CHƯƠNG
THỨ NĂM:
SỰ
TRIỂN KHAI CỦA TƯ TƯỞNG BẢN NGUYỆN VÀ Ý NGHĨA ÐẠO ÐỨC
VĂN HÓA VÀ TÔN GIÁO CỦA NÓ.
TIẾT
THỨ NHẤT: LỜI MỞ ÐẦU.
Phật
Giáo,nhất là Ðại Thừa Phật Giáo,Thường nói đến Bản
Nguyện của các vị Bồ-Tát (Purvapra- nidhana). Bồ-Tát trong
thời tu hành, đối với việc hoàn thành Phật đạo trong tương
lai, hay thực hiện việc kiến thiết Phật quốc độ, tất
phải có thệ nguyện. Không phải chỉ phát nguyện thành tựu
trong một kiếp này mà còn thệ nguyền tu hành hết kiếp này,
qua kiếp khác trong vòng luân hồi vô tận để cuối cùng thực
hiện cho bằng được những kế hoạch mà mình đã phát nguyện
thực hiện. Ðó là đặc chất tư tưởng bản nguyện.
Thông
thường, người ta chia bản nguyện đó thành hai loại khác
nhau: tổng luyện (Samanya- pranidhana) và biệt nguyện (Visesapranidhana).
Tổng nguyện là cái thể nguyện cộng thông của hết thảy
các vị Bồ-Tát. Nếu nói một cách đơn giản thì tổng nguyện
đó là của tất cả bậc trí giả, tức là của các vị Phật,
và thông lệ thường chia đôi nội dung của nó thành bốn:
"Chúng sanh vô biên, thệ nguyện độ: Phiền não vô tận, thệ
nguyện đoạn; Pháp môn vô lượng, thệ nguyện học: Phật
đạo vô thượng, thệ nguyện thành".
Bốn
câu trên đây được tóm tắt thành một tiểu ngữ " Thượng
cầu Bồ Ðề, Hạ hóa chúng sinh" là cái tinh thần cơ bản
của Phật Giáo Ðại Thừa.
Ðối
lại với tổng nguyện trên là biệt nguyện. Biệt nguyện
liên quan đến những thệ nguyện đặc thù ở lĩnh vực "hạ
hoá chúng sanh", tuỳ theo từng đức Phật hay các vị Bồ-
tát mà tính chất hay chủng loại của nó cũng có chỗ khác
nhau. Chẳng hạn, nói theo số mục thì: Thiên Thủ Quan Âm có
sáu nguyện Dược Vương Như Lai có mười hai nguyện, Phật
A-DI-Đà có hai mươi bốn nguyện hay bốn mươi tám nguyện,
Phật Thích-Ca có năm trăm đại nguyện. Nếu đứng về mặt
tiêu cực mà nói, thì Phật hay Bồ-Tát tùy theo vô lượng
chúng sinh có vô lượng nhược điểm mà cứu độ họ,do ý
đồ đó chú lực về phương tiện nào mà có sự sai khác.
Nếu đứng về phương tiện tích cực mà nói thì Phật Bồ-Tát
trong khi kiến thiết quốc độ lý tưởng (Tịnh Ðộ), có
thể nói, do ở thị hiếu mà có chổ bất đồng. Ðiều này
tuy đã thành thông lệ, nhưng trong quá trình phát triển của
tư tưởng cũng nảy sinh nhiều điểm bất đồng, đó là điều
tất nhiên.
Trong
hai loại bản nguyện tổng và biệt, bất luận đứng về
phương diện lịch sử, giáo lý hay ý nghĩa hiện đại mà
nói, tư tưởng biệt Nguyện vẫn có hứng thú hơn. Tổng nguyện
tuy là đại biểu cho tinh thần căn bản của Phật Giáo Ðại
thừa, nhưng đó chẳng qua là tiêu ngữ trừu tượng. Biệt
nguyện trái lại, có những qui định cụ thể trong đó có
nhiều lời giáo huấn và ám thị mà dẫu cho đến nay, giữa
thời đại chúng ta, cũng có thể lấy đó làm mục tiêu văn
hóa tối cao để học tập. Do đó, ở đây chúng tôi sẽ không
nói nhiều về tổng nguyện mà chỉ chuyên đề cập đến
tư tưởng biệt nguyện mà thôi.
Về
tính chất của vấn đề này cần phải nhìn ở hai phương
tiện. Thứ nhất, về quá trình khai triển của tư tưởng
bản nguyện, tức là bộ môn lịch sử. Thứ hai, căn cứ vào
tài liệu trên, theo ý nghĩa đạo đức, văn hóa và tôn giáo,
rồi tiến đến lập trường giáo nghĩa học Phật Giáo để
tìm hiểu nội dung của nó, tức bộ môn tổ chức.
TIẾT
THỨ HAI:
SỰ
TRIỂN KHAI CỦA TƯ TƯỞNG BẢN NGUYỆN.
(Lấy
Số Nguyện Làm Tiêu Chuẩn).
1/
Sự Triển Khai Của Tư Tưởng Bản Nguyện Và Quá Trình Thành
Lập Kinh Ðiển.
Cũng
như các vấn đề khác, vấn đề tư tưởng bản nguyện cũng
trải qua nhiều giai đoạn khai triển mới đạt đến trạng
thái hoàn chỉnh. Xưa nay mười hai nguyện của Dược Sư, bốn
mươi tám nguyện của Di Đà, tất cả tuy đều được coi
như chính Phật Thích-Ca nói ra, nhưng nếu căn cứ vào sự
nghiên cứu lịch sử Phật Giáo, thì đáo cùng, nhận định
đó không thể được nhìn nhận. Lấy Phật Giáo Nguyên thủy
làm điểm xuất phát, trải qua Bộ-phái Phật Giáo (Tiểu Thừa)
đến Đại Thừa cũng phải qua nhiều giai đoạn tư tưởng
mới được hoàn chỉnh. Ðó là một sự thật mà không một
nhà nghiên cứu Phật Giáo có óc phê phán không thừa nhận.
