CHƯƠNG
II
HỮU
TÌNH LUẬN ÐẠI CƯƠNG
I-
VÔ-NGÃ-LUẬN
Tất
cả đều do nhân duyên sinh, trong đó không có một cái gì
tồn tại tuyệt đối, bởi thế hữu tình (satta), tức sinh
vật, dĩ nhiên cũng không ngoài nguyên tắc ấy, còn cái tự
ngã (atta atman) mà người đương thời cho là một linh thể
cố định thì đó chỉ là sản phẩm của không tưởng mà
thôi.
“Hỏi:
Ai tạo ra hình này (bimla = hữu tình)? Người tạo ra hình ấy
ở đâu? Từ đâu hình này sinh? Rồi về đâu hình này diệt?”
“Đáp:
Hình này chẳng phải tự tạo, cũng chẳng phải do ai tạo,
do nhân duyên (ketum paticca) mà sinh, nhân duyên diệt thì diệt;
cũng như hạt giống gieo ngoài ruộng, gặp đất gặp nước
và ánh nắng nhờ đó mà nảy nở; (5) uẩn, (18) giới cũng
do nhân duyên mà sinh, nhân duyên diệt thì diệt.” (1)
(1)
Số-Luận, I, p. 134; Tạp-Hàm 45, cáp bản trang 31.
Trên
đây là quan niệm của Phật và các đệ tử về bản thể
hữu tình, tức hữu tình được thành lập bởi những yếu
tố chủ quan, khách quan và mối quan hệ giữa các yếu tố
đó. Nói khác đi, là được thành lập bởi nhân duyên. Nếu
nói theo thí dụ mà Phật giáo đồ rất ưa dùng thì như một
cỗ xe do nhiều bộ phận hợp lại mà thành. (1) Ðó là vô-ngã-luận
(anatta vada) của Phật giáo và là chủ trương hiển thứ nhất
trong giáo lý. Tuy nó là kết luận của nhân-duyên-quan cũng
không ngoài việc lấy sinh-mệnh-quan-vô-ngã-luận làm trung
tâm để phát huy và khoáng đại. Lại như chủ nghĩa vô thần
không những chỉ là chủ trương của Phật Giáo mà cũng còn
là chủ trương của Kỳ-Na-Giáo và phái Số-Luận nữa, nhưng,
ngoài Phật giáo ra, có lẻ không có giáo phái nào khác đã
phá định-mệnh-luận cá nhân để tìm cầu giải thoát tôn
giáo: đó là một đặc trưng của Phật giáo. Bởi thế, về
căn cứ vô-thần-luận Phật đã không quan tâm thấy, nhưng,
trái lại, đã dốc toàn lực vào việc luận chứng vô-ngã-luận,
điều đó tưởng không có gì là lạ cả. Tuy nhiên, theo chỗ
tôi thấy, sự giải thích và luận chứng của Phật về chân
nghĩa của vô-ngã-luận, thông lệ, phần nhiều có tính cách
cơ giới. Nhưng ở đây tôi sẽ không bàn đến những phương
thức luận chứng ấy, đợi khi nói về tổ chức hữu tình
thì tự nhiên ta sẽ thấy rõ bản ý của nó.
(1)
HỎI: Ai tạo ra chúng sinh? Chúng sinh diệt rồi về đâu?
ÐÁP: Ông muốn biết ai tạo ra chúng sinh ư? Ðó là ý nghĩ
của ma vậy, chúng sinh chỉ do chư hành tập hợp lại mà thành
(suddha sankharapunja) trong đó không có cái gì có thể được
gọi là hữu tình (quan niệm định mệnh cá nhân); cũng như
các bộ phận tập hợp lại mà gọi là xe, cũng thế, chỉ
dựa vào (5) uẩn mà (tạm) có ái tên chúng sinh mà thôi…
(S. I, p, 135; Tạp 44, trang 731). Ðó là bài tụng có tiếng của
Bạt-địa-la-ni (Vajisa). Sau, thí dụ cỗ xe của Long-Quân (Nagasena)
nói về vô-ngã-luận cho vua Di-lan đà chính đã phát xuất
từ đó (Xem Milinda Panda 9, 111, 1-8). Lại trong Tạp-Hàm, bản
Hán dịch thì bảo đó là lời nói của Thi-la-ni (Sela), đây
tuy là một sự thực lịch sử nhưng nay vẫn chưa thể xác
định được.
