp
thì cũng không thọ. Nếu nghiệp và thọ không tiêu mất thì
hữu tình sẽ không chết, còn nếu nghiệp và thọ tận diệt
thì hàm thức (hữu tình) tất phải chết, (2)
Nghiệp
ở đây có nghĩa là cái sức nghiệp chỉ bảo tồn trong một
thời hạn, nhờ sức ấy mà có thọ, và khi sức diệt thì
thọ cũng hết; đó là sự thuyết minh giữa nghiệp và thọ
tận. Tóm lại, có sinh thì tất có diệt, đó là cái vận
mệnh do luật tắc tự nhiên quy định. Nhưng, theo Phật thì
mệnh số của con người không phải tuyệt diệt với cái
chết; hoạt động của ý thức tuy có ngưng lại vì sự tiêu
hoại của năm căn nhưng, cái ý chí sống căn bản, tức vô
minh, lấy những kinh nghiệm (tức nghiệp) lúc còn sống làm
tính cách, khắc sâu những ấn tượng mà kế tục, tính cách
ấy khi khai phát, sẽ có đủ khả năng tính hình thành năm
uẩn và, để thích ứng, sẽ tự thể hiện thành sức sáng
tạo đặc định của hữu tình. Duy có điểm là ta không thể
cho cái đương thể của sinh mệnh cũng như sự tồn tại không
gian, dưới một hình tượng và di động tại một nơi nào
đó. Bởi vì khi nói đến tồn tại không gian, dĩ nhiên sẽ
liên tưởng đến vật chất nhưng đương thể của sinh mệnh
thì lại là sự tồn tại phi vật chất, cho nên không thể
xử lý nó như một vật không gian. Ðiểm này cứ xem Phật
bảo chúng sinh ở cõi vô sắc không có xứ sở, không nhận
hữu tình sinh hoạt thuần túy tinh thần có xứ sở thì đủ
rõ. Tức là, hữu tình ở cõi Vô-sắc trong hiện-thực-giới
không thể được coi là sự tồn tại không gian, xa lìa mọi
thân tướng, thu nhiếp tất cả mọi hoạt động ý thức vào
ý chí căn bản của sinh mệnh thì làm sao mà coi là đồng
với vật chất được. Ðó là bất đồng lớn giữa chủ
thể luân hồi của Phật giáo và linh hồn quan nửa vật chất
phổ thông thời bấy giờ. Nếu đứng trên lập trường chân
đế của Phật mà nói thì đương thể của sinh mệnh cũng
như cái mà ngày nay gọi là phạm vi thuộc giai đoạn thứ
tư (The fourth dimension), nhưng điểm này cũng là điểm khó
giải thích về luân hồi quan của Phật giáo. Về sau, thường
đưa ra thuyết thân Trung Hữu (antarabhava) và dịch là không
gian để giúp cho người thường dễ hiểu, kết quả là thuyết
Trung Hữu chân đế đã được thông-tục-hóa. Còn như đương
thể của sinh mệnh chung cùng không thể lấy sự tồn tại
không gian mà đo lường được.
(1)
M. 43 Mahavedella 11, p. 296; Trung, 58 Ðại-Câu-Hi-La, trang 267: D.
23. Payasi 1, p. 335; Trường, cáp bản, 7, trang 800
(2)
Bản tự kinh 5-6, 11a.
Song,
cái đương thể của sinh mệnh ấy làm thế nào để lại
tự thực-hiện-hóa? Về vấn đề này, như sẽ trình bày sau,
theo Phật, cái phương pháp thực-hiện-hóa ấy có bốn loại
là: thai sinh (loài đẻ bọc), noãn sinh (loài đẻ trứng), thấp
sinh (loài đẻ ở chỗ ẩm ướt), và hóa sinh (loài tự nhiên
mà sinh). Nhưng ở đây chỉ trình bày về phương pháp thực-hiện-hóa
bằng thai sinh thôi. Trước hết phải có sự giao hợp của
nam, nữ, tức là bước đầu trong việc thực-hiện-hóa. Sự
giao hợp ấy, nếu đứng về phương diện nam nữ mà nhận
xét, thì đó là để thỏa mãn dục vọng của bản năng mà
có, nhưng, nếu đứng về phương diện thực-hiện-hóa sinh
mệnh của con người mà nhận xét, thì đó là vì sức sáng
tạo của nghiệp, thực hiện tự thân mà giao hợp. Trong kinh
bảo khởi lên cái hiện tượng thác thai ấy là cha, mẹ và
Càn-Thát-Bà (gandhabba – hương thấm) cả ba hòa hợp mà có
hiện tượng thác thai. Càn-Thát-Bà ở đây là mượn danh từ
thần thoại, dùng với nghĩa muốn thực-hiện-hóa sinh mệnh.
Ở chỗ khác thì gọi là thức của sinh mệnh lấy sự giao
hợp của cha mẹ làm duyên để hiện-thực-hóa là bắt đầu
của hữu tình thai sinh. Do đó sinh mệnh siêu không gian, ít
ra là về mặt tự thể, cũng phải chịu sự quy định của
không gian mà có được cái thân phận nhất định. Rồi những
hoạt động hiện thực trải qua năm giai đoạn trong thai, cho
đến ngày xuất sinh, tìm cầu sự thích ứng thân phận, tức
là tái sinh vậy. Cái quá trình của sự tái sinh từ trước
khi sinh đến sau khi chết đại khái là như thế. Bởi thế,
hiện tượng chết, nếu nhận xét trên bề mặt, thì tựa
hồ như tuyệt diệt, nhưng, nếu nhận xét về mặt đương
thể của sinh mệnh, thì nó vẫn có khả-năng-tính ngũ uẩn
kế tục, thậm chí thích ứng tính cách củ nó lại đi đến
hiện thực hóa, vì trong quá trình ấy luôn luôn tích tụ ngũ
uẩn mới thay cho ngũ uẩn đã giải thể. Tóm lại, tái sinh
chẳng qua là kế thừa ngũ uẩn biến hóa của tiền sinh mà
thôi.
“Có
nghiệp báo, không người tạo tác, ấm này (ngũ uẩn) diệt
rồi ấm khác tương tục”.
Ðiểm
này, kinh Di-lan-đà (Milanda Panha) và Luận Trí-Ðộ (1) thí dụ
như một ngọn đèn này lan sang một ngọn đènk hác để nói
rõ ý nghĩa liên tục bất đoạn.
(1)
Milanda Panha p. 10: trí Ðộ Luận, quyển II, trang 80b
Cũng
như con tằm hóa thành nhộng, nhộng biến thành con ngài, biến
thái như nhau và liên tục. Như vậy, người ta cũng dễ hiểu
luân-hồi-quan của Phật giáo.
Song,
vấn đề được đặt ra ở đây là: nếu bảo tổ chức thân
tâm của con người là do sự kế tục của ngũ uẩn ở kiếp
trước, thì tại sao người ta lại không nhớ được cái việc
ở kiếp trước? (1) Ðứng về phương diện giáo nghi của
Phật giáo mà nói thì đây không hẳn là một vấn đề nan
giải. Tại sao? Vì, như đã nói ở trên, theo Phật, bản chất
của sinh mệnh quan không phải là trí thức mà là ý chí, cái
ký ức đi đôi với trí thức sẽ tiêu tan cùng một lúc với
sự tái sinh. Kinh Ðại Duyên trong Trường Hàm tuy bảo thác
thai là thức đi vào thân thể của người mẹ, nhưng thức
lúc đó rốt cục chỉ là ý chí vô ý thức, tức là sinh mệnh
được gọi khác đi, chứ quyết không phải chỉ cho ý thức.
Cứ xem trường hợp Tỳ-Khưu Trà-Ðế (Sati) cho rằng thức
(vinnana) là chủ thể của luân hồi mà bị Phật quở trách
rất nặng thì đủ rõ. (2) tức đã không phải là thức thì
không thể nhớ được những kinh nghiệm ở kiếp trước,
đó là lẽ tự nhiên. Ðứng trên lập trường thuyết Ý chí
bản vị mà nói thì ký ức, đối với cùng một nhân cách,
bất quá chỉ chiếm cái giá trị thứ hai, thứ ba mà thôi.
(1)
Milanda Panha, p, 7
(2)
M. 38 Mehatanhassanhhaya; Trung-Hàm quyển 45, Trà-Ðế-Kinh.
Như
Phật nói, đến địa vị thánh nhân thì không những các việc
ở kiếp trước mà ngay các việc ở kiếp sau cũng có thể
hiểu được. Ngày xưa chính đức Phật cũng đã thường nói
về kiếp trước của người ta, đồng thời, cũng chỉ cho
người ta thấy cái vận mệnh sau khi chết. (1) Vì đã là bậc
thánh thì thường thấy suốt bản chất của sinh mệnh, biết
rõ được quá khứ, vị lai của mọi ấn tượng tính cách
(nghiệp). Ðây không phải là ký ức phổ thông mà người
thường có thể làm được, bởi thế, người thường căn
cứ vào cái có, không của luân hồi là trái với lập trường
của Phật giáo. Cái mà Phật giáo gọi là luân hồi là hoàn
toàn luận về cái tính cách vô ý thức vậy.
(1)
Xem Trường Hàm, 5. Xa-nê-sa kinh; D, 18 danavosabha; Trung Hàm, 57,
Tiễn Mao Kinh: Ma-Ha-Ðà, 79, Culasakulundagi: Trung, 83, Tam Tộc
tính tử kinh; Ma-Ha-Ðà, 68, Malakapana v.v…
3-
ÐẶC BIỆT LUẬN VỀ BẢN CHẤT CỦA NGHIỆP
Hữu
tình lấy nghiệp làm tự thể, là sự tương tục của nghiệp,
lấy nghiệp làm mẫu thai, lấy nghiệp làm quyến thuộc, lấy
nghiệp làm sở vi, phàm sự phân biệt như thế đều là do
nghiệp phân phối. (1) Thế gian y vào nghiệp mà chuyển, hữu
tình bị nghiệp trói buộc, cũng như bánh xe y vào cái trục
mà quay. (2)
Bản
chất của nghiệp như thế nào? Vấn đề này tuy đã nói qua
ở trên, nhưng ở đây nó là vấn đề trung tâm của luân-hồi-luận
nên lại phải được bàn đến một lần nữa. Và, ở đây,
mặc dầu hơi phiền phức, vẫn phải trở lại lấy sinh-mệnh-quan
làm điểm xuất phát để lập luận.
