THIÊN
THỨ HAI:
THẾ
GIỚI QUAN HIỆN THỰC
(Luận
về Khổ và Tập Đế)
CHƯƠNG
I
NHÂN
QUẢ-QUAN VỀ NGUYÊN-LÝ THẾ-GIỚI
1.
- THẾ-GIỚI-QUAN ÐƯƠNG THỜI
Thế
giới do đâu mà có, tồn tại ra sao và liên tục như thế
nào là câu hỏi đã được đặt ra từ nghìn xưa, kể từ
khi có loài người. Ðối với vấn đề này, các nhà tư tưởng
Ấn-Ðộ ở thời đại Phật đã đưa ra nhiều giải thích
tưởng không có gì là lạ cả. Chẳng hạn như 62 ý kiến
trong kinh Phạm-Ðộng chủ yếu cũng là đáp án được đề
ra để giải quyết vấn đề này. Nhưng, theo như Phật nói,
nếu kể đến những thế giới quan có đặc trưng nhất thời
bấy giờ thì có thể chia ra ba loại sau đây: một là Túc-Mệnh-Luận
(pubba kata hetu – túc-nhân-luận); hai là Thần-Ý-Luận (Issara-nimmana
hetu – tôn-hựu-luận), ba là Ngẫu-Nhiên-Luận (ahetu apaccaya
– vô-nhân-vô-duyên-luận), đó là ba luận thuyết mà Phật,
đặc biệt khi nói về nguyên nhân của khổ, vui thường đề
cập đến và gọi là ba luận thuyết của ngoại đạo. (1)
(1)
Trung-A-Hàm, 3, Ðộ-Kinh, trang 2-18; A, I, p, 173.
Thứ
nhất, Túc-Mệnh-Luận cho rằng vận mệnh của người ta tất
cả đều do nghiệp ở kiếp trước quy định chứ hậu thiên
không thể làm thay đổi được. Khi khoán trương chủ trương
ấy thành thế-giới-quan thì thế-giới này cũng chỉ vận
hành theo con đường đã được quyết định bởi quy luật
vĩnh viễn của bản thân cá nhân: đó là thế-giới-quan có
tính cách quyết-định-luận. Nếu nói về người đại biểu
cho chủ trương này ở thời đại Phật thì phải kể đến
Ma-Ha-Lê cù-xá-la (Makkhaligosala), vì, cứ xem trong kinh Sa-Môn-Quả,
ý kiến của ông này cho rằng tất cả mọi vận hành đều
được quyết định bởi quy luật tự nhiên trong đó không
thừa nhận có năng lực của người hay của vật. Một thứ
tự nhiên chủ nghĩa do các nhà Thời-tiết-luận chủ trương
từ thời đại A-Thát-Bà-Phệ-Ðà đến thời đại Long-Thụ,
Ðề-Bà cũng có thể được kể vào loại này. (1)
Thứ
hai, Thần-ý-luận chủ trương tất cả đều nhờ vào ý chí
của thần mà sống còn. Thuyết này lấy Bà-La-Môn-Giáo làm
trung tâm và dĩ nhiên là chủ trương của các phái hữu-thần-luận
đương thời. Và, như đã nói ở trên, lúc đó chính là thời
đại nhân Phạm Thiên là vị nhân-cách-thần tối cao và tuyệt
đối. Thần ý ở đây cũng chỉ là ám chỉ ý chí của Phạm
Thiên.
(1)
Về Thời-Tiết-Luận của A-Thát-Bà-Phệ-Ðà, tham chiếu Ấn-Ðộ
Triết-Học-tôn-Giáo-Sử, trang 215, về thời đại Long-Thụ,
Ðề-Bà xem luận Trí-Ðộ quyển I (tờ 14a). Ngoại Ðạo, Tiểu
Thừa Luận 17, và Thời-Tiết-Luận v.v…
Sau
hết, Ngẫu-nhiên-luận cho rằng tất cả chỉ là kết quả
tình cờ chứ chẳng có nhân duyên chi hết, đó là thế-giới-quan
có
tính cách máy móc, không thừa nhận có bất cứ một quy luật
hay lý pháp nào. Trong phái Lục-Sư, chủ trương của Phú-Lan-Na-Ca-Diếp
(Purana Kàssàpa), nếu được đổi thành thế-giới-quan thì
cũng thuộc loại này, nhất là duy-vật-luận của A-di-đà-sí-xá-bà-la
(Ajj-takesa Kambali) mới chính là đại biểu cho chủ trương
này.