2-
NHỮNG YẾU TỐ TỔ CHỨC THÀNH HỮU TÌNH
Song,
đức Phật cho những yếu tố tổ thành Hữu tình là gì? vấn
đề này, nói một cách đại thể, Phật chia những yếu tố
thành lập Hữu tình thành hai loại: một là yếu tố phi-vật-chất
(arupina), và hai là yếu tố vật-chất (rupina). Nói một cách
dễ hiểu thì đó là yếu tố tinh thần và yếu tố nhục
thể, hai yếu tố ấy kết hợp lại mà thành Hữu tình, và
nói theo thuật ngữ là danh-sắc (namarupa) vậy. Danh từ này
đã được dùng làm thuật ngữ từ thời đại Phạm-Thư và
thường chỉ nghĩa hiện tượng và cá thể (individual), (1)
Phật cũng thu dụng và cho đó là đơn vị thành lập Hữu
tình (2).
(1)
Ấn-Ðộ-Triết-học-Tôn-Giáo-Sử trang 259-260.
(2)
Sự giải thích tường tận về namarùpa, xin xem Max Walleser:
Die Philosophische grundlaedes alteren Buddhism (Heidebberg 1904, s. 42-64.
Theo
sự giải thích của Phật giáo thì danh là yếu tố tinh thần,
chỉ cho thụ, hưởng, hành, thức trong thuyết Ngũ-uẩn, còn
sắc là yếu tố vật chất, chỉ yếu tố nhục thể do bốn
đại tạo thành (1). Nói cách đơn giản, danh, sắc là sự
tồn tại của thân và tâm hợp thành. Theo Phật, nếu bảo
sinh mệnh (jiva) và thân thể là một hay khác nhau đều là
sai lầm(2) bởi vì danh, sắc phải hòa hợp lại mới thành
lập được hữu tình. Cứ xem thế thì tư tưởng của Phật
tuy có phản phất phong vị nhị-nguyên-luận, nhưng thật ra
cũng có thể cho nó là một loại Tịnh-hành-luận (parallelism)
Phật lại còn chia sẻ danh, sắc thành nhiều thứ để nói
về những yếu tố thành lập hữu tình, như lục giới, ngũ
uẩn, tứ thực, thập nhị xứ, thập bát giới v.v… Vì có
khi Phật chú trọng quan sát về thân thể, có khi chỉ nhấn
mạnh về phương diện tinh thần, có khi chú ý quan sát về
mặt hoạt động nhận thức, nghĩa là, Phật đã đứng trên
nhiều lập trường khác nhau để nói rõ sự cấu tạo của
Hữu tình. Bây giời tôi hãy căn cứ theo sự phân loại chủ
yếu đó để trình bày một cách đơn giản như sau:
Trước
hết hãy bàn về thuyết Lục-Giới. Thuyết này chủ yếu thuyết
minh về yếu tố vật chất, tức tổ chức của thân thể,
và nó thường được nói đến trong Trung-Ấn-Ðộ-Triết-học-Tôn-Giáo-Sử-Hàm
42, Phân-biệt-lục-giới kinh (M.140 Dhativibhanga) và các kinh
khác. Theo thuyết này thì Hữu tình là do đất, nước, lửa,
gió, không và thức, được gọi là lục đại, tạo thành;
nhờ năm giới (đại) trước mà có các cơ quan của thân thể
và tác dụng của chúng_đất là xương, thịt; nước là máu
và chất lỏng trong thân thể; lửa là nhiệt khí; gió là sự
hô hấp; không là các lỗ trống_nhờ vào một giới sau cùng
(thức) mà biểu hiện các hoạt động tinh thần. Khi quan sát
về phương diện này, không thường chia chẻ và thuyết minh
về tổ chức thân thể một cách rất chi li và tường tận,
nhưng sợ quá phiền tỏa nên ở đây tôi không dám đi sâu
vào chi tiết. Tóm lại, thuyết Lục-giới tuy không phải phân
loại trọng yếu bằng thuyết ngũ-uẩn, nhưng về phương diện
thuyết minh tổ chức Hữu tình, dĩ nhiên, nó cũng là một
thuyết quan trọng. Về sau Châu-Ngôn-Tông chủ trương Lục-đại-duyên-khởi
thật ra cũng đã bắt nguồn từ cách phân loại này.
(1)
Trung-Hàm 7, Ðại-Câu-Hi-La kinh, Cáp bản, trang 30; Cullaniddesa,
p.181
(2)
Tạp 34, trang 667; M. I, pp. 485-486.