Song, theo chỗ tôi biết, chưa có một nhà Phật học nào đặc
biệt quan tâm đế tư tưởng bản nguyện, và đem thứ tự
triển khai của nó trình bày thành luận cứu hoặc trứ tác
thành văn phẩm. Cũng vì chưa có ai đặc biệt chú ý tới
điểm này, nên không những bỏ qua những chi tiết phiền toái,
tôi tưởng phải lấy Phật Giáo Nguyên thủy làm điểm xuất
phát để nghiên cứu lịch trình tiến triển của nó qua các
giai đoạn. Mà khi luận cứ vấn đề này, không những chỉ
liên quan đến tưởng bản nguyện tự thân, mà còn phải nghiên
cứu quá trình thành lập của những kinh điển có liên quan
với tư tưởng bản nguyện nữa.
2/
Phật Giáo Nguyên Thủy Với Bản Nguyện.
Trước
hết chiếu theo Phật Giáo Nguyên thủy, dĩ nhiên cái gọi là
Niệm nguyện (Panidhana, Panidhi) hoặc là Hy nguyện ( Panidahati
) tuy thường được áp dụng nhưng vẫn chưa được thâu nhập
vào phạm vi tư tưởng như sau này nó đã được thâu nhập.
Mục tiêu của Phật lịch sử là bỏ mọi hy nguyện xa vời
mà muốn trực tiếp thể chứng Niết-Bàn cứu kính. Chính
Ðức Phật thường nói, sứ mệnh của Ngài là tự mình chứng
được Niết-Bàn rồi cũng phải làm cho người khác hệt như
mình. Mà điều đó không phải chờ đến kiếp lai sinh xa vời,
mà ngay ở hiện tại thực hiện Niết-Bàn đó: Ta có thể
nói, theo một ý nghĩa nào đó, chủ trương này là chủ nghĩa
hiện thực rất mãnh liệt. Do đó nếu nói theo lập trường
của chính đức Phật, thì chứng ngộ hay giải thoát giữa
Phật và đệ tử (Thanh Văn) của Phật không có gì khu biệt
cả. Nhưng đến sau thì giữa Bồ-Tát (hậu bổ của Phật)
và Thanh Văn, cái tư cách lại có sai biệt: Bồ-Tát thì lập
thệ nguyện hòa đồng cùng chúng sinh để cứu độ họ, nhưng
Thanh Văn thì chỉ cầu giải thoát cho chính mình. Trong thời
kỳ Phật Giáo Nguyên thủy tư tưởng này vẫn chưa nảy sinh.
Như
thế thì trong thời kỳ Phật Giáo Nguyên thủy, tư tưởng
bản Nguyện vẫn chưa có manh nha sao? Vấn đề này chưa ai
có thể quyết đoán được. Cũng các Giáo lý khác tư tưởng
bản nguyện cũng ngẫm ngầm phát sinh trong thời kỳ Phật
Giáo Nguyên thủy và lần lượt khai triển, đó là điều ta
cần ghi nhận. Ở đây tôi tưởng cần phải nói rõ cái lý
do của sự khác biệt giữa Phật và các đệ tử của Ngài
như thế nào, và ta có thể nêu ra hai điểm: Thứ nhất, trên
lý luận, đức Phật cũng như các đệ tử (Thanh Văn) của
Ngài cũng là những người đã chứng ngộ, những giải thoát;
nhưng trên thực tế giữa Phật và các đệ tử về phương
diện có một sự thực cách biệt mà không ai thừa nhận.
Ðiểm rõ ràng nhất là, Sự giải thoát của đức Phật là
kết quả của cái gọi là "vô sư tự ngộ", còn sự giải
thoát của các đệ tử thì do kết quả của sự dẫn dắt
và những lời dạy của Phật mà được,chứ không phải tự
mình chứng ngộ một cách sáng tạo. Chính vì thế mà Phật
được tôn xưng là bậc" Toàn giác", còn các đệ tử được
gọi là Thanh Văn tức là thính chúng. Song cái nguyên nhân của
sự bất đồng đó phát khởi như thế nào? Ở đây lại phải
tìm hiểu cho rõ lý do của nó.
Thứ
hai, cái mà Nguyên thủy Phật Giáo hết sức đề cao tuy là
sự giải thoát ngay ở kiếp này, nhưng trong số những người
tu hành, có rất nhiều người mới tu nửa chừng mà đã tạ
thế . Tuy nhiên, không phải vì thế mà sự tu hành của họ
không có hiệu quả, không được an lạc. Hơn nữa, những
người đó thừa nhận sẽ tiếp tục tu hành trong những kiếp
lai sinh. Ðến thời kỳ này, tính ngưỡng luân hồi mới trở
thành bảo chứng cho sự kế tục tu hành đời đời kiếp
kiếp. Trong bốn quả la hán, ba quả trước thật đã an lập
theo tư tưởng này.
Kết
hợp hai quan điểm trên đây, đặc biệt thích ứng với Phật
Ðà quan, thì cái kết quả của sự tu hành của đức Phật
cũng hợp như thế. Nghĩa là, không phải Phật chỉ tu hành
trong hiện thế mà là trải qua vô số kiếp ở quá khứ và
sự thành Phật ở kiếp này chẳng qua là kết quả cuối cùng
của sự tu hành trong vô số kiếp xa xưa, và sự tin tưởng
có những điềm kỳ lạ khi Phật đản sinh chính cũng do đó
mà được tạo thành. Và cũng do đó mà có sự khu biệt giữa
Phật và các đệ tử của Ngài. Vì sự tu hành của Thanh Văn
chỉ trải qua một vài đời kiếp, còn phần nhiều phải trải
qua sự giáo hóa của Phật mới được khai ngộ. Cái đặc
tướng của Phật Giáo là ở chỗ cho rằng người nhờ công
phu tu hành mà được viên mãn chứ không phải do thiên nhiên
mà thành Thánh, cho nên nhân cách được viên mãn hay không,
sự dụng lực sâu rộng hay cạn hẹp: tất cả điều do thời
gian tu hành dài hay ngắn và sự nổ lực nhanh hay chậm mà
có sự sai khác. Ðiều này, không có liên quan gì với chủ
thuyết bình đẳng của đức Phật. Cái địa vị giữa Phật
và đệ tử mặc nhiên là phải có sự sai biệt về thứ tự.