Như
đã trình bày ở trên, sinh-mệnh-quan của Phật giáo cho sinh
mệnh quan có tính cách cơ giới, nghĩa là, sinh mệnh của sự
tích tụ của năm uẩn, và là sự chuẩn bị bước đầu để
hiểu nghiệp-quan của Phật giáo. Nói khác đi nếu tách rời
ngũ uẩn mà khảo sát nghiệp thì chung cục không thể hiểu
được cái chân nghĩa của sự tương tục của nghiệp. Còn
lấy ngũ uẩn làm tài-liệu-nhân, nghiệp làm động-lực-nhân,
dùng chiếc xe để thí dụ mà thuyết minh tổ chức hữu tình,
thì, như đã nói ở trên, chỉ là lời thí dụ thôi, chứ
thật ra nó chẳng qua chỉ là cùng một sinh mệnh mà quan sát
theo những phương diện bất đồng để thuyết minh cho tiện
lợi, thế thôi. Nếu như các nhà hữu-ngã-luận lập một
linh hồn thường hằng cố định là vật phụ thuộc của
nghiệp thì giữa chủ thể và vật phụ thuộc có thể khảo
sát riêng rẽ được, chứ đằng này, theo Phật thì rời nghiệp
ra tổ chức hữu tình không thể tồn tại được, như vậy,
không thể khảo sát nghiệp và sinh mệnh một cách riêng rẽ
được. Như ý nghĩa của câu kinh trích dẫn trên: “Hữu tình
lấy nghiệp làm tự thể, là sự tương tục của nghiệp”
thật đã nói rõ nghiệp là vật không thể tách rời hữu
tình. Cho nên, cứ theo chân ý của Phật thì phải hiểu nghiệp
không phải là vật phụ thuộc vào sinh mệnh mà chính nó là
sinh mệnh khi tìm cầu sự sáng tạo tự kỷ.
(1)
M. 135 Culakammavibhanga, vol. 111. 203; Trung hàm 44, Anh Vũ Kinh, Cáp
bản, trang 207’ (Tham khảo bản sự kinh quyển 1 tờ 6, trang
23a)
(2)
Suttanipata, N 654.
Cũng
như trên kia đã nói, cái nguyên lý thống nhất thân tâm của
người ta, nhận xét về mặt biểu diện, tuy là Thức (vinnana),
nhưng, nhận xét về mặt nội bộ, thì nó lại là Hành (sankhara),
tức theo nghĩa hẹp là Tư (catana – ý chí), Phật cho quá trình
ý chí thống nhất thức này là nhân cách, tức là cái giả
ngã (puggala, pudgalà - bổ-đặc-già-la), điều này cứ xem những
câu nói pháp như “Hết thảy y vào hành mà tập” và “Y
vào hành mà có thức” thì đủ rõ. Cho nên, những hành vi
thân, khẩu, ý y vào sinh mệnh doanh cầu, tức phản động
của biểu nghiệp, nói theo nghĩa rộng, tuy cũng ảnh hưởng
đến toàn thể tổ chức thân tâm để tạo thành tánh cách,
nhưng, nói theo nghĩa hẹp, có thể nói, rốt cuộc, chủ thể
của nó là hành, tức ý chí, là vật tạo thành tính cách.
Vả lại, cái ý chí tạo thành tính cách này, cho dù nó là
vô ý thức, nhưng, để thích ứng với tính cách của nó,
nó lại thống nhất ý thức mà truy cầu những hoạt động
ý chí sau này. Cái mà Phật gọi là nghiệp chẳng qua không
ngoài cái tập quán này của ý chí in sâu vào tính cách. Về
sau, Kinh-Bộ-Tôn và Duy-Thức-Tôn v.v…, cho thể của biểu
nghiệp (hành vi hiện thực) là hiện hành của tư (ý chí hiện
thực), và cho thể của vô-biểu-nghiệp (tức là nghiệp) là
chủng tử của tư, tức là tính cách của ý chí. Mặc dù
đây là sự giải thích của đời sau, nhưng theo tôi thì nó
vẫn gần với chân ý của Phật Giáo Nguyên Thủy. Lại như
nghiệp y vào tự lực mà sáng tạo tương lai thì quyết không
phải vì cái thể sở y mà có sức thần bí bất khả phân
nhưng thật thì từ bản chất của nó đã có đủ tính cách
tiềm tại và ý chí sáng tạo rồi.
Lại
nữa, khảo sát ở một phương diện khác, theo một ý nghĩa
nào đó, Phật cũng có thể được gọi là một nhà kinh-nghiệm-luận,
tức là chủ trương phàm hoạt động của người ta (lấy
hoạt động tâm lý làm chủ) đều do những kinh nghiệm ở
quá khứ tích tụ lại mà có, ngoài kinh nghiệm ra không có
một vật gì hết. Duy có điểm khác với các nhà kinh-nghiệm-luận
phổ thông là ở chỗ các nhà kinh-nghiệm phổ thông chỉ nói
đến những kinh nghiệm trong một thời kỳ từ khi sinh ra đến
lúc chết đi, còn Phật thì lại nói đến những kinh nghiệm
quá khứ từ vô thủy. Tóm lại, lấy kinh nghiệm làm chủ
để nói về hoạt động sinh mệnh của người ta, ít ra, cũng
có thể nói đó là thái độ của nhà kinh-nghiệm-luận, điều
đó tưởng không còn hồ nghi gì nữa. Bảo là nghiệp thực
ra chỉ là sự tích tụ của kinh nghiệm, tuy vô ý thức nhưng
là căn để của tính cách người ta và là sự thực quy định
những hành vi tương lai. Do đó bảo rằng nghiệp tương tục
thì chẳng qua cũng chỉ là sự liên tục củ kinh nghiệm, và,
dĩ nhiên, chỉ là y vào kết quả của kinh nghiệm và sự lưu
chuyển liên tục của tính cách. Vì, theo như Phật nói, sinh
mệnh của người ta là do sự tích tụ những kinh nghiệm ở
quá khứ vô hạn mà có, y vào tính cách thích ứng kinh nghiệm
mà doanh cầu tự kỷ, và cái phương pháp doanh cầu đó lại
là những kinh nghiệm mới mà biến hóa tính cách, cứ như
thế kế tục vô cùng, đó tức là luân hồi. Rồi lại lấy
cái tính cách đó cùng với quy định tất nhiên trong việc
thích ứng vớo sự sáng tạo tự kỷ mà gọi là y vào nhân
quả của nghiệp. Bởi thế, nếu cho tư tưởng của Phật
chỉ là tư tưởng của nhà kinh-nghiệm-luận, cũng như cho
Phật kiến lập sinh mệnh ngoài kinh-nghiệm (nghiệp) đều
là sự sai lầm. Nhưng, kinh nghiệm của Phật là vô thủy vô
chung, và, nhận xét về phương diện không nhận kinh nghiệm
có điểm xuất phát, thì Phật hiển nhiên cũng lại là nhà
Tiên-thiên-luận nhưng thừa nhận một thứ sinh mệnh không
phải nghiệp cũng không rời nghiệp vậy. Về sau, phái Duy
thức lập ra A-Lại-Gia và khảo sát, so sánh về tiên thiên
chủng tử (bản hữu chủng tử) và hậu thiên chủng tử (tân
huân chủng tử) của nó thật ra cũng bắt nguồn từ tư tưởng
trên đây.
Lại
nữa, tuy rườm rà nhưng hãy lấy một thí dụ để nói rõ
về mối quan hệ giữa nghiệp và sinh mệnh. Như hắc thủy
(nước đen) chẳng hạn. Một thể lỏng có màu đen thì gọi
là hắc thủy, nhưng ngoài thể lỏng ra không có màu sắc,
mà ngoài màu sắc ra cũng không có thể lỏng: đó là một
nguyên lý nhất định (theo cách phân tích hóa học có thể
khiến cho nó xa lìa bản thể mà chơi vơi ra ngoài, nhưng ở
đây không bàn về điểm ấy). Cho nên, cái gọi là nghiệp
rốt cuộc cũng như màu sắc, còn sinh mệnh cũng như thể lỏng,
cả hai không phải một mà là khác nhau, khác nhau nhưng là
một. Nhưng sinh mệnh quan Phật giáo lại có tính chất lưu
động, bởi thế nếu chỉ thí dụ với bắc thủy e cũng chưa
đủ, mà phải biến nó thành lưu động, nghĩa là nối tiếp
nhau trôi chảy không ngừng. Và cái phương hướng chảy tới
tất phải do màu sắc quy định, đồng thời lại do phương
hướng chảy tới có khác mà màu sắc của hắc thủy cũng
có khác. Còn về sự biến đổi của màu sắc khi từ màu
đỏ biến thành màu đen, biến thành màu vàng không phải mất
màu để trở thành màu đen, vàng và màu đỏ cũng giữ được
khả năng tính để biến thành màu vàng, màu đen. Cũng thế,
khi từ màu đen và vàng chuyển biến thành màu trắng thì đều
cũng không tiêu diệt, tức là, trong lúc biến hóa vẫn bảo
tồn được khả-năng-tính. Ðiểm này rất gần giống như
khái niệm nghiệp và sinh mệnh và luân hồi vậy. Tức là,
phương hướng của sinh mệnh do nghiệp quy định, đồng thời
nghiệp lại y vào nội dung hoạt động của sinh mệnh, luôn
luôn gây nghiệp mới in sâu vào tự thể, và bảo tồn những
nghiệp cũ đã có; rồi toàn thể nghiệp này hay một bộ phận
lại quy định nội dung sinh hoạt sinh mệnh ngoại hình, tuy
cực kỳ phức tạp nhưng trong đó vẫn có một quy định rõ
ràng, mạch lạc mà biến thành lưu động liên tục. Ðây cũng
là điểm bất đồng lớn giữa nghiệp và luân-hồi-luận.