Thứ
hai là thuyết Tứ-Thực. Thuyết này đứng trên lập trường
duy trì sinh mệnh, tức Hữu-tình-thể, chia sự thành lập hữu
tình làm bốn yếu tố để quan sát. Một là đoạn thực (kabalinkarahara)
là bộ phận nhờ vào thực vật để nuôi sống, tương đương
với cái gọi là “nhờ ăn mà sống” (annarasamayatman) trong
Áo-Nghĩa-Thư, là yếu tố nhục thể. Còn hai, ba và bốn là
những yếu tố tinh thần, từ thô đến tinh, tức là xác thực
(vinnana-ahara). Thuyết này nói rõ chúng sinh nhờ tứ thực (bốn
cách ăn) mà được cấu thành. Tuy rất tương tự như cái
mà Áo-Nghĩa-Thư gọi là Ngũ Tạng (1) nhưng, Áo-Nghĩa-Thư cho
chân tính thực ngã là hoan hỷ ngã (anandanayatman), Phật giáo
thì cho là vô ngã. Trong khi nói hết thảy chúng sinh nhờ ăn
mà sống (sabbe satta aharatthitiha) thật ra cũng rất tương đồng
với cái gọi là hết thảy chúng sinh nhờ vào hành mà sống
(sabbe satta sankhathitika), bởi thế, tuy nói là ăn nhưng không
cho đó là trung tâm của mùi vị. Ðiều này đã được Phật
chỉ bày rõ, vì vậy không nên chấp chặt vào văn tự một
cách thái quá.
Thứ
ba là thuyết Ngũ-uẩn (pancakkhandha) được Phật
sử dụng một cách rất phổ biến và, vì vậy, có thể được
coi là đại biểu cho các yếu-tố-quan. Thuyết này chia tổ
chức của người ta thành năm loại để quan sát, đó là:
sắc (rupa - vật chất), thụ (Vedana - cảm tình) tưởng (sanna
- biểu tượng) hành (sankhara – ý chí) và thức (vinnana –
ý thức, ngộ tính). Trái với thuyết Lục-giới nói trên,
phân loại Ngũ-uẩn này chỉ chuyên thuyết minh về những yếu
tố tâm lý. Sắc thu nhiếp tất cả những yếu tố vật chất,
còn bốn uẩn kia (thụ, tưởng, hành, thức) là những yếu
tố tâm lý trọng yếu, nhưng trong phần tâm-lý-luận sau sẽ
nói một cách rõ ràng, ở đây chưa đề cập đến.
Ngoài
ra, còn có những phương pháp phân loại khác chuyên lấy hoạt
động nhận thức làm tiêu chuẩn như thuyết lục xứ (chayatana)
chia ra mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý, rồi cộng thêm lục
cảnh sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp thành ra thập-nhị-xứ.
Rồi lại phối hợp lục-căn, lục cảnh và lục thức mà
thành thập-bát-giới (18 giới). Nhưng, để cho tiện lợi,
tất cả cũng sẽ được thuyết minh rõ ràng trong chương tâm-lý-luận
ở sau, đây chỉ giới thiệu qua về danh mục mà thôi.
(1)
Về thuết Ngũ-Uẩn, xem Ấn-Ðộ-Triết-học-Tôn-Giáo-Sử,
trang 312-314.
Tóm
lại, dù là phương pháp phân loại nào đi nữa theo Phật thì
Hữu tình là một hợp thể gồm nhiều yếu tố tụ tập lại
chứ quyết không phải là một thể thuần nhất, đơn độc
và cố định; và bất cứ yếu tố nào cũng đều niệm niệm
sinh diệt, nhất là hiện tượng tâm lý luôn luôn lưu chuyển
biến thiên, không một phút nào dừng ở một chỗ, trong đó
không có cái gì được gọi là ngã thể thường trụ cả.
Do đó, cứ theo phương pháp quan sát này thì đây có thể cũng
coi là một căn cứ của vô-ngã-luận. Phương pháp quan sát
này cũng tương tự như tâm-lý-học hiện đại, lấy những
hoạt động tinh thần và cân nhục làm điểm xuất phát rồi
phân tích và khảo sát mọi hoạt động tâm lý để đi đến
chỗ bác bỏ cái gọi là tự ngã cố định. Lại nữa, phương
pháp quan sát yếu tố trên đây, dĩ nhiên, là lấy nhân loại
làm trung tâm, nhưng, đứng trên lập trường của Phật giáo
mà nhận xét thì không phải nó chỉ hạn cục ở nhân loại
mà có thể ứng dụng cho tất cả mọi sinh vật. Duy có điểm
sai khác là ở những hạ đẳng động vật thì tinh-thần-lực
không bằng ở loài người, bởi thế những động tác về
mặt vật chất mạnh hơn. Ngược lại, nếu ở trên nhân loại
còn có sự tồn tại, như người cõi trời chẳng hạn, thì
sinh hoạt vật chất chắc phải yếu kém hơn sinh hoạt tinh
thần, và, như vậy thì phương pháp phân loại trên đây không
thể ứng dụng một cách thích hợp như loài người được.
Tóm lại, đứng về phương diện nguyên tắc mà nói thì phương
pháp phân loại trên có thể ứng dụng cho tất cả Hữu tình
ở mọi giai cấp, không những thế, nếu chỉ đứng trên lập
trường pháp tướng mà nhận xét cũng có thể kết luận như
thế (nhưng về sau đã nảy sinh những vấn đề như hữu tình
ở cõi Vô Sắc, có các pháp vô sắc, tức là những vấn đề
vi tế của vật chất, song ở đây chưa cần luận cứu về
điểm này).