Cũng do đó mà từ Tiểu Thừa đến Ðại Thừa tuy đã phát
sinh nhiều giải thích phần học rất phức tạp, nhưng đồng
thời ở một khía cạnh khác, các kiếp tiền sinh của đức
Phật, tức liên quan đến những ngụ ngôn trong thời kỳ tu
hạnh Bồ-Tát , cuối cùng đã hình thành một tác phẩm đại
văn học: đó là kinh Bản Sinh (Jataka). Sự giải thích về
thần học chỉ hạn cục trong phạm vi giáo lý và do các nhà
chuyên môn đàm luận. Trái lại kinh Bản Sinh đóng một vai
trò vô cùng quan trọng là đem tinh thần của Phật Giáo phổ
biến trong xã hội để thông tục hóa và nhất ban hóa. Theo
một ý nghĩa nào đó, ta có thể nói thay vì giải thích những
giáo lý trung tâm rất khó khăn của Phật Giáo Nguyên thuỷ
hoặc Phật Giáo Tiểu Thừa, lại đem tinh thần Phật Giáo
dệt thành kinh Bản Sinh làm cho Phật Giáo được phổ cập
khắp xã hội.
Cái
manh nha của tư tưởng Bản Nguyện thật đã bắt nguồn từ
kinh Bản Sinh này. Trong vô số kiếp tu hạnh Bồ-Tát đó, hiện
thị nhiều thân, hy sinh tự kỷ, nổ lực vì người, vì đạo.
Tuy nhiên gấp trăm gấp nghìn truyện được ghi trong Bản Sinh
( trong kinh Bản Sinh được lưu truyền hiện nay chỉ có hơn
năm trăm truyện), nhưng nếu đem cái nổ lực hy sinh đó mà
giải thích thì tất cả chỉ là bản nguyện mà thôi. Nghĩa
là, những nổ lực tối hậu là Bồ Ðề ( Boddhi ), tức trí
tuệ, giác ngộ, làm nội dung mà thành Phật , mà thành Phật
để cứu độ chúng sinh mê vọng tức là cái tổng nguyện
" thượng cầu Bồ Ðề, hạ hoá chúng sinh " vậy. Ðiều này
đã được nói rõ trong kinh Bản Sinh Nguyên thuỷ. Cho nên các
kiếp trước của Phật _bất luận là thị hiện làm vượn
hay thỏ được gọi là Bồ-Tát (Boddhisatta Bồ Ðề tát đoả,
người cầu nhất thiết trí ), tất cả đều tu hành theo đạo
trình tiến đến thành Phật. Sau này, khi Ðại Thừa phát triển
thì Bồ-Tát lập bản nguyện tự kỷ nỗ lực thành Phật,
đồng thời, kiến thiết tịnh độ để tiếp độ chúng sinh
cùng giác ngộ. Tư tưởng này chẳng qua là sự miêu tả khoáng
đại tư tưởng trong kinh Bản Sinh mà thôi.
Tóm
lại, tư tưởng bản nguyện nếu đứng trên lập trường
biểu diện của Phật Giáo Nguyên thủy mà nhận xét thì nó
không phải là đại biểu cho tư tưởng trung tâm của Phật
Giáo mà chỉ đóng vai trò phụ thuộc thôi. Song, nếu đứng
ở một khía cạnh khác mà nhận xét thì mầm mống tư tưởng
hiện nay đã nằm sẵn trong những vấn đề trung tâm của
Phật Giáo Nguyên thủy, có liên hệ trực tiếp với Phật
Ðà-quan, và phong trào vận động thông tục hóa Phật Giáo.
Do đó nếu không tìm về Phật Giáo Nguyên thủy để khảo
sát thì không thể nói rõ cái nguyên ủy của tư tưởng bản
nguyện.
3.
Sự Khai Triển Của Tư Tưởng Bản Nguyện Trong Kinh Bản Sinh.
Tư
tưởng Bản Nguyện tuy bắt đầu từ kinh Bản Sinh, nhưng chính
Bản Sinh cũng trải qua nhiều giai đoạn biến đổi và triển
khai. Bởi thế mà tư tưởng Bản Nguyện cũng phải lần lượt
phát triển để thích ứng với hệ thống của kinh Bản Sinh.
Mà kinh Bản Sinh lại được thừa nhận là sản phẩm khai
sinh từ khoảng giữa thời đại Phật Giáo Nguyên thủy đến
Phật Giáo Ðại Thừa: tác phẩm cổ thuộc Phật Giáo Nguyên
thủy, tác phẩm mới thuộc Ðại Thừa. Phần mới thuộc Ðại
Thừa có thể được coi là đại biểu cho lịch sử tư tưởng
Bản Nguyện phát đại ở thời kỳ sơ khởi, và điểm này
có thể chia thành ba đoạn để khảo sát. Thứ nhất, tư tưởng
Bản Nguyện đại biểu cho hơn năm trăm chủ đề trong Bản
Sinh kinh. Thứ hai, tư tưởng Bản Nguyện đại biểu cho jatakamala,
bản Hán dịch là Bồ-Tát Bản Sinh Man luận (16 quyển), do
Aryasura (Thánh Dũng) biên soạn. Thứ ba, là Lục Ðộ Tập kinh
(8 quyển, do Ngô Khương Tăng Hội dịch). Loại thứ nhất được
truyền bằng tiếng Pàli, loại thứ hai bằng tiếng Phạm (Sanskirt)
và các bản Hán dịch; và loại thứ ba duy chỉ còn bản Hán
dịch; mà thôi. Tựu trung, tư tưởng Bản Nguyện ở đoạn
thứ nhất dĩ nhiên là chưa phát đạt, chẳng qua đó chỉ
là muốn đem những lời ngụ ngôn và giáo huấn lưu hành tại
đương thời để dệt thành cái gọi là Bồ-Tát Ðàm, do đó
nó gần như không có quan hệ gì với tư tưởng Bản Nguyện.