Vì, như đã nói ở trên, hữu-ngã-luận cho rằng nghiệp chẳng
qua chỉ là phần ngoại biểu phụ thuộc vào sinh mệnh cố
định, nghĩa là, cái nguyên-động-lực vận chuyển đến các
cảnh địa, còn Phật giáo thì bảo trong sự biến hoá bất
tuyệt lại hấp thụ những kinh nghiệm quá khứ rồi lấy
đó làm nguyên-động-lực mà xúc tiến sự sáng tạo (nói
đúng hơn là sáng tạo tuần hoàn). Như tôi đã nói ở trên,
đến Phật giáo thuyết nghiệp và luân hồi mới thật có
đầy đủ ý nghĩa triết học, chính là ở điểm này. Xem
thế, nếu bảo thuyết nghiệp của Phật giáo không phù hợp
với luận lý thì điều đó không thể chấp nhận được,
4-
SỰ QUAN HỆ CỦA NHÂN CÁCH GIỮA ÐỜI TRƯỚC VÀ ÐỜI SAU
Như
đã trình bày ở trên, Phật bảo sinh mệnh là một cái luôn
luôn biến hóa, trở lại sự tương tục luân hồi của nó,
nếu chỉ y vào tính cách vô ý thức thì mối quan hệ nhân
cách giữa khoảng đời trước và đời sau như thế nào? Nói
cách khác, nó là một hay khác? Vì, theo hữu-ngã-luận thì
tất cả tuy đều biến hóa, nhưng ngã thể thì đồng nhất
thường trụ, và, nói theo luận lý, đương nhiên, ngã thể
trước hay sau cũng là đồng nhất. Nhưng Phật thì chỉ nhận
trong đó chính cái tâm là vật biến hóa, cho nên tất phải
có những câu nạn vấn, Nhất là về thuyết nghiệp báo hưởng
thụ thì các nhà hữu-ngã-luận thường chất vấn Phật luôn.
“Cù
Ðàm! kẻ kia (Giáp) làm, chính kẻ kia (Giáp) lấy đó (quả
của nó) làm vị, hay một làm (Giáp) mà kẻ khác (Ất) lấy
đó làm vị?”. (1)
Trên
đây là một người Bà-La-Môn chất vấn Phật. Ðúng ra thì
lời chất vần này đã bắt nguồn từ chỗ không hiểu được
cái chân tướng của sinh mệnh biến hóa lưu động và rốt
cuộc cũng chỉ lấy cái ngã cố định làm tiêu chuẩn mà
nạn vấn, thế thôi. Phật bảo sự quan hệ trước hay sau
của đặc tướng tương tục của sinh mệnh không thể cho
là một mà cũng không thể bảo rằng khác nhau, mà là cũng
giống nhau, mà cũng khác nhau: đó là trung đạo.
(1)
S. 11 pp. 76-77; Tạp Hàm, 14, Cáp bản, trang 656.
Bởi
thế Phật đã trả lời câu hỏi trên đây bằng thuyết duyên
khởi.
“Giáp
làm mà bảo Giáp lấy đó làm vị thì đấy là cực đoan thứ
nhất. Giáp làm mà bảo Ất lấy đó làm vị thì đấy là
cực đoan thứ hai. Như Lai tránh xa hai cực đoan ấy và thuyết
pháp theo trung đạo” (1)
Đó
là tinh thần của đức Phật về điểm này. Nếu theo quan
điểm của Mrs. Rhys Davids thì có thể giải thích theo hình
thức đồ biểu như sau:
A –
A’ – A” – A’” – An … anB – B’ – B” – B’”
– Ba – bnC – C’ – C” – C’” – Ca… enD … dnE …
Trong
đồ biểu trên, ABCDE là mô hình của sinh mệnh do năm uẩn
tạo thành, thực tế tuy không có nhưng chỉ giả định là
nó tách rời khỏi nghiệp, tức là sinh mệnh tính cách. Rồi
lại dùng chỉ số, “,” biểu thị sự phản ứng của kinh
nghiệm, tức là nghiệp, để tỏ rằng sinh mệnh mô hình là
sinh mệnh thực tế.
Trước
hết hãy giả định sinh mệnh của người ta lấy hiện thế
làm khởi điểm là A, nếu dùng hắc thủy làm thí dụ thì
như thanh thủy. Nhưng cái tính chất của Ấn-Ðộ-Triết-học-Tôn-Giáo-Sử
vốn không một khắc nào dừng nghỉ; hoạt động của nó
trực tiếp tự nhuộm màu sắc chính nó mà thành một loại
tính cách của A’, A’ này lại căn cứ theo màu sắc tính
cách mà hoạt động để mang lại tính cách A’” cứ như
thế lần lượt thu thập những kinh nghiệm quá khứ vào hiện
tại rồi hiện tại lại dưỡng thành vị lai cho đến chung
kỳ là A’” vậy.
(1)
Xem chú thích trang 187
Trong
đồ biểu A’ A” A’” tựa như có giàn cách, nhưng thật
ra nó là sự liên tục bất đoạn, cho nên tuy trải qua nhiều
biến hóa, nhưng nhờ vào ký ức lúc thiếu thời, tên họ
của chính mình và hoàn cảnh xung quanh mà vẫn giữ được
cái nhân cách mô hình A. Từ một đứa bé trở thành một
ông già cũng giống như thực thể của một cuốn phim ảnh:
cuốn phim tuy dài mấy nghìn thước nhưng cũng là một người
mà có những hoạt động khác nhau trong cuốn phim. Cứ biến
hóa như thế cho đến khi không còn có thể duy trì được
cái thói thường biết là cùng một hình tướng thì lúc đó
sẽ phát sinh một kịch biến lớn, tức là chết. Những đường
… trong đồ biếu chính là chỉ điểm này, kết quả đi đến
hình B, nhìn trên bề mặt tựa hồ rất sai khác với A, nhưng,
theo Phật, cái cơ sở của B là tính cách vô-ý-thức. Còn
như có sự tích tụ kinh nghiệm của An, tức an, thì chẳng
qua đó chỉ là sự biến hóa liên tục của An mà thôi. Lại
theo Phật thì tuy cũng là nhân loại nhưng trong đó có những
sai khác về năng lực, cảnh ngộ và các bất đồng khác v.v…
chính là sức an tiềm tại này. Rồi lại lấy an làm cơ sở
cho mọi hoạt động, y theo quy tắc trên đây, đi đến Bn mà
sinh đại kịch biến thành ra bn, enD, dnE v.v … đó chính là
hình tướng luân hồi vô hạn. Cho nên, nếu chỉ nhận xét
trên bề mặt thôi thì giữa ABDC … tựa hồ như không có
một quan hệ nào, nhưng nếu quán triệt nội dung của chúng
thì trong cái nguyên động lực của Bà-La-Môn có bao hàm A’
– A” – A’” … nữa. Bởi thế, Bà-La-Môn do A quy định.
CB do AD quy định, D do ABC quy định, đó tức là sự thành
lập quan hệ nhân quả vậy. Ðiểm này, khi được đặt thành
vấn đề pháp tướng, thì câu hỏi được nêu ra là A quy
định B là điều kiện để thực hiện hay đó chỉ là quá
trình sẽ đưa đến D? Ðến một đời người thì dĩ nhiên
vấn đề cũng được đặt ra là: trong sự tích tụ vô số
nghiệp thì nghiệp này là nguyên nhân thứ yếu? v.v… Về
sau, A-Tỳ-Ðạt-Ma có đưa ra nhiều cách nghiên cứu, nhưng
ở đây chưa cần đề cập đến. Tóm lại, nói một cách
đại thể, pháp tắc tam thế nhân quả của Phật giáo đã
được xây dựng trên nền tảng sự biến hóa kể trên; nghĩa
là theo Phật. nếu bảo mối quan hệ giữa quả báo hưởng
thụ và người tạo tác là một hay khác thì đều sai lầm,
mà phải căn cứ vào phép tắc biến hóa tức hệ lệ duyên
khởi, để giải quyết mới được. Cũng như đã dẫn dụ
ở trên, cái mà Phật giáo gọi là luân hồi chính cũng giống
như sự biến hóa của con tằm: từ con trùng nhỏ trở thành
con nhộng, từ con nhộng thành con ngài, cứ nhìn từ bên ngoài
thì tựa hồ là một con vật hoàn toàn khác nhau, nhưng rốt
cuộc thì chỉ là sự biến hóa của một con trùng. Người
ta không thể bảo con trùng và con ngài là một, mà cũng không
thể bảo là khác nhau, chỉ có thể cho đó là sự biến hóa
mà cái lý thú của nó thì tương đồng mà thôi.
“Nghiệp
không có người tạo tác cũng không có người nếm quả, chỉ
là do các uẩn chuyển biến, đó là sự nhận xét đúng với
chân đế. Có nghiệp, có quả cũng giống như sự tuần hoàn
của cây với trái cây (nghiệp và quả), mỗi mỗi làm nhân
cho nhau để chuyển biến, không ai có thể nói được đầu
mối và chung cục của nó” (1)
Sự
biến hóa trên đây là sự biến hóa vô thủy vô chung, tức
là luân hồi vô hạn, mà cái pháp tắc quy định quá trình
biến hóa ấy là nhân quả: đó là quan điểm đích thực của
Phật giáo.
Đến
đây vấn đề được lưu ý là: nếu đức Phật chỉ xây
dựng luân hồi theo sự biến hóa như thế thì luân hồi luận
của Phật không phải là thuyết luân hồi luận của Phât
không phải là thuyết luân hồi theo đúng tự nghĩa của nó,
vì nếu đúng tự nghĩa của luân hồi là linh hồn luẩn quẩn
trong không gian để đi đầu thai chịu các thân phận.
(1)
Visudimagga, Chap, 19: Buddhism in Translation, p, 24.
Nhưng
theo Phật thì cái đương thể của sự biến hóa tức là luân
hồi chứ không có linh hồn phảng phất trong không gian, cũng
như con sâu không phải chết đi mới biến thành tức con nhộng,
con ngài, nhưng chỉ vì sự biến hóa mà thành ngài, thành nhộng.