Nhưng,
Phật đã có thái độ như thế nào đối với những luận
thuyết trên đây? Theo Phật thì cả ba thuyết trên đều là
cực đoan, đều có những khuyết điểm riêng, do đó. Trên
thực tế, lập trường tuy có khác, nhưng chúng đều giống
nhau ở điểm kết luận là phủ nhận nỗ lực của con người
và trách nhiệm của cá nhân. Vả lại, như trên đã nói, nếu
cho vận mệnh và hành vi của con người đều có quy luật
thì nhận xét theo điểm này, ba thuyết trên sẽ đưa đến
kết luận như thế nào? Bây giờ thử nhận xét về thuyết
thứ nhất và thứ hai. Hai thuyết này cho rằng tất cả đều
do quy luận siêu-nhân, như vậy, họa, phúc, thiện, ác và phạm
vi đạo đức cũng là hoạt động thuộc một quy luật nhất
định, cá nhân hoàn toàn không có trách nhiệm gì cả. Ðến
thuyết thứ ba thì, nhận xét về mặt biểu hiện, tuy trái
ngược với hai thuyết trên, nhưng cũng lại giống hai thuyết
trên ở điểm phủ nhận trách nhiệm đạo đức cá nhân.
Tại sao? Vì thuyết này cho tất cả đều là ngẫu nhiên thì
thiện, ác cũng ngẫu nhiên mà họa, phúc cũng ngẫu nhiên chứ
không do một hành vi cố gắng nào của con người.
Như
vậy, dù cho luận lý của chúng có hoàn chỉnh đi nữa nhưng,
trên cơ sở kiến lập đạo đức, những thuyết đó không
có một chút ích lợi gì cho nhân sinh. Nhưng, đằng này, về
mặt lý luận cũng lại có nhiều điểm bất hợp lý, cho nên
người ta không thể thừa nhận các thuyết ấy; đó là thái
độ phê phán của Phật đối với các luận thuyết kể trên.
Nhưng, theo chỗ tôi biết, thái độ phê bình của Phật không
phải đứng về phương diện lý luận mà thường đứng về
mặt thực tiễn để công kích những thuyết ấy. Bởi thế,
nếu lấy nền tảng nhân-sinh-quan mà Phật tìm cầu làm nguyên
lý của thế giới thì Phật không mâu thuẫn gì với thế
giới hiện tượng cả, không những thế, nó còn tăng thêm
giá trị đạo đức và tôn giáo của nhân sinh. Nếu thế-giới-quan
nào mà trong đó không bao gồm sự hoạt động tinh thần của
con người thì thế-giới-quan ấy là bất hợp lý, sẽ bị
bác bỏ; đại khái đó là điểm lập cước của Phật.
2.-
NHÂN DUYÊN LUẬN
Đối
với lại những luận thuyết trên, Phật đề ra thế-giới-quan
“Các pháp do nhân duyên sinh” mà đã thường được nói
ở trên. Nói một cách dễ hiểu sự thành lập của mọi hiện
tượng đều do quan hệ tương đối, ngoài mối quan hệ ấy
ra không một vật gì được thành lập: cái gọi là nhân duyên
chính là chỉ mối quan hệ đó. Ở thời đại Phật, hoặc
nó được gọi là nhân (hetu), là duyên (paccaga), là điều
kiện (nidana), là tập (samudaya) v.v… trong đó tuy không có
sự khu biệt nghiêm khắc về thuật ngữ (1) nhưng, nếu nói
một cách rộng rãi, thì hiểu nghĩa nhân duyên là quan hệ,
là điều kiện có lẽ sẽ không sai mấy. Về tác dụng của
nhân duyên, tức pháp tắc duyên khởi (paticcasamuppàda) thì
Phật thường định nghĩa như sau:
“Cái
này có thì cái kia có, cái này sinh thì cái kia sinh; cái này
không thì cái kia không, cái này diệt thì cái kia diệt …”.
(Amasmim
sati idam hoti imas’uppada idam uppajj-ati, imasanim arati idam na hoti
imassa nirodba idam nirvjjhati, yad idam, ..)
(1)
Sau đây là một thí dụ về cách dùng thuật nhữ nhân duyên:
tasmat in Anand es’eya hetu etam nidanam esa samudayo ere peccaga namarap-assa,
yad idam virnuanam ao (D. III, p. 63) Này A-Nan! thức này đích thực
là nhân, là điều kiện, là tập là duyên … của danh sắc.