3-
ÐỘNG-LỰC-NHÂN THÀNH LẬP HỮU TÌNH
Trở
lên, mới chỉ trình bày những yếu tố thành lập hữu tình,
đứng về phương diện tĩnh mà nhận xét thì đó mới chỉ
là sự quan sát có tính cách cơ giới và phân tích. Bây giờ,
đem tổng hợp tất cả những yếu tố lại với nhau, vì cái
mà Phật gọi là nhân duyên tức là chỉ sự quan hệ giữa
tài-liệu-nhân và nguyên-động-lực vậy. Về vấn đề này,
Phật đã dùng nhiều danh từ để biểu hiện, chẳng hạn
như nghiệp (kamma), vô minh (avjja), dục (tanha) v.v…
“Này
các Tỳ-Khưu! Tứ thực này lấy gì làm nhân? Lấy gì làm
tập? Do đâu mà sinh? Do đâu mà phát sinh? Tứ thực lấy DỤC
mà phát sinh”, (1) “Các nghiệp ái lấy VÔ MINH làm nhân mà
tích tụ các ấm (uẩn) của đời khác”. (2)
Trên
đây là những đoạn văn thấy rải rác trong các kinh. Ðến
hai chữ chấp trước (upadana) làm nhân để tích tụ năm uẩn
thì Phật đặc biệt hay dùng, thông thường gọi tổ chức
của Hữu tình làm năm thủ uẩn (pancupadanakhandha), tức là
năm yếu tố do chấp trước mà được kết hợp. Tuy nhiên,
nếu nói một cách tổng quát thì những cái làm căn bản để
kết hợp năm uẩn là phiền não và nghiệp, tức là chất
keo dính chặt tổ chức của Hữu tình lại với nhau, không
để cho rời nhau, không để cho rời nhau. Bảo rằng vô minh,
ái, trược, dục, tất cả đều là những vật thuộc phiền
não, dựa vào kết quả của nghiệp, tức hoạt động của
chúng, rồi nghiệp làm căn bản để lại khiến cho năm uẩn
hoạt động, cứ như thế trở thành lưu chuyển vô cùng.
“Xe
tùy các nghiệp khởi, Tâm thức chuyển theo xe, Tùy nhân mà
chuyển tới, Tâm hoại thì xe ngừng” (3)
Mấy
câu kệ trên đây của Bạt-kỳ-la-ni ví sự kết hợp của
năm uẩn như một cổ xe, nghĩa là xe chính được tạo bởi
nghiệp, y vào thức để chỉ rõ phương hướng hành động
để đưa vận mệnh tiến lên. Nếu muốn hiểu thật rõ ý
nghĩa này thì dĩ nhiên phải thuyết minh về tính chất của
phiền não và nghiệp. Nhưng về phiền não cũng như nghiệp
xin dành lại các chương sau sẽ bàn rõ hơn, ở đây chỉ đưa
ra kết luận tổng quát, thế thôi.
(1)
M. 38 Makatimhasankhanya I, p. 261: Trung, 54. Trà Ðế Kinh, trang 253
(2)
Tạp, 13, trang 552: Câu Xá, 22, Húc Nhã Bản, trang 9 Văn-Bi-Li
chưa được rõ.
(3)
Tạp, 49, trang 753; Văn Ba-li chưa được rõ, nhưng những câu
sau đây đại lược cũng tương tự :”Thế gian y vào nghiệp
mà chuyển, hữu tình theo nghiệp trói buộc cũng như bánh xe
lăn theo cái trục (Sutta nipata 654).
Nguồn
gốc của phiền não dĩ nhiên là vô minh, nhưng vô minh là một
cái mà nếu giải thích là không biết thì tức là chỉ cái
không biết (vô tri) từ vô thủy và, đứng về phương diện
liên quan đến sinh mệnh mà khảo sát, nó được coi như bao
hàm ý nghĩa tình ý. Nếu nói theo Ước-biên-hà-ngạch-nho (?)
thì đó chính là sự sống và, như vậy nếu cho nó là ý chí
mù quáng nguyên thủy có lẻ là đúng hơn. Về điểm này,
tôi đã bàn đến theo quan điểm toàn thể của Triết-học
Ấn-Ðộ(1), nhưng ở đây đặc biệt nhận xét theo kiến địa
của Phật Giáo cũng có thể được coi là một sự thật chứng
minh giống nhau. Vì, trong thuyết Thập-nhị-nhân-duyên, vô minh
được gọi là hành, tức căn để của ý chí nhưng, thuyết
Tứ-Ðế thì lại gọi cái nguyên lý tương đương với vô
minh trong Thập-nhị-nhân-duyên là ái, tức khả ái (tanha, trasna),
như vậy có khác gì ý nghĩa vô minh dục đâu? Lại như ý
kiến của các luận sư Ấn-Ðộ-Triết-học-Tôn-Giáo-Sử-Tỳ-Đạt-Ma.
(1)
Triết-học Tạp Chí, số 364-365 (Ðại chính năm thứ VI tháng
7-8)
Đời
sau, Pháp-cứu (Dharmtrata, một trong bốn vị đại luận sư
của Hữu-Bộ chẳng hạn, cũng bảo “vô minh là tính chấp
ngã của Hữu tình” và Thuận-chính-lý-luận cũng thu dụng
ý kiến này (1). Như vậy đủ biết ít ra cũng có một số
học giả giải thích vô minh vối nghĩa tình ý. Song mà, bảo
rằng, do vô minh mà ngũ uẩn được kết hợp thật ra cũng
không ngoài việc lấy ý chí sống làm căn bản để phát sinh
hiện tượng sinh mệnh, cho nên, nói là dục hay chấp trước
chẳng qua cũng chỉ là phiên dịch vô minh thành ý chí, rốt
cục cùng một tác dụng nhưng khác nhau về phương pháp quan
sát mà thôi. Ðến như vô minh là nguồn gốc của hết thảy
nhân duyên thì sau đây, trong mục Thập-nhị-nhân-duyên, sẽ
trình bày rõ, tức điều kiện thứ nhất để kết hợp năm
uẩn là ý chí sống vậy. Như thế là dựa vào ý chí nguyên
thủy, tức năng lực vô minh, để khơi lên hoạt động ý
thức, rồi hoạt động này hình thành tính cách của tự thể
hữu tình, quy định quá trình mà tự thể ấy trải qua trong
vị lai: đó tức là nghiệp. Bởi thế bảo rằng y vào nghiệp
mà Hữu tình tương tục lưu chuyển, tức là y vào tứ thực,
lục giới và ngũ uẩn mà thành lập đơn vị hữu tình, rồi
cá thể hóa, chấp chặt lấu tính cách đặt thù, tích tụ
tất cả kinh nghiệm ở quá khứ rồi dựa vào đó để quy
định và sáng tạo qua trình trai qua trong vị lai. Nói cách
khác, cái nguyên-động-lực thứ nhất làm cho năm uẩn kết
hợp lại là vô minh, với mục đích của ý chí muốn sống
là khiến cho yếu tố ấy biểu diễn thành mọi hoạt động,
tức kết hợp chúng thành hữu-cơ-thể, rồi theo kết quả
của động lực căn bản ấy mà hữu-cơ-thể trở thành đặc-thù-hóa
làm cơ sở cho những hoạt động đặc thù trong tương lai;
tức là nguyên-động-lực thứ hai. Nhưng vô minh và nghiệp
nối tiếp luôn, không lúc nào đoạn tuyệt, cho nên sự kết
hợp của năm uẩn cũng nối tiếp, không gián đoạn và chính
nhờ sự biến hóa bất tuyệt ấy mà sinh mệnh được liên
tục.
(1)
Câu Xá quyển 10.
4-
BẢN CHẤT CỦA HỮU TÌNH
Nhưng
có điều ta cần chú ý là sự trình bày trên đây mới chỉ
coi hữu tình có tính cách cơ giới, tức là mới chỉ giải
thích một cách đại khái chứ chưa phải đã xử lý toàn
thể sinh-mệnh-quan của Phật Giáo một cách triệt để. Trước
hết hãy khảo sát về sự phân biệt vô minh và ngũ uẩn.
Theo Phật nói thì ngoài Ngũ uẩn ra không có vật gì khác có
thể được gọi là nguyên lý của vô minh, về nghiệp cũng
vậy, bởi thế,bảo là vô minh hay là nghiệp chẳng qua cũng
chỉ là nguyên lý hoạt động của hữu tình được nhận
xét theo những lập trường khác nhau mà thôi. Thứ hai, tuy
có cha những yếu tố cấu tạo hữu tình thành nhiều loại
để khảo sát, nhưng đó chỉ để tiện lợi cho việc quan
sát chứ trên thực tế thì đương nhiên không thể khu biệt
được, bởi vì, theo Phật, bảo sinh mệnh là một hay khác
đều sai lầm; do đó, thứ ba, nhận xét về sự kết hợp
của các yếu tố Hữu tình thì ý nghĩa của sự kết hợp
ấy cũng rất hạn định, chứ không như sự kết hợp của
cỗ xe. Tạo sao? Vì xe thì trước phải có bộ phận rồi sau
mới có toàn thể, còn sự kết hợp của hữu tình hữu cơ
thì trước là toàn thể rồi sau mới là bộ phận. Nhưng thật
ra thì toàn thể hay bộ phận đều không thể tách rời quan
niệm, nghĩa là, sự kết hợp ấy cũng như tâm-lý-học ngày
nay bảo những hoạt động tâm lý là trí, tình, ý, chia ra
nhiều loại để quan sát, cho tâm là sự kết hợp của những
yếu tố đó thì ý nghĩa của lập thuyết này cũng tương
đồng. Cho nên, theo chỗ tôi thấy, sự thuyết minh có tính
cách cơ giới trên đây, nói theo tinh thần của Phật, là làm
cho chúng sinh hiều rõ sự giáo hóa về vô ngã luận của Ngài.