Sinh mệnh của người ta cũng là cái đương thể biến hóa
thành trâu, thành ngựa, thành địa ngục, thành thiên đường,
tất cả đều không ngoài cái được mệnh danh là nghiệp,
tất cả đều biến hóa thành luân hồi, cho nên nói:
“Do
quả báo tà kiến mà tự nhiên sinh vào tám địa ngục lớn”
(1)
Tức
cái phú bẩm không phải là thiên đường, địa ngục mà là
nghiệp của người ta lấy nó làm cảnh giới của chính mình
sáng tạo ra, không phải linh hồn của người ta đầu thai
vào bụng ngựa mà chỉ là nghiệp của người ta, trong quá
trình biến hóa dùng năm uẩn của loài người thay vì năm
uẩn của loài ngựa. Ý thật của Phật về luân hồi luận
chính là ở điểm này. Xem thế thì ý kiến của luận sư
Long-Quân (Nagasena) bảo rằng luân hồi chỉ là sự kế tục
của danh, sắc và thí dụ lửa từ một ngọn đèn này bén
sang một ngọn đèn khác để nói lên sự tuần hoàn của luân
hồi quan (2), có thể cho là rất phù hợp với luận lý luân
hồi quan của Phật.
(1)
Tăng-Nhất 43, Cáp bản, trang 135
(2)
Milandapanha, p, 46: p, 71
Trong
số các học giả cận đại có người muốn dùng phương pháp
triết học để chỉnh lý Phật giáo và thuyết của họ được
người ta thừa nhận thì trước hết phải kể đến Ước-biên-hà-ngạch-nho
(1). Ngoài ra, số nhân sĩ chủ trương giải thích như trên
cũng rất nhiều. (2)
5-
TÍNH CHẤT CỦA NGHIỆP VÀ QUẢ VỚI THỎA ÐÁNG TÍNH LUÂN LÝ.
“Người
ta gieo nhân nào thì hưởng quả ấy: làm lành được quả
tốt, làm ác chịu quả xấu, người trồng thì người hưởng”.
(3) (Yad idem vappatti bijann Ladisam Phalam, kalyana kakari kalyanam,
papakari ca Papakam Pavattam taka te bijam Phacam Paccanabh-assasi).
Đó
là theo pháp tắc nhân quả của nghiệp. Song mà, cái tính chất
quan hệ giữa nghiệp và quả như thế nào? Bởi vì, người
làm thiện (kalyanakari) được quả thiện (katyanagakhàla), người
làm ác (rapakan) chịu quả xấu (rapaphalav) cái ý nghĩa thiện,
ác ấy chưa thể rõ ràng và cái thỏa-đáng-tính của nó vẫn
chưa được minh bạch.
(1)
Gesamntliche Werke 41, s. 591
(2)
Warren’s Buddhism in Translation, p, 234: Mrs, Rhys Davids Buddhism,
p. 137
(3)
S. 81, p. 227; Tăng-Nhất 5, Cáp bản, trang 485.
Trước
hết hãy xét về phương diện tính chất. Ðức Phật đại
khái cho cái tính chất quan hệ giữa nhân và quả có hai lớp.
Thứ nhất, quan sát nhân quả về phương diện cùng tính chất;
thứ hai, quan sát nó về phương diện khác tính chất. Nếu
nói theo thuật ngữ sau này thì đó chính là sự nhận định
về hai thứ quan hệ giữa đồng-loại-nhân (sobhagahala) đẳng-lưu-quả
(nisyan-daphala) và di-thục-nhân (vipakahetu) dị thục quả (vipakep-hela)
vậy, (đồng loại nhân, đẳng-lưu-qả nghĩa là tính chất
của nhân và tích chất của quả giống nhau; di-thục-nhân,
dị-thục-quả nghĩa là tính chất của nhân và của quả khác
nhau).
Loại
quan hệ thứ nhất lập trường tâm lý làm chủ, đại yếu
cũng giống như thuyết nghiệp ở trên, nhưng tiến lên một
bậc nữa thì kết quả được biểu hiện theo hình thức tiến
bộ, như: đời này gắng sức học hỏi thì đời sau sinh ra
sẽ là người có tính chất thông minh, sáng suốt; đời này
lười biếng thì đời sau sinh ra sẽ ngu đần dốt nát. Do
đó, ngày xưa Phật thường hỏi những người tu theo các ngoại
đạo trì giới gà, chó là tương lai kết quả ấy sẽ ra sao
rồi cho rằng tu giới gà, chó mà nếu tâm tu gà, chó thì sau
khi chết đi cũng sinh làm gà, chó. (1) vì quả báo luân hồi
không chấp nhận có sự thưởng, phạt của đệ tam nhân mà
chỉ thích ứng với tính cách tự kỷ do chính mình tạo tác,
cho nên người tu làm gà sẽ là gà, mang tâm quỷ, sẽ là quỷ,
giữ tâm trời sẽ sinh cõi trời, đó có thể bảo là lẻ
tự nhiên. Do vậy, thuyết nhân quả bảo người làm thện
hướng quả thiện, làm ác chịu quả ác cũng có thể cho là
có căn cứ tâm lý rất xác đáng. Sự tu dưỡng và giáo dục
của người ta tuy lấy một thời đại làm hạn nhưng chẳng
qua cũng chỉ thích dụng cái lý pháp nhân quả đó mà thôi.
Loại
thứ hai là nhân quả khác loại, đứng trên lập trường luận
lý để nhận thức quan hệ nhân quả giữa những hiện tượng
có tính chất khác nhau, tức là cái quy luật không làm thiện
mà được hưởng hạnh phúc, không làm ác mà phải chịu họa
hoạn. Về điểm này, thiện, ác chỉ có nghĩa luân lý, còn
họa, phúc không hẳn có ý nghĩa luân lý, mà chỉ có nghĩa
hợp ý hay không hợp ý, bởi thế không thể coi tính chất
nhân quả là giống nhau. Trong khi thuyết minh về những hiện
tượng nhân sinh, đức Phật thường không bỏ qua loại quan
hệ này. Hãy lấy một thí dụ: đời nay chết yểu là đời
trước sát sinh nhiều, còn đời này sống lâu là do đời
trước có lòng thương xót và tha sống cho những sinh mệnh
khác; đời này đau khổ nhiều là do đời trước làm khổ
não chúng sinh, trái lại đời này mạnh khỏe, không bệnh
tật là do đời trước có từ tâm vỗ về những người khác.
Lại như kiếp này tướng mạo xấu xí là do kiếp trước
hay giận dữ cáu kỉnh, trái lại, kiếp này đẹp đẽ là
do kiếp trước nhu mì hiền hậu; cho đến kiếp này nghèo
cùng khổ sở là do kiếp trước không làm việc phúc thiện,
trái lại, kiếp này giàu có là do kiếp trước hay bố thí
giứp đỡ kẻ khốn cùng v.v… Trong những trường hợp trên
đây, cái gọi là sát sinh với chết yểu, vỗ về nuôi nấng
với sống lâu, ít ra, về phương diện luân lý cũng là những
khái niệm bất đồng, nhưng cách thuyết minh trên chính là
để cố kết mối quan hệ nhân quả trong đó. Bởi thế, sự
thuyết minh ấy không phải chỉ để khuyên người đời bỏ
ác làm thiện, để tăng tiến đạo đức mà chính là môn
giáo lý cực trọng yếu để giải thích những hiện tượng
bất đồng của nhân sinh.
Như
vậy là Phật đã y theo nghiệp để thuyết minh về hai lớp
quan hệ nhân quả mà trong đó, dĩ nhiên, loại nhân quả cùng
loại dễ hiểu hơn, vì, như đã nói ở trên, nó có căn cứ
tâm lý xây dựng trên tính sáng tạo của ý chí. Nhưng loại
sau, tức là nhân quả khác loại, thì khó hiểu hơn vì nó
không phải là vật do tính sáng tạo trực tiếp của ý chí
đưa đến; nếu bảo vì kiếp trước sát sinh mà kiếp này,
theo cái tập quán đó, sinh làm người tàn ác hiếu sát thì
còn có căn cứ, dễ hiểu. Chứ đằng này lại lấy sự chết
yểu thay cho tàn ác hiếu sát thì căn cứ ấy ở đâu? Cũng
thế, bảo vì kiếp trước làm khổ não chúng sinh nên kiếp
này sinh ra phải đau ốm, kiếp trước vì thương xót và nuôi
dưỡng chúng sinh nên kiếp này sinh ra làm phúc thần thì còn
dể hiểu, nhưng nếu bảo vì não ác mà đau ốm, vì nuôi nấng
mà được khỏe mạnh thì lấy gì để minh chứng cái thỏa-đáng-tính
của nó? Muốn trực tiếp căn cứ vào tính cách sáng tạo
của tự kỷ mà giải thích nó như loại nhân quả cùng loại
là một việc vô cùng khó khăn. Huống chi, về điểm này,
sự thật trước mặt là luật pháp quốc gia có điều thưởng
thiện phạt ác, lấy việc kết hợp thiện, ác, họa, phúc
làm lý bất di bất dịch, xem thế thì biện minh về nhân quả
cực dễ dãi. Nhưng, nên biết luật pháp quốc gia là quy định
hậu thiên, còn nhân quả là lý pháp tiên thiên, nếu không
cho đó là một sức bất khả tư nghị mà đi tìm cầu những
lý do của cái tiên thiên vốn vĩ như thế thì vấn đề này
nên phải biện minh làm sao. Xưa này, nhiều học giả Phật
giáo chủ trương nhân quả là chân lý cũng đều bỏ qua điểm
này. Họ chỉ thuyết minh ý nghĩa đạo đức của ác nhân,
thiện nhân, rồi hỗn hợp thiện ác và quả báo của thiện
ác là vận mệnh xấu hay tốt mà cho như nhân quả đồng loại
vì ngừng lại ở đó. Nhưng, chúng ta đừng quên rằng cái
điểm khó khăn nhất của nhân-quả-quan của Phật giáo chính
là điểm này.
Nhưng
mà, muốn giữ được cái nguyên lý và sự điều hòa của
các luận trên đây, cái quan hệ và nhân quả khác loại này
có đủ là lý luận thuyết minh không? Hay, Phật có bảo trong
quan hệ dị loại ấy có đủ lý pháp tự nhiên mà chung qui
ứng dụng nó như một loại nhân quả đồng loại để làm
cho thiện, ác, họa, phúc cùng nhất trí, dùng như thế để
thỏa mãn yêu cầu của người ta chăng? Vấn đề này có lẻ
cũng cần phải tách rời đạo đức để tảo luận cũng nên.