Tuy nhiên, cái Bản Nguyện trọng yếu là một vị Bồ-Tát
tu nhất thiết công đức rốt ráo hồi hướng cho nhất thiết
trí (tức Phật) đã dược ghi chép rõ ràng trong kinh điển
Bản Sinh. Không những thế, trong các loại Bản Sinh rất đề
cao cái gọi là "chân thực kỳ thệ" (Saccakiriya), bất luận
khi Bồ-Tát, thực hiện một đại sự đều phát "chân thực
kỳ thệ" và nhờ năng lực của kỳ thệ mà hoàn thành đại
sứ ấy. Ðiều này vẫn chưa có liên quan đến tương lai,
cho nên tuy không thể nói là Bản Nguyện, nhưng dù sao thì
năng lực kỳ thệ cũng bao hàm ý nghĩa thực hiện của nó,
cho nên cũng có thể trở thành một yếu tố của tư tưởng
Bản Nguyện sau này. Rồi tiến đến Jatakamala và các bản
dịch, tuy nói là Phạm ngữ, nhưng về phương diện tư tưởng
so với nguyên điển Phạm ngữ hiện tại thì bản Hán dịch
"Bản Sinh Man Luận" nếu nói theo đề tài ngụ ngôn, tuy cũng
giống với kinh Bản Sinh, nhưng về ý nghĩa tôn Giáo thì đã
xâu xa hơn kinh Bản Sinh một tầng. Nhất là trong Bản Sinh
Mang Luận, bản dịch chữ Hán, nói đến việc xưng niệm Phật,
niệm công đức Tam Bảo đã mang một ý nghĩa trọng đại
và là tiền khu của tư tưởng Bản Nguyện. Sau hết đến
Lục Ðộ Tập Kinh, có thể nói kinh này là sản phẩm ở thời
kỳ Tiểu Thừa sắp muốn Ðại Thừa hóa, và ở giai đoạn
này, tư tưởng Bản Nguyện lại càng trở nên rõ ràng hơn.
Manh nha của tư tưởng biệt nguyện có thể được tìm thấy
ốang tổng nguyện thành Phật trong tương lai. Nghĩa là một
vị Bồ-Tát khi gặp sự khổ đau không chính đáng nào, tuy
tự mình phải chịu đựng, trong tương lai thành Phật, điều
cần yếu là phải thệ nguyện trừ khử cái nguyên nhân của
sự khổ đau đó. Hãy lấy một vài thí dụ: ở kiếp xa xưa,
khi Bồ-Tát tu hạnh nhẫn nhục, có một ông vua hung ác tên
Ca Lợi cắt hết chân tay của BồTát, tuy Bồ-Tát chịu nỗi
thống khổ đó, nhưng cũng tự nghĩ : "Ta chỉ dốc chí tu hành
cho thành đạo, không tranh giành hơn thua mà ông vua kia còn
hại đến thân thể của ta, thế thì đối với lê dân ông
ta chắc còn tàn bạo hơn nữa. Ta nguyện thành Phật để trước
hết cứu độ cho ông vua hung ác kia, và khiến cho chúng sinh
đừng bắt chước những hành vi tàn bạo của ông ta" .
Một
thí dụ nữa: Khi Bồ-Tát từng là loài vượn, khỉ cũng đã
cứu người nhưng lại bị người hãm hại. Bồ-Tát tự nghĩ:
"Sức ta kiếp này không thể độ được người, nguyện kiếp
sau thường gặp chư Phật, y theo giáo pháp tu hành mà được
độ, đời đời kiếp kiếp không bao giờ có ý nghĩa ác như
người kia" (Hai thí dụ trên đều thấy trong Lục Ðộ Tập
Kinh, quyển thứ 5). Ðồng thời với tổng nguyện tương lai
thành Phật còn có biệt nguyện tế độ những kẻ ác độc
để trừ họa hoạn cho đời. Tuy đây chỉ là những thệ
nguyện vụn vặt và không khỏi có tính cách tiêu cực, nhưng
nếu nghĩ đến những Bản Nguyện tích cực được chỉnh
lý và hoàn toàn thành sau này, ta thấy nó đã bắt nguồn từ
những thệ nguyện vụn vặt đó, và như vậy, hiển nhiên
nó đã là những tài liệu không thể bỏ qua.
Như
vậy, truy cầu đến văn hiến thuộc hệ thống Bản Sinh Ðàm,
tư tưởng Bản Nguyện trong Lục Ðộ Tập Kinh, tuy đã rất
đầy đủ, nhưng bất luận nói cách nào đi nữa, Lục Ðộ
Tập Kinh vẫn chưa trút bỏ hẳn sắc thái Tiểu Thừa. Vì
ở đây tuy tư tưởng thập phương chư Phật cũng đã xuất
hiện nghĩa là thụ ký thành Phật, hay biến sinh nam tử để
thành Phật, cho đến có cả truyền thuyết tiên khu về thường
Ðề Bồ-Tát trong kinh Bát-Nhã v.v...,nhưng thuyết Bồ-Tát,
theo một ý nghĩa nào đó, chỉ mới hạn cục trong các kiếp
tiền sinh của Phật Thích-Ca chứ chưa tiến đến thuyết Bồ-Tát,
đồng thời tồn tại ở các phương khác. Từ đây tiến lên
bước nữa mà thừa nhận các Bồ-Tát đồng thời tồn tại
vá có những Bản Nguyện khác nhau chính là kinh điển văn
học thuộc Ðại Thừa.
4.
Các Kinh Ðiển Ðại Thừa Với Tư Tưởng Bản Nguyện.
Ở
đây, vì không phải bàn về sự khu biệt giữa Tiểu Thừa
và Ðại Thừa, nên trước hết chỉ cần tìm hiểu cái phạm
vi của tư tưởng Bản Nguyện, rồi sau hãy bàn đến vấn
đề Bản nguyện tự thân.
Mục
tiêu của Tiểu Thừa là giải thoát cá nhân, không lấy việc
độ tha làm điều tất yếu. Cái địa vị lý tưởng tối
cao của Tiểu Thừa là sự thỏa mãn được làm đệ tử (Thanh
Văn) của Phật. Còn việc thành Chính Ðẳng Giác và cứu độ
hết thảy chúng sinh như Phật tuy cũng có hy vọng, nhưng lại
cho rằng mình không đủ khả năng để thực hiện điều đó.
Ðức Phật là một đấng được lựa chọn, hàng ức triệu
năm mới xuất hiện một lần, vả lại không thể có hai Ðức
Phật cùng ra đời một lúc: đó là sự giải thích thông lê
của Tiểu Thừa. Do đó Thiểu Thừa chỉ thừa nhận vị Bồ-Tát
chí nguyện thành Phật là tiền thần của Phật Thích-Ca (hay
Phật quá khứ) chứ không chấp nhận các vị Bồ-Tát như
Văn Thù, Phổ Hiền hay Quan Âm và sự tu hành tích lũy vô số
công đức cũng như các thể nguyện của mấy vị này. Trái
lại, đặc chất của Ðại Thừa là nếu tự mình đã thành
Phật thì cũng phải làm cho người khác thành Phật, có thể
nói Ðại Thừa lấy việc xã hội hóa địa vị Phật làm
điều kiện tất nhiên. Do đó bất cứ người nào, nếu chí
nguyện thành Phật thì điều có thể thực hiện được nguyện
vọng đó; đồng thời, không phải chỉ có Phật Thích-Ca là
vi Phật độc nhất đã thành mà ở các phương khác cũng nhiều
Phật, và cũng rất nhiều Bồ-Tát giúp Phật để làm cho cõi
nước Phật ( Buddhaksera) được thanh tịnh. Ðiều này thật
khác xa với Tiểu Thừa lấy việc giải thoát cá nhân làm
lý tưởng.
Như
vậy, cái đặc chất quyết định Ðại Thừa ta phải nhìn
vào quá trình khai triển của tư tưởng Bản Nguyện trong các
kinh điển Ðại Thừa. Ðại Thừa có rất nhiều kinh điển,
lập ra vô số Phật và Bồ-Tát và để thích ứng với điều
đó, Bản Nguyện cũng có rất nhiều. Tuy nhiên, trong vô số
Bản Nguyện ta vẫn có thể tìm ra manh mối và mạch lạc của
sự phát triển của nó, nghĩa là ta có thể tìm ra cái tình
hình gia tăng những điều mục của Bản Nguyện. Chẳng hạn,
có vị Bồ-Tát có sáu, có vị Phật có mười hai nguyện,
có vị lại hai mươi bốn nguyện v.v... Ðiều này cho thấy
rõ ràng có một trật tự nhất định trong các giai đoạn
phát triển.
Ðương
nhiên, nói một cách thực tế, nếu chỉ căn cứ số mục
nhiều hay ít mà quyết định sự phát triển thì rất nguy
hiểm, cho nên cùng với việc kiểm tra số mục, ta cần phải
khảo sát tính chất của nội dung tư tưởng rồi sau mới
quyết định được.
Nhưng
đại lược thuộc cùng một tư trào, căn cứ vào những điều
mục của Bản Nguyện nhiều hay ít trong các kinh điển mà
tìm hiểu quá trình khai triển của nó cũng rất cần thiết.
Mà sự khai triển tăng gia số mục này có một trật tự nhất
định và đã được coi là tư liệu của Phật Giáo Nguyên
thủy và cũng được nói rõ trong các kinh điển. Chẳng hạn
như Ngũ Cái Chướng hay Thất Giác Chi: thuyết này tuy những
người không phải là Phật Giáo đồ cũng biết, nhưng tại
sao số năm biến thành mười, và số năm biến thành mười
bốn thì Phật chỉ có đồ mới biết. Theo chổ tôi nghiên
cứu thì tư tưởng Bản Nguyện củ Ðại Thừa thật đã khai
triển từ cái qui tắc pháp số này. Xưa nay các học gỉa
tuy không chú ý mấy về điểm này, nhưng nếu nghiên cứu
trên văn hiến thì hiển nhiên nó là một sự thật lịch sử.
5.
Tiểu Phẩm Bát-Nhã Với Tư Tưởng Sáu Nguyện.
Theo
kinh Bản Sinh thì đức Phật, trong các tiền kiếp tu hạnh
Bồ-Tát, đã biến hiện thành tất cả thân hình để thực
hiện mọi việc thiện. Mà sự thực hiện tất cả thiện
sự này đến một trình độ hoàn toàn nhất được gọi là
Ba-La-Mật (Ða) (Paramita), tức là thực hiện hoàn toàn. Hành
Ba-La-Mật là hạnh đặc thù của Bvô-Tát (Ba-La-Mật còn được
gọi là Ðộ). Muốn hạnh tu của Bồ-Tát được chia thành
sáu loại hoặc mười loại, gọi là lục Ba-La-Mật, đó là
phương thức phân loại trong kinh Bản Sinh và nhất là Lục
Ba-La-Mật đã trở thành thông lệ. Ðó là cái lý do tại sao
các kinh điển đại biểu cho kinh Bản Sinh ở thời kỳ sau
cùng được mệnh danh là Lục Ðộ Thập Kinh. Tức là chia
hạnh của Bồ-Tát thành sáu đức mục: từ thiện (bố thí)
đức hạnh (trì giới ), nhẫn nại (nhẫn nhục ), thống nhất
tinh thần (thiền định) và duệ trí (trí tuệ) để phối
trí với các loại ngụ ngôn.
Như
thế là tu hạnh Lục Ba-La-Mật (Lục Ðộ) đã trở thành đặc
trưng của Bồ-Tát, và đến đại thừa, tư tưởng Bồ-Tát
chiếm phần trung tâm thì tư tưởng Lục Ba-La-Mật cuối cùng
cũng khai triển đến cực điểm. Nói theo một ý nghĩa nào
đó thì các pháp tướng, giáo tướng của Ðại Thừa có thể
nói rốt ráo không ngoài sự phân hoá của tư tưởng Bản
Nguyện không thể bỏ qua tư tưởng Lục Ba-La_Mật. Nhất là
hành Lục Ba-La-Mật toàn thể là hồi tưởng cho tổng nguyện,
đồng thời còn có biệt nguyện xây dựng tịnh độ về mặt
đạo đức, văn hóa, cái đặc trưng đó chỉ có trong kinh
điển Ðại Thừa chứ kinh Bản Sinh của Tiểu Thừa không
có. Ðiều này nếu được trưng ra văn hiến thì kinh điển
xưa nhất làm cho Lục Ba-La-Mật và Bản Nguyện tương quan
chính là tiểu phẩm Bát-Nhã (Astasahasrika Prajnaparamita), Bát
thiên Tụng Bát-Nhã, Phật Mẫu, Ðạo Hành v.v. .Vì tư tưởng
Bát Nhã nguyên xuất phát và khai triển từ Ba-La-Mật thứ
sáu, tức Trí Tuệ ( Bát-Nhã) trong Lục Ba-La-Mật. Tóm lại
Tiểu phẩnm văn Hiến, nhất là sau khi đã được chỉnh lý
và thích ứng, đại biểu cho thời kỳ sơ khởi của đại
Thừa và mang một ý nghĩa rất trọng yếu. Trong tiểu phẩm
Bát-Nhã, thuyết tư tưởng Bản Nguyện được biểu hiện
trong phẩm Thậm Thâm Nghĩa thứ 19 của Phật Mẫu Bát-Nhã.
Ở đây, tu hạnh Lục Ba-La-Mật, về phương tiêu cực, chinh
phục những tư dục của nội tâm, giải thoát trất cả những
khổ não và sợ hãi, đồng thời nhờ công đức đó, một
khi kiến thiết tịnh độ trong tương lai sẽ không còn thống
khổ, sợ sệt hay hay những việc bất như ý. Ðó là Bản
Nguyện dựa vào tinh thần Bồ-Tát trong Bát-Nhã mà được
thành lập. Giờ xin nói một cách tóm tắt như sau:
Nhờ
tu hạnh bố thí Ba-La-Mật nên dù có gặp tai nạn trong nơi
ác thú cũng không sinh lòng sợ hãi, vì Bồ-Tát có thể xả
bỏ tất cả, không màn tưởng một chút gì cho chính mình.
Nhưng trong việc xây dựng cõi Phật ở tương lai thì lại
nguyện rằng, ngay từ đầu, cõi nước đó sẽ không có một
loài ác thú. Nhờ công đức trì giới và nhẫn nhục, về
mặt tinh thần, tuy có thể giải thoát mọi sự sợ hãi của
oan tặc, nhưng trong Phật độ ở tương lai thì lại nguyện
ngay từ đầu sẽ không có oan tặc. Nhờ công hạnh tinh tiến
dức trừ được lòng khát ái, tuy không còn khổ khát ái,
nhưng trong cõi Phật ở tương lai thì lại ngay từ đầu sẽ
tràn đầy thứ nước tám công đức. Do tu thiền định, tuy
được món ăn pháp hỷ thiền duyệt, không còn đói nữa,
nhưng trong cõi Phật ở tương lai thì lại nguyện ngay từ
đầu sẽ đủ các thức ăn không có đói khổ, Nhờ tu trí
tuệ tuy thường quan sát bệnh khổ, biết rõ không ai không
bệnh, trong cõi Phật ở tương lai thì xin cho ngay từ ban đầu
sẽ không có bệnh khổ mà là cõi đầy kiện khang (Nguyên
điển phạm Ngữ trang 300, Phật Mẫu Bát-Nhã quyển thứ 18,
Thi Hộ dịch).
Tóm
lại, những đức mục trên đây, một nữa trước có tính
cách tiêu cực, căn cứ vào bát nhã, nhờ Chân-Không quán,
nói rõ công đức giải thoát tất cả mọi thống khổ về
mặt tinh thần; nữa phần sau, ứng dụng sức Chân không trong
công cuộc kiến thiết tịnh độ ở tương lai hoán chuyển
nó về phương diện Diệu-Hữu với tinh thần tích cực để
hoàn thành Bản Nguyện có tính cách đạo đức và văn hóa.
Ðem so với tư tưởng Bản Nguyện được biểu hiện trong
Lục Ðộ Tập kinh đã nói ở trên, nhưng đức mục này tuy
đã có hệ thống, nhưng nếu phối hợp với Lục Ba-La-Mật
mà làm biệt nguyện thì ta thấy hiển nhiên là lý tưởng
tịnh độ đã được tích cực hóa, và có thể nói đây là
sự khai triển rõ rệt của Ðại Thừa. Mà tư tưởng lục
nguyện này sau đã trở thành nền tảng cho tất cả các điều
mục bản nguyện khác: đó là điều ta cần hết sức chú
ý về phương diện lịch sử của bản nguyện.
6.
Lấy Sáu Nguyện Làm Cơ Sở Ðể Tiến Tới Bốn Mươi Tám
Nguyện.
Kinh
tiểu-phẩm Bát-Nhã lúc đầu kết hợp Lục Ðộ để xác
lập tư tưởng Lục-Nguyện, nếu đứng về mặt số mục
mà nói, thì trên văn tự lần lần đã trở thành tư tưởng
Thập Nguyện, để thích ứng với tư tưởng Thập Ba-La-Mật
lấy kinh Hoa Nghiêm làm trung tâm. Trong lịch sử giáo lý của
Phật Giáo chủ trương lấy Lục Ðộ làm trung tâm, như sẽ
bàn sau, thuộc hệ thống này thì chủ trương lấy kinh Hoa
Nghiêm làm trung tâm không được phát triển mấy và chỉ được
coi là phụ thuộc hệ thống Bản Nguyện mà thôi.
Nếu
lấy Lục Ðộ làm trung tâm, trước hết cần phải kể đến
tư tưởng mười hai nguyện là chính hệ, rồi từ đây, số
mục lại tăng lên thành hai mươi bốn nguyện, rồi bốn mươi
tám nguyện. Và đến đây, lịch trình khai triển đã đạt
đến điểm hoàn chỉnh nhất. Những số mục Bản Nguyện
trên đây đều thấy giữ nguyện hình thức văn hiến hoàn
chỉnh này, ở bất cứ nơi nào. Nhưng thật ra, nếu lại nghiên
cứu một các tỉ mỉ hơn về thứ tự tăng gia số mục, thì
thay vì mười hai theo quá trình lũy tiến, nó đã theo thứ
tự cứ từ sáu nguyện tăng lên cho tới bốn mươi tám nguyện.
Như vậy đúng ra, hình thức hoàn toàn đầy đủ phải là
: sáu nguyện, mười hai nguyện, mười tám nguyện, hai mươi
bốn nguyện, ba mươi nguyện , ba mươi sáu nguyện, bốn mươi
hai nguyện và bốn mươi tám nguyện. Ðúng ra, số mục bản
nguyện đã tiến triển theo lịch trình trên, nhưng dĩ nhiên
trường hợp bốn mươi hai nguyện tôi vẫn chưa tìm ra trong
văn hiến độc lập. Tóm lại, sự khai triển của Bản Nguyện
đã tiến hành theo trình tự trên đó là một sự thật mà
theo tôi, từ xưa vẫn chưa có ai đề cập đến một cách
rõ ràng. Bởi thế, sau đây tôi sẽ theo thuận tự từ mười
hai nguyện đến bốn mươi tám nguyện, dẫn chứng về mặt
văn hiến và tìm hiểu sự biến thiên về phần nội dung tư
tưởng của nó.
7.
Mười Hai Nguyện Trong Kinh A-Sơ Phật-Quốc Với Mười Tám
Nguyện.
Trước
hết hãy nói đến mười hai nguyện. Mười hai nguyện này
đã được nói rất rõ trong kinh Dược Sư Như-Bản Nguyện.
Song nói đúng ra mười hai nguyện này do ảnh hưởng tư tưởng
Mật Giáo mà phát khởi vào cuối thời kỳ Ðại Thừa, cho
nên không thể được coi là trực tiếp kế thừa tư tưởng
sáu nguyện của Bát-Nhã mà phát khởi. Theo chỗ tôi nghiên
cứu, bộ kinh cùng một trào lưu với tiểu phẩm Bát-Nhã,
nhưng được thành lập sau tiểu phẩm Bát-Nhã, đã lấy mười
hai nguyện (và mười tám nguyện) làm chủ thể mà thuyết
minh tư tưởng Bản Nguyện, đó là bộ kinh A -Sơ-Phật-Quốc.
Bộ kinh này có hai bản dịch, một do Chi-Lâu-Ca-Sấm dịch
và một do Bồ Ðề-Lưu -chi, và đại khái cũng cùng một nội
dung: Ở phương Ðông có Phật A-Sơ (Aksobhya Bất Ðộng) xuất
hiện ở cõi nước Ngài để giáo hóa chúng sinh. Lấy tín
ngưỡng này làm nền tảng, chủ ý muốn nói lên các bản
Nguyện của đức Phật A - Sơ khi còn là Bồ -Tát, rồi nói
kết quả thành tựu của Bản Nguyện ấy là trạng thái Phật
- Quốc, rồi nói cả đến tình hình giáo hóa của Phật cho
đến trạng huống Phật Niết - Bàn. Từ tín ngưỡng A - Sơ
ở quá khứ dẫn Khởi -Tín ngưỡng về Phật Di-Lặc ở tương
lai. Mà tín ngưỡng Di - Lặc Phật là đối với Tiểu Thưà;
còn tín ngưỡng Phật A -Sơ thì lấy tư tưởng Bát - Nhã làm
bối cảnh để thành lập, cho nên vể điểm này, có thể
nói là thuần Ðại Thừa, tín ngưỡng này rất có thế lực.
Bản Nguyện của đức Phật này được coi là Ngài đã đối
trước Ðại Nhật Như-lai ở thời quá khứ mà thệ ước,
nhưng kỳ thực thì đó chỉ là cái phương châm tu hành của
chính Ngài đã biến thành lời thề nguyền mà thôi, Theo chỗ
tôi nghiên cứu thì Bản Nguyện đó gồm có hai mươi mốt
điều, trong đó được kể là trung tâm thì có mười hai điều.
Bốn điều đầu tiên là lời thệ ước dự bị trước khi
được mệnh danh là A - Sơ tức Bất Ðộng; năm điều sau
cùng sứ nhìn vào văn thể của kinh điển mà nhận xét, thì
tựa hồ như phần phụ lục; còn mười hai điều ở khoảng
giữa mới chính là những thệ nguyện căn bản. Mười hai
điều ấy là:
1.Tất
cả công phu tu hành đều hồi hướng đến nhất thiết trí
(tức thành Phật).
2.Hết
thảy lời nói đều tương ứng với niệm Phật.
3.Ðời
đời được xuất gia.
4.Xuất
gia lại tu theo mười hai hạnh đầu đà.
5.Thành
tựu bốn trí vô ngại.
6.Nghiêm
giữ ba uy nghi: đi, đứng, ngồi.
7.Không
phạm những tội căn bản.
8.Ðối
với đàn bà mà nói pháp không khởi dục niệm.
9.Khi
nghe Phật và Bồ - Tát thuyết pháp đều chăm chú.
10.Không
nghe những thuyết dị đoan của ngoại đạo.
11.Khi
bố thí tài hoặc pháp, đều giữ tâm bình đẳng, không phân
biệt, bỉ, thử.
12.Khiến
những kẻ phạm tội đều được cứu giúp (Xem kinh Bảo -
Tích, Bất - Ðộng - Hội và kinh A - Sơ Phật - Quốc, quyển
thượng).
Nhìn
vào nội dung của những nguyện này tuy không có vẻ gì liên
quan mật thiết với tư tưởng lục nguyện được đề xuất
trong Tiểu phẩm Bát - Nhã, có thể nói đó là lục nguyện
đã được dự tưởng và gấp đôi lên. Không những thế,
những điều trên đây chỉ liên quan đến phương pháp tu hành
tự kỷ chứ không phải những thệ nguyện kiến tạo quốc
độ Phật để khiến chúng sinh vãng sinh quốc độ đó. Hôn
nữa, trong kinh cũng có nói đến công đức của quốc độ
một cách tích cực, mà nội dung đó rõ ràng là đại biểu
cho tư tưởng đại nguyện giữa khoảng từ Tiểu phẩm Bát
- Nhã đến tư tưởng ba mươi nguyện của Ðại phẩm Bát
- Nhã. Tóm lại, có thuyết cho rằng, kinh A - Sơ Phật - Quốc
là sản phẩm giữa khoảng từ Tiểu phẩm Bát - Nhã đến
Ðại - phẩm Bát Nhã, do đó mối liên quan có tính cách lịch
sử giữa khoảng lục Nguyện trước và mười hai nguyện bây
giờ cũng rất mật thiết.
Như
vậy, cái quan niệm tích cực về tịnh độ đó như thế nào?
Ðây là một vấn đề rất thích thú, vì ở đây chúng ta
có thể nhìn thấy cái mô hình của thuyết mười tám nguyện.
Dĩ nhiên, trong kinh đã không nói rõ là mười tám, mà cũng
không gọi là Bản Nguyện, nhưng theo tôi, đặc tưởng tịnh
độ của kinh A - Sơ có thể thu vào mười tám điều, và những
điều này, về sau, trong các kinh điển, bất luận là phương
diện nào, đều nói là Bản Nguyện và xét theo phương diện
này, ta có thể nói nó nghiễm nhiên là kết quả của Bản
Nguyện của Phật A - Sơ trong thời đại tu nhân.
Nay
hãy thử kể những con số của nó như sau:
1.Trong
quốc độ của A-Sơ Như-lai không có ba đường dữ.
2.Tất
cả mọi người đều tu việc thiện.
3.Cõi
đất bằng phẳng.
4.Ðất
mềm như nhung tơ.
5.Không
có ba thứ bệnh phong, hàn và khí.
6.Nhân
dân không có sắc xấu và hôi thối.
7.Ít
dâm, nộ, si.
8.Trong
nước không có lao ngục.
9.Không
có tà thuyết dị giáo.
10.Cây
cối hoa quả xanh tốt, dân chúng lấy cây cỏ đó làm áo mặc.
11.Áo
mặc của dân chúng đều có mùi hương.
12.Cơm
ăn tự nhiên xuất hiện.
13.Nhà
ở đều bằng đồ thất bảo.
14.Nước
tám công đức đầy dẫy trong ao.
15.Ðàn
bà cực kỳ trinh khiết.
16.Giường
nằm cũng toàn bằng đó thất bảo.
17.Thức
ăn uống hơn hẳn ở cõi Trời và cõi người.
18.Trong
nước không có danh hiệu vua mà vua được gọi là Pháp Vương
(kinh A-Sơ
Phật
Quốc, quyển thượng, A-Sơ-Phật-Sái-Thiện-Khoái phẩm thứ
hai).
Nếu
so sánh 18 nguyện này với 12 nguyện trên, ta thấy 12 nguyện
lấy chủ nghĩa xuất gia làm trung tâm, nhưng 18 nguyện này
hiển nhiên là đề cao lý tưởng tại gia: đó là điểm bất
đồng lớn (nên chú ý là ở đây đã có chịu ảnh hưởng
của tư tưởng Di Lặc Tịnh Ðộ).
Sự
quan hệ giữa 12 nguyện và 18 nguyện được đặt thành vấn
đề và để tiện cho sự khảo sát. Ta có thể gọi 12 nguyện
là tự hành nguyện và 18 nguyện là tịnh độ nguyện. Nói
theo tính chất thì một bên là nhân hạnh, một bên là kết
quả của nhân hạnh, cho nên cả hai phái tương hợp mới có
thể trở thành thể hệ Bản Nguyện hoàn toàn. Nhưng có điều
ta cần muốn biết là: số 12 và 18 đã được thành lập cùng
một lúc hay đã phải trải qua một quá trình khai triển lịch
sử rồi sau mới được kết hợp mà thành? Về vấn đề
này tôi sẽ đem ra để khảo sát dưới đây.
Thoạt
tiên, Bản Nguyện A-Sơ lấy 12 làm chủ thể, sau A-Sơ biến
hình mà Dược Sư được thành lập thì Bản Nguyện đó mới
được xác định là 12. Song về tính chất, nếu chỉ có 12
nguyện trước thì sẽ thiếu hẳn cái đồ án Tịnh-độ,
như thế chưa hoàn toàn, cho nên, đồng thời với 12 nguyện
tất phải thành lập Bản Nguyện kiến thiết Tịnh độ. Mà
bộ phận này, kế thừa tư tưởng Di Lặc hạ sinh và hình
thức quốc độ lý tưởng được thực hiện, hơn nữa, như
đã nói ở trên, xuất phát từ quan niệm tích cực của Tiểu
phẩm Bát-Nhã, lần lượt khai triển , cuối cùng về số mục,
đã vượt quá 12 nguyện chủ thể mà tiến tới 18. Như vậy,
số 18 đã thành hình thức nhất định và được truyền đến
ngày nay là kinh A-Sơ. Tính ngưỡng A-Sơ quyết không phải bắt
đầu từ kinh A-Sơ Phật Quốc, mà về phương diện tín ngưỡng
đã có rất sớm, và trải qua nhiều giai đoạn biến thiên
mới truyền đến nay. Bởi thế, theo tôi, Tịnh Ