CHƯƠNG
II
PHẬT
GIÁO VỚI THỜI THẾ
1-
MỘT QUAN NIỆM KHÁI QUÁT VỀ THỜI THẾ:
Khi
nói đến thời đại đức Phật đương nhiên là chỉ thời
kỳ khoảng thế kỷ thứ năm, thứ sáu, trước Tây lịch;
ở thời kỳ này, Ấn Ðộ, về mọi phương diện, nhất là
về phương diện lịch sử, là một thời đại mà bất luận
khảo sát về sự phát triển dân tộc, quan hệ chính trị
hay học thuật nhất ban, đều có sự biến chuyển rất lớn.
Giờ muốn biết qua những trào lưu ở thời kỳ này trước
hết phải nói rõ cái xu thế của nền văn hóa nhất ban đã.
Hãy
bắt đầu khảo sát từ vũ đài văn hóa. Ðến thời kỳ này,
khu vực văn minh của Ấn Ðộ đại khái cũng không khác gì
với thời kỳ trước đó, đó là từ Dacca trở lên phía bắc
đại lục, tức địa phương tam giác ở bắc bộ, chứ chưa
lan tràn xuống bán đảo. Mà cuộc vận động trong thời kỳ
này để đưa văn hóa xuống khu vực bán đảo vẫn chưa thấy
được tiến hành một cách rõ rệt, bởi vậy, nếu nhận
xét một cách đại thể, ta có thể bảo thời kỳ này cũng
không khác gì với cuối thời kỳ trước đó cả. Tuy nhiên,
có điều lạ là trung-tâm-điểm văn minh thì không giống với
thời kỳ trước. Cách đó một vài trăm năm trước, căn cứ
địa văn minh là các khu vực ở thượng lưu sông Hằng, như
Kuruksetna (Câu Lư), Pancàla (Bá-Ca-La), Matsya (Ma-dã), và Suracena
(Tú-noa-sắc-na) v.v… là các quốc gia và chủng tộc có thế
lực và đều lấy khu vực này làm trung tâm văn hóa và chính
trị của họ. Người Bà-La-Môn gọi địa phương ấy là Trung
quốc (Medhyadesa) và xây dựng một cơ sở vững chắc tại
đây. Nhưng các quốc gia (tức chủng tộc) ở phía Nam và phía
Ðông là Kosala (Câu-Tát-La), Kase (Ca-thi), Videba (Vi-đề-ba) v.v…
tuy có tiếp xúc với văn minh Trung Quốc, song vẫn chưa phát
huy được đặc sắc của nó(1). Lại như Magadha (Ma-Ha-Ðà)
thì từ A-Thát-Bà-Phệ-đà cho đến Kiện-Ðà-La v.v… đều
bị coi là không có văn hóa. (1) Cứ theo pháp điển Bà-La-Môn
thì những chủng tộc đó bị coi là hạ đẳng, bán dã man,
(1) không có một chút thế lực nào. Nay thời thế bỗng đổi
thay, không những chỉ khu vực Trung Quốc, dĩ nhiên mà tất
cả các địa phương cũ đều bắt đầu suy đồi. Những chủng
tộc ở mạn biên thùy đông nam trước kia bị văn minh Bà-La-Môn
coi là mọi rợ, nay bỗng nhiên bộc phát và về bất cứ lĩnh
vực nào, đều chiếm địa vị và thế lực trung tâm: đây
thật là một hiện tượng chuyển biến thời đại rất đáng
chú ý. Vì các dân tộc này đã có lận tình nguyện tham chiến
(như cuộc đại chiến được miêu tả trong Ðại-Tự-Sự-Thi
chẳng hạn) ở Trung Quốc; khi trở về xứ sở, họ bắt đầu
nghĩ kế ứng dụng nền văn minh họ đã hấp thụ để làm
cho nước giáu dân mạnh.
(1)
Ấn-Ðộ-Triết-Học-Tôn-Giáo-Sử, trang 248, 147, 418.
Cứ
thế, thế lực của họ mỗi ngày một tăng mà tạo nên một
xu thế văn minh Nam Tiến, tức các nước ở biên thùy cũng
lần lượt khai phát, để rồi cái xu thế nhất ban ấy, đã
làm cho sự biến động vĩ đại kể trên bột phát. Vào thời
gian này, các nước kế cận (nói cách nghiêm khắc, là các
chủng tộc độc lập) cứ nối tiếp nhau mà quật khởi. Theo
các kinh điển Phật giáo, đến thời đại Phật, đại ước
có mười sáu nước lớn (1) và mỗi nước đều có đặc
sắc và thế lực của một quốc gia mới vùng dậy. Tựu trung,
thành Xá-Vệ (Savatthi) thuộc Câu-Tát-La, thành Vương-Xá (Rajagaha)
thuộc Ma-Ha-Ðà, thành Kiều-Thướng-Di (Kosambi) thuộc Vam-Di
(Vamsa) và Phệ-Xá-Li (Vasali) thuộc Bạt-Kỳ. v.v… đều là
những đô thị mới rất nổi tiếng lúc bấy giờ, và là
trung-tâm-điểm của tất cả các cuộc vận động văn hóa
chịu bởi lẻ, các quốc gia mới này về mặt biểu diện,
mặc dù ảnh hưởng văn hóa Bà-La-Môn, nhưng nền tảng không
sâu xa như các địa phương Trung Quốc;
(1)
Phật thuyết nhân tiên Kinh (Trường 10, 53a) A.I.P. 213; idid VI,
p. 525 Rhys Davids; Buddhist India, p. 23-24.
(1)
vả lại, về nhân chủng tuy có giống người Aryan nhưng không
phải từ Trung Quốc di cư đến, mà huyết thống của họ
cũng đã pha trộn nhiều cứ không phải là thuần chủng nữa.
(2) Và mặc dầu chịu ảnh hưởng của văn minh Trung Quốc
nhưng chính nó lại hợp với sự hình thành của một nền
văn minh đặc thù. Ở đây, có điều ta nên chú ý là sự
bột khởi của Ma-Ha-Ðà, Ma-Ha-Ðà là nói theo pháp điển Bandhayana
dharma sutra, hầu như thuộc giống hỗn huyết (sang Mêlé) Phệ-Xá
và Thủ-Ðà, là một quốc gia mà trước Phật một thời kỳ,
tức vào khoảng 600 năm trước Tây lịch; không đáng được
chú ý đến. Kể từ khi Sisunaga sisunaga (hê-tu-na-già) dựng
nên một vương quốc thì bỗng trở nên giàu mạnh. Ðến thời
đại Phật thì ngoài Câu-Tát-La ra, không một nước nào có
thể địch lại được sự cường thịnh của Ma-Ha-Ðà. Về
địa giới thì phía Nam giáp núi Tần-đô-da, phía Bắc giáp
sông Hằng, Ðông giáp tiếp với sông Thiệm Ba, và phía Tây
chạy suốt đến sông Sa-na (Sona). Ðất đã rộng, thế lại
mạnh nên Ma-Ha-Ðà lúc đó đã xưng bá tại Ấn Ðộ. (3) và
phát huy một nên văn minh đặc hữu để thích ứng với cái
quốc thế đó. Theo truyền thuyết; vào thời vua Tần-Tỳ-Sa-La,
Ma-Ha-Ðà đã đặt ra niên lịch riêng, cứ xem thế thì đủ
rõ.
(1)
oldenberg; Buddha (7 teand) s72-73.
(2)
D. Fick Glicdermg in nomdosteshem Inten Pu buddhans Peit 6s.
(3)
Rys Davids; Buddhist India. P4; p24.
(1)
Còn đối với tư tưởng mới cũng có những nổ lực phát
huy đặc sắc của nó, từ phái Lục-Sư nổi tiếng đến các
cuộc vận động tư tưởng mới chống lại Bà-La-Môn đều
lấy đó làm trung tâm để phát triển. Có thể là lúc đầu
Phật giáo cũng hưng khởi từ đó. Xem thế thì đại biểu
cho các nước mới vùng dậy là Ma-Ha-Ðà mà nền văn minh mới
của Ma-Ha-Ðà cũng là đại biểu cho các nền văn minh mới
lúc bấy giờ: đây không phải là nhận định quá đáng. Duy
ở thời đại Phật, Ma-Ha-Ðà đã cùng tranh hùng với Câu-Tát-La
và khi Phật luống tuổi thì dần dần đã áp đảo được
Câu-Tát-La là mở màn cho sự thống nhất toàn Ấn Ðộ sau
đó không quá hai trăm năm. Xem thế thì đủ thấy nền văn
minh mới này ít ra cũng đã chi phối Ấn Ðộ trong mấy thế
kỷ. Phật giáo thật đã do nền văn minh này mà phát khởi
và trở thành tinh thần chỉ đạo của nó, nếu nói theo một
ý nghĩa nào đó, trên quan hệ, cũng có thể cho là sản phẩm
của văn minh Ma-Ha-Ðà.
Tóm
lại, nếu nói một cách toàn thể, thì địa phương văn minh
ở thời đại Phật tuy cũng hạn định ở những khu vực
bắc bộ bán đảo, nhưng trong đó, những địa phương được
coi là trung tâm thì từ Tây đến Ðông, từ Bắc đến Nam,
nghĩa là, từ các đô thị cũ đến các làng mạc. Còn nói
đến Trung Quốc ở thời đại Phật chủ yếu chỉ là các
địa phương mới vùng dậy này, tức từ Câu-Tát-La ở phía
Bắc đến Ma-Ha-Ðà ở phía Nam; từ Vam-Di (thủ đô là Kiều-Thướng-Di)
ở phía Ðông đến Ưởng Già (Amga, thủ đô là Thiệm Ba)
ở phía Tây.
(1)
Ngũ Phần Luật 18 (trang 12b), nói: “Lúc ấy vua Bình Sa đặt
ra năm năm lại có một năm nhuận và tất cả ngoại đạo
và Bà-La-Môn đều nói theo…”
Về
tinh thần văn minh chỉ đạo thời kỳ trước là Bà-La-Môn,
kỳ này chuyên lấy quốc Vương làm trung tâm, do Sát-Ðế-Lị
nắm giữ, trong sự phát triển của các đô thị và những
quan hệ kinh tế, cho nên, kết quả các nhà thực nghiệm mệnh
danh là trưởng giả, cư sĩ, dần dần đã phát huy thực lực
của họ: đó là đặc sắc khác hẳn với thời kỳ trước,
và chính từ đó đã phát sinh ra đặc quyền giai cấp vậy.
Lại theo thứ tự bốn giai cấp của Bà-La-Môn Giáo thì đứng
đầu là Bà-La-Môn, rồi đến Sát-Ðế-Lị, Phệ-Xá và Thủ
Ðà, nhưng theo sử liệu (Ba-li) Phật giáo thì thuận từ đó
lại bắt đầu từ Sát-Ðế-Lị, Bà-La-Môn, Phệ-Xá và Thủ
Ðà, điều này không chỉ đức Phật xuất thân từ giai cấp
Sát-Ðế-Lị mà còn cho thấy ngôi vị trước sau cũng tùy
thuộc vào thế lực thực tế lúc đó nữa. Bởi thế, nếu
so sánh điểm tượng trưng cho văn minh của hai thời kỳ như
thế nào, thì ta có thể nói thời kỳ trước là hình thức,
thời kỳ này là thật chất, thời kỳ trước là tĩnh, thời
kỳ này là động; phương pháp tư tưởng của thời kỳ trước
bất luận diễn tả điều gì, đều có tính cách thi ca, hình-nhi-thượng,
còn thời kỳ này, có thể nói, lại là thực chứng, hình-nhi-hạ:
đó là điểm khác biệt giữa hai thời kỳ. Lý do tại sao
nền văn minh của thời kỳ này, so với các thời kỳ trước,
lại rất bình dị, và gần với dân chúng chính là ở điểm
đó. Nếu cho văn minh thời kỳ trước là văn minh Bà-La-Môn
thì văn minh thời kỳ này có thể bảo là văn minh Sát-Ðế-Lị.
Lịch sử Nhật bản cũng có thể là một thí dụ chứng minh,
tức nền văn minh thời kỳ trước là văn minh Công Khanh, lấy
Kinh Ðô làm trung tâm, còn văn minh thời kỳ này là văn minh
Liêm Thương Giang Hộ, lấy vũ sĩ, thị dân làm trung tâm. Lại
nữa, về phương diện trang nghiêm, văn nhã thi thời kỳ này
tuy không sánh được với thời kỳ trước; nhưng về phương
diện bình dị, gần gũi với dân chúng, và khí tượng hoạt
bát thì thời kỳ này hơn hẳn thời kỳ trước.
Nhìn
vào đặc sắc của nền văn minh đương thời người ta cũng
có thể thấy được lý do hưng khởi và sứ mệnh của Phật
Giáo. Tức là, thứ nhất, đức Phật xuất thân từ giòng
Sát-Ðế-Lị thuần túy chứ không phải là Bà-La-Môn. Thứ
hai, Phật sinh ở thành Ca-Tỳ-La-Vệ, một đô thị ở biên
thùy, chếch về phía Đông hơn Câu-Tát-La. Thứ ba, vì muốn
chọn một quốc gia mới lên để làm căn cứ địa tu hành
nên Phật đã đặc biệt chú ý đến khu vực Ma-Ha-Ðà.
Thứ
tư, lấy Ma-Ha-Đà làm trung tâm dương cao ngọn cờ truyền
đạo tại các quốc gia mới vùng dậy. Thứ năm, lấy việc
phản lại chủ nghĩa Bà-La-Môn làm tiêu bàng và cựu lực
ngăn ngừa mối tệ cực đoan. Thứ sáu, những người tin Phật
đều thuộc giòng Sát-Đế-Lị và phần lớn là những trưởng
giả, cư sĩ có thực lực trong xã hội thời bấy giờ. Nếu
lại đối chiếu những đặc trưng trên đây với tình hình
đương thời thì ta thấy sự hưng khởi của Phật phần nhiều
do tình hình tích cực hoặc tiêu cực của thời bấy giờ
thúc đẩy. Như vậy giữa sự hưng khởi của Phật giáo và
tình thế đương thời có một sự quan hệ rất mật thiết
và đây là vấn đề mà, sau này, cần được khơi sâu thêm,
cho nên, ở đây chúng ta phải dự liệu trước.
2-
TƯ TƯỞNG GIỚI ĐƯƠNG THỜI
Trở
lên tôi mới trình bày về xu thế văn minh biểu hiện bên
ngoài, còn xu thế nội tại của nó, tức tinh thần giới đương
thời cũng có nhiều điểm cần được luận cứu đến. Đạo
Bà-La-Môn từ xưa tuy vẫn cứ muốn duy trì thế lực của
mình, nhưng đã từ lâu, không còn đủ sức nữa. Nhân đó,
các học phái sùng bái những chủ nghĩa bất đồng thường
công kích, khích bác lẫn nhau đến nổi khiến cho lòng người
ly tán, cảm thấy mất chỗ quy hướng: đó chính là tình hình
đại cương của tư tưởng giới thời bấy giờ. Để cho
tiện lợi, chúng ta hãy chia những khuynh hướng tư tưởng
chủ yếu của thời đại này, khoảng một vài trăm năm, làm
bốn trào lưu lớn để khảo sát (1) như sau:
Thứ
nhất, trào lưu Bà-La-Môn Giáo chính thống: chủ trương duy
trì ba giêng mối cổ xưa là chủ nghĩa Thiên Khải Phệ-Đà,
chủ nghĩa Bà-La-Môn chí tôn chí thượng và chủ nghĩa tế
thần Vạn năng.
(1)
Tham chiếu “Ấn Ðộ Triết Học Tôn Giáo Sử”, thiên V chương
I.
Thứ
hai, trào lưu tín ngưỡng tập tục: không chấp chặt vào hình
thức của trào lưu trên mà sùng bái nhiều loại nhân-cách-thần,
trong đó lấy ba thần Phạm Thiên (Brhma), Tỳ-Nữu-Noa (Visnu),
và Thấp Bà (Sva) làm trung tâm vận động để rồi nghiễm
nhiên trở thành một trào lưu Thần Giáo: đó chính là tư
tưởng trung tâm trong Đại-Tự-Sự-Thi (Mahàbharata) và có thể
cho đó là cuộc vận động thông tục của Bà-La-Môn.
Thứ
ba, trào lưu triết học: Lấy Phạm-Thư và Áo-Nghĩa-Thư làm
chủ yếu, nhất là khuynh hướng tư tưởng phát đạt trong
Áo-Nghĩa-Thư có thể làm lý tưởng triển khai về mọi phương
diện. Từ Số-Luận, Du-Già đến phần lớn sáu phái triết
học ít ra cũng đã manh nha từ thời đại này.
Thứ
tư, trào lưu phản Phệ-Đà: ba trào lưu kể trên theo một
ý nghĩa nào đó, không nhiều thì ít, vẫn có quan hệ với
Phệ-Đà, đến trào lưu thứ tư này thì hoàn toàn phủ nhận
uy quyền của Phệ-Đà mà đứng trên lập trường tự do độc
lập để nghiên cứu, như phái Lục-Sư chẳng hạn. Phật giáo
cũng có thể được liệt vào trào lưu này. Tóm lại, những
trào lưu trên đây, dù là thỏa hiệp hay chống đối, hình
thái tuy có khác nhau nhưng mục đích đều muốn mang lại sự
quy hướng cho lòng người vốn đã hoang mang từ lâu: đó là
thời đại của các học phái đua nhau phát khởi, tức vào
khoảng từ sáu đến bốn trăm năm trước tây lịch. Chính
Phật giáo cũng hình thành vào thời gian này. Tuy nhiên, đây
chỉ là sự quan sát khái quát thôi. Nếu đứng trên lập trường
toàn thể Triết Học Tôn Giáo Sử Ấn Độ để phân biệt
các bộ loại mà chỉ dựa vào sử liệu Phật Giáo không thôi
thì chưa đủ để chứng minh(1). Bởi thế, một mặt tuy vẫn
theo cách phân loại trên đây, nhưng không nên cố chấp thái
quá, mặt khác, chủ yếu theo sử liệu Phật giáo để quan
sát trạng huống của tư tưởng giới đương thời để tìm
hiểu rõ cái nguồn gốc và địa vị của tư tưởng Phật
Giáo.
A-
BÀ-LA-MÔN-GIÁO
Thế
lực của Bà-La-Môn-Giáo vào thời ấy tuy đã suy giảm, nhưng
vẫn còn lan tràn khắp nơi, và về hình thức vẫn còn uy quyền
đáng kể, điều này cứ xem những sự tích trong A-Hàm, bản
Hán dịch, kinh 10, phẩm Phạm Chí cũng đủ rõ. Vì Bà-La-Môn-Giáo
vốn là tôn giáo của quốc dân, đã có nền tảng rất sâu
về quan hệ. Ít ra nó cũng kết hợp với mọi nghi thức mà
đã ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống hằng ngày. Song
muốn biết cái tình trạng của Bà-La-Môn-Giáo lúc ấy ra sao
thì trước hết phải khảo sát nó qua các kinh điển phật
giáo.