Theo chỗ tôi nhận xét thì nó cũng có thể được thuyết
minh theo tính chất của nghiệp luận ở trên. Tức là, nó
cũng có chỗ duy trì được sự điều hòa. Ta hãy thử bàn
về điểm này.
Nếu
chỉ nhìn ở bề ngoài thì thấy hoạt động ý chí (sancetanika
kamma) của người ta đơn giản, nhưng thoạt thì nó đã được
thành lập trên nền tảng và quá trình hết sức phức tạp.
Bởi thế, khi một hoạt động nào trở về với chính nó
thì cái ấn tượng phản ứng của nó cũng quyết không phải
là vật đơn thuần; nó sẽ lấy cái tính cách ấn tượng
của nó làm cơ sở để, sau khi hoạt động, tác thành thế
giới của chính nó, và kết quả của nó không phải chỉ
đồng nhất mà có đủ mọi phương diện, điều này tưởng
không cần nói ai cũng hiểu. Và nữa, trong một đời người
cũng tạo thành vô số nghiệp, rồi cùng kết hợp với những
cái đã tạo ở kiếp trước, lấy đấy làm cơ sở để tạo
thành vận mệnh của chính mình, thì quả báo sẽ có ý nghĩa
cực phức tạp, ta có thể tưởng tượng cũng thấy được.
Tuy nhiên, đứng trên lập trường ngày nay mà nói, ta có thể
chia thành hai phương diện để khảo sát, tức là, phương
diện biểu hiện năng động và phương diện hiểu hiện phản
động. Nói cách khác, nghiệp, một mặt tuy tích cực hiển
hiện những quả tương tự như chính nó, nhưng, đồng thời,
mặt khác, lại trình hiện quả thưởng, phạt. Vì, tuy cùng
một nghiệp nhưng khi chỉ khảo sát nó theo sự thật tâm lý
và khi cho nó một giá trị luân lý, thì ý nghĩa của nó có
khác nhau. Vả lại, cả hai, nếu khảo sát từ những phương
diện khác nhau của cùng một nghiệp thì ấn tượng của nó
cũng có hai ý nghĩa. Bởi thế, sau khi tìm cầu cơ sở cho hoạt
động sáng tạo mà hiển hiện thành hai phương diện thì cũng
là lẽ tự nhiên. Như thế, đứng về phương diện sự thật
tâm lý mà nói thì nó là nhân quả đồng loại, còn đứng
về phương diện giá trị luân lý mà nói thì nó là nhân quả
dị loại, phụ thuộc vào sự thưởng phạt. Nếu thuyết minh
theo tiền lệ thì như người có tâm từ thiện làm việc phú,
kết quả, chính cái tính cách đó đã nhu hòa và người ấy
trở thành người từ thiện, giàu lòng thương yêu; và tiến
lên một bậc nữa mà nói, nếu tái sinh ở kiếp sau cũng sẽ
là vị hóa thân Bồ-Tát có lòng thương người tuyệt đối.
Ðây tức là sự hiển hiện về phương diện năng động,
thuộc nhân quả đồng loại vậy. Ðồng thời; dù cho tâm
từ thiện ấy phát xuất từ động cơ thuần túy chân chính,
không mang một sự báo đáp nào nhưng đã có của và người
thì tự nó cũng đã có cái ấn tượng thực hành ý chí đó,
nó sẽ trở thành tính cách, và khi tạo thành thế giới của
chính mình thì thế giới ấy cũng sẽ trình hiện một cách
sung thực, tức chính mình sẽ sinh vào cảnh ngộ giàu sang.
Vì, như đã nói ở trên, và cũng sẽ được trình bày ở
sau, thế giới của chúng ta rốt cục cũng chỉ là vật do
tính cách của chúng ta tạo thành; đó là ý kiến đích thực
của Phật. Cũng thế, kiếp trước làm khổ người, kiếp
này hay kiếp sau càng lấy tâm hung bạo làm yếu tố, tức,
đồng thời, ở phương khác hiện ra thế giới phiền não
là cảnh địa của chính mình, cho đến tự thân đau ốm hay
chết yểu, đó tức là sự hiển hiện phản động của nghiệp,
tuy là nhân quả dị loại nhưng thật thì cũng giống như nhân
quả đồng loại, rốt cục không ngoài cái tính cách của
chính mình do chính mình tạo tác. Duy có điểm sai khác là
nhân quả đồng loại là nhân quả truy theo sự thực tâm lý,
còn nhân quả dị loại là nhân quả truy theo cái giá trị
bao hàm trong sự thực tâm lý. Lại như hai phương diện của
nghiệp không phải lúc nào cũng theo nhau để cùng một lúc
thực hiện thành quả, mà có khi hiển hiện là khác thời,
dó đó mà thế giới có nhiều phương trạng khác nhau, chẳng
hạn như những người hiền lành phúc hậu thì cứ gặp tai
nạn, nghèo khổ, còn những kẻ hung ác thì lại được giàu
có sung sướng. Những hiện tượng ấy chính là hai phương
diện kể trên biểu hiện về dị thời vậy.
Nếu
sự giải thích trên đây quả thực đúng với chân ý của
Phật thì, có thể nói, vấn đề thiện nhân, thiện ác, ác
nhân, ác quả, dù cho phương pháp biểu hiện có hơi lờ mờ,
cũng chỉ nói cùng một nghiệp nhưng có hai phương diện tác
dụng mà thôi. Cho nên, theo giải thích phân tích trên đây,
mặc dầu dị loại nhân quả trong nhân-quả-luận tuy có khó
hiểu nhưng hiển nhiên vẫn cũng có căn cứ lý luận, điều
đó rất rõ ràng. Vả lại, sự giải thích ấy không phải
là ý kiến của riêng tôi, mà, về sau, phải Duy Thức đã
chia chủng tử (ấn tượng của nghiệp) thành danh ngôn chủng
tử (sự thực) và nghiệp chủng tử (giá trị); nghĩa là,
danh ngôn chủng tử phát hiện thành thế giới sự thực, còn
nghiệp chủng tử phát hiện thành thế giới vận mệnh, lý
do thật đã rõ ràng.
Lại
nữa, trong hai phương diện nhân quả kể trên nếu đứng trên
lập trường lý luận mà nói, cái gọi là nhân quả năng động
tuy cũng có nhiều phương diện sở động, nhưng cũng có nhiều
tính xác thực; song, đây cũng do nỗ lực hậu thiên, tức
là cũng có thể được biến đổi đến một trình độ nào
đó: dĩ nhiên đức Phật cũng đã lưu ý đến điểm này.
Chẳng hạn do nghiệp kiếp trước mà tư chất ngu độn, nhưng
nhờ kiếp này cố gắng mà bồi dưỡng được tính cách minh
mẫn, như vậy là đã điều hòa được. Cũng thế, tuy tư
chất minh mẫn, nhưng vì lười biếng nên có thể mờ mất
bản chất và trở thành ngu độn. Bởi thế, đức Phật tuy
thừa nhận năng lực của tiền nghiệp rất mạnh, nhưng cũng
tưởng lệ sự tu dưỡng hậu thiên: đó là điểm khác hẳn
với túc-mệnh-luận của phái Ma-ha-lê-cù-xá (Mkkhali Gasele).
Và cái sứ mệnh duy nhất của Phật là làm cho con người
chuyển biến được cái phương diện túc nghiệp này để
trở nên sáng suốt, Phật sở dĩ là Phật chính là ở điểm
đó. Vì phương diện năng động của nghiệp vốn do ý thức
dưỡng thành, cho nên căn cứ theo hoạt động ý thức hậu
thiên cũng có thể được điều hòa chuyển biến. Trái lại,
về phương diện phản động, tức về phương diện vận mệnh,
thì Phật cũng cho rằng quy luật của nó cực nghiêm ngặt,
không thừa nhận có thể được biến đổi.
“Tỷ
Khưu, ta quyết không bao giờ nói rằng quả báo của cố tác
nghiệp tiêu diệt, không được lãnh chịu. Quả báo ấy hoặc
đời này hay đời sau nhất định phải hứng chịu” (1)
“Những
kẻ tạo nghiệp ác, dù có lên không, xuống biển hay vào hang
núi cũng không nơi nào có thể trốn thoát” (2)
(1)
A.V.p.297; Trung 3, Tư Kinh, p, 13
(2)
Dhammapala
Trên
đây là những câu Phật thường nói. Duy về nhân quả dị
loại thì vì nghiệp ở phương diện này vốn chỉ do vô ý
thức dưỡg thành, nên không thể dựa vào nỗ lực ý thức
để ngăn chặn không cho quả của nó phát sinh được. Cho
nên, đối với những tính xấu tâm lý, dù xâu xa đến như
thế nào, đức Phật đều muốn chinh phục để đạt đến
địa vị cao cả. Còn về vận mệnh may rủi thì đó là pháp
tắc tự nhiên, cho dù Phật cũng không thể tránh khỏi, chính
đức Phật cũng thường giảng dạy như thế.
“Hết
thảy cái có sinh đều có chết, thọ mệnh cuối cùng cũng
phải hết.
“Y
vào nghiệp mà chịu duyên báo, thiện, ác đều có quả của
nó.
“Tu
phúc được sinh lên cõi trời, tạo ác thì phải vào địa
ngục.
“Tu
được thì dứt được sống, chết, mà nhập niết-bàn vĩnh
viễn.
“Không
trên không, không dưới biển, không trong rừng núi, không một
chỗ nào trốn được cái chết.
