THIÊN
THỨ NHẤT
ĐẠI
CƯƠNG LUẬN
CHƯƠNG
I
PHƯƠNG
PHÁP CHỈNH LÝ NGUYÊN THỦY PHẬT GIÁO
VỚI
PHƯƠNG CHÂM CỦA BỘ SÁCH NÀY
1-
PHƯƠNG PHÁP CHỈNH LÝ NHỮNG TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU:
Vấn
đề nghiên cứu Phật Giáo là một vấn đề rất đặc biệt
và to lớn. Mục đích của các nhà nghiên cứu trước kia,
kể cả Đại Thừa và Tiểu Thừa, là tìm hiểu trong các Kinh
điển xem những kinh nào là đại biểu cho bản ý đích thực
của Phật, còn những kinh nào chỉ vì muốn đưa đến bản
ý đích thực ấy mà Phật đã phương tiện nói ra. Tất cả
các nhà thuyết minh chú giải đều bắt đầu công việc như
thế cả, nhưng nay thì khác. Cái phương pháp được coi là
chủ yếu của sự học vấn là tìm xem những tư tưởng nào
là đại biển chân ý của Phật và đã trãi qua những quá
trình khai triển như thế nào mà làm cho Phật giáo được
chỉnh lý và thiết lập thành hệ thống. Trước kia, cho tất
cả lời Phật nói đều bao hàm trong phương pháp giáo hóa
của Phật rồi đem chỉnh lý, thống hợp và lấy khoảng thời
gian vài trăm năm sau Phật nhập diệt là giáo pháp chân chính
của Đức Phật. Một khi đã hiểu rõ được những kinh điển
nào là đại biểu thì mới có thể quán triệt được tất
cả giáo lý Phật giáo. Đứng về phương diện nghiên cứu
giáo lý Phật giáo, đây là điểm cực kỳ trọng yếu, có
thể nói là điểm xuất phát của sự nghiên cứu cũng không
phải là quá đáng.
Song,
trong các Kinh điển được lưu truyền đến ngày nay thì những
Kinh điển nào gần với chân tướng của Phật giáo Nguyên
Thủy nhất? Nếu nói một cách chặt chẽ thì đây tuy là vấn
đề rất khó giải đáp, nhưng nếu nói một cách đại yếu
thì ta có thể cho đó là các bộ A-Hàm và Luật bộ (luật
Tiểu Thừa). Vì những sự ghi chép trong hai bộ kinh điển
này, về nơi chỗ cũng như về nhân vật và các chi tiết khác,
so với những kinh điển khác, nhất là với Kinh điển Đại
Thừa thì gần với sự thật cũng như gần với chân
tướng của Phật Giáo Nguyên Thủy hơn. Trước kia, vào thời
đại Đức-Xuyên, Phú-Vĩnh-Trọng-Cơ cũng đã từng suy định
về vấn đề này. Ngày nay, trong cái gọi là Nam Phương Phật
Giáo, tức dùng kinh điển bằng văn Ba-li không thấy ghi chép
tên một cuốn kinh Đại Thừa nào, không những thế mà ngay
cả trong các bản Hán dịch của A-Hàm bộ cũng không thấy
chép. Suy luận như thế thì đại khái sự quyết đoán cho
rằng A-Hàm bộ và Luật bộ là những Kinh điển gần với
chân tướng của Phật giáo Nguyên Thủy nhất, có thể là
sự quyết đoán không di dịch. Như vậy, sự nghiên cứu của
Phật giáo Nguyên Thủy, nếu chỉ lấy văn sách làm tài liệu
thì đó chỉ là sự nghiên cứu, phê bình và chỉnh lý A-Hàm
bộ và Luật bộ mà thôi.
Trên
đây chỉ là nói đại thể thôi, nếu lại tiến lên một
bước nữa mà khảo sát thì A-Hàm bộ và Luật bộ có thật
đã đủ truyền bá chân tướng của Phật giáo Nguyên Thủy
? Nếu nói một cách nghiêm khắc thì như thế cũng chưa đủ.
Vì lẻ A-Hàm bộ và Luật bộ tuy là những kinh điển chính
thống nhất, tức được ghi chép và lưu bá bằng văn Ba-li,
nhưng theo truyền thuyết mãi đến thời đại A-Dục-Vương
(lên ngôi vào năm 269 trước Tây lịch) tức hơn hai trăm năm
sau Phât nhập diệt, những kinh điển ấy mới được chỉnh
lý thành thể tài như hiện nay. Như vậy hiển nhiên điều
đó đã hàm ý nghĩa giáo lý đã có thời kỳ phát đạt. Còn
các bản Hán dịch từ Ba-li thì nhận xét về nhiều phương
diện, so với các nguyên điển, có thể nói thời kỳ biên
tập còn muộn hơn nhiều. Song, bất luận là nguyên điển
Ba-li hay là Hán dịch; nếu chúng vẫn giữ được nguyên hình
thì tương đối cũng có thể tin là đúng với giáo nghĩa nguyên
thủy, nhưng vì đã qua một giai đoạn chỉnh lý mới thành
hình thức hiện hữu thì trong đó không khỏi có cái gọi
là thành kiến tông phái (thông thường nói tắt là mười
tám Bộ Phái Tiểu Thừa). Một khi thành kiến đã bị xâm
nhập thì tất nhiên phải có ý kiến bất đồng về những
điểm nên để hay nên bỏ. Bởi thế, trong các kinh điển
hiện còn lưu truyền, dù là Ba-li hay Hán dịch, người ta thấy
các nhà biên tập đã hình-phạm-hóa để ghi lại giáo pháp
của Phật hay trạng huống sinh hoạt của Giáo Đoàn thời
bấy giờ và kết quả những kinh điển đó đã được quy
nạp trong một hình phạm nhất định, điều này ai đã từng
đọc A-Hàm bộ hay Luật bộ cũng phải thừa nhận. Do đó,
những kinh điển ấy đã mất một phần nào tính thuần chân
của Nguyên Thủy và như trên đã nói một cách chặt chẽ
không thể được coi là truyền bá cái chân tướng, như thực
của Phật giáo Nguyên Thủy. Điều này cũng hệt như kinh Phúc
Âm của Cơ-đốc-giáo, không phải truyền bá lời nói và việc
làm thật của Gia-Tô mà là do các nhà biên tập Phúc Âm đời
sau thêm bớt mà tạo thành. Hay cũng như trường hợp Socrates
được biểu hiện trong sách vấn đáp của Plato, những lời
nói và việc làm của Socates đã chẳng được phản ánh một
cách trung thực. Cứ xem vài thí dụ đó cũng đủ rõ. Bởi
thế, nói một cách nghiêm khắc, muốn nghiên cứu Phật giáo
Nguyên Thủy chân chính, lại phải khu biệt những tài liệu
trong A-Hàm bộ và Luật bộ xem tài liệu nào là cũ, tài liệu
nào là mới rồi lựa chọn lấy những cái Nguyên Thủy đó
là lý do cắt nghĩa tại sao sự nghiên cứu A-Hàm bộ và Luật
bộ sau này đã trở thành một đề mục chủ yếu. Nhưng
làm thế nào phân biệt được là việc cực kỳ khó khăn.
Tuy nhiên, ngày nay chúng ta may mắn còn có hai bộ Hán dịch
(nguyên điển hoặc bằng Sanskrit) và Ba-li được truyền lại.
Căn cứ vào những điểm tương đương của cả hai người,
ta có thể thấy được hình thức cũ của các bộ phái truyền
lưu và giữa những sự bất đồng, cũng có chỗ nhất trí.
Cho dù những hình thức ấy không phải thuần túy nguyên thủy
đi nữa nhưng ít ra cũng có thể được coi thuộc loại cựu
truyền, còn sự không nhất trí thì đó chẳng qua chỉ là
phương pháp suy định và thuyết minh đặc hữu của một phái
nào đó mà thôi. Cũng như những kinh điển hiện còn lưu truyền
đến ngày nay, bất luận là Hán dịch hay là văn Ba-li, đều
chưa chắc đã hoàn toàn là cổ truyền: điều này tưởng
không cần nói ai cũng biết. Tức có khi nữa chừng bị thất
lạc, hoặc do phái này truyền, phái kia không truyền, cho nên
không thể căn cứ vào một tông phái đặc định nào để
suy định chân lý mà phải căn cứ theo những điểm tương
đương để tìm thấy một tiêu chuẩn nhất định. Về điểm
này, chúng tôi đặc biệt tán thưởng giáo sư Tỷ-Kỳ đã
cho ra đời một danh tác dưới tiêu đề: The four Buddhist Aganas
in Chinese (Accordance of their parts and of the corresponding counteparts
in Palinkapa, 1908, Tokyo). Bộ sách này đã so sánh, đối chiếu
A-Hàm bộ giữa Ba-li và bản Hán dịch, đây là tài liệu tham
khảo rất hữu ích. Nếu lại tiến lên bước nữa mà di chuyển
Luật bộ và Phật giáo Nguyên Thủy đến thời đại Phật
giáo Bộ phái và trong quá trình đó Luật bộ đã sản sinh
cũng được so sánh, đối chiếu như thế thì thật là sử
liệu rất hữu ích cho việc nghiên cứu Phật giáo Nguyên Thủy.
Hiện nay thì chưa tiến đến điểm ấy, tuy nhiên nó phải
là mục tiêu cố gắng của chúng ta sau này. Rồi giai đoạn
thứ hai tức phải đạt đến là: trong hai bộ Hán dịch và
Ba-li được chỉnh lý đó lại phải tìm xem những chỗ nào
nhất trí và những chỗ nào không nhất trí, và bộ phận
nào là cựu truyền, bộ phận nào được thêm vào sau v.v…
Đây tuy là việc vô cùng khó khăn nhưng là phương hướng
không thể không nhắm tới nếu muốn đạt đến mục đích
hoàn toàn. Nói một cách nghiêm khắc thì nếu không theo phương
châm ấy sẽ không thể hoàn thành việc nghiên cứu Phật giáo
Nguyên Thủy chân chính.
Phương
pháp chỉnh lý được trình bày trên đây thật ra chỉ nói
theo ý nghĩa nguyên thủy rất hạn định thôi. Nếu giải thích
nguyên thủy theo nghĩa rộng thì bất tất phải nói một cách
chặt chẽ như thế. Vì nguyên thủy theo nghĩa rộng là chỉ
Phật giáo từ thời đại Phật cho đến khoảng một trăm
năm sau Phật nhập diệt, lúc đó Giáo hội chưa phân chia thành
các bộ phái. Những tài liệu nghiên cứu không phải chỉ
hạn cục phương diện rồi đến giáo lý của Phật giáo nguyên
thủy cũng không cứ phải do Phật hoàn thành, hay do Phật ám
thị mà có thể là do đệ tử Phật biên tập dần dần mà
thành. Nói cách khác, bất cứ tài liệu nào có thể làm sáng
tỏ tinh thần chân chính của Phật giáo cũng được nhận
là nguyên thủy, cũng được coi như đồng nhất với lời
Phật nói. Song, những tài liệu như thế hoàn toàn không thể
tìm đâu ngoài A-Hàm bộ hay Luật bộ. Lại nữa, những người
biên tập các tài liệu ấy không những chỉ là các đệ tử
trực tiếp ở thời đại Phật mà có thể là ở thời kỳ
một trăm năm, hay xa hơn nữa sau Phật nhập diệt. Thậm chí
A-Tỳ-Đạt-Ma Luận Thư đã chiếm một địa vị đặc thù
cũng đã manh nha từ A-Hàm và Luật bộ. Do đó, theo ý nghĩa
ấy có thể nói A-Hàm và Luật bộ là tài liệu toàn bộ để
nghiên cứu Phật giáo nguyên thủy. Còn về những yếu tố
được thêm bớt sau này tuy không phải không có nhưng theo
truyền thuyết, trong lúc biên tập đã có nhiều Trưởng Lão,
Thượng Tọa và Cư sĩ hội họp để kiểm duyệt lại và
chỗ nào là đại biểu chân chính cho lời Phật nói rồi mới
ghi chép, trong đó cũng như các Bộ luận của hậu thế, nếu
không có chủ trương tông phái đặc trưng rõ ràng thì không
được ghi chép. Nói một cách dễ hiểu là kinh luật được
lưu truyền đến nay là do các tông phái duy trì, trong đó vì
sự tiện lợi của mỗi tông phái nên cũng có điểm thêm
hay bớt cho phù hợp với chủ trương của mình. Hơn nữa trong
lúc biên tập, vì muốn có được hình thức tương đồng
nên không khỏi có sự sửa đổi nguyên hình. Duy cái bản
thể thì nói một cách khái quát, vẫn có thể đại biểu
cho Phật giáo trước thời kỳ phân phái, tưởng đây không
phải là một nhận định sai lầm to tát. Cái dụng ý cho A-Hàm
và Luật Bộ là những kinh điển nguyên thủy chính cũng ở
đó. Tuy nhiên, Khi dùng các kinh điển ấy làm tài liệu nghiên
cứu, nếu nói Phật giáo nguyên thủy theo nghĩa rộng, ta cũng
cần phải chú ý đến tất cả những điểm đã được trình
bày ở trên. Còn về phương pháp chỉnh lý cũng phải được
phê bình nếu muốn coi Phật giáo là một nền học thuật
để nghiên cứu, đây là điều ta cần ghi nhận.