(1)Tham
chiếu Trung-A-Hàm từ kinh 38 đến kinh 42
Về
địa vị của A-Thát-Bà-Đà tuy không được rõ lắm, (1) nhưng
về ba kinh Phệ-Đà như Lê-Câu, Giạ-Nhu và Sa-Ma thì dĩ nhiên
đã được thống hợp làm một. Không những thế cái gọi
là Tam Minh (trividya tuijja) cũng đã viên thục rồi và các chi
Phệ-Đà (Vadanga) cũng đều đã được thành lập cùng với
việc lấy Sử-truyện (Itihrsa; Mahàbharata) đặt vào hàng thứ
năm. Trong các kinh điển, các nhà bác học Bà-La-Môn thường
được gọi là người thông ba Phệ-Ðà, thông tự-vựng-học
(nighandu), thông-ngữ-nguyên-học (sokkharapp-abhedama), thông năm
sử truyện (itihasa), thông văn pháp học (veyyakarana), thông
thế học (chayata) và thông đại nhân tướng (mahàparislakkha).
(1)
Thông thường A-Hàm Hán dịch cho là bốn kinh gồm cả A-Thát-Bà,
nhưng A-Hàm Ba-li thì thường chỉ nói có ba Phệ-Ðà (tayo vedà)
chứ không phải bốn Phệ Ðà (catars vedà). Theo A-Hàm Ba-li
thì tên A-Thát Bà là Atthabana; trong dàtak vol, VI, p. 490 và Suttanipàta
thì chỉ có atthab ana được dùng để gọi các chú thuật
và sách thuốc mà thôi. Mãi đến Milinda Panha thì A-Thát-Bà
được kể là một trong Phệ-Ðà, nhưng, theo Treneknersed p.178
thì điều đó cũng không có sự thật chứng minh. Tóm lại,
điểm này rất nên chú ý nếu muốn nghiên cứu về thứ tự
thành lập kinh điển Ba-Li và Hán dịch của Phật giáo.
Tức
các Áo-Nghĩa-Thư được kể sau ba Phệ-Ðà, đặt A-Thát-Bà-Ương-Kỳ-La
(Atharvangirasa) vào hàng thứ tư, Sử truyện vào hàng thứ năm
(1); có khi lại lấy một phần chi của ngôn ngữ học của
Phệ-Ðà thay cho A-Thát-Bà thứ tư. Sự học tập tất cả
những bộ môn này thường được coi là tư cách tiệu chuẩn
của Bà-La-Môn chính thống. Ngoài ra, cũng có nhiều tôn phái
học tập và truyền trì các bộ môn này, chẳng hạn như trong
Trường-A-Hàm, Tam Minh kinh 16 (D.B.Jev-jja) có nói đến Tư-Tế-Tăng
(Addharniya SKt Adbvarya) là người Bà-La-Môn thuộc phái Da-Nhu
(Tanthnieya), Bà-La-Môn thuộc phái Tha-Ma (handagya) (Chandoka Drahmana)
và Ca-Vịnh-Tăng (Chandava KSt Vdgate) v.v… cứ xem thế thì đủ
rõ. (2) Xem thế thì thấy trong những sách văn học (Vedasamhita)
của Bà-La-Môn thời bấy giờ không có Luận, tức là những
sách (Sustras) của họ đã hoàn thành là những sách tiếng
Phạm (Brahmanas) và những sách chi phân Phệ-Ðà (Vedamga). Bởi
thế, đứng về phương diện văn-học-sử mà nói thì thời
đại Phật chính cũng tương đương với thời đại kinh điển
này. Căn cứ vào những sự thực trên mà suy luận cũng có
thể tin được. Theo đó thì những nghi thức tế tự của
Bà-La-Môn giáo lúc ấy vẫn còn thịnh hành, nghi thức lớn
thì như Mã Từ (Asvama-dha, Pàli: Assamedha), những nghi thức
nhỏ thì như các lễ tế lửa (Agnihatra) thấy rải rác khắp
nơi trong các kinh văn. Những người Bà-La-Môn thời bấy giờ
nghe tiếng Phật cũng cho Phật là người tinh thông các nghi
thức tế lễ, bởi thế, trong Trường-Hàm, Cửu-La-Ðàn-Ðầu
kinh thứ 15 (D4. Kutadanta Sutta) có chép truyện một người Bà-La-Môn
đem ba phép tế và mười sáu đồ dùng để tế ra hỏi Phật,
như vậy Bà-La-Môn thời đó vẫn lấy nghi thức tế lễ làm
vấn đề nghiên cứu chủ yếu, và Phật tất cũng phải thông
thạo các nghi thức ấy nên mới được hỏi đến; điều
này cứ xem trong Cứu-La-Ðầu-Ðàn kinh sẽ rõ.
(1)
Ấn-Ðộ-Triết-Học-Tôn-Giáo-Sử p, 23
(2)
về Tứ Tế Quan và các chi phái Phệ-Ðà, Xem Ấn-Ðộ-Triết-Học-Tôn-Giáo-Sử,
thiên thứ nhất, chương I, thiên hai chương I, thiên bốn chương
iii, tiết hai.
Vì
tôn sùng những nghi thức tế lễ nên tất cả các thần được
tế bái cũng vẫn nhiều như trước, như các danh xưng A-Kỳ-Ni
(thần lửa), Tô-Ma (thần rượu), Tô-Lợi-Da (thần mặt trời)
v.v… lúc đó vẫn còn y nguyên. Duy có điều là, theo sử liệu
Phật giáo, thời bấy giờ lấy Bà-La-Môn làm trung tâm và
vị nhân-cách-thần được họ kính trọng và tôn lên hàng
đầu là Phạm Thiên (Brahma). Lại có Ðế-Thích-Thiên (Sakka
devanam indo) làm chủ ba mươi ba tầng trời, Tứ-Thiên-Vương
giữ gìn bốn phương (Lokapala) v.v… trong đó cũng có vị nhân-cách-thần
mới được dựng nên là như vậy, trong tín ngưỡng thần
thật sự đã có sự biến đổi lớn. Trong các thần Phạm
Thiên được người ta tôn trọng nhất, được coi là đấng
sáng tạo thế giới, và trong mọi sự sáng tạo, đặc biệt
giòng Bà-La-Môn được sinh ra từ miệng Phạm Thiên, và sau
khi chết, được sinh về cõi Phạm Thiên v.v… Ðối với Phật,
người Bà-La-Môn trước sau vẫn bảo đó là lý tưởng tối
cao của họ,
Ta
là Phạm Thiên, là Ðại Phạm Thiên, là kẻ thắng, không là
kẻ bại, là toàn trí, là người quản lý, là tự tại, là
kẻ tạo tác, là kẻ kế hoạch, là tối thắng, là người
phân phối, là đấng Thánh cha của quá khứ, vị lai tất cả
chúng sinh đều do ta tạo tác.
Đó
là quan niệm về vị nhân-cách-thần Phạm Thiên của đương
thời. Ðoạn văn trên thấy trong Trường A-Hàm, kinh Phạm Ðộng
14 (D1 Brahmàjasutta) và nhiều kinh khác cũng đồng nhất. Như
đã nói ở trên, khi Phật đối đáp với người Bà-La-Môn,
Ngài không thể gạt hẳn tín ngưỡng của họ ra một bên;
vả lại, đứng trên lập trường thần thoại mà nói thì
Phạm Thiên cũng luôn luôn được biểu hiện trong Phật giáo,
lý do chính là ở đó. Hơn nữa, theo sự suy định của tôi,
tín ngưỡng Văn Thù, Quan Âm của Ðại Thừa Phật giáo sau
này phần lớn cũng do thần thoại Phạm Thiên mà ra, và sau
đã đóng vai trò rất trọng yếu trong Phật Giáo về mọi
phương diện. Do đó khi nói đến Phạm Thiên là vị nhân-cách-thần
trung tâm ở thời đại Phật đã hàm ngụ một ý nghĩa rất
trọng yếu trong bề mặt nghiên cứu Phật Giáo sử Ấn Ðộ.
Vì tham khảo các kinh điển Bà-La-Môn để đối chiếu, khảo
sát thì sự hưng thịnh của Phạm Thiên và các thần thủ
hộ thấy được ghi chép trong các pháp điển và thời kỳ
đầu của Ðại-Tự-Sự-Thi, không bao lâu, Phạm Thiên đã
nhường chỗ (thực lực) cho Tỳ-Nữu-Noa Thiên và Hỗn-Bà,
song, tín ngưỡng này ở thời đại Phật chỉ tồn tại trong
một thời kỳ ngắn mà thôi (ờ thời đại Phật, thần Tỳ-Nữu-Noa
và Hỗn-Bà Thiên, tức Tự Tại Thiên (Isana) tuy dần hưng thịnh,
nhưng chung cục không đủ mạnh để sánh với Phạm Thiên
(1).
Về
những cách hành trình của Bà-La-Môn được biểu hiện trong
các kinh điển Phật giáo cũng tương đồng với quan niệm
về thần kể trên, và có nhiều cái rất phù hợp với quy
định trong Pháp kinh hay Ðại-Tự-Sự-Thi. Chẳng hạn trong
Trung-A-Hàm, kinh Anh-Vũ 38 (M. 99 Subha sutta) có thuật lại cách
hành trì lý tưởng của một Phạm Chí như: chân thật (Sac-cà),
khổ hạnh (takas), phạm hạnh (brhmacariya), độc tụng (ajjha)
và ly dục (Caga) v.v… (2). Những đức mục này tuy có thầy
trong Áo-Nghĩa-Thư (3) nhưng chính là tương đương với những
đức mục tu dưỡng và thời kỳ tu hành của phạm Chí được
quy định trong Pháp-Kinh. Lại như trong các kinh Phật có chép
một phái Bà-La-Môn vì muốn được trong sạch nên tắm rửa
luôn và cho đó là một thói quen thiêng liêng thì chính cũng
lại tương đương với một quy luật thường được thưởng
trong Ðại-Tự-Sự-Thi. Ngoài ra, phàm những tập tục được
ghi chép trong các kinh điển của Phật giáo cũng có rất nhiều
điểm tương hợp với những tập tục được chép trong Ðại-Tự-Sự-Thi.