“Ngay
đến chư Phật, Bồ Tát, Duyên giác và Thanh Văn còn phải
bỏ cái thân vô thường, huống nữa là phàm phu” (1)
(1)
Tham chiết Tạp, 3, cáp bản, trang 891; Ngũ-Phần-Luật, 21, tờ
2, 28a; Dh. P. 127; Suttanipata 126
Đó
là nghiệp báo sinh tử, không một ai có thể tránh khỏi. Nhiệm
vụ của Phật chẳng qua chỉ là khiến người ta nhận chân
điều đó và dạy cho phương pháp tuyệt đối thoát ly mà
thôi,
6-
CÁC LOẠI HỮU TÌNH
Theo
nguyên tắc, để thích ứng với các loại nghiệp, hữu tình
cũng có nhiều loại. Ðúng như Phật đã nói, tuy có vô số
chúng sinh, nhưng không chúng nào giống nhau là vì có những
nghiệp khác nhau. Song, nếu chỉ nói là vô số thì co chỗ
ba tiện cho việc thuyết minh, bởi thế, Phật cũng theo tập
quán đương thời, coi hữu tình cũng như một loại tồn tại
thần thoại và đại khái chia thành năm hoặc sáu loại: tức
là năm ngã (pancagatiyac – ngũ thú) hay sáu ngã (chagatiga - lục
thú) vậy. Năm ngã là: địa ngục (niraya), súc sinh (tiracchanayoni
– bàng sinh), ngã quỷ (visaya), nhân sinh (manuosa) và thiên thượng
(devalaka). Ðó là cách phân loại đầu tiên. Sau đến Ðộc-tử-bộ-bắc-đạo-phái
thêm A-tu-la (asura) vào hàng thứ tư thì thành ra sáu quả (1)
Trung Quốc và Nhật Bản thường gọi là sáu quả luân hồi
chính đã phát xuất từ đó. Sự thuyết minh tường tận về
thuyết sáu ngã đều được chép trong Tăng-Nhất-Bộ, kể
cả Hán dịch và Ba-li, và trong Trường A-Hàm bản Hán dịch
phần thứ tư (Thế-Kỳ-Kinh) v.v… Nhưng khi bàn về A-tỳ-đạt-ma
sẽ lại nói rõ hơn, ở đây chỉ lược thuật thế thôi.
Tóm lại, sự phân loại hữu tình trên đây, trừ nhân loại
và súc sinh ra, còn tất cả đều là sự tồn tại thần thoại.
Nhận xét theo tín ngưỡng nhất ban của đương thời thì cho
tất cả đều là sự tồn tại sinh tồn và Phật cũng thừa
nhận mà coi đó là một hiện tượng của thế giới luân
hồi.
Cách
phân loại năm ngã trong sáu ngã kể trên, theo một ý nghĩa
nào đó, cách phân loại thú vị nhất là về Thiên bộ. Ðức
Phật đã lấy nó phối hợp với ba cõi mà thành hai mươi
sáu loại, và trừ một bộ phận nhỏ, còn tất cả các thần
khác cho dù trong giới tín ngưỡng Bà-La-Môn cũng khó mà biết
được. Vậy, đức Phật đã dựa vào tài liệu nào để sắp
đặt và phối hợp Thiên bộ như thế? Ðây tuy không phải
là vấn đề bản chất của Phật giáo, nhưng, nếu muốn nhìn
qua tình hình của tôn-giáo-giới đương thời để hiểu rõ
nguồn gốc Phật giáo, thì có thể nói nó cũng là một vấn
đề rất cần được nghiên cứu. Vì ở đây không đủ thì
giờ nên không thể chép đầy đủ tên các cõi trời, mà chỉ
đặt thành vấn đề một cách sơ lược như thế thôi, mong
quý vị nào có chí hãy nghiên cứu nó một cách sâu xa hơn.
Lại
trong thuyết ngũ đạo cho đến thuyết lục đạo đều không
đề cập đến thực vật, nếu nói theo nguyên tắc và so với
phái Số-Luận, thì đây là một khuyết điểm của Phật giáo;
nhưng, nếu đứng trên lập trường thực tiễn tất yếu mà
nói thì đó chẳng qua chỉ vì muốn cho tiện lợi mà thôi.
Tại sao vậy? Vì, như sẽ trình bày sau, đức Phật đặt giới
bất-sát-sinh lên hàng đầu, thông cả tại gia và xuất gia,
nếu nhiếp cả thực vật vào lục đạo thì, trên lý luận,
đại khái người ta không thể sống được, bởi vì ăn cây
rau cũng phạm giới sát thì còn sinh hoạt bằng cách nào. Nhưng,
trong luật cũng có dạy dù đối với cây cỏ cũng phải có
lòng thương xót, không được dẫm bừa lên, xem thế thì biết
dù là những vật thấp kém nhất đức Phật cũng thừa nhận
sự sống của chúng.
Chúng
sinh trong ngũ đạo hay lục đạo kể trên do các sinh sản khác
nhau mà được chia thành bốn loại và gọi là tứ sinh (catassayonvya),
tức là thai sinh (jalabvja), noãn sinh (andaya), thấp sinh (sarmsedaya)
và hóa sinh (opaptika). Thai sinh thì như người và thú từ thai
mẹ sinh ra. Noãn sinh thì như loài chim từ trong trứng nở ra.
Thấp sinh thì như muỗi và ve do nơi ẩm ướt sinh ra. Hóa sinh
thì như cõi trời hay địa ngục tự nhiện hóa sinh. (1) Áo-Nghĩa-Thư
cũng đã nói đến thai sinh (jarayuya), noãn sinh (andaya), thấp
sinh (svedaja) và chủng sinh (byaja); xem thế thì tư tưởng tứ
sinh của Phật đã bắt nguồn từ đó, (1) duy có điểm khác
là đã thay thế chủng sinh bằng hóa sinh, lý do, như vừa nói
ở trên, vì Phật giáo không nhiếp thực vật vào luân hồi
giới, mà, thích ứng với tư tưởng địa ngục đang thịnh
hành thời bấy giờ, cần phải thuyết minh về cách hóa sinh.
(1)
Tham chiếu M. 12 Mahasikanada sutta Trung, Xá-Lợi-Phất sở thuyết
vol, 1, p. 73
Tuy
nhiên, cứ theo lời Phật dạy phải mến tiếc cỏ cây và
cho việc phá hoại thảo mộc là một tội ác (2) thì biết
Phật cũng đã từng để ý về điểm này.
Lại
nữa, ngũ đạo và tứ sinh trên được phối hợp với các
cõi thì đức Phật lấy đó làm ba cõi, tức cõi dục (kamaloka
- dục giới), cõi sắc (rupaloka - sắc giới) và cõi vô sắc
(arupaloka – vô sắc giới). Cõi dục là nơi lòng dục thịnh
nhất, bao gồm từ địa ngục đến một bộ phận trên cõi
trời; tất cả bốn loài (tứ sinh) đều thuộc cõi này. Sắc
giới và vô sắc giới toàn là cõi trời và đều thuộc hóa
sinh. Cả hai cõi này, năng lực thiền định tuy cực mạnh,
nhưng cõi sắc thì vẫn còn hoạt động vật chất (thân thể),
cõi vô sắc, mới là nơi dứt mọi hoạt động, chỉ còn tên
gọi mà thôi.
(1)
Tham chiếu Ấn-Ðộ-Triết-học-Tôn-Giáo-Sử trang 363; ibia,
p, 150
(2)
Brahmajals sutta II tức D, I, p. 5 Simamapada sutta 45 và D. 164 v.v…
nói đến can chủng (mulabija); cán chủng (khendabija), tiết chủng
(phala bija) và chủng chủng (bija bija) v.v…
Ở
đây có điểm ta cũng cần chú ý là: thuyết tam giới này
cũng có dính líu đến Áo-Nghĩa-Thư, tức chia hữu tình thành
ba loại là: thô ngã sinh (olarika attapa-tilabba), ý thành ngã
sinh (samamaya attapatilabha); và tưởng sở thanh ngã sinh (samamaya
attapatilabha). Từ Bá-tra-bà-lâu kinh (Potthapada) trong Trường
Bộ đến các kinh khác, người ta đều thấy cách phân loại
trên đây. Theo sự giải thích của Phật-Âm (Buddhaghosa) thì
thô ngã sinh là chỉ cho thân ở cõi dục mạnh về yếu tố
nhục thể, ý thành ngã sinh chỉ cho thân ở cõi sắc có đầy
đủ các căn; sau hết, tưởng sở thành ngã sinh là chỉ cho
thân ở cõi vô sắc, hoàn toàn thuộc hoạt động của thức.
Cứ theo chính văn trong các kinh điển mà khảo sát thì đây
cũng là sự giải thích rất đúng. Song, điều nên nhớ ở
đây là thuyết ngũ tạng trong Khang-đức-lợi-dã-áo-nghĩa-thư
(Taattirvya up.) cho tổ chức của hữu tình là lấy chân ngã
làm trung tâm rồi tổ chức thành năm lớp mà có. Trước hết
từ bên ngoài là thực vị sở thành ngã (amrarasamayatman), ý
sở thành ngã (manamayatman), thức sở thành ngã (vijnamayatman),
hoan hỷ sở thành ngã (ananda-mnayatman) rồi dần dần đi đến
chỗ nhỏ nhiệm mà gần như chân tướng của nó, (1) Bây giờ
hãy so sánh thuyết này với tam ngũ sinh của Phật thì hiển
nhiên cái mà trong kinh gọi là thô ngã sinh chính là tương
đương với cái mà Áo-Nghĩa-Thư gọi là thực vị ngã vậy.
Còn ý thành ngã sinh và tưởng sở thành ngã sinh thì cũng
tương đương như ý sở thành ngã và thức sở thành ngã trong
Áo-Nghĩa-Thư vậy.
(1)
Ấn-Ðộ-Triết-học-Tôn-Giáo-Sử, trang 313 – 314
Do
đó, ta thấy giữa hai thuyết đã có ít nhiều quan hệ lịch
sử. Không những thế, Phật Âm lấy đó phân phối với ba
cõi để thuyết minh đã hẳn rồi, nhưng, Hữu Bộ, vì cho
thô ngã sinh là nhục thể, nên đã lấy ý sở thành làm thân
trung hữu, tức có nghĩa là thâu nhỏ nhiệm, và lấy kinh Trung
Hữu tồn tại để minh chứng. Nếu sự giải thích này quả
thật phù hợp với ý kinh thì thuyết tam thân trên đây cũng
lại gần giống như thuyết của Áo-Nghĩa-Thư. Nhưng, nói một
cách rốt ráo thì giải thích của Phật Âm vẫn gần với
ý kinh hơn. Ở đây, vì bàn đến sự khu biệt các loài sinh
mà tôi bỗng nhớ đến tài liệu Áo-Nghĩa-Thư và chỉ giới
thiệu qua thế thôi.