Nhan
đề cuốn sách này (Nguyên thủy Phật giáo Tư tưởng Luận)
là nói theo nghĩa rộng và chỉ lấy A-Hàm bộ (và Luật bộ)
làm tài liệu nghiên cứu chủ yếu. Như phần mục lục cho
thấy, mục đích của cuốn sách này chuyên đứng về
tư tưởng mà lý luận hóa và triết học hóa rồi từ đó
suy diễn rộng ra để nói rõ tư tưởng của Phật giáo nguyên
thủy, đồng thời cũng từ các kinh điển A-Hàm mà khảo sát
cái nguồn gốc của tư tưởng đời sau, nhất là tư tưởng
Đại thừa. Nói tóm lại, việc dùng tài liệu không thể hạn
cục trong một phạm vi chật hẹp, nghĩa là tuy lấy những
tài liệu nhất trí giữa Ba-li và Hán dịch làm chủ yếu nhưng
trong trường hợp chỉ có Ba-li thì sau khi nghiên cứu, nếu
nhận thấy là căn bản, các tài liệu ấy cũng vẫn chưa được
thu dụng. Dĩ nhiên, văn Ba-li xưa hơn Hán dịch, nhưng theo chỗ
tôi nhận xét, trong các bản Hán dịch hiển nhiên cũng có
các nhà biên tập Thánh điển Ba-li, bởi thế không những
chúng ta nên tham khảo cả hai bộ Hán dịch và Ba-li mà còn
cần phải so sánh, đối chiếu và tổng hợp toàn thể để
xem những tư tưởng nào đã là đại biểu cho những A-Tỳ-Đạt-Ma-Luận
của các bộ phái cũng như những kinh luận của Đại thừa
sau này. Điều này cũng có vẻ mâu thuẫn với những điểm
đã được trình bày ở trên, nhưng chúng tôi không bao giờ
xa lìa kiến giải sử liệu, và đôi khi còn phải phê bình
tài liệu dùng để nghiên cứu nữa. Đó là chủ trương khác
với lập trường không phê bình của các nhà ngiên cứu xưa.
Ghi
chú: Để tiện cho những người mới học. Sau đây chúng tôi
sẽ liệt kê một cách đơn giản tổ chức của những kinh
điển nguyên thủy.
A-
NHỮNG KINH ĐIỂN BA LI
I-
LUẬT TẠNG (Viniga Pitaka) Đại ước có bốn bộ:
1.
Partimokha (Ba-la-đề-mộc-xoa) đây là luật văn.
2.
Suttavibhanga (Tu-đa-tỳ-băng-già) sự giải thích luật văn.
3.
Khandhaka (Kiện-độ). Đây là sự bổ khuyết của Tu-đa-băng-già,
và là tài liệu lịch sử rất chủ yếu. Tất cả có 22 phẩm.
Mười phẩm đầu gọi là Đại phẩm (Mahavagga), mười hai
phẩm sau gọi là Tiểu phẩm (Cullavagga).
4.
Parivora (phụ thuộc).
Toàn
bộ Luật tạng phiên ra chữ La-tinh gồm 5 quyển, đã xuất
bản.
II-
KINH TẠNG (Sutta Pitaka)
Tất
cả có năm bộ được gọi là Ngũ-Ni-Kha-đa (Pancanicaga).
1.
Dighanikaga,
tương đương với Hán dịch Trường A-Hàm, gồm ba quyển,
ba mươi tư kinh, bản của hiệp hội Ba-li.
2.
Majjmanikaya, tương đương với Hán dịch Trung A-Hàm, gồm ba
quyển, một trăm năm mươi hai kinh bản của Hiệp hội Ba-li.
3.
Sanryuttan, tương đương với Hán dịch Tạp A-Hàm, thu
thập những kinh văn ngắn, đại ước có 7762 chia làm 56 thiên,
gồm có 5 quyển Semyutta, bản của Hiệp hội Ba-li (sách dẫn
có 6 quyển).
4.
Anguttarayn, tương đương với Hán dịch Tăng-Nhất A-Hàm, chia
thành 11 tập (Nipata) gồm 9550 thiên ngắn (nhưng trong đó cũng
có nhiều thiên rất dài), 5 quyển bản của Hiệp hội Bali
(sách dẫn thì 6 quyển).
5.
Khuddakan (Tiểu bộ) đại khái thu thập những đoạn cương
yếu trong kinh văn. Tất cả có 15 quyển.
1-
Tiểu tụng (Khuddaka Patha) là những đoạn văn ngắn như văn
Tam Quy chẳng hạn. 2- Kinh Pháp Cú (Dhamamapada), ghi chép những
câu cách ngôn về đạo đức tôn giáo. 3- Cảm Hứng Ngữ (Udanar
Uẩn-đà-nam) phụ thêm cảm hứng để làm sáng tỏ pháp ngữ.
4- Như Thị Ngữ (Itirrittaka) tương đương vói Hán dịch Bản
Tự Kinh. 5- Kinh Tập (Suttan ipata) ghi chép những kinh văn trọng
yếu, láy các bài tụng làm chủ. 6- Đại Cung Kinh (Vimanavatthu)
nói về các việc trên cõi Trời. 7- Ngã Quỷ Sự (Retavatthu).
8,9- Trưởng Lão Ca-Trưởng-Lão-Ni-Ca (Theragatha Therigaiha), những
lời cảm hứng của đệ tử Phật hay những câu ca thuật
hoài. 10- Bản Sinh Kinh (Tetaka), ghi chép những sự tích bản
sinh Phật, tất cả có 546 thiên, dịch và in thành chữ La-tinh.
11- Giải Thích (Niddesalsuttanepata), giải thích Kinh Tập chia
ra hai loại Cullaniddesa và Makamddesa. 12- Vô Ngoại Đạo Luận
(Patisambhidamagga), lấy sự xiển minh các đức mục tu đạo
làm chủ, đó là đặc sắc của A-Tỳ-Đạt-Ma. 13- Thí dụ
(Apadna) truyện của các đệ tử Phật. 14- Phật Tử (Buddha
Vamsa) những lời của Phật quá khứ. 15- Hành Tàng, văn vần
Lariyapitaka là một bộ phận của kinh Bản sinh. Tất cả trên
đây trừ kinh Bản sinh, còn đều do hiệp hội Ba-li xuất bản.
III.
LUẬN TẠNG (Abhidkasmnakitaka) về Luận bộ, xin xem ở chỗ khác,
ở đây không kể đến.
B-
HÁN DỊCH.
I-
LUẬT TẠNG.
Thập
Tụng Luật (do Hữu bộ truyền), 61 quyển do Phật-Nhã-Đa-La
và La-Thập cùng dịch vào đời Hậu Tần. Tứ Phần Luật
(do Pháp-Thượng-Bộ-Truyền), 60 quyển, do Phật Đà-Da-Xá và
Trúc-Phật-Niệm cùng dịch vào đời Hậu Tần. Ma-Ha-Tăng-Kỳ-Luận
(do Độc Tử Bộ và Đại Bộ Truyền, 40 quyển, do Giác Hiền
và Pháp Hiền cùng dịch vào đời Đông Tấn.
Ngũ
Phần Luật (do Hóa-Địa-Bộ-Truyền) 30 quyển do Phật-Đà-Thập
và Trúc-Phật-Niệm cùng dịch vào đời Tống.
II-
KINH TẠNG:
1.
Trường A-Hàm (do Phậ-Đà-Gia-Xá và Trúc Phật Niệm cùng dịch
vào đời Hậu Tần, gồm 40 kinh chia làm bốn phẩm, tất cả
có 22 quyển.
2.
Trung A-Hàm (Tăng-Già-Đề-Bà đời Đông Tấn dịch) gồm 220
kinh chia làm 5 tụng có 60 quyển.
3.
Tạp A-Hàm (Cầu-Na-Bạt-Đà-La đời Tống dịch) đại ước
có 15000 kinh nhỏ, chia thành 50 quyển.
4.
Tăng-Nhất-A-Hàm (Tăng-Già-Đề-Bà đời Đông Tấn dịch),
gồm 500 kinh chia thành 50 quyển.
III-
LUẬN TẠNG.
Xin
xem chỗ khác, ở đây không kể đến.
2-
VẤN ĐỀ NGUYÊN THỦY PHẬT GIÁO:
Sự
nghiên cứu Phật Giáo nguyên thủy nên được chia thành bao
nhiêu đề mục? Vấn đề này nếu nói một cách tỉ mỉ thì
dĩ nhiên là có nhiều, nhưng nếu nói một cách đại thể
thì có thể chia thành ba đề mục lớn, tức là: 1. Phật-Đà-Luận.
2. Giáo-Lý-Luận và 3. Tăng- Già- Luận, tức Giáo Hội luận.
Sự phân loại này để thích ứng với cái gọi là Phật,
Pháp, Tăng: Tam bảo vì phải có đủ tam bảo mới là Phật
Giáo, điều đó tưởng không cần ai nói cũng hiểu rõ.
Thứ
nhất Phật-Đà-Luận là nghiên cứu về sự kinh lịch và nhân
cách của vị Thủy Tổ Phật Giáo, tức là đức Phật. Đây
là vấn đề trọng yếu thứ nhất trong việc nghiên cứu Phật
Giáo, vì trong các tôn giáo thuộc Bà-La-Môn-Giáo-Hệ không
có một vị Giáo Tổ đặc tịnh nào, mà dù có đi nữa thì
cái nhân cách của họ cũng rất mơ hồ. Vả lại, giữa nhân
cách và giáo lý không thấy có một quan hệ đặc thù nào.
Trái lại, trong Phật giáo, sự quan hệ ấy rất trọng yếu:
nếu xa lìa nhân cách của Phật thì không thể hiểu được
giáo lý và giáo hội. Không những thế, nếu đứng trên lập
trường thuần túy giáo lý mà nhận xét, đối với giáo-lý-sử
của Phật giáo, Phật-Đà-Luận đã dần dần chiếm địa
vị trọng yếu, cũng có ý nghĩa giống như Cơ-Đốc-Luận
(Christology) đối với nền Thần-học của Cơ-Đốc-Giáo vậy.
Bởi thế, sự nghiên cứu về lịch sử và nhân cách của
Đức Phật nghiễm nhiên cũng là một đề mục căn bản của
Nguyên Thủy Phật Giáo.
Thứ
hai Giáo-Lý-Luận là nghiên cứu những lời thuyết pháp của
Phật từ sau khi thành đạo trải qua khoảng 45 năm liên quan
đến các vấn đề nhân sinh. Như đã nói ở trên, các kinh
điển A-Hàm chủ yếu là biên tập những lời thuyết pháp
ấy, bởi thế về việc nghiên cứu lý luận cũng như thực
tế, A-Hàm bộ đã thành sản phẩm quan trọng bậc nhất. Về
sau, Giáo lý Phật giáo phát triển thành Đại (Thừa), Tiểu
(Thừa), Quyền, Thực, tất cả đều phát xuất từ A-Hàm.
Cho nên có thể nói A-Hàm bộ là điểm xuất phát của sự
nghiên cứu tất cả giáo lý Phật giáo.
Thứ
ba, Tăng Già Luận (Giáo Hội Luận) là nghiên cứu đến tổ
chức và những quy định của Giáo-Đoàn-Phật-Giáo. Vì Giáo-Đoàn
là cơ quan duy trì và phát triển vận mệnh Tôn giáo thực
tế của Phật Giáo, nên việc nghiên cứu sự thành lập, quá
trình , thế lực và trạng huống phân phái của nó là một
nhu yếu không những chỉ giúp cho việc lý giải Phật giáo
mà còn thấy được cái nguyên nhân chủ yếu có liên quan
đến những hiện tượng lịch sử Phật Giáo phát sinh sau
này. Như vậy sự nghiên cứu Tăng Già nguyên thủy cũng là
một vấn đề cực kỳ trọng yếu. Đến như Luật Bộ chính
cũng vì nói rõ những qui định của Giáo-Đoàn mà được
biên tập và như vậy dĩ nhiên cũng là tài liệu chủ yếu
cho việc nghiên cứu vấn đề này.
Ba
đề mục trên đây là những đề mục đại cương của Phật
giáo nguyên thủy và là những đề mục không thể tách rời
nhau nếu chúng ta muốn nghiên cứu toàn thể Phật Giáo nguyên
thủy. Ở đây, phương pháp nghiên cứu của chúng tôi cũng
dựa trên nền tảng ấy.
Ngoài
ba đề mục đại cương ấy ra còn một vấn đề lớn nữa
cũng cần phải nghiên cứu, đó là mối quan hệ giữa Phật
giáo với nền văn minh đương thời. Nếu muốn hiểu Phật
giáo một cách chính xác người ta không thể bỏ qua vấn đề
này. Phật giáo tuy tôn xưng đức Phật là Vô Sư Tư Ngộ,
nhưng thật thì trên quan hệ đã chịu nhiều tinh thần thời
đại; và, nếu ta không xét đến điểm này thì quyết không
thể thấy được cái chân tướng của Phật giáo. Đa số
học giả hiện nay tuy đã lưu ý đến điểm này nhưng các
học thủ cựu của Nhật Bản vẫn còn cho phàm những điều
Phật nói đều là sáng kiến của Phật. Sở dĩ có thành
kiến ấy là vì họ đã mang nhiên không biết thuyết nào là
thuyết đặc hữu của Phật giáo, còn thuyết nào là thuyết
của đương thời được nhất ban thừa nhận mà trong khi giải
quyết các vấn đề có liên hệ đến văn minh thời đại,
đức Phật cũng đã thu dụng. Mà điều này không phải chỉ
hạn định trong việc nghiên cứu Phật giáo nguyên thủy, mà
dù là Phật giáo bộ phái, thậm chí cả Phật giáo Đại Thừa
sau này, nếu không chú ý đến điểm đó thì chung cục không
thể thấy rõ chân tướng của Phật giáo: đây là điều chúng
ta cần ghi nhận. Hơn nữa, người tìm hiểu Phật giáo chân
chính không những chỉ nghiên cứu các kinh điển Phật giáo,
mà tất cả cái gì có liên quan đến văn hóa đương thời,
như tư tưởng tôn giáo chẳng hạn, cũng đều phải tham khảo
và so sánh.
Trở
lên là nói rõ giai đoạn toàn thể của Phật giáo nguyên thủy,
trong đó bao hàm nhiều vấn đề. Song, khi nghiên cứu, người
ta không cần phải đề cập đến tất cả mà tùy theo ý hướng
có thể lấy Tăng Già làm trung tâm, hoặc lấy Phật Đà Luận
làm trung tâm, hay lấy giáo hóa làm trung tâm cũng đều được
cả. Ta cần ghi nhận kỷ điều này, vì các vấn đề kể
trên có một quan hệ rất mật thiết, nếu quán triệt được
một thì các vấn đề khác không có gì là khó hiểu. Bởi
thế nếu cùng nghiên cứu cả ba đề mục một lúc để thấu
triệt chân tướng của Phật giáo nguyên thủy thì càng hay
nhưng nếu chỉ lựa một trong ba cũng là một đề mục trọng
đại rồi. Nếu cùng nghiên cứu cả ba một lúc mà không thấy
được toàn thể vấn đề, thì một mặt quan sát toàn thể,
mặt khác chuyên chú vào một vấn đề thì chắc chắn sẽ
phát huy được chân tướng của nó.
Trong
cuốn sách này, chúng tôi chuyên lấy vấn đề giáo lý làm
trung tâm để quan sát Phật giáo nguyên thủy, tức mục đích
của cuốn sách này là trong Tam Bảo, lấy việc nghiên cứu
pháp bảo làm trung tâm rồi, trình bày một cách bao quát cả
Phật Bảo và Tăng Bảo. Như trên đã nói, trong Tam Bảo, có
thể tùy ý chọn một đều được cả, nhưng, tinh thần của
đức Phật lấy Pháp (Dhamma) làm trung tâm; vả lại, đứng
trên lập trường tư tưởng sử mà nói, thì Pháp cũng là
một bộ phận trọng yếu, bởi thể, ở đây, chúng tôi ứng
dụng phương pháp kể trên.
Nói
đến quan hệ tinh thần thời đại, lập trường của chúng
tôi hết sức thận trọng. Như sẽ được trình bày sau, tất
cả các vấn đề, trừ chương trình này ra, đều phải chú
ý. Nghĩa là giả sử đem chia Phật giáo nguyên thủy thành
bốn cương mục, thì lập trường của cuốn sách này là lấy
vấn đề giáo lý làm chủ yếu. Còn quan hệ tinh thần thời
đại thì chỉ là vấn đề thứ yếu mà thôi.
3-
ÐẶC BIỆT LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP GIẢI THÍCH
GIÁO
LÝ PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY.
Trở
lên, chúng tôi đã trình bày qua về sự chỉnh lý các tài
liệu và phương pháp nghiện cứu các đề mục, giờ đây
sẽ đặc biệt nói qua về sự chỉnh lý giáo lý. Về giáo
lý, nên dùng nhãn quang nào để quan sát những kinh điển của
Phật giáo nguyên thủy? Nói cách khác, giữa các kinh điển
ghi chép những lời của Phật dạy các đệ tử với bản
ý của chính đức Phật có quan hệ gì và nên phải quan sát
như thế nào? Vấn đề này, về phương diện giải thích giáo
lý Phật giáo, có một ý nghĩa rất trọng đại. những lời
Phật nói trong 45 năm đề xuất phát từ sự “Ðại tự giác”,
không một lời nào xuất phát từ sự kế thừa truyền tập
cả: điểm này chính đức Phật thường hay nói rõ. Cái gọi
là làm theo chỗ biết, nói theo việc làm, trong, ngoài thông
suốt, hết thảy đều chân thật, không hư dối, chính đức
Phật đã minh định.
(1)
Do đó, những kinh điển thu thập và ghi chép những lời nói
pháp, như trong Kinh, Luật, cũng tức là đại biểu cho bản
ý đích thực của Phật-không đề cập đến điểm có khi
vì thủ tục biên tập mà có điểm lấy, điểm bỏ-vậy những
người giải thích mà thêm hay bớt, lấy chỗ này, bỏ chỗ
kia, hoặc giải thích sai lầm câu văn v.v… đều là phản
lại chân ý của đức Phật. Do vậy, về sau, trong các bộ
phái Tiểu thừa, có nhiều phái chủ trương không có kinh “bất
liễu nghĩa” (apanetabba)
(2)
Vì họ cho rằng tất cả kinh văn đều là bằng chứng đại
biểu cho bản tâm của Phật. Tuy nhiên, phương pháp quan sát
kinh điển như thế không khỏi có vẻ quá câu nệ hình thức;
nếu lại đi sâu vào mà tìm hiểu thái độ thuyết pháp của
Phật và nội dung của sự thuyết pháp ấy thì người ta cũng
dễ phát hiện những điểm còn cần được xét kỹ lại.