Tức
“Cái này có thì cái kia có, cái này không thì cái kia không”
là chỉ bày mối quan hệ hỗ tương đồng thời, còn
“cái này sinh thì cái kia sinh” có thể được coi như nói
lên sự quan hệ hỗ tương dị thời, (1) Tóm lại, dù là đồng
thời hay dị thời, tất cả các pháp đều phải nương vào
nhau mà tồn tại, không một vật gì có thể tồn tại độc
lập tuyệt đối. Trong mối quan hệ hỗ tương ấy, nếu là
dị thời thì cái trước là nhân, cái tiếp theo là quả; nếu
là đồng thời thì quan niệm chủ là nhân, quan niệm khách
là quả. Lại như trên đã nói, trong đó tuy có một pháp tắc
nhất định nhưng, nếu đổi lại lập trường mà nhận xét
theo cùng một phương pháp, thì tuy là một nhân nhưng cũng
quả khác, bởi vì với một là chủ thì khác là khách chứ
không bao giờ có nhân tuyệt đối hay quả tuyệt đối.
Nói
một cách tóm tắt, thế giới này, về phương diện thời
gian, người ta thấy vô số quan hệ nhân quả dị thời, về
phương diện không gian nó được dệt thành bởi vô số quan
hệ hỗ tương tồn tại. Nếu trương tấm lưới vĩ đại
này lên thì người ta thấy tất cả đều chằng chịt lấy
nhau, nương vào nhau mà tồn tại: đó là tinh thần của thuyết
“Chư-pháp nhân duyên-sinh” vậy. Cái mà Phật giáo gọi là
hữu vi pháp (samkhata dhamma) chính là chỉ cái thế giới nhân-duyên-sinh
này. Cái lý do cắt nghĩa tại sao thế giới lại biến thiên,
vô thường, không một phút nào đứng yên cũng vì các mối
quan hệ ấy, bởi lẽ trong đó không có một vật gì thường
hằng tồn tại. Và một trong những lý do mà Phật Giáo phủ
nhận một vị thần sáng tạo và cho thế giới quan hữu thần
là bất hợp lý chính cũng là vì kết quả của nhân duyên-quan
vậy.
(1)
A.V, p. 184; M. I, pp. 262-264; Tạp-Hàm, 2. Các bản, trang 542. Còn
giải thích của A-Tỳ-đạt-ma về câu này thì xem luận Gâu-xá,
quyển 19 (Húc-Nhã Bản p. 1a)
3.-
SỰ PHÂN LOẠI NHÂN DUYÊN
Trở
lên là đại cương về nhân-duyên-luận, nếu theo lý luận
mà suy diễn ra thì như chủ trương của Hoa-Nghiêm-Tông cho
toàn thể vũ trụ là những lớp duyên khởi vô tận, tức
do những mối quan hệ mà được thành lập. Mặc dầu nhân
duyên phức tạp như thế nhưng nếu quan sát theo những điểm
chủ yếu thì người ta cũng sẽ có thể hiểu rõ cái tính
chất của nó. Về sau, để cho được tiện lợi, các học
giả của A-Tỳ-Ðạt-Ma bèn ứng dụng phương pháp phân loại
để quan sát và coi đó là nhiệm vụ chủ yếu(1).
Song,
ở đây ta nên chia ra bao nhiêu loại để khảo sát? Vấn đề
này, như trên kia đã nói về mối quan hệ nhân quả đồng
thời, và nhân quả dị thời, vậy đại ước ta có thể khảo
sát nó theo hai lập trường ấy. Thứ nhất là quan hệ đồng
thời, tức chủ-quan và khách-quan. Theo Phật thì cái gọi là
thế giới rốt cục chẳng qua chỉ là sự giao thoa giữa nhận
thức chủ quan và đối tượng khách quan mà thôi ngoài ra không
có cái gì được gọi là thế giới cả.
(1)
Luận Mahapakarama của Nam Phương kể có 24 duyên. Về danh xưng
của 24 duyên thấy trong (Atthasalini p.9). Luận Xá-Lợi-Phất-A-Tỳ-Ðàm
quyển 25, kể 10 duyên. Hữu-Bộ và phái Duy Thức liệt kê
4 duyên tức cứ đơn thuần hóa dần dần. Lại như Giáo lý
đặc hữu của Hữu bộ, ngoài 4 duyên ra còn lậo ra sáu nhân
(và 5 quả) riêng, nhưng cho đến nay người ta cũng chưa thể
biết được thuyết đó căn nguyên ra sao.