Thế
là đức Phật đã đứng về nhiều phương diện để chỉ
bày sự khác biệt của hữu tình như đã được trình bày
ở trên. Song, nếu đứng trên lập trường đệ-nhất-nghĩa
mà nói thì tất nhiên chẳng cần số mục phân loại nào cả.
Phật cho tất cả sự sai biệt giữa chúng sinh chỉ là do nghiệp
mà có; nói về bản chất thì tất cả đều giống nhau, kẻ
cao thượng có thể trở thành đê tiện, và kẻ đê tiện
cũng có thể trở thành người cao thượng. Sở dĩ chia ra loại
mục là muốn theo hữu tình quan nhất ban của thời bấy giờ
cho tiện lợi mà thôi.
Trở
lên chúng tôi đã giữ một thái độ cực kỳ tự do và luận
nạn để trình bày về ý nghĩa nội bộ của thuyết nghiệp
trong Phật giáo. Sau đây, để bổ sung thêm, chúng tôi sẽ
nói qua về giá trị của nghiệp, bở vì có một phái học
giả - trong đó cũng có cả những giáo đồ Phật giáo nữa
– cho rằng thuyết nghiệp là một thuyết rất cũ kỹ, không
còn hợp thời, và cũng hết sức sống. Do đó, đối với
giá trị đích thực của nghiệp có nhiều người chưa lý
giải được.
Trước
hết hãy khảo sát về mặt sinh-vật-học. Die ta cùng của
nghiệp với thuyết di truyền có thể có chỗ tương thông.
Các học giả Tây phương cũng đã nói thế. Khí chất cũng
như khuynh hướng của người ta ở đời này là do các kinh
nghiệm ở đời trước, cho dù có khác nhau ở điểm một
phần do tổ tiên, một phần do chính mình thì nó vẫn có chỗ
tương tự. Huống chi, kết quả của thuyết nghiệp thừa nhận
tất cả đều là quan hệ luân hồi, như vậy cũng có chỗ
tương thông với tư tưởng tiến hóa (bao gồm cả thoái hóa
nữa). Cho nên, đứng trên lập trường sinh-vật-học mà nói
thì ý nghĩa của thuyết nghiệp cũng có điểm rất hứng thú;
đó là một sự thật không thể phủ nhận. Tuy nhiên, ta nên
thận trọng khi coi ngang hàng sự khảo sát về tiến hóa luận
với thuyết nghiệp của đức Phật. Tóm lại, so với tư tưởng
cho loài người và các động vật khác là sự tồn tại đặc
thù hoàn toàn khác nhau rồi giải thích sự sai dị về khí
chất của người ta là năng lực siêu tự nhiên thì thuyết
nghiệp lực có thể có điểm phù hợp với kiến giải của
học thuật hiện đại. Ðiều này ai cũng phải thừa nhận.
Lại
đứng trên lập trường tâm lý học mà khảo sát thì, như
đã nói ở trên, Phật giáo cho nghiệp là ý chí tích tụ kinh
nghiệm trở thành tính cách vô ý thức thì điều này tâm
lý học biện nay cũng thừa nhận. Rồi Phật giáo cho tính
cách vô ý thức này là căn để của ý thức thì cũng lại
tương hợp với thuyết vô ý thức (Unbewsustainstheorie). Về
tất cả phương diện đó đều có điểm phù hợp với sự
khảo sát về tâm lý học. Do đó, trong số các Phật tử Tây
phương, đã nhiều người nhờ ở hứng thú tâm lý học mà
bắt đầu nghiên cứu Phật giáo. Lại cũng có nhiều người
do sự hiểu biết tâm lý học mà thấy thuyết nghiệp có một
hứng thú rất lớn. Như vậy, nếu đem ứng dụng vào giáo
dục thì, như đã trình bày ở trên, tất cả mục đích giáo
dục của nó, nói theo thuật ngữ Phật giáo, đều có thể
bảo là tích tụ thiện nghiệp. Tại sao? Vì, mục đích giáo
dục – dù là đạo đức hay kỹ thuật - đều nhằm vào sự
huấn luyện lành mạnh để dưỡng thành tính cách vô ý thức.
Ðến như Phật giáo thì không những chỉ lấy đó thực hành
mà còn cho ý chí tự nó là nghiệp nữa, cho nên, nếu ứng
dụng thuyết này thì sự tu dưỡng nội bộ còn có một ý
nghĩa phi thường trọng đại. Nói khác đi, nếu xa lìa những
sự tu dưỡng bên trong thì tất cả giáo dục đều không thể
được thành lập. Biết được điều đó thì ta sẽ thất
được cái hiệu quả của nền giáo dục nghiệp luận này.
Thuyết
nghiệp tuy có những hương diện như thế, nhưng, khảo sát
về giá trị của nó thì ý nghĩa trọng yếu nhất có thể
bảo nó là thuyết luân lý, tức là lý luận và giả định
về sự nhất trí giữa thiện, ác, họa, phúc. Bây giờ chúng
tôi đứng vè phương diện này để so sánh nó với các thuyết
của nhiều người từ trước và đưa ra những đặc trường
của thuyết nghiệp.
Sự
nhất trí giữa thiện, ác và họa, phúc là một điều rất
khó chứng minh, nhưng, như Khang Ðức đã nói, nó lại là một
yêu cầu mà người ta không thể làm ngơ. Sự thưởng, phạt
và những định chế trật tự trong xã hội nhân loại thật
đã bắt nguồn từ đó. Tuy nhiên, trên thực tế, yêu cầu
này luôn luôn trở thành tương phản: những người hiền lương
hay gặp tai họa, những kẻ gian ác thường lại được sung
sướng, vẻ vang: đó là hiện tượng bất tuyệt từ xưa đến
nay. Ðiều đó có nghĩa là có đạo trời hay không? Vấn đề
này, từ xưa, người ta đã đưa nhiều thuyết để muốn điều
hòa những nỗi bất bình khiến cho yêu cầu của người ta
được thỏa mãn. Nói một cách khái quát, ta có thể đúc
kết thành những điểm sau đây:
Thứ
nhất, hy vọng ở sự cải thiện tổ chức xã-hội-Xã hội
nguyên là cơ quan có đầy đủ trách nhiệm về yêu cầu này,
nhưng vì tổ chức của nó không được hoàn toàn nên chưa
thể thực hiện được yêu cầu đó một cách triệt để,
người ta trông đợi trong tương lai sự tổ chức xã hội
được cải thiện thì mới dần dần thực hiện được sự
nhất trí; cho nên, ngoài sự tiến bộ cải thiện của xã
hội ra không còn phương pháp nào để thỏa mãn đòi hỏi
này. Theo tôi thì lập luận ấy đại khái cũng có lý do xác
đáng và xã hội có lấy đó làm lý tưởng để mưu tiến
bộ thì mới có thể hoàn thành được nhiệm vụ của nó.
Tuy nhiên, trên thực tế, con đường đi đến đó còn xa, mà
con người, thay vì chờ đợi và hứa hẹn ở tương lai, lại
lấy yêu cầu đó làm vấn đề trước mắt. Ðối với những
kinh nghiệm hiện tiền, nếu người ta cho là những sự tượng
bất hợp lý, muốn tìm một giải đáp thỏa đáng và một
phương pháp an tâm, thì giải đáp ấy có thể nói là giải
đáp thích đáng nhất cho vấn đề này.
Thứ
hai là thuyết dựa vào sự thưởng phạt của chính lương
tâm mình-tức là những người trung nghĩa, thiện lương hay
làm việc phúc mà không may có gặp tai họa đi nữa thì trong
lòng cũng vui vẻ, thỏa mãn, trái lại dù bề ngoài có thành
công đi nữa mà lương tâm thường ray rức bất an: đó là
thiện, ác, họa, phúc không nhất trí. Thuyết này chủ yếu
lấy lương tâm làm cơ sở để luận về các chủ trương
của các nhà luân lý, theo tôi, dĩ nhiên có một giá trị trọng
đại; duy có điều là tính cảm thụ của lương tâm người
ta không phải ai cũng giống ai. Nếu theo thuyết này thì người
nào lương tâm trì trộn thì hạnh phúc cũng trì trộn như
thế, đây có thể bảo là một điều bất hạnh. Tại sao?
Vì lẽ, nếu chỉ dựa vào sự thưởng phạt trong lương tâm
thì lương tâm càng trì trộn bao nhiêu, cái trình độ của
sự thưởng phạt cũng sẽ càng nhẹ nhàng bấy nhiêu.
Thứ
ba là thuyết mong ở tính thỏa đáng của con cháu - tức là
theo tư tưởng Nho Giáo “tích thiện chi gia, tất hữu dư khánh;
tích bất thiện chi gia, tất hữu dư ương” – làm lành,
gặp lành, làm ác gặp họa. Tóm lại, nếu chính mình không
thể thực hiện được yêu cầu ấy thì hy vọng con cháu sẽ
có thể tiếp tục thực hiện. Theo tôi thấy thì thuyết này
cũng có lý, vì con cháu nói dõi mình, vả lại, nói theo thuyết
di truyền, nếu thân tâm của ông cha vẫn có thể truyền đến
con cháu thì sự thưởng, phạt của họ cũng có thể liên
lụy đến con cháu họ. Nhưng khuyết điểm của thuyết này
là ở chỗ không quyết định được rằng quả thật có cái
xác-thực-tính phổ biến ấy không? Nhất là đối với những
người không có con cháu hay những người có con cháu mà không
đoái hoài đến, có cũng như không, thì vấn đề đó sẽ
ra sao? Nếu gặp những trường hợp như thế thì thật khó
mà đưa ra được một giải thích thỏa đáng. Ðó là điều
đáng tiếc.
Thứ
tư, là thuyết căn cứ vào tư tưởng kể trên để kháng trương
thêm đến thân thích và xã hội nhất ban. Một phái Vedanta
của Ấn Ðộ bảo rằng khi một người sắp lâm chung thì
họ hàng của người ấy sẽ phải chịu trách nhiệm về những
nghiệp thiện, ác của người ấy. Trong số các học giả
cận đại cũng có người (như ông Paul Corus của Hoa-Kỳ chẳng
hạn) cho rằng những nghiệp thiện, ác của người ta, nặng
hay nhẹ, đều lưu lại xã hội mà thể hiện kết quả của
chúng, tức là, một mặt chủ trương nghiệp lực bất diệt,
đồng thời, mặt khác, lại muốn tìm cầu cái thỏa-đáng-tính
của nó ở xã hội. Xét về lý do của thuyết này thì cũng
giống như các thuyết thứ nhất và thứ ba nói trên, cho nên,
có thể bảo nó không hoàn toàn.
Như
vậy, nhận xét các đáp án kể trên, tuy giải đáp nào cũng
có lý do của nó, nhưng tất cả đều không được triệt
để, vì, chỉ căn cứ vào hiện tại mà tìm cầu thỏa-đáng-tính
thì không thể đạt đến một giải quyết tối chung. Vả
lại, vì chủ trương quá độ đến nỗi đi đến chỗ cực
đoan, tức là thuyết ngẫu nhiên, cho may, rủi đều là những
hiện tượng tình cờ và thiện, ác, may, rủi, cùng kết hợp
là một quan niệm sai lầm căn bản. Trong các thuyết xưa, nay,
những luận thuyết tỷ khuynh thì tất khinh thường đạo đức,
còn các luận thuyết hữu khuynh thì muốn tôn sùng quyền uy
đạo đức, siệu việt công lợi. Tóm lại, cả hai đều chủ
trương vứt bỏ yêu cầu thiện, ác, họa, phúc nhất trí,
và đó là điểm tương đồng giữa hai khuynh hướng. Nhưng
cả hai khuynh hướng này đều không thể đạt được một
sự thỏa mãn tối hậu, cho nên sẽ phải dựa vào ý thức
tương lai đề quyết định sự thưởng, phạt.
Thứ
năm, là thuyết dựa vào sự phán xét của ý trời trong tương
lai. Theo thuyết này họa, phúc, thiện, ác ở hiện tại tuy
không nhất trí, nhưng sau khi chết, thần minh hoặc trời sẽ
phán xét, thiện thì thưởng, ác thì trừng, không hề thiên
vị, do đó, yêu cầu này có thể được thỏa mãn. Trong các
tín ngưỡng hữu thần tại Ấn-Ðộ cũng có phái chủ trương
như thế, và tư tưởng về sự phán xét của Diệm-ma-vương
(Yamaraja) rất thông tục cũng thuộc chủ trương này. Lại
như tư tưởng về sự phán xét trong ngày tận thế của cơ-đốc-giáo
chính cũng phát xuất từ đó, nhất là chủ trương linh hồn
bất diệt và thần linh tồn tại của Khang-Ðức cũng hoàn
toàn muốn làm thỏa mãn yêu cầu ấy. Nhưng, điểm lờ mờ
thứ nhất của thuyết này là: nếu có một vị thần toàn
trí toàn năng thì tại sao lại phải đợi đến tương lai
mới phán xét? Ý chí của một người tự do hành sử, nếu
có điều lầm lỗi thì sao không trừng phạt ngay và nếu họ
hành động thiện lương thì tại sao không tưởng thưởng
ngay? Ðiểm thứ hai, các phái hữu thần, nhất là Cơ-đốc-giáo,
cho rằng những kẻ chính nhân quân tử mà phải gặp vào cảnh
khốn cùng là do nơi ý thần muốn thử thách thế thôi, cuối
cùng rồi sẽ được phán xét một cách rất công bằng chính
trực. Nếu vậy thì có thể bảo những kẻ bất lương mà
được vinh hiển cũng là do thần thử thách! Như thế thì
sự phán xét trong tương lai của thần ý hẳn là không được
công bằng: đó là một sự thật khó có thể phủ nhận. Nhiều
người không thỏa mãn với những khuyết điểm ấy đã bài
bác thuyết phán xét trong ngày tận thế của tín đồ Cơ-đốc-giáo
mà chủ trương một chủ nghĩa tương tự như tư tưởng Ấn-Ðộ,
nhất là vị-lai-quan của Phật giáo, đó là tâm linh chủ nghĩa
(Spiritualism) rất thịnh hành. Theo họ nói thì linh hồn thích
ứng với nghiệp kiếp trước đến thẳng một cảnh địa
tương đương (hoặc là ba ngày sau khi chết), dưới đến dịa
ngục, trên đến thần vị có nhiều giai đoạn, hệt như lục
đạo và thập-giới-quan của Phật giáo. Duy có điểm khác
nhau là họ cho sau khi đã hoàn tất những tội báo ấy thì
lập tức linh hồn sẽ lần lượt tiến lên các địa vị
cao. Ðặc biệt một điều làm người ta cảm thấy rất hứng
thú là: nhà tâm-linh-học trứ danh người Anh, mục sư Owen
đã kể lại trong tờ Weekly Despatch số mùa xuân, năm Ðại
Chính thứ chín, câu truyện một người chết báo tin về.
Theo câu truyện này thì một người nọ, sau khi chết vì sơ
thần linh trừng phạt những tội trạng của mình nên trong
lòng luôn luôn thấy lo sợ bất an. Ðúng lúc đó có một vị
thiên sứ đến bảo rằng: “Tội của nhà ngươi là do chính
nhà ngươi kết liễu lấy chứ không phải do thần linh nào
phán xét cả”. (Weekly Despatch, 15-2-1920). Như vậy thì thuyết
phán xét ở ngày tận thế và thuyết thần ý tài phán đã
bắt đầu lung lay giữa các mục sư mà tiến gần đến một
loại tư tưởng như thuyết nghiệp của Phật giáo vậy. Những
phái hữu thần tại Ấn-Ðộ tuy chủ trương thần linh phán
xét, song cũng thừa nhận nghiệp của cá nhân, nghĩa là thân
cũng y theo nghiệp mà phân xử để định tội trạng, quy trách
nhiệm cho cá nhân. Như vậy thì không cần có thần cũng có
thể y theo nghiệp mà tự xử theo luật tự nhiên vậy. Nếu
cứ miễn cưỡng lấy thân ý thêm thắt vào để cố duy trì
thuyết phán xét do thần ý thì điều đó rốt cục cũng chỉ
là một lý luận nửa nạc nửa mỡ mà thôi.
Xem
thế đủ biết sự phánx ét theo thần ý cũng có nhiều khuyết
điểm và người ta không thể nhận nó là giải đáp tối
hậu được. Ngoài ra, chỉ có chính mình hoàn thành nghiệp
của chính mình và thuyết tam thế nghiệp của Phật giáo là
thuyết có thỏa-đáng-tính hơn hết. Tự mình gây nghiệp,
tự mình thực hiện để rồi tự nhận lấy quả báo thì
tưởng không còn cách phán xét nào công bằng hơn. Vả lại,
điều đó không phải chỉ bắt đầu ở kiếp này mà nó nối
tiếp từ không biết bao nhiêu kiếp trước, cho nên, sự khốn
cùng của người chân chính và sự vinh hiển của kẻ bất
lương, nếu cứ nhận xét ở kiếp này thì thấy bất công
nhưng nếu quan sát từ những kiếp xa xưa thì điều đó không
hề bất công chút nào. Tại sao? Vì theo Phật giáo, như đã
được trình bày ở trên, sự tốt, xấu của vận mệnh, và
quả đẳng lưu của thiện, ác không hẳn cùng một lúc trình
hiện một cánh nhất trí; cái quả thiện tạo nên ở kiếp
này chưa hẳn được thụ báo ở kiếp này mà có khi hàng
bao nhiêu kiếp sau mới chịu báo, không hề sai một mảy may,
và như thế thì quyết không phải luống công vô ích. Cho nên,
một khi có được niềm tin vững chắc ấy thì người ta có
thể bình thản, an vui với số phận và cố gắng làm các
việc phúc thiện. Cũng thế, nếu người ở kiếp này không
gây tôi ác mà cứ gặp những tai nạn rủi ro thì sẽ hiểu
rằng do kết quả cái nhân mình đã gieo ở các kiếp trước
bây giờ mới chịu, và như vậy, tâm họ sẽ trở nên nhẹ
nhõm, chấp nhận trách nhiệm của mình và an nhiên tự tại.
Nếu người ở kiếp này chẳng có phúc đức gì mà được
sung sướng, may mắn thì đó là do phúc đức gây dựng ở
kiếp trước đã thành thục và phần phúc đức sẽ giảm
thiểu. Phàm những sự sai biệt như vậy đều dự bị trong
tương lai để cổ vũ tất cả động cơ làm thiện. Ðứng
trên lập trường đệ-nhất-nghĩa mà nói Phật giáo cho cai
chính nghĩa và đạo đức xây dựng trên lập trường công
lợi là tâm còn chỗ sở đắc và cực lực bác bỏ nó, và
Phật thường dạy cái thiện cao tột là phải siêu việt hẳn
đạo đức còn tâm sở đắc. Tóm lại, đứng trên lập trường
họa, phúc, thiện, ác cùng nhất trí mà nói thì không có một
thuyết minh náo có tính cách thỏa đáng và đây hy vọng như
thuyết nghiệp của Phật giáo, bởi thế, những người Phật
tử chân chính đều đã lấy đó làm chỗ an tâm lập mệnh,
hăng hái tu đạo, và, trong lịch sử Phật giáo, đây là một
sự thật rất rõ ràng. Như sẽ được trình bày trong thiên
thứ ba, trong số các đệ tử của Phật cũng có nhiều người
là điển hình cụ thể. Tức như trường hợp Nhật Liên chẳng
hạn, cũng đã phải chịu biết bao nhiêu sự bách hại, nhưng
cũng vui vẻ và thản nhiên nhận lãnh và nỗ lực truyền bá
đạo lý Pháp-Hoa và vững tin ở thuyết nghiệp. Bên Âu Châu
tuy cũng có nhiều người chê thuyết nghiệp là sự mê tín
của Ðộng Phương, nhưng lại tin thuyết phán xét trong ngày
tận thế. Những người thiếu trí phán đoán như thế không
phải là ít. Nói cho cùng thì thuyết nghiệp tuy khó chứng
minh theo khoa học, nhưng trong các thuyết minh về điểm này,
nó là một thuyết minh hợp lý nhất; đó là điều ta cần
ghi nhận.TVHS