(1)
Số-Luận A p, 219. Tăng-Nhất 43, các bản p. 454
(2)
M. 11 199; Trung 38, Các bản, p. 181
(3)
Ấn-Ðộ-Triết-Học-Tôn-Giáo-Sử
Chẳng
hạn như khi một trưởng giả ở thành Xá-Vệ chết, vì không
có con nên tài sản bị quan lại trưng thu, câu chuyện này
tuy được chép trong kinh Phật nhưng cũng có thể cho đó là
bằng chứng luật lệ đương thời do pháp điển Bà-La-Môn
quy định. Cũng như sau này đức Phật có nói đến chính-đạo-luận,
nhân nói đến mười đức của nhà vua phải giữ mà bàn về
mười đức của Tỳ-Khưu thì cũng lại tương hợp với những
nghĩa vụ của quốc vương được quy định trong Ðại-Tự-Sự-Thi
và Tỷ-Tu-Mã (Bisme). Do đó, nếu ta muốn biết rõ sự quan
hệ giữa Bà-La-Môn-Giáo và Phật Giáo thì đương nhiên cần
phải tham khảo và đối chiếu với pháp điển và Ðại-Tự-Sự-Thi.
Tóm
lại, vào thời đại Phật, đứng về phương diện hình thức
mà nói, Bà-La-Môn-Giáo đã hoàn toàn đình đốn, hoặc, nếu
không thế thì, như đã nói ở trên, hình thức dù còn nhưng
tinh thần đã mất, không còn đủ sức lãnh đạo lòng người
trong thời đại mới để đạt đến điểm mong muốn: đó
chính là thời đại mà các tôn phái đua nhau nổi dậy. Cũng
đúng vào lúc này, đức Phật, ngoài trường hợp Phạm Thiên
ra, như sẽ nói sau, đã nghiên cứu về mọi phương diện và
đưa ra một phương sách kết hợp Bà-La-Môn-Giáo đương thời
để phát động một phong trào thông tục cho thích hợp với
lòng người trong thời đại mới. Nhưng, đồng thời, như
trên vừa nói, thời đại này cũng là thời đại của các
tôn phái Ấn Ðộ mọc lên và như vậy theo một ý nghĩa nào
đó, cũng có thể cho đây là thời đại thai nghén của Bà-La-Môn-Giáo
vậy.
B-
CÁC ÐOÀN SA MÔN
Bà-La-Môn-Giáo
cũ đã mất hết sức sống, mà lúc đó có một chủ nghĩa
đặc biệt đầy sinh khí hoạt bát, lan tràn mọi nơi: đó
là tổ chức giáo đoàn. Theo thông lệ giáo đoàn này được
gọi là Sa-Môn (Samana_cần tức). Và để phân biệt với người
Bà-La-Môn thường họ được gọi là Sa-Môn Bà-La-Môn, danh
xưng chung cho các nhà tư tưởng (các nhà tôn giáo) đương
thời. Về điểm này, khi Phật đề cập đến ý kiến của
các phái đương thời, thường nói “Hoặc Sa-Môn hay Bà-La-Môn”.
Mãi đến thời đại Chiên-Ðàn-Hốt-Ða (Chandragupta), một
người Hy-Lạp trú ngụ tại Ấn-Ðộ, tên là Mạch-Ca-Tư Ðức-Lặc-Tư
(Megasthenes) cũng bảo rằng các nhà học giả Ấn Ðộ có hai
loại Sa-Môn và Bà-La-Môn. Ngày nay, cứ xem các kỷ lục còn
truyền lại thì đủ rõ. Nếu căn cứ theo lịch sử thì danh
mục và chế độ Sa-Môn là do lối sinh hoạt tuẫn thế và
người tu hành trọn đời (Nasthika) trong kỳ thứ ba, thứ tư
của Bà-La-Môn mà ra.
Nhưng
đến thời đại Phật thì nó đã khác hẳn với chế độ
Bà-La-Môn phổ thông, nó không còn bị gò bó bởi những giáo
điều hay quy định truyền thống Bà-La-Môn mà được tư do
xuất gia, tự do tôn thờ chủ nghĩa theo ý muốn. Chính từ
đó đã nảy sinh ra nhiều thứ Sa-Môn-Ðoàn khác với thông
thường. Nhờ không khí phấn khởi lúc ấy, những người
bất mãn với truyền thống bình phàm của Bà-La-Môn-Giáo hoặc
với chủ trương của một phái nào đó đã đi theo hướng
Sa-Môn-Ðoàn, và những người có thể đủ tư cách nhất để
đại biểu cho tinh thần giới lúc bấy giờ chính là hạng
người này: đây không phải lời nói quá đáng. Vả lại,
như đã nói ở trên, cuộc vận động ấy lấy miền phụ
cận Ma-Ha-Ðà làm trung tâm, những nước mới vùng dậy là
vũ đài hoạt động và là bối cảnh tạo nên xu thế của
họ. Chẳng hạn như hai nhà đạo sĩ đầu tiên mà đức Phật
đến hỏi đạo là A-La-La-Già-La-Ma (Alala kalama) và Uất-Na-Ca-La-Ma-Tử
(Uddakarama sutta) đều là những thủ lãnh của các đoàn Sa-Môn
lấy các miền phụ cận Ma-Ha-Ðà hay Phệ-Xá-Li làm căn cứ
địa. Lại như đoàn Sa-Môn Iatilika đầu tiên quy Phật (tức
ba anh em Ca-Diếp) cũng ở Ma-Ha-Ðà. Rồi đến người Phạm
Chí Ni-Câu-Lư-Ðà (Nigrardha) biện luận với Phật được ghi
trong Trường-Hàm, Tán-Ðà-Na 8 (D2, udumbariha) hầu như cũng
ở gần thành Vương-Xá. Nhất là phái Lục-Sư sau tuy có đi
khắp các quốc gia mới vùng lên nhưng thành Vương-Xá của
Ma-Ha-Ðà vẫn là nơi trung tâm của họ. Căn cứ vào những
chứng minh trên đây, ta có thể tin đó là sự thực. Ngoài
ra, căn cứ theo Ngũ-Phần-Luận (1) chép là người em của vua
Tần-Tỳ-Sa-La là Ca-Lưu từng mời chín mươi sáu thứ ngoại
đạo để thiết một bữa đại trai, con số này dĩ nhiên
là không được xác thực, nhưng nó cũng cho ta thấy ở địa
phương này thời bấy giờ có rất nhiều đoàn Sa-Môn. Lại
nữa, lúc đầu khi Phật xuất gia, Ngài đã không đi đến
căn cứ địa của Bà-La-Môn là Câu-Lư (Kuru) mà lại nhắm
tới Phệ-Xá-Li và Vương-Xá-Thành để làm nơi tiến tu. Nay
nếu chúng ta tìm hiểu nguyên nhân tại sao thì ta sẽ thấy
khu vực này là quê hương của các nhà tư tưởng mới. Ðức
Phật tuy bất mãn với các đạo sĩ mà Ngài đến hỏi đạo
để rồi tực nổ lực mà đạt được tri “Vô sư tự ngộ”,
nhưng không trực tiếp thì gián tiếp, cũng đã chịu ảnh
hưởng của các nhà tư tưởng mới ấy: đây là một sự
thật không thể hồ nghi gì nữa.
(1)
Ngũ-Phần-Luật quyển 15, p, 95a.
Vả
lại, theo truyền thuyết, như đã nói ở trên, sau khi thành
đạo, trong một lúc Phật đã quyết định không thuyết pháp
độ sinh, nhưng rồi lại đổi ý định mà bắt đầu chuyển
pháp luân, là vì có Phạm Thiên nói về tình trạng hỗn loạn
trong tư-tưởng-giới ở Ma-Ha-Ðà để thỉnh cầu Phật ra
tay cứu vớt, (1) đây vấn đề Phạm Thiên hãy gạt qua một
bên, không bàn đến, nếu giải thích theo tinh thần của truyền
thuyết đó thì, vì một động cơ nào đó, Phật muốn im lặng
mà không thể im lặng được, nghĩa là không nỡ ngồi nhìn
các nhà tư tưởng mới xung quanh Ma-Ha-Ðà gây nguy hại cho
thế đạo nhân tâm. Tức một mặt Phật lợi dụng xu thế
tương đồng của họ, mặt khác dắt dẫn họ trở về con
đường chính đáng, và coi đây là một nhiệm vụ thiết yếu.
Muốn hiểu Phật Giáo một cách xác thực, ta không thể bỏ
qua điểm này.
Các
đoàn Sa-Môn lấy các quốc gia mới ở đông bộ làm trung tâm
kế tiếp nhau mọc lên và tiếp xúc cả với tư tưởng tự
do củ Bà-La-Môn ở tây bộ, bởi thế đã có các giáo đoàn
mà tín ngưỡng không giống nhau. Ðó chính là thời kỳ mà
người ta gọi là thời kỳ manh nha của các học phái vậy.
Mà đặc trưng thứ nhất là mỗi giáo đoàn tôn thờ một
chủ nghĩa hay một tín ngưỡng khác nhau, vị thủy tổ của
giáo đoàn hay nhân cách cá nhân của vị lãnh tụ đều có
ảnh hưởng đến sắc thái của giáo đoàn, và chủ nghĩa
của họ càng xa với Bà-La-Môn-Giáo bao nhiêu thì ý nghĩa thủy
tổ và lãnh tụ lại càng trở nên trọng yếu bấy nhiêu.
Bà-La-Môn-Giáo chỉ là tôn giáo truyền thống của quốc dân,
nó không có một ý nghĩa đặc biệt nào về vị giáo chủ
hay người truyền trì cả, trái lại, về các đoàn Sa-Môn
thì do ý thức của cá nhân mà có nên phải dựa vào một
chủ nghĩa hay nhân cách của vị thủy tổ để tồn tại.
Lúc ấy, từ phái Lục-Sư trở xuống, phần lớn đều dùng
nhiều danh từ cố hữu để đặt tên cho giáo đoàn của mình:
đây là điểm ta cần đặc biệt chú ý.
Tóm
lại, lúc giao thời, nền văn minh cũ đang biến đổi, tôn
giáo truyền thống Bà-La-Môn-Giáo có tính cách chủ nghĩa quan
liêu không còn đáp ứng được yêu cầu tư-tưởng tự giác
mới của quần chúng, do đó mà vào thời đại này, đã có
nhiều giáo đoàn phát khởi. Trong phong trào ấy thường có
những xu thế cực đoan nguy hiểm của các nhà tư tưởng mới,
nhưng, xét cho cùng thì chẳng qua chỉ là kết quả của lòng
mong muốn cố gắng vượt hẳn lên trên truyền thống mà thôi;
đó là điểm ta không thể bỏ qua.
(1)
Ngũ-Phần-Luật quyển 15, p, 95a.
C-
TƯ TƯỞNG ÁO-NGHĨA-THƯ
Trở
lên mới chỉ căn cứ theo sử liệu của Phật giáo để khảo
sát tư-tưởng-giới đương thời, nhưng như thế chưa đủ,
ta phải tiến lên bước nữa mà tìm hiểu cái nguyên lai của
tư tưởng Phật Giáo, tức là, giữa tư tưởng Áo-Nghĩa-Hệ
và tư tưởng Phật giáo có quan hệ gì; đây là vấn đề
cần phải được nghiên cứu đến. Vì trên bình diện triết
học sử Ấn Ðộ, từ rất sớm, tư tưởng triết học Áo-Nghĩa-Hệ
đã chiếm một vị trí cực trọng yếu, nên muốn biết rõ
địa vị của Phật giáo như thế nào ta cần phải tìm hiểu
sự quan hệ giữa hai hệ thống tư tưởng này.
Trước
hết hãy nói về bản thân Áo-Nghĩa-Thư. Nói một cách nghiêm
khắc thì, tuy là điều bất khả tư nghị nhưng trên văn hiếu,
người ta không thấy một vết tích gì cho thấy mối quan hệ
giữa Áo-Nghĩa-Thư và Phật Giáo Nguyên Thủy. Cho nên trong
Áo-Nghĩa-Thư cổ xưa không thấy có sự ghi chép nào dính dáng
đến Phật giáo cả, trong những tài liệu Phật giáo cũng
chưa từng thấy cái tên Áo-Nghĩa hay nhắc đến tư tưởng
của nó. Nếu luận cứu một cách sâu rộng thì giữa thời
đại Áo-Nghĩa-Thư và thời đại Phật Giáo tuy có sự tương
liên tương tục, nhưng đức Phật có biết đến Áo-Nghĩa-Thư
hay không thì đó còn là một nghi vấn. Ðây là một vấn đề
khiến cho người muốn nghiên cứu toàn thể tư tưởng sử
Ấn Ðộ không khỏi bối rối, ngờ vực và cực kỳ băn khoăn.
Tuy nhiên nếu nói một cách đại thể thì, Phật giáo, về
nhiều phương diện, có thể nói, cũng đã từng chịu ảnh
hưởng của Áo-Nghĩa-Thư, nhưng nếu bảo nó là tư tưởng
viên thục của Phật Giáo thì không thể được. Hãy lấy
một thí dụ; như thuyết Nghiệp chẳng hạn. Trong Áo-Nghĩa-Thư
cổ xưa, thuyết này là mật giáo, không được công khai thừa
nhận, (1) nhưng đến thời đại phật thì nó là tư tưởng
được tất cả các phái công nhận.
(1)
Ấn-Ðộ-Triết-Học-Tôn-Giáo-Sử, p. 395; pp. 352-353.
Lại
nữa, về vật-chất-quan, trong Áo-Nghĩa-Thư cổ chỉ có thuyết
Tam-yếu-Tố (1), nhưng ở thời đại Phật thì tất cả đều
thừa nhận thuyết Tứ-Đại và Ngũ Đại. Lại như trong Tạp-A-Hàm,
bản Hán dịch, có thuyết “Cái ta thấy là hết thảy, không
hai, không khác, không diệt” (2), nếu nhìn bằng Nhãn quan
Áo-Nghĩa-Thư thì tư tưởng đó cũng chưa từng được giới
thiệu hay bàn đến. Không những thế, nếu lại đi sâu vào
phần nội dung của sự tự giác của đức Phật và bối cảnh
của giáo pháp (Dhamma) căn bản của Ngài mà khảo sát thì,
nhược bằng không liên tưởng đến những tư tưởng bác
học Áo-Nghĩa-Thư thì quyết không thể thuyết minh được.
Do đó, người ta không thể không thừa nhận rằng dù không
trực tiếp thì gián tiếp, giữa tư tưởng Áo-Nghĩa-Thư và
Phật Giáo có một sự quan hệ mật thiết. Vì, Áo-Nghĩa-Thư
là mật giáo nội bộ của những người Bà-La-Môn lấy tây
bộ làm trung tâm, còn đông bộ chưa chịu sự cảm hóa sâu
xa của Bà-La-Môn, không tiếp xúc nên Phật Giáo không có quan
hệ trực tiếp mà chỉ ảnh hưởng một cách gián tiếp cùng
với khuynh hướng tư tưởng nhất ban để rồi trở thành
bối cảnh của tư tưởng Phật giáo.
(1)
Ấn-Độ-Triết-Học-Tôn-Giáo-Sử, p, 325. pp, 352-353,
(2)
Tạp-A-Hàm, p, 519.
Thứ
hai, các học phái chính do Áo-Nghĩa-Thư khích phát, theo chỗ
tôi biết, là ba trào lưu Số-Luận (Samkhya), Du Già (Yoya), và
Hữu Thần Phái (Phái Phệ-Đà-Đa tuy là chính hệ của Áo-Nghĩa-Thư,
song sự thành lập của phái này hơi muộn; nên ở đây không
bàn đến). Tựu trung về các phái hữu thần ở thời đại
Phật như đã nói ở trên, lấy Phạm Thiên làm trung tâm, còn
danh từ Tỳ-Thấp-Nữu và Thấp-Bà (tức Tự-Tại-Thiên-Isana)
thì vẫn chưa biểu hiện rõ ràng. Đến như tín ngưỡng Phạm
Thiên thì hoặc gần như thần thoại, hoặc cho là người sáng
tạo vũ trụ, còn về quan hệ giữa Phạm Thiên và Phật giáo
như thế nào thì ở trên đã trình bày rồi. Về cái gọi
là Du-Già thì dĩ nhiên là phái Du-Già Ba-Đàn-Ta-Lê (Patãnjali),
xuất hiện muộn hơn đức Phật. Theo chỗ tôi biết thì phái
này đã từng chịu ảnh hưởng của Phật, lẽ ra không có
quan hệ gì với Phật giáo nguyên thủy; song các phái Thiền
Định, theo nghĩa rộng, ở thời đại Phật cũng đã tồn
tại dưới nhiều hình thức và hiển nhiên là Phật cũng chịu
ảnh hưởng của họ. Chẳng hạn như Tứ-Thiền-Định, Vô-Sắc-Định
đều đã có từ trước chứ không phải đợi đến Phật
Giáo mới có. Nhưng, cứ theo Phật thì yếu tố của Ngài là
từ A-La-La và Uất-Đà-Ca mà có, và từ ngữ phổ biến nhất
được dùng trong Phật giáo là Tam-Muội (Samàdhi- Tam-Ma-Địa)
thì ở cuối thời kỳ Áo-Nghĩa mới được sử dụng cho mãi
đến Bạc-Già-Phạm-Ca (Bhagavadgita) mới hình thành viên thục.
Xem thế thì Thiền Ðịnh của đức Phật cũng có thể được
coi như thuộc vào trào lưu Du-Già theo nghĩa rộng.
Thứ
ba, phái Số-Luận là một vấn đề lôi cuốn rất nhiều học
giả. Trong cuốn Lục Phái Triết Học, (1) tôi đã bàn qua,
ở đây tôi sẽ không đi vào chi tiết mà chỉ đưa ra kết
luận đơn giản thôi. Phái Số-Luận ở thời đại Phật không
như phái Số-Luận do Tăng-Khư-Da-Tung (Samkya karika) truyền lại
ngày nay, nhưng khuynh hướng từ tư tưởng Áo-Nghĩa-Thư đến
Số-Luận thay vì trọng Bản Thể-Luận thì lại trọng Hiện-Tượng-Luận,
không trọng nguyên lý chủ ý mà trọng nguyên lý chủ trì,
ưa thái độ phân tích mà khảo sát tâm, vật và ứng dụng
thế hệ duyên khởi để quy kết sự quan hệ giữa chúng.
Học phong này là phương pháp nghiên cứu rất mạnh và được
ưa chuộng ở thời bấy giờ. Phái Số-Luận thật đã nhờ
học phong ấy mà thích ứng với Áo-Nghĩa-Thư, nhưng vì phương
diện khuynh hướng có hơi khác với chính hệ nên, kết quả
đã trở thành độc lập; chính đức Phật cũng chịu ảnh
hưởng của học phong nhất ban ấy cho nên kết quả là tư
tưởng Phật giáo thường có nhiều điểm tương đồng với
tư tưởng Số-Luận: đó là ý kiến của riêng tôi. Nếu đem
so sánh thứ tự phát triển của tư tưởng thì tư tưởng
Số-Luận vẫn đi trước Phật giáo, cho nên, người ta không
thể không tán đồng cách tổ chức và chủ trương của Âu-Nho-Đăng-Bá-Nho-Khắc
(?) trong cuốn Lehre der upanishaden und die Anfange des Buddhismus (Giáo
Nghĩa Áo-Nghĩa-Thư với nguồn gốc Phật Giáo), và chính tôi
cũng đã dựa vào thứ tự đó, lấy Phật giáo nguyên thủy
làm bản vị, nhìn qua Số-Luận để nói về "Quá trình phát
Triển của chủ Ý Luận Ấn Độ”. Bài tham luận này được
đăng trong Tạp chí triết học số 364 và 365.
(1)
Sáu phái Triết học Ấn-Độ, trang 90-94.
Tóm
lại, nếu theo kinh điển Phật Giáo mà tham khảo và so sánh
thì ta không thấy một quan hệ trực tiếp nào giữa tư tưởng
hệ Áo-Nghĩa-Thư và đức Phật, nhưng nếu khảo sát về xu
hướng đại thể thì, về phương diện gián tiếp, hiển nhiên
nó rất có quan hệ với Phật Giáo. Đây cũng là một trong
những vấn đề trọng yếu mà sau này cần phải nghiên cứu
một cách tinh tường hơn.
Sau
hết là nói qua về các phái Mật-Mại-Sa, Thắng Luận và Ni-Dạ-Da
v.v… được nhận là thuộc hệ thống tư tưởng Áo-Nghĩa-Thư.
Các phái này đều xuất hiện sau đức Phật và, trên quan
hệ gián tiếp, trừ phái Ni-Dạ-Da còn có điểm thảo luận
ra, tất cả các phái kia, về tư tưởng tiên khu của chúng,
không dính dấp gì đến Phật giáo, bởi thế chỉ đề cập
đến một cách sơ lược thôi.
3-
ĐẶC BIỆT VỀ CHỦ TRƯƠNG CỦA CÁC ĐOÀN SA MÔN
Chủ
trương của các tông phái ở thời đại Phật đã kể trên
kia, về Ba-La-Môn thì tôi đã trình bày trong cuốn Ấn-Độ-Triết-Học-Tôn-Giáo-Sử,
về tư tưởng Áo-Nghĩa-Thư-Hệ (và Phạm-Thư-Hệ) thì tôi
nói trong sáu phái Triết Học Ấn-Độ, ở đây tôi tưởng
không cần phải lập lại nữa. Duy có chủ trương của các
đoàn Sa-Môn lúc bấy giờ thi chưa được thảo luận đến
một cách rõ ràng, bởi thế ở đây tôi sẽ đặc biệt giới
thiệu qua. Như đã nói ở trên, và cả trong các chương, tiết
sau này cũng sẽ nói rõ, phàm chủ trương và thái độ của
Phật, về nhiều khía cạnh, đều có quan hệ với các đoàn
Sa-Môn này. Nhưng nếu nói một cách chặt chẽ thì đây là
một vấn đề lớn có tính cách độc lập, muốn hiểu đến
tận nguồn gốc của nó không phải là một việc dễ dàng.
Nay muốn giúp thêm cho việc tìm hiểu Phật giáo, tôi sẽ chỉ
căn cứ theo Phật giáo để giới thiệu và phê bình một cách
tổng quát thôi.
Trước
hết hãy khảo sát về lập trường của vấn đề. Những
vấn đề mà các học phái thời bấy giờ thường luận cứu
đại khái là nguồn gốc của thế giới, và chỗ quy thú của
kiếp người. Chẳng hạn; thế giới là hữu biên hay vô biên,
thánh nhân sau khi chết có hay không, thân và tâm là một hay
khác v.v… Đó là những vấn đề mà tất cả các phái đều
rất ưa thảo luận. Kết luận của vấn đề là làm thế
nào con người có thể thực hiện được cái lý tưởng chung
cùng của mình, tức là tìm ra chỗ quy thú của kiếp người.
Xem thế thì những vấn đề hiện tại họ nghiên cứu cũng
không khác gì mấy với những đề tài được đặt ra từ
trong Áo-Nghĩa-Thư, nhưng có điều sai khác là họ nghiên cứu
một cách tự do chứ không chịu sự ràng buộc của truyền
thống, do đó mà có nhiều xu hướng ngụy biện và hoài nghi.
Trong Trường-A-Hàm, kinh Phạm Động (Brahmajalasutta) có ghi lại
tất cả vấn đề và giải đáp của mọi học phái thời
bấy giờ, mà theo đó những luận đề và giải đáp nổi
tiếng nhất lúc ấy thì đại lược có thể chia làm tám đề
mục. Đó là:
1.-
Thường Kiến Luận (Sassatavada), chủ trương thế giới và
tự ngã đều thường hằng.
2.-
Bán Thường Bán Vô Thường Luận (Ekacca sassatika), cho rằng
thế giới và tất cả hữu tình đều một phần là vô thường,
một phần là thường hằng.
3.-
Hữu Biên và Vô Biên Luận (antanan-tika), nói về thế giới
là có hạn hay không có hạn.
4.-
Ngụy Biện Phái (amaravikkhepiha) (Bất Tử Kiều Loạn Luận,
Bộ Man Luận) chủ trương không đưa ra một giải đáp quyết
định nào về bất cứ một sự việc gì, rất khó mà nắm
bắt được chủ ý của phái này, vì thế nên được mệnh
danh là Bộ-Man-Luận (có nghĩa là khó bắt như bắt cá trạch),
5.-
Vô Nhân Luận (adhiccasamu-ppada), chủ trương tất cả hiện
tượng đều là ngẫu nhiên, không có quan hệ nhân quả gì
cả.
6.-
Tử-Hậu-Luận (udbamaghatamika), đưa ra những giải thích về
trạng thái của ý thức sau khi chết.
7.-
Đoạn Kiến Luận (ucchedavada), chủ trương sau khi chết là
hết không có gì cả.
8.-
Hiện Pháp Niết Bàn Luận (dittha dhammanibbanam), biện luận
về trạng thái nào là cảnh giới tối cao ở hiện tại. Trong
tám chủ trương trên đây, nếu lại chia nhỏ ra nữa thì thành
cái gọi là sáu mươi hai ý kiến, cũng như lưới vây bọc
cá, sáu mươi hai loại kiến giải này bao hàm tất cả mọi
chủ trương, chính vì thế mà có tên là Phạm Võnh Kinh: điểm
này trong kinh văn đã hiển thị. Và đây là một tài liệu
rất quý vì nhờ nó mà ngày nay ta biết được một cách đại
thể các vấn đề và giải đáp những vấn đề ấy của
đương thời, vì tất cả ý kiến của các phái cũng như chủ
não của các đoàn Sa-Môn đều đã được ghi lại trong đó.
Các phái thường vấn nạn lẫn nhau và thuật biện luận nhờ
đó mà tiến triển rất nhiều (1) cho đến nổi đã nảy sinh
ra một phái chỉ thích biện luận để mà biện luận, các
phái ngụy biến lúc bấy giờ do đó mà lớn mạnh. Đến ngay
đức Phật, mặc dầu kịch liệt bác bỏ lý luận suông, nhưng,
đứng ở một phương diện khác mà nói, phương pháp biện
luận của phật cũng rất sắc bén, có lẽ cũng chịu ảnh
hưởng của khuynh hướng đương thời chăng?
(1)
Thuyết Ly-Chi-Nan, Đọa-Phụ v.v… có quan hệ với luận lý
Ni-Dạ-Da, trong kinh Phật đã có rồi, như: Brahmajala, 1p. 8;
Tạp-Hàm, 48 các bản.
Tám
chủ trương và sáu mươi hai kiến giả trên đây mới chỉ
là phân loại nhất ban thôi, nếu lại khảo sát từng mục
một để biết rõ từng thuyết và do phái nào chủ trương
thì rất tiếc là không có đủ tài liệu để tham khảo. Học
thuyết của hai nhà đạo sĩ đầu tiên mà Phật đến tham
vấn là A-La-La-Ca-La-Ma và Uất-Đà-Ca-Ma-Tử ngày nay không được
biết rõ. Đức Phật tuy bất mãn với hai ông này, nhưng khi
thuyết Vô-Sở-Hữu-Xứ-Định của A-La-La-Ca-La-Ma và thuyết
Phi-Trưởng-Phi-Phi-Trưởng-Định của Uất-Đà-Ca-Ma-Tử, nếu
được đặt vào địa vị tối cao trong Thiền Định Phật
Giáo thì ít ra, nhân-sinh-quan của họ cũng đã ảnh hưởng
đến Phật, điều có thể suy ra mà biết. Về sau trong các
Phật Truyện (như kinh Quá-Khứ-Hiện-Tại-Nhân-Quả) và kinh
Phật-Sở-Hành-Tán đếu có chép A-La-La từng nói với Phật
về lịch trình của sự sống, chết thứ tự do ông đưa ra
là: Minh Sơ – Ngã Mạn – Si Tâm – Nhiễm Aùi – Ngũ Vi Trần
Khí (ngũ duy) – Ngũ Đại – Phiền Não – Sinh, lão,Tử v.v…,
như vậy cũng không khác gì Số-Luận-Sư. Mười Hai Nhân Duyên
Quan của Phật cũng có thể đã bắt nguồn từ đấy. Về
điểm này, nó có một ý nghĩa rất trọng yếu, nhưng đáng
tiếc là trong kinh A-Hàm cổ xưa không thấy một sự ghi chép
tương tự nào cả, dù chỉ là sơ lược, do đó không thể
phê bình và nghiên cứu một cách tường tận để đoán định
nhân sinh quan của A-La-La như thế nào. Còn về Uất-Đà-Ca
thì vẫn chưa thấy một vết tích gì được ghi lại cho nên,
muốn biết rõ chủ trương của ông này lại càng khó khăn
hơn nữa. Tóm lại A-La-La và Uất-Đà-Ca là các lãnh tụ Sa-Môn
đoàn chuyên lấy việc tu luyện Thiền Định làm chủ và là
một phái đồng nhất. Còn hệ thống tư tưởng của họ thì,
sau khi chết, không có ai thừa kế: điều này cứ xem trong
cuộc đối thoại giữa họ và Phật cũng đủ rõ (1).
Trong
các phái có những điểm rất không được thỏa đáng, nhưng
về phái Lục-Sư còn có một chút trật tự. Từ kinh Sa-Môn-Quả
nổi danh trong Trường Hàm cho đến các nơi khác đều thấy
nói đến phái Lục-Sư, vì địa vị của phái này, ngoài phái
Kỳ-Na ra, trong lịch sử triết học tôn giáo Ấn Ðộ, không
một phái nào sánh kịp. Ở thời đại phật, phái này cũng
lấy Ma-Ha-Đà làm trung tâm để phát huy đặc trường của
họ nên cũng có nhiều điểm tiếp xúc gần gũi với Phật
giáo. Bây giờ hãy căn cứ theo kinh Sa-Môn-Quả để giới thiệu
một cách đơn giản chủ trương của họ như sau:
(1)
M. 26 Ariyapariyesana; La-Ma-Kinh 28, Ưu-Đà-La SXXXV 130 Uddaka.
1.
– PHÚ-LAN-NA-CA-DIẾP (Purama Kassapa), đại khái theo chủ
nghĩa hoài nghi luân lý, cho rằng thiện, ác là do tập quán,
tức làm thiện hay làm ác là do thói quen chứ không có một
nghiệp căn tương ứng nào. Đó là chủ trương chính yếu
của phái này.
2.-
MẠT-GIA-LÊ-CÂU-XÁ-LA (Makkhoili Gosala), là thủy tổ của
sinh-mệnh-phái (Ajivika = tà mệnh ngoại đạo). Theo Phật giáo
cho biết thì phái này chủ trương Tất-Nhiên-Luận cực đoan
(Fatalism), đại ý cho rằng hành vi cũng như vận mệnh của
con người, tất cả đều được quyết định bởi quy luật
tư nhiên, con người không thể làm gì trái lại được, do
đó người ta chẳng cần phải nổ lực mà rồi tự nhiên
sự giải thoát cũng đến. Chủ trương này có cái khí vị
của chủ nghĩa vô vi. Theo truyền thuyết của Kỳ-Na thì phái
này là một chi phái đệ tử của Thủy Tổ Đại Hùng (mahavira);
nếu lại theo truyền thuyết của Phật Giáo thì họ là người
thừa kế của Nam-Đà-Bạt-La (Nanda Vaccha). Tóm lại, phái này
là một phái gần với Kỳ-Na, ở thời đại Phật, phái này
rất có thế lực, trừ Kỳ-Na ra, phái này lớn nhất trong
nhóm Lục-Sư. (1)
(1)
A 111p, 388; ibib p, 68; Si pp, 65-67; Tạp-Hàm 49, p. 750; 46 p. 630
v.v… Muốm rõ hơn, xem sách dẫn Amguttare Sanryutia.
3.
– A-DI-ĐA-KÊ-SA-KHÂM-BÀ-LA (Ajita Kesakambali) là nhà duy
vật luận thuần túy, bảo rằng con người chẳng qua do tứ
đại hợp thành, chết rồi là hết, mục đích của đời
người là tận hưởng mọi khoái lạc; họ bác bỏ những
cái gì có tính cách luân lý, nghiêm túc. Cũng có người gọi
họ là Thuận-Thế-Phái (Lokayata) chính lá để chỉ lập trường
nhân-sinh-quan của họ vậy. Thuyết này cũng được ghi trong
Sutra Krtanga (III 12-13) của Kỳ-Na.
4.
– PHÙ-ĐÀ-CA-CHIÊN-DIÊN (Pukudha Kaccayana), chủ trưởng
trái hẳn với duy-vật-luận ở trên, tức là thuyết cho tâm,
vật là bất diệt. Nhưng phương pháp luận chứng của phái
này có tính cách rất máy móc. Họ cho rằng con người do bảy
yếu tố đất, nước, lửa, gió, khổ, vui và sinh mệnh hợp
lại mà thành, do sự tụ, tán, ly, hợp của những yếu tố
đó mà có hiện tượng sống, chết, nhưng chính bảy yếu
tố ấy thì không bao giờ tiêu diệt. Chẳng hạn như lấy
dao đâm người thì chỉ xuyên qua cái điểm phân, hợp của
bảy yếu tố mà thôi chứ sinh mệnh tự nó vẫn chưa mất.
Xem thế thì, nếu muốn giải thoát khỏi sự sống chết đáng
sợ kia không thể dùng dao mà cắt đứt những cái ở bên
cạnh sinh mệnh được. Thuyết này cũng tương tự như thuyết
trong Bạc-Già-Phạm-Ca (Bhagavadgita): đó là điểm ta nên chú
ý.
5.
– TÁN-NẶC-DA-TỲ-LA-LÊ-TỬ (Sãnyaya bellatthiputta). Chủ
trương của phái này cũng có thể gọi là chủ nghĩa cảm
hứng, nghĩa là, cứ tùy theo thời gian và nơi chỗ, hễ cảm
hứng thế nào thì cứ theo thế mà đoán định chân lý. Chẳng
hạn, nếu ai hỏi “có vị lai không”, nếu lúc ấy cảm
thấy có thì đáp là có, như thế là đúng với chân lý; nhưng
về sau nếu cảm thấy không có thì lại đáp là không có,
như thế cũng đúng với chân lý.
6.
– NI-KIỀU-TỪ-NHÃ-ĐỀ-TỪ (Niganndhà netaputta), tức
là thủy tổ của Kỳ-Na-Giáo. Tên trước chính là Ngõa-Nho-Đạt-Ma-Na
(Vardhamana), ra đời trước Phật. Đã một lúc thế lực của
Giáo-Đoàn-Kỳ-Na hầu như tương đương với Phật Giáo. Theo
sự giới thiệu trong kinh Sa-Môn-Quả thì hình như chủ trương
của phái này là một loại vận-mệnh-luận, nhưng, theo sự
suy định (1) của Buhler thì đó là sự ngộ giải. (2). Xét
về giáo lý của phái này thì thấy nhị-nguyên-luận mệnh
(jiva) và phi mệnh (ajiva) làm cơ sở để sáng lập các phạm
trù mà thuyết minh hết thảy; còn về thực hành thì lấy
khổ hạnh cực đoan và nghiêm trì giới bất sát sinh làm đặc
sắc. Cũng vì thế mà trong Lục-Sư, phái này rất gần với
Phật và về giáo lý cũng có rất nhiều điểm tương thông.
Nếu muốn biết rõ địa vị của Phật Giáo nguyên thủy thì
không thể không nghiên cứu sự quan hệ giữa Phật giáo và
các học phái này. Nhưng, ở đây, vì không đủ thì giờ để
đi sâu vào vấn đề nên xin tạm gác lại một bên.
(1)
Buhler; The indian Sects of the Jama, p. 231, London 1903
(2)
M, 77 Makasakuludayi sutta vol, II. P, 2-3; Trung-Hàm, Tiến Mao Kinh
57.
Tóm
lại, các học phái (Lục-Sư) kể trên đều là đáp ứng nhu
cầu của các trào lưu canh tân đương thời mà quật khởi.
Về điểm phản kháng tất cả chủ nghĩa truyền thống Bà-La-Môn
mà lập nên học thuyết riêng của mỗi phái thì cũng không
khác gì với Phật, nhưng có khác là ở chỗ họ đã đi quá
đà đến nổi khiến cho lòng người hoang mang, không biết
theo hướng nào, bởi vậy Phật mới đề xướng một lối
thoát đặc biệt: đó là thuyết Trung Ðạo để cải chính
xu thế cực đoan gây nguy hại cho nhân tâm thế đạo và đây
là một nhiệm vụ hết sức lớn lao của Phật. Trong lịch
sử tư tưởng Ấn Ðộ, thuyết Trung đạo đã mang lại cho
tư tưởng giới đương thời một không khí hoạt bát. Theo
sử liệu Phật giáo - nhớ rằng chỉ của Phật Giáo thôi
– trong các phái, có kẻ chỉ phá hoại để mà phá hoại,
cho nên trong Phật giáo có ghi lại nhiều tài liệu công kích
kịch liệt những người này. Nhưng nếu xét đến lập trường
tự thân của những kẻ bị coi là phá hoại ấy thì lại
khác hẳn, nghĩa là trong những thuyết họ chủ trương cũng
có nhiều ý tứ rất là hàm súc. Chẳng hạn như thuyết của
Phú-Lan-Na-Ca-Diếp bảo rằng không có thiện ác, báo ứng,
mới nghe qua tưởng chừng như một chủ thuyết phi đạo đức,
nhưng nếu suy cứu kỷ một chút ta sẽ thấy chủ ý của họ
là như động cơ hành vi, không có thiện hay ác tuyệt đối.
Bởi thế hành động giết giặc ngoài chiến trường không
thể bảo là ác, mà công việc của các hội từ thiện, đem
tiền của phân phát cho những kẻ khốn cùng chưa hẳn đã
là thiện mà điều đó cần phải xét đến động cơ như
thế nào mới phán định được. Lại như ngụy biện luận
của phái Tán-Nặc-Da, về mặt biểu hiện, vì người ta không
thể nắm bắt được chủ ý của họ nên cho họ là những
nhà Bộ-Man-Luận (khó bắt như bắt các trạch), nhưng nếu
khảo sát nó về phương diện thâm sâu thì thấy nó cũng hàm
ngụ một thứ triết lý. Những người nhiệt tâm cầu đạo
trong giáo đoàn này như Xá-Lợi-Phất và Mục-Kiền-Liên, khi
họ chưa quy y Phật giáo, nếu xét về bản ý thì họ quyết
không phải chỉ là người theo chủ nghĩa ngụy biện. Rồi
đến các phái Ni-Kiền-Tử và Sinh-Mệnh (Phật Giáo gọi là
Tà-Mệnh-Phái), nếu xét về thế lực, thì họ cũng không
yếu kém như Phật giáo nói, cứ xem sự phán đoán của những
người ngoài cuộc thời bấy giờ thì đủ rõ, nghĩa là, họ
đã đặt địa vị của những phái đó ngang hàng với Phật
và hết sức tán dương. Vả lại theo truyền thuyết, Phật
và phái Lục-Sư cùng cư ngụ tại hai quốc gia là Ma-Ha-Ðà
và Ðằng-Già (Anga) mà hai quốc gia này, cùng một lúc, đều
hưng thịnh, yên vui; như vậy, nếu nói một cách công bằng,
bản thể của phái Lục-Sư tuy không được bằng Phật, nhưng
cũng không đến nổi quá thấp kém và nguy hiểm như Phật
giáo đã nói; đây là điểm ta cần phải ghi nhớ nếu ta muốn
hiểu cái lý do tại sao chính đức Phật, về nhiều phương
diện, cũng đã từng chịu ảnh hưởng của các học phái
này.
Ngòai
phái Lục-Sư kể trên, nếu lại sưu khảo những sự ghi chép
rải rác trong các kinh, thì ta thấy thời bấy giờ cũng còn
có nhiều đoàn Tân-Sa-Môn khác nữa, nhưng vì không hiểu đặc
sắc và chủ trương của họ ra sao nên không thể trình bày
một cách đầy đủ được. Hơn nữa, nếu nhận xét một
cách đại thể những nhà tư tưởng mới đương thời thì,
tuy được mệnh danh là các đoàn Sa-Môn nhưng trong đó cũng
có rất nhiều người thế tục đã tham gia cuộc vận động
tinh thần mà trở thành những người chỉ đạo của một
phái. Song rất tiếc là tên tuổi sự nghiệp cũng như chủ
trương của họ không được truyền tụng nên không thể biết
rõ. Nói một cách khái quát thì những người thế tục vận
động tinh thần này cũng có nhiều ảnh hưởng, chẳng hạn
như chủ nghĩa khoái lạc của Duy-Vật-Luận kể trên, xét
về tính chất cũng có thể được coi là chủ trương của
những người thế tục này: đó là một chứng minh cụ thể.
4-
ÐỊA VỊ VÀ ÐẶC TRƯỜNG CỦA NGUYÊN THỦY PHẬT GIÁO
Như
vậy, sau khi đã quan sát một cách đại khái những chủ trương
và cuộc vận động tư tưởng chủ yếu của đương thời
có quan hệ đến Phật giáo nguyên thủy như thế nào thì,
trong đó, địa vị của Phật giáo cũng là rõ ràng rồi, tưởng
không cần phải luận cứu riêng về điểm này nữa. Nhưng,
vì muốn tìm hiểu cho rõ ràng hơn nên đặc biệt lại phải
đề cập đến một lần nữa. Xét về những trào lưu tư
tưởng đương thời có quan hệ rất sâu với Phật giáo thì
đại yếu có thể chia thành ba loại như sau:
Thứ
nhất, Bà-La-Môn-Giáo. Từ những điều được ghi chép trong
pháp điển Bà-La-Môn, quy định xuất gia theo nghĩa rộng, đến
luân lý quan trong Ðại-Tự-Sự-Thi, thì pháp quy Bà-La-Môn tuy
lấy sự phân chia chặt chẽ của bốn giai cấp làm quy định
căn bản, nhưng trong đó cũng có rất nhiều giá trị tôn giáo
nhân đạo chân chính, nhất là đến Ðại-Tự-Sự-Thi lý luận
tôn giáo hầu như không còn coi sự khu biệt bốn giai cấp
là trọng yếu nữa, vả lại, phạm vi luân lý quan cũng rất
rộng rãi. Trong Phật giáo, những tư tưởng được coi là
tương ứng với, hay do, tư tưởng Bà-La-Môn chuyển hóa cũng
rất nhiều. Nói cách khác, quy định thực hành được coi
là trọng yếu nhất trong Phật giáo là Ngũ Giới, đại khái
cũng đã thoát thai từ quy định Bà-La-Môn. (1) Ðến như phép
trì trai (mak upostha) mà La-Hán và các người tại gia thụ trì
cũng đã thoát hóa từ quy định của Bà-La-Môn về chế độ
Học-sinh-kỳ (Brahmacarin) (2), đấy là một vài chứng minh cũ
thể. Bởi vậy, giữa sự thực hành của Phật giáo và pháp
quy Bà-La-Môn có sự quan hệ rất mật thiết, đó là sự thật
không thể phủ nhận. Lại như đức Phật mệnh danh giáo lý
của Ngài là Pháp (Dhamma) thì cũng lại do mối Pháp trong Pháp
Kinh (Dharma Sutra) của Bà-La-Môn mà ra.
(1)
Tham chiếu Ấn-Ðộ-Triết-Học-Tôn-Giáo-Sử, p 512. Lại như
giới thứ năm trong Ngũ giới tuy là đặc sắc của phật giáo,
nhưng, nếu là giáo điều của cá nhân thì trong Pháp quy Bà-La-Môn
cũng có. Chẳng hạn trong Apaetanbhyadharma sutra 1.5. 17, 21 110.
28.10.
(2)
Ibib 1.1.2. 21-22.
Thứ
hai, đứng về phương diện lý luận mà khảo sát thì nhân
sinh quan và thế giới quan của Phật cũng có điểm tương
thông với hệ thống Áo-Nghĩa-Thư, nhất là trào lưu tư tưởng
phân hóa của Tăng-Khư-Da-Du-Dà (Samkhyayaga) theo nghĩa rộng
thì lại có sự quan hệ rất mật thiết. Về điểm này chúng
tôi sẽ bàn đến rõ ràng hơn ở thiên sau, khi trình bày về
giáo lý.
Thứ
ba, như vậy, đối với tư tưởng Bà-La-Môn-Giáo theo nghĩa
rộng, hầu như không trực tiếp thì gián tiếp, đức Phật
đều có quan hệ. Song, đến lập trường phản kháng chủ
nghĩa Bà-La-Môn thì đức Phật, vì thuần lấy khu vực Ma-Ha-Ðà
làm trung tâm, có tiếp xúc với tư tưởng tự do, nên thái
độ ngụy biện của Phật cũng lại chịu rất nhiều ảnh
hưởng của phái Lục-Sư. Do đó cũng như Tô-Cách-Lạp-Ðể
(Socrates) tuy phản đối phái ngụy biện, nhưng chính ông cũng
lại mang sắc thái ngụy-biện-luận. Cũng thế, Phật tuy bài
xích phái Lục-Sư, nhưng, nhận xét về mặt biểu diện, chính
Phật cũng là á lưu của phái Lục-Sư. Bởi thế, nếu khảo
sát và so sánh tư tưởng giới đương thời qua tư tưởng
và thái độ của Phật giáo thì đức Phật, thường nói là
“Vô sư tự ngộ”, đã biến thành một vị Thánh thời đại.
Song,
cái đặc sắc sáng tạo của Phật, tức Phật giáo như thế
nào? Vấn đề này, thuộc phần nội dung giáo lý, sẽ được
thuyết minh sau. Ở đây, hãy xét qua về vấn đề của Phật
để có thể tổng hợp những điểm ưu tú nhất của thời
đại, tức là, bất luận là tư tưởng truyền thống hay tư
tưởng mới trong đó đều có thể tuyển chọn những tư tưởng
siêu việt nhất để sách ứng với tinh thần thời đại mà
dẫn đến điểm hợp lý thỏa đáng. Mà sự tổng hợp và
tuyển chọn này quyết không phải chỉ y theo cực đoan mà
phải chiết trung, hay như Hách-Khách-Nho nói, lấy Bà-La-Môn-Giáo
hình thức làm chính diện, lấy các phái Lục-Sư làm phản
diện, rồi chiết trung hai chính và phản đó mà tổng hợp;
đó là thái độ của Phật vậy. Và thái độ ấy không những
chỉ riêng đối với Bà-La-Môn hay Lục-Sư mà đối với tất
cả các vấn đề, như đối với các chủ trương của mọi
phái, đức Phật cũng vẫn giữ thái độ đó: có thể nói
đây là đặc sắc của Phật giáo. Chẳng hạn như phương
pháp tu dưỡng được người đương thời tu theo, một mặt
là khoái lạc luận cực đoan, mặt khác là chủ nghĩa khổ
hạnh cực đoan, đức Phật bèn chiết trung hai thuyết ấy
mà đề xướng tinh thần tu dưỡng không khổ không vui. Lại
như vấn đề linh hồn, một mặt có những người chủ trương
thường-trụ-luận (thường kiến luận) cực đoan, mặt khác,
có những phái duy vật chủ trương đoạn diệt luận (đoạn
kiến luận) cực đoan. Ðức Phật bài xích cả hai rồi chiết
trung mà lập thành sinh mệnh quan theo quan hệ (nhân duyên) lưu
động, và đối với tất cả vấn đề khác cũng đều ứng
dụng nghĩa lưu động ấy, và thái độ này, theo nghĩa rộng,
được mệnh danh là thái độ trung đạo (majjha). Về sau, khi
đại thừa Phật giáo hưng khởi, danh từ Trung đạo được
dùng làm tiêu chuẩn và thay cho chân lý của Phật giáo. Xem
thế thì địa vị của Phật giáo đối với các phái đương
thời là ở như trung đạo, và địa vị ấy đã chiếm phần
ưu thế trong toàn thể lịch sử tư tưởng Ấn Ðộ. Trong
các chương sau, khi gặp những vấn đề liên hệ, chúng tôi
sẽ trình rõ hơn về thuyết Trung Ðạo.TVHS