“Tỳ-Khưu!”
Hãy nghe cho kỹ! Ta muốn vì các ông mà nói “HẾT THẢY”
(Sabbam)
“Thế
nào là HẾT THẢY? Tức là mắt với sắc, tai với âm thanh,
mũi với hương, lưỡi với vị, thân với xúc, tất cả cái
đó gọi là HẾT THẢY. Bất cứ người nào không cho như thế
thì ta sẽ không nói HẾT THẢY mà sẽ hỏi lại họ về thuyết
HẾT THẢY của họ.
Nếu
HẾT THẢY mà không phải những cái đó thì thuyết của họ
chỉ là những lời biện luận suông, không thích đáng, chỉ
tăng thêm não loạn, vì sao? Vì đó không phải là cảnh giới
của người ta” (tức ngoài sáu căn, sáu cảnh, không có gì
hết) (1)
Chữ
Hết thảy ở đây cũng giống như thuật ngữ Idamsarvam hay
Sviwàmidam (hết thảy này là toàn thể vũ trụ) được dùng
từ thời đại Lê-Câu-Vệ-Ðà, tức là, như đã nói ở trên,
muốn chiếu rọi để biết rõ xem thế giới thật sự là
vật gì. Theo Phật thì cái gọi là thế giới chẳng qua chỉ
thành lập trên quan hệ nhận thức giữa sáu căn và sáu cảnh,
ngoài ra, thế giới đối với ta không có một ý nghĩa nào
khác. Bởi vì, vẫn theo Phật, nếu không có chủ quan thì không
có khách quan, mà không có khách quan thì cũng không có chủ
quan, ngoài quan hệ chủ quan, khách quan ra cũng không có thế
giới; cái gọi là hết thảy cũng chỉ được thành lập trên
quan hệ này, hệt như dụ bó lau nương tựa lẫn nhau vậy.
(1)
Tạp-A-Hàm 13, các bản, trang 554; S. IV. P15.
“Này
bạn! cũng như hai bó lau (dvo nala katapiyo) tựa vào nhau mới
đứng được, cũng thế, DANH SẮC làm duyên mà có thức, thức
làm duyên mà có danh sắc … Trong hai bó lau, nếu lấy đi một
thì bó kia phải đổ, mà lấy bó kia bị lấy đi thì bó còn
lại cũng đổ. Cũng thế, này bạn, hễ danh sắc diệt thì
thức diệt, mà thức diệt thì danh sắc cũng diệt” (1)
Như
sẽ trình bày sau, nếu nói một cách rộng rãi thì cái gọi
là danh sắc trong đoạn văn trên đây tuy chỉ toàn thể tổ
chức của hữu tình, nhưng khi cùng đối với thức của nhận
thức chủ quan thì nó có ý nghĩa là khách quan, tức đoạn
văn trên đặc biệt lấy những yếu tố chủ quan và khách
quan trong hữu tình để nói rõ cái quan hệ (nhân duyên) thành
lập của nó. Nhưng, có điều ta cần chú ý là: bất luận
chủ quan hay khách quan, lúc mới bắt đầu tổ chức thành
lập chủ quan, khách quan không phải đã sản sinh ra thế gian
một cách ngẫu hợp, bởi vì tổ chức chủ quan và tổ chức
khách quan tự thân cũng đều được thành lập trên quan hệ,
cho nên, ngoài quan hệ ra, chính chúng cũng không thể tồn tại
được. Suy cứu cho cùng thì cái gọi là hết thảy cũng chỉ
được thành lập trên quan hệ hỗ tương sinh tồn: đó là
chủ trương dứt khoát của đức Phật.
(1)
Số-Luận, II, p, 144;
Tập-Hàm
12, cáp bản, trang 546.
Thứ
hai là quan hệ dị thời. Nói một cách khái quát thì quan hệ
này chỉ cái quy luật thành lập và kế tục tồn tại như
thế vì, theo Phật, hết thảy sự tồn tại tuy là vô thường
biến thiên, nhưng không một sự vật gì hoàn toàn đoạn diệt
cả, nghĩa là, nếu nhân duyên, tức quan hệ, của nó còn tồn
tại thì sự biến hóa của nó cũng sẽ tiếp tục mãi mãi
vì trong đó có một pháp tắc biến hóa nhất định. Tựu
trung, cái mà Phật đã dồn hết tâm lực để thuyết minh
là cái pháp tắc sinh mệnh kế tục, tức là cái ý chí muốn
sống lấy cái vô minh hay khát ái (dục) làm động cơ căn
bản, sinh mệnh tự nó lại tích tụ những kinh nghiệm để
tạo thành tính cách của chính nó, rồi thích ứng với tính
cách ấy lại mở ra vận mệnh, cảnh giới và tính cách mai
sau: đó là một quy tắc nhất định. Về sau, trong luân lý
và tâm lý đã dùng những danh từ rất khó khăn để thuyết
minh như: về luân lý, có dị-thục-nhân, dị-thục-quả (thiện
nhân, thiện quả, ác nhân, ác quả), về tâm lý thì có đồng
loại nhân, đẳng-lưu-quả (nghĩa là, tính chất của nhân
và tính chất của quả giống nhau) v.v… Về thuật ngữ tuy
chưa được tiến bộ nhưng về pháp tắc của nó thì đã
được thừa nhận từ thời Phật giáo Nguyên Thủy rồi: điều
đó tưởng không còn hồ nghi gì nữa, nhưng về điểm này,
trong chương sau về sinh-mệnh-luận sẽ được khảo sát tường
tận. Tóm lại, pháp tắc sinh mệnh kế tục này là nền tảng
của sự kế tục của thế giới và, nếu đứng về phương
diện thế-giới-quan mà nhận xét, nó đóng một vai trò trọng
yếu trong những quan hệ thành lập thế giới.
Hai
pháp tắc trên đây, trong nhân-duyên-quan, nếu được kết
hợp lại thành một giáo điều, nhận xét về phương diện
trọng yếu, thì đó chính là thập-nhị-nhân-duyên-luận vậy.
Tức bắt đầu từ động cơ căn bản của sinh mệnh cho đến
nhận-thức-luận tổng hợp chủ quan khách quan; rồi lại từ
những điều kiện hoạt động chủ quan tiến đến thế giới
nhất ban trong đó có quan hệ như thế nào; tất cả quá trình
ấy được chia thành 12 đoạn để khảo sát. Nhưng, về vấn
đề này cũng lại dành riêng một mục sẽ được thảo luận
rõ ràng sau. Chủ yếu là, trong 12 đoạn này cả pháp tắc
hỗ tương đồng thời và pháp tắc hỗ tương dị thời đều
phải liên quan và có trật tự mới đại biểu được cho
hiện-thực-thế-giới-nhân-duyên-quan, Phật cho 12 nhân duyên
này là giáo pháp triệt thế-giới-quan-quan-hệ-luận của Phật
Giáo.
Tóm
lại, nhân-quả-quan của Phật Giáo, nếu nói theo nghĩa hẹp
thì tuy là luận-nhân-quả (causality), nhưng nói theo nghĩa rộng,
nó không những chỉ là quan hệ nhân quả luân lý mà còn bao
hàm quan hệ đạo đức nữa. Nếu lại quan sát nó về phương
diện “hoành” thì ta sẽ thấy có quan hệ hỗ tương đồng
thời vì nó bao hàm quan niệm “hết thảy”, tức “hoành”
thì biến khắp mười phương mà “tung” thì quán thông ba
đời, không trực tiếp thì gián tiếp, có quan hệ đối với
tất cả mọi sự tồn tại hoạt động. Nói cách khác, dù
trong một mảy bụi cũng có nhân quyên quan hệ, bởi thế bất
cứ một hiện tượng nào đi nữa cũng đều có quan hệ với
mười phương ba đời, dù là một hạt bụi nhỏ cũng thế:
đó là ý nghĩa đại khái của thuyết Nhâ-Duyên. Trong những
lớp nhân duyên (quan hệ) trùng trùng vô tận ấy tuy cực kỳ
phức tạp, nhưng vẫn có một pháp tắc tề chỉnh, không một
chút rối loạn. Ðời sau người ta thu thập những điểm trọng
yếu trong đó, đứng trên nhiều lập trường để quan sát,
rồi cũng theo danh từ cũ mà gọi là nhân duyên đặc thù.
Nhưng, nói theo tinh thần của Phật, thuyết nhân duyên mặc
dầu phức tạp như thế song, nếu nói theo nghĩa rộng thì
điểm trọng yếu căn bản là sinh mệnh, còn nói theo nghĩa
hẹp thì nó là pháp tắc hoạt động của tâm, tức là trong
cái mạng lưới quan hệ tuy vô cùng phức tạp, nhưng điểm
trọng yếu căn bản thì vẫn là cái tâm (cita), ngoài tâm ra
thì nhân-duyên-luận cũng không thể được thành lập: đó
là kết luận chung cực (nhưng, điểm này sẽ được trình
bày sau).
4.-
SO SÁNH VỚI CÁC THUYẾT CỦA NGOẠI ÐẠO
Nếu
cho thuyết nhân duyên là thế-giới-quan đặc sắc của Phật
thì đối với ba luận thuyết của ngoại đạo được trình
bày ở mục thứ nhất, nó có nhiều điểm hơn hẳn các thuyết
kia, nhất là khảo sát về phương diện nhận thức tổng hợp
để thuyết minh thế giới thì nó lại vượt xa chủ trương
độc-đoán-luận của ngoại đạo; không những thế có thề
nói nó còn còn có ý nghĩa học thuật nữa. Hãy so sánh với
các học phái cận đại: đứng về phương diện triết học
mà nói thì nhân-duyên-quan có thể sánh với lập trường của
Khang-Ðức và Ước-biên-hà-ngạch-nho (?); còn đứng về phương
diện khoa học mà nói thì nó cũng gần với tư tưởng tương-đối-chủ-nghĩa
(Relativism), cho nên, cuối cùng, ba luận thuyết chất phác của
ngoại đạo không thể bì kịp: đó là một sự thật hiển
nhiên. Tuy vậy, có điều ta không thể bỏ qua là nhân-duyên-quan
nay cũng có điểm phảng phất như ba thuyết ngoại đạo trên
kia. Nói cách khác, nếu chủ trương một cách nghiêm khắc
thì pháp tắc nhân duyên có khác gì cái gọi là túc-mệnh-luận?
Rồi, mặc dầu không coi hết thảy là quyết định như túc
mệnh luận, nhưng lại thừa nhân có tác dụng hậu thiên thì
như thế há không tương hợp với ngẫu-nhiên-luận? Ðến
như đặc biệt lấy tâm, tức ý chí, làm cơ sở của nhân
duyên thì chẳng qua cũng lại từ thuyết thần-ý dẫn đến
thuyết nhân-ý mà thôi. Cứ xem thế thì thuyết nhân duyên
của Phật một mặt tuy có khác với ba thuyết trên, nhưng,
mặt khác, đồng thời, cũng lại bao hàm sắc thái của ba
thuyết ấy: đây là một sự thật không thể phủ nhận. Dauy
có điểm bất đồng là nghĩa nhân-duyên của Phật có tính
cách chiết trung, cấu thành thế-giới-quan trung đạo, khác
hẳn với thế-giới-quan cực đoan. Ðứng về phương diện
thế-giới-quan mà nói thì kết quả của thái độ trung đạo
ấy chính cũng tức là nhân-duyên-quan.
“Này
Ca-Chiên-Diên! Phần nhiều người ta chỉ đứng về hai bên,
tức hoặc cho là có, hoặc cho là không … Ca-chiên-diên! Bảo
hết thảy là có, là đệ nhất biên kiến, bảo tất cả là
không, là đệ nhị biên kiến. Ca-chiên-diên! Như Lai nói pháp
xa lìa nhị-biên này mà cho rằng vì vô minh làm duyên mà có
hành, hành làm duyên mà có thức …” (1)
Đoạn
văn trên đây là Phật nói cho Trưởng-lão Ca-chiên-diên về
vấn đề thế giới, và trong đó Phật đã chỉ bày rõ về
nhân-duyên-luận. Ở đây, đối với vấn đề thực tại,
hiển nhiên ta thấy Phật đã giữ thái độ trung đạo qua
thuyết nhân-duyên này. Ngoài ra, như đã nói ở trên, đối
với các vấn đề trọng đại khác như sự khổ, vui của
kiếp người là do mình tự tạo hay do người khác gây ra,
sau khi chết, con người còn hay mất v.v… Phật đều giữ
thái độ ấy và muốn giải quyết chúng bằng thuyết nhân
duyên. Do đó, thuyết nhân-duyên là giáo lý tự nó đã chiếm
một địa vị đặc biệt và ảnh hưởng đến tư tưởng
giới đương thời như thế nào là một điều cũng dễ hiểu.TVHS
(1)
S. II. P, 17.