Nên biết, cái dụng ý của Phật là ở chỗ phũ nhận thuyết
linh hồn cố định, tức Phật cho sinh mệnh cũng chỉ là một
hiện tượng quan hệ, do đó, bản thân Phật quyết không coi
sinh mệnh như một cỗ xe có tính cách cơ giới, nhất là nếu
giải thích nó gần như tư tưởng duy vật luận thì lại càng
không thể chấp nhận. Như vậy, ý kiến đích thực của Phật
về bản chất hữu tình như thế nào? Về vấn đề này, khi
bàn về nghiệp và luân hồi sẽ xin trình bày tường tận,
còn ở đây thì chỉ khảo sát trong phạm vi sinh mệnh luận
mà thôi.
Nếu
căn cứ theo ý thật của Phật thì hoạt động của hữu tình
cũng do nhiều điều kiện chi phối, bởi thế, nếu xét về
bản chất hữu tình thì chính đó là sự tồn tại phú bẩm
từ vô thủy, vì lẻ điều kiện thứ nhất là vô minh tức
ý chí sinh tồn, cũng vô thủy, người ta không thể tìm ra
đầu mối của nó; Phật đã nói rõ ràng như vậy. Do đó,
vô minh tuy là động lực nhân kết hợp ngũ uẩn, tứ thực,
nhưng khi ý chí căn bản này là những hoạt động thì rốt
cục nó cũng từ trong sự thể cơ quan mà triển khai ra rồi
tạm y theo cái đặc trưng ấy mà chia thành những yếu tố
để quan sát, phân tích chứ nó quyết không phải là vật
ngoài tự thân tác dụng khiến cho hiện tượng sinh mệnh phát
khởi. Nghĩa là, trong bản thân vô minh đã có đầy đủ khả-năng-tính
tương đương để trở thành những yếu tố ngũ uẩn, tứ
thực rồi, nhưng khi vẫn chưa khai triển cái địa vị của
trạng thái nguyên thủy đó thì được gọi là Vô minh, còn
cái đương thể khi đã triển khai rồi thì được gọi là
ngũ-thủ-uẩn. Ðiều này cứ xem các học giả của A-Tỳ-Ðạt-Ma
sau này khi thuyết minh về mười hai nhân duyên cho thể của
các chí vô minh, hành, v.v… là năm uẩn thì đủ rõ. Bởi
vậy; sự thành lập của hữu tình tuy là kết quả của nhân
duyên hòa hợp, nhưng không phải giống như quan niệm về cỗ
xe khi một bộ phận nào đó bị phá hoại thì toàn bộ cỗ
xe cũng như hỏng, mà hữu tình là vật đơn thuần, bản chất
của nó là nhất thể, vì thế nó là vô thủy vô chung, tiếp
nối không ngừng. Giả sử cho hữu tình là sự kết hợp một
cách máy móc của năm uẩn đi nữa thì nhân duyên căn bản
vẫn là vô minh và nghiệp (ngoại trừ trường hợp giải thoát
sinh tử). Bởi thế sinh mệnh cũng vẫn là vô thủy vô chung
tương tục bất đoạn chứ quyết không giống như cỗ xe mà
sự hợp thành cũng như sự tiêu hoại rất dễ dàng. Xem thế
thì thí dụ về cỗ xe cũng chỉ là một thí dụ đại khái,
có thể nói cuối cùng, nó chẳng liên quan gì đến bản chất
của hữu tình cả. Về sau, trong các bộ phái, như Ðộc-Tử-Bộ
(Vajjputtaka, Vatsiputriya) chủ trương có “Phi-tức-phi-ly-uẩn-ngã”,
tức là một loại ngã thể không lìa năm uẩn mà cũng không
phải là năm uẩn; Kinh-Lượng-Bộ (Sutrantika) thì thừa nhận
sự thường hằng tồn tại của “tế-ý-thức”; Hóa-Ðịa-Bộ
(Mahisasaka) thì bảo có “cùng-sinh-tử-uẩn”, tức là một
loại yếu tố (vô minh) trải qua sinh tử mà không tiêu diệt.