Phương pháp nói pháp của đức Phật vốn tùy theo tình hình,
tùy theo hoàn cảnh lúc bấy giờ, vậy muốn tìm cầu cái tinh
thần căn bản của Phật, không thể câu chấp vào một tình
hình hay hoàn cảnh đặc thù nào. Sau đây xin nêu ra mấy trường
hợp để chứng minh.
(1)
Trung A-Hàm, Thế gian Kinh 22 (các bản, p, 164) (A IV p, 23).
(2)
Dị-Bộ-Tôn-Luân Luận, mục Ðại Chúng Bộ, và Somamgala viaini,
p. 12.
Thứ
nhất, hãy khảo sát về kinh văn nhất ban. Trong các kinh, mới
nhìn qua, tựa hồ có điểm vì ứng dụng cho nhất ban mà nói
ra, nhưng, nếu nhận xét kỹ những sự thực thì ta thấy có
rất nhiều điểm vì muốn thích ứng với tình hình đặc
thù của đương thời mà nói ra. Như Ba-li Trung bộ (No, 69)
chẳng hạn, cái gọi là Apannakasutta (1) vốn được Phật nói
ra từ thôn Trà-La (Sala) của người Ba-La-Môn thuộc nước
Kiều-Tát-La; nhưng, xét đến phần nội dung của kinh này thì
thái độ của Phật hoàn toàn vì đả phá chủ trương hoài
nghi phi đạo đức của nhóm Lục Sư mà nói về lý nhân quả,
trong đó không nói đến Tứ Ðế mà cũng không nói đến Trung
Ðạo. Nếu nói một cách nghiêm khắc thì kinh này không bao
hàm phong thái Phật giáo, nhưng vẫn được Phật nói ra, bởi
lẻ, thôn Trà-La này của người Bà-La-Môn là nơi chưa được
Phật giáo hóa, nay Phật mới bắt đầu truyền đạo nên chưa
đi ngay vào đề tài chính mà chuẩn bị trước, đứng trên
lập trường phi tôn giáo mà nói về lý nhân quả để biểu
thị tôn giáo rất nên tôn trọng.
(1)
Ðã được dịch ra Hán văn.
Do
đó, nếu bảo bản ý của Phật đã được biểu hiện trong
kinh này thì, ý kiến ấy, nếu không là sai lầm thì cũng đã
quá xa với sự giải thích trung đạo. Lại như Trung-A-Hàm,
La-Vân-Kinh thứ 3 (M.16 Rahulovenda), trong đó đức Phật lấy
La-Hầu-La làm đối tượng để nói lên sự tai hại của những
lời nói đùa, nói bậy; mới nhìn, đây chẳng qua cũng chỉ
là một đối cơ thuyết pháp thông thường, nhưng, khi khảo
sát những ký lục trong Luật Tạng thì thấy rằng La-Hầu-La,
vì tuổi nhỏ, nên sau khi xuất gia vẫn chưa bỏ được tính
đùa cợt, nghịch ngợm, thường dùng những lời bậy bạ
lừa dối các bậc trưởng lão, do đó, sự biểu thị của
Phật chỉ là một phương pháp răng dạy La-Hầu-La nhỏ tuổi,
rồi sau được phổ thông hóa mà thu tập vào Trung-A-Hàm. Bởi
thế, nếu cho những lời dạy răn của Phật về sự nói càn
hay đùa cợt là chỉ đặc biệt nói với La-Hầu-La chứ không
liên quan gì đến người khác thì thật là một điều sai
lầm lớn. Lại như trong Phận-Biệt-Thánh-Kinh (Sachavibkangasutta,
M 141, Trung-Hàm quyển 7) cũng có một thí dụ tương tự. Lần
đầu tiên đức Phật chuyển pháp luân để chỉ bày
phápTứ Ðế cho năm vị Tỳ-Khưu, cuộc thuyết pháp này cũng
như bản tuyên ngôn của Chuyển Luân Vương khi lên ngôi trị
vì Pháp Giới, nhưng trong đó vẫn bao hàm ý nghĩa đối cơ,
tức là đức Phật đã tận lực trình bày phương pháp trung
đạo không khổ không vui và đó là con đường tu đạo chủ
yếu vậy. Dĩ nhiên, tưởng không cần nói ai cũng biết rằng
trong tu dưỡng quan này của đức Phật có điểm rất đặc
sắc, có đầy đủ ý nghĩa phổ biến mà, lẻ ra, trong bản
tuyên ngôn sơ chuyển pháp luân không cần phải có, nhưng vì
bọn ông Kiều-Trần-Như (Annakandanna) năm người trước kia
vốn cùng tu khổ hạnh với Phật (tức lúc còn là Bồ Tát),
sau khi thấy Phật bỏ lối tu ấy mà cho là Phật đã sa đọa
nên bỏ Phật đi nơi khác, do đó, trong cuộc thuyết pháp này
Phật đã đặc biệt đối với họ chỉ bày con đường ham
lắm thú vui là sai lầm, đồng thời, cũng bác bỏ lập trường
khổ hạnh, hành hạ thể xác một cách vô lý, chính ở điểm
này mà ta phát hiện ý nghĩa đối cơ của nó. Bởi thế, giả
sử sau khi Phật thành đạo mà hai ông A-La-Ca-Ma-La (Alala Kalama)
và Uất-Ðà-Ca-La-Ma-Tử (Uddakaranaputta) vẫn còn sống, và Phật
đã thuyết pháp lần đầu tiên cho họ thì chắc cũng chỉ
khác với năm vị Tỳ-Khưu kia về phương pháp tu hành mà thôi,
điều này có thể tin được. Ngoài ra, còn nhiều chứng minh
khác mà ở đây không nêu ra hết được, nếu muốn đi sâu
hơn nữa mà tìm tòi sưu tập thì phần lớn các buổi thuyết
pháp của Phật, có thể nói đều thuộc loại này. Song, điều
đáng tiếc là từ trước đến nay đã chưa có một thuyết
minh nào đầy đủ và cụ thể được lưu lại về tính cách
đối cơ trong sự thuyết pháp của Phật với tình hình của
đương thời, do đó, người ta khó luận cưu một cách tường
tận mà chỉ có thể nói đại khái thôi. Sự thuyết pháp
của Phật đại lược căn cứ vào ba yếu tố thời, xứ,
vị, cho nên. Phật thường được xưng tán là “Như Lai biết
nghĩa, biết pháp, biết trình độ, biết thời cơ, và biết
chúng hội”. (1) Tuy nhiên, ta không thể dựa vào lý do ấy
mà cho rằng tất cả lời thuyết pháp của Phật đều phản
ánh đúng như thực phần “tự nội chứng” của Phật, hay
tất cả những buổi thuyết pháp đều có đầy đủ những
yếu tố kể trên. Đó là điều ta không thể bỏ qua khi giải
thích kinh văn.
(1)
A ii, p. 148: Căn bản Phật-Giáp Phụ lục, p, 15.
Thứ
hai, trên đây là căn cứ theo kinh văn mà nói, nếu lại căn
cứ theo luật, tức những qui định của Giáo đoàn, mà nhận
xét thì lại càng rõ hơn kinh văn nữa. Vì tất cả những
qui luật do Phật chế định đều là những qui định xảy
ra sau các sự kiện đã phát sinh, bởi thế, thích ứng với
thời, xứ, vị, so với kinh thuyết, càng rõ hơn. Tức là,
sau khi việc đã được qui định rồi, nhưng khi chuyển sang
thời, xứ, vị, thì thời gian có thay đổi: hay có khi thiết
định những trường hợp ngoại lệ nhưng lại không có việc
gì khác lạ xảy ra: điều này chính trong luật văn đã cho
ta thấy rõ ràng. Bởi thế, về sau có người cho rằng những
qui định trọng yếu nhất phần lớn đều được chế định
tùy theo từng trường hợp. Hãy lấy một thí dụ giới Tam
Y chẳng hạn. Tức, theo luật, mỗi Tỳ Khưu phải có ba tấm
áo Thượng, Trung, Hạ, đây là một điều khoản nghiêm trọng
nhất trong Luật. Nhưng, cứ theo luật văn thì ngày xưa Phật
từ thành Phệ-Xá-Li đi đến Bat-Da-La-Tháp nửa đường gặp
tiết trời giá buốt, nghỉ lại một đêm và lúc đó phải
mặc đến ba tấm áo mới đủ ấm, do kinh nghiệm ấy mà chế
định Tam Y vậy. (1) Nhưng nếu Phật theo kinh nghiệm ở khu
vực Ca-Thấp-Di-La mà đặt ra giới ấy thì hẳn phải buồn
cười, cứ thế suy ra đủ biết tinh thần chế giới là thích
ứng với từng cảnh ngộ vậy. Xem chế độ Tam Y mà
đời sau cho là cực trọng yếu này còn như thế huống chi
là những tiểu luật khác, cứ suy ra cũng đủ rõ. Bởi vậy,
đứng về phương diện toàn thể giới luật mà nhận xét
tinh thần của Phật, nếu cứ khư khư chấp chặt vào luật
văn hoặc điều khoản một cách thái quá thì sẽ mất hẳn
cái bản ý của Phật. Quan niệm “tùy phương Tỳ-Ni, tùy
thời Tỳ-Ni” thật nên phải được mở rộng. Ngày xưa,
khi sắp nhập diệt, đức Phật đã dặn A-Nan.
“A-Nan!
Sau khi ta nhập diệt, Tăng Già có thể bỏ những chỗ học
nhỏ nhặt” (tức Tiểu Giới). (2)
Đó
là một chứng minh rất rõ ràng và cụ thể. Đáng tiếc theo
truyền thuyết, trong lần kết tập thứ nhất vì sự sơ suất
của Ca-Diếp, lời di chúc đặc thù trên đây đã không được
noi theo, lại đem phân tích những phạm vi tiểu giới đến
nổi về sau Luật bộ đã trở nên rất chi ly. Do đó nếu
ta muốn khảo sát bản ý của Phật qua Luật bộ mà không
ghi nhớ những điều trình bày trên đây thì quyết không thể
đạt được mục đích.
(1)
Ngũ phần Luật quyển 20, tờ 23b
(2)
Trường-Hàm, quyển 4, Du hành Kinh, trang 780; D. 16 Mahàparini
bbanasutta 11. P. 154.
Thứ
ba, thái độ của Phật đối với tín ngưỡng và tập quán
nhất ban của bấy giờ như thế nào? Về điểm này, một
mặt Phật giữ một thái độ phê bình nghiêm túc, mặt khác,
nếu xét ra không có hại cho tinh thần vĩ đại của Ngài,
hơn nữa, vì nhu cầu giáo hóa, đối với tập quán và tín
ngưỡng đương thời, Phật chủ trương thỏa hiệp. Cho nên
trong các giáo thuyết thường có chỗ không nhất trí, tức
là cái gì không có hại cho chủ nghĩa của Phật thì được
thu dụng, nếu trái lại, thì tuy cùng một sự kiện nhưng
Phật lại giữ thái độ phản đối: điều này tưởng không
có gì là lạ cả, tín ngưỡng Phạm Thiên là một thí dụ.
Giáo đồ Bà-La-Môn cho Phạm Thiên là vị Nhân-Cách-Thần trung
tâm, làm chủ thế giới Sa-Bà, cho nên khi tiếp xúc với xã
hội Bà-La-Môn đức Phật cũng không bỏ qua tín ngưỡng ấy.
Đức Phật thừa nhận Phạm Thiên với tư cách một người
tán thán và tùy hỷ, khi là người bảo chứng cho tư tưởng
của Phật, (1) khi thì là người thỉnh Phật thuyết pháp.
(2) Nhưng khi gặp trường hợp người nào tin Phạm Thiên là
lý tưởng cứu kính mà không đoái hoài đến giáo nghĩa của
Phật thì tất Phật sẽ phủ nhận thực tính tồn tại của
Phạm Thiên và cho tín ngưỡng ấy là vô căn cứ.
(1)
Tạp-A-Hàm quyển 44, p. 726, SIPP 13-14.
(2)
M.22 Ariyapariyesana IPP 167-684, Bản hành tập Kinh, tờ 8 trang
48b.
Như
trong trường A-Hàm, Tam kinh (Tevijja Sutta), (1) Phật có hỏi
một người Bà-La-Môn tin tưởng Phạm Thiên rằng: Đã có
ai từng thấy Phạm Thiên tận mắt chưa? Đó chỉ là không
tưởng cũng như người đàn bà thương một người trong mộng
vậy. Do đó ta thấy đối với tín ngưỡng đương thời tuy
Phật có lưu tâm đến nhưng không phải đó là bản ý của
Phật, bởi vậy, nếu chỉ biết qua các kỷ lục về sự tùy
hỷ hay khuyến thỉnh của Phạm Thiên mà cho rằng đối với
Phạm Thiên Phật cũng biểu thị kinh ý thì thật trái với
bản ý của Phật. Lại trong các kinh điển, ta thường thấy
ghi chép về Ma Vương (Mera papima) cũng giống như trường hợp
Phạm Thiên trên đây. Phật nói “ma” là ám chỉ sự chướng
ngại việc tu đạo chứ không hề hàm ngụ ý nghĩa ma quái
như tập tục đương thời tin tưởng. Về điểm này, trước
kia Windisch và Warren đã nói rõ. (2) Nếu không đi sâu mà chỉ
tìm hiểu trên bề mặt các kinh văn thì đáo cùng, như Fausboll
đã nói, chỉ là nhận người trong ảo tượng (3). Ngoài ra,
còn nhiều thí dụ nhưng không thể kể hết. Chỉ xem qua mấy
chứng minh trên đây cũng đủ biết rằng nếu muốn thấy
rõ chân ý của Phật người ta không thể câu chấp vào sự
biểu diện của kinh điển được.
(1)
Quyển 16, Tam Minh Kinh, D, I; Tevijja.
(2)
Windisch, Mara und Buddha, s 102; Warren; Buddism in Translation, p. 63.
(3)
S.B.E.X Introduction to Suttampata, p. XIV.
Thứ
tư, bây giờ lại khảo sát đến mối liên lạc giữa sự
tự giác và giác tha của đức Phật, và ở đây cũng có điểm
ta cần chú ý. Theo truyền thuyết, sau khi thành chính giác,
Phật còn ngồi lại tư duy trong hai mươi mốt ngày nữa. Lúc
ấy Phật nhận thấy chân lý Ngài vừa ngộ được quá sâu
xa, sợ người đời không thể hiểu được, nên, trong một
lúc, đã có quyết tâm không thuyết pháp độ sinh. (1) Ngày
nay nếu ta cho quyết tâm nhất thời đó là sự thực tâm lý
của Phật lúc bấy giờ thì truyền thuyết Phạm Thiên thỉnh
Phật truyền giáo cũng có thể được thừa nhận. Tóm lại,
người ta muốn biết là cái động cơ của Phật như thế
nào mà sau đó Phật đã đổi quyết tâm để đi truyền đạo.
Đây tuy là một sự thật hiển nhiên, nhưng, giữa khoảng
từ tự giác chuyển sang giác tha, về phương diện thuyết
giáo, ta không thể không thẩm sát kỹ điểm đó. Bảo rằng
vì giáo pháp quá sâu xa, người đời không thể lĩnh hội
mà quyết tâm không truyền đạo, rồi sau lại bỏ ý định
ấy mà đi thuyết pháp độ sinh: nếu trở lại những điểm
đã được trình bày trên kia thì đây cũng là sự đắn đo
về đối cơ trước khi bắt đầu “chuyển pháp luân” vậy.
(1)
Tạp-A-Hàm 44, Các bản p. 726. SiPP 13a-14.
Cứ
theo những lý do đã nói ở trên, khi khảo sát về mối quan
hệ giữa kinh điển và bản ý của Phật, nếu cố chấp tất
cả kinh điển đều phản ánh trung thực bản ý của Phật
thì thật là phương pháp giải thích không đúng đáng. Nói
một cách khái quát, các nhà Tiểu Thừa cho tất cả kinh điển
đều là bản ý của Phật, tính cố chấp ấy không thể phá
nổi, bởi vậy mà các nhà Đại Thừa mệnh danh họ là Tiểu
Thừa. Nhưng cũng có một số có đầu óc phê bình thì cho
những lời Phật nói gồm hai phương diện là Chân Đế (paramattha)
và Tục Đế (vohara) mà hiển trứ nhất là Thuyết-Nhất-Thiết-Hữu
Bộ thuộc Thượng-Tọa-Bộ. Bộ này thừa nhận trong các kinh
điển, có kinh, “bất liễu nghĩa” (tức nghĩa lý chưa được
hoàn toàn), (1) mà chủ trương khi giải thích kinh điển cần
phải vượt lên trên các câu văn. Luận Ðại Tỳ-Bà-Sa đã
châm biếm những người cố chấp kinh văn một cách thái quá
như sau (2): “Có vị trứ văn Sa-Môn cứ bám sát lấy văn
tự, hễ rời kinh điển ra là không dám nói gì cả”. Từ
tinh thần đó mà đi sâu mãi vào nữa là Ðại Thừa Giáo.
Vả lại, đầu mối của cuộc vận động Ðại Thừa chính
cũng là muốn trở về với chân tinh thần của Phật, mà,
nếu muốn thế, không thể không tìm trong các kinh văn: đó
là điểm chúng ta cần ghi nhớ. Nhận xét theo điểm này, chúng
ta, mặc dầu không như các nhà đại thừa đời sau cho rằng
ngoài các kinh điển A-Hàm, đức Phật cũng còn trực tiếp
nói các kinh điển Ðại Thừa, nhưng vì muốn tìm cầu chân
ý của Phật nên chủ trương đôi khi cũng dùng tinh thần Ðại
Thừa mà nhìn qua A-Hàm Bộ và Luật Bộ. Vả lại, những kinh
điển được lưu truyền đến nay, phần lớn đã được hình
phạm hóa và A-Tỳ-Ðạt-Ma-Hóa, tức đã được biên tập
sau thời kỳ Tiểu-Thừa-Hóa, nếu muốn tìm được tinh thần
nguyên thủy thì chủ trương trên lại càng cần thiết hơn.
Do đó, trên lĩnh vực học vấn, ta nên thận trọng, không
thể khinh thường các loại kinh văn. Bởi lẻ, nếu không cùng
một lúc tìm tòi ý nghĩa tiềm ẩn đằng sau tất cả các
lời kinh để quán triệt toàn thể tư tưởng thì chung cùng
không thấy rõ được cái chân tướng của Phật: đó là điều
ta không thể quên.
(1)
Dị-Bộ-Tôn-Luận Luận.
(2)
Bà-Sa, quyển 50, p, 211b.
Tóm
lại, theo chỗ tôi thấy thì trong bản thân lập trường của
Phật gồm đủ hai yếu tố Tiểu Thừa và Ðại Thừa, đồng
thời, chẳng phải Tiểu Thừa, mà cũng chẳng phải Ðại Thừa.
Những kinh điển Nguyên thủy, khi được biên tập để lưu
truyền, phần lớn đã mang sắc thái Tiểu Thừa, nhưng, khi
được chỉnh lý thì đúng như lập trường mà tôi đã nhận
định ở trên. Ở đây, tôi sẽ căn cứ theo lập trường
ấy mà khảo sát trong giáo lý Ðại Thừa và Tiểu Thừa để
có được sự giải thích tự do: đó là thiền ý của tôi
trong cuốn sách nhỏ này.TVHS