Thậm chí các nhà Ðại-Thừa Duy-Thức thì chủ trương sự
thường hằng tồn tại của thức A-Lại-Gia (Alayavijnana) v.v…
cứ như thế phát sinh những chủ trương hữu-ngã-luận tưởng
không có gì là lạ cả. Tóm lại, họ đếu lấy vô minh hoặc
dục (tanha) làm cơ sở để khảo sát sinh mệnh, do đó mà
đã đạt đến những kết luận như trên. Tuy nhiên, theo chỗ
tôi biết, so với chủ trương của Thượng-Tọa-Bộ chấp
chặt vào sự quan sát cơ giới, những chủ trương của các
bộ phái trên đây tựa hồ lại gần với chân ý của Phật
hơn. Nói khác đi, các bộ phái trên cũng hơn hẳn Thượng-Tọa-Bộ
ở điểm đã làm cho giáo nghĩa của Phật sáng tỏ về phương
diện luận lý.
Nhưng,
nếu sinh-mệnh-quan của Phật quả thật như những chủ trương
trên đây thì tại sao lại bảo vô-ngã-luận là đặc sắc
của Phật giáo? Về vấn đề này, theo chỗ tôi thấy, phía
ngoại đạo cho tự ngã là một vật cố định, còn Phật
thì lại tận lực quan sát nó về phương diện lưu động,
và, như sẽ trình bày sau, coi nó cũng như “dòng thác” để
loại bỏ mọi quan niệm cố định. Hình thức và vận mệnh
của hoạt động sinh mệnh lưu chuyển phải nhờ vào nhiều
sự tình, đặc biệt là nghiệp, và biến hóa không ngừng,
khác hẳn với ngoại đạo cho ngã thể là một trạng thái
trì tục bất biến. Chính vì thế mà bảo sinh mệnh do nhân
duyên sinh. Ngoài ra, còn một lý do khác nữa khiến Phật kiên
quyết chủ trương vô-ngã-luận là vì thuyết này, so với
thuyết hữu-ngã, có hiệu lực làm tăng thêm giá trị nhân
cách của người ta hơn, đó là lý do thực tiễn. Phương diện
thực tiễn này của Phật còn có căn cứ trọng đại hơn
cả mọi lý luận, vì, theo Phật, những tôi ác của con người
lấy ngã dục, ngã chấp làm căn bản, nói theo thuật ngữ
là chấp ngã, ngã sở, nhưng chỗ quy túc của ngã chấp, ngã
dục dĩ nhiên là lấy cái ta làm trung tâm, cho nên, hễ nhận
định ta tu cũng là nhận định ngã chấp, ngã dục, vậy nếu
phủ định cái ta thì sẽ ngăn ngừa được mọi tôi ác: đó
là căn cứ đã khiến Phật chủ trương thyết vô ngã. Nhưng,
xét đến nguồn gốc ý nghĩa vô ngã luận (cắt xén tiểu
ngã) này thì trong Áo-Nghĩa-Thư đã nói đến rồi (1) và được
Số-Luận dùng làm quy phạm (2) khuyên người noi theo chứ không
hẳn là giáo lý đặc hữu của Phật. Song, Áo-Nghĩa-Thư và
Số-Luận chỉ lập ngã làm mục tiêu chứ trên lý luận tuyệt
nhiên không đả phá ngã chấp, còn Phật thì đi xa hơn, dù
trên hình thức cũng kiên quyết đả phá thuyết ngã: đó là
đặc sắc của Phật. Hơn nữa, như sẽ trình bày sau, về
ngã quan, về mặt tiêu cực diệt trừ ngã dục, ngã chấp,
là công án chủ yếu của sự tu Thiền; về mặt tích cực
là cơ sở chủ yếu của việc tưởng lệ đạo đức và tình
thương, nếu kết hợp cả hai phương diện để quan sát thì
vô-ngã-quan càng dễ hiểu hơn. Tóm lại, căn cứ của thuyết
vô ngã trong Phật giáo ngoài lý do tâm lý ra còn kiêm cả lý
do luân lý nữa. Bởi thế, khi xử lý vấn đề sinh mệnh sự
thực theo lý luận không thể trực tiếp dựa theo căn cứ
luân lý thực tế rồi tùy ý hoán chuyển mà dựa theo căn
cứ tâm lý luận, vì nếu chỉ suy cứu theo lý luận không
thôi thì sinh-mệnh-quan của Phật, như đã nói ở trên, sẽ
đạt đến một loại kết luận hữu ngã: đó là điều ta
cần ghi nhận.
(1)
Maitrayana np 6, 21 (xem Sáu phái Triết học Ấn Ðộ trang 325)
(2)
Samkhya karika 64 (như trên, 203)
5-
SINH-MỆNH-QUAN ÐƯƠNG THỜI VỚI SINH-MỆNH-QUAN PHẬT GIÁO
Nhân
duyên quan của Phật đã dựa vào thế giới quan thời bấy
giờ mà được thành lập và sinh mệnh quan đặc sắc này
của Phật cũng có quan hệ mật thiết với tư tưởng giới
đương thời về vấn đề này. Như trên đã nói qua, sinh-mệnh-quan
lưu động của Phật chính đã được thành lập bởi kết
quả của sự khảo sát về cả hai khuynh hướng hữu-ngã-luận
chủ trương có một ngã thể cố định và duy-vật-luận do
các nhà duy vật chủ trương. Cứ xem tư tưởng giới lúc bấy
giờ thì thấy một mặt tư tưởng triết học lấy tự ngã
làm trung tâm từ thời đại Áo-Nghĩa-Thư và thuyết linh hồn
thông tục đang thịnh hành, đồng thời, mặt khác, cũng có
rất nhiều người bất mãn với những thuyết hữu ngã mà
chủ trương duy-vật-luận. Ðiểm này cứa nhìn vào phái Lục-Sư
thỉ đủ rõ. Chẳng hạn như Ni-Kiền-Tử-Nhã-Ðề-Tử, Ma-Ha-Lê-Cù-Xá-La
và Phù-Ðà-Ca-Chiên-Diên v.v… là những nhà hữu-ngã-luận;
nhưng Phú-Lan-Na-Ca-Diếp, nhất là A-Di-Ðà-Sí-Xá-Khâm-Bà-La,
thì thuần nhiên là những nhà duy vật luận. Lại xem như 62
ý kiến (lục thập nhị kiến) trong kinh Phạm Võng thì ta thấy
đại biểu cho thường thức luận là thuyết hữu ngã, còn
đại biểu cho duy-vật-luận thì chính là đoạn-kiến-luận
(Ucchedavadi) và vô-nhà-vô-duyên-luận (Ahetu apaccayp-Vadi) vậy.
Sinh-mệnh-quan này ở Ấn Ðộ vào thời đại phật cũng tương
tự như sinh-mệnh-quan ở Âu-Châu vào thế kỷ thứ 18. Một
bên tuân theo tín ngưỡng Cơ-Ðốc, linh-hồn-quan cố định
đã được nền học thuật cận đại làm cho rực rỡ nhưng
dần dần đã thất thế, song vẫn còn bám chặt lấy một
hình thức nào đó; còn một bên thì lấy nước Ðức làm
trung tâm kịch liệt chủ trương duy-vật-luận và đã ảnh
hưởng rất lớn đến giai cấp trí thức tiến bộ. Ngoài
ra, còn có tịnh-hành-luận với những hình thức sinh-mệnh-luận
tương tự như sinh-mệnh-quan lưu động của Phật và nói theo
một ý nghĩa nào đó, có thể bảo thuyết này chính muốn
điều hòa hai tư trào của hai phái đương thời. Cũng như
Phật thường nói là cơ giới, là nhân-duyên-hòa-hợp, nếu
chỉ nhận xét ý nghĩa của những từ ngữ này về mặt biểu
hiện, thì nó cũng không khác gì ý kiến của A-Di-Ðà-Sí-Xá-Khâm-Bà-La
và cũng tương tự như thuyết cho hiện tượng sinh mệnh là
sự hòa hợp của tứ đại do Thuận-Thế-Phái (Chayata) chủ
trương. Nhưng khác với các nhà duy-vật, Phật không cho nguồn
gốc của sinh mệnh chỉ là vật chất mà còn thừa nhận có
yếu tố tâm lý, như vật, điểm này cũng lại tương hợp
với các nhà hữu-ngã-luận. Xem thế thì thái độ của Phật
là bác bỏ cả hai thiên kiến thường, đoạn mà chủ trương
một hình thức tịnh-hành-luận của sinh-mệnh-quan lưu động.
Sinh-mệnh-quan này của Phật tuy có điểm đặc sắc, nhưng,
như đã nói ở trên, vẫn dựa vào sinh-mệnh-quan do hai trào
lưu tư tưởng đương thời biểu hiện, ngay cả nhân-duyên-luận
cũng thế; đó là một sự thật không thể phủ nhận. Cứ
xem thế thì đặc sắc về sinh-mệnh-luận của Phật là do
kết quả của thái độ trung đạo của Ngài và chính thái
độ ấy đủ cho ta thấy thế lực của hữu-ngã-luận và
duy-vật-luận lúc đó mạnh biết chừng nào. Nhưng nay người
ta không biết Phật đã tốn bao nhiêu công trình nghiên cứu
và khảo lự mới cấu thành và biểu-hiện-hóa sinh-mệnh-quan
của Ngài.
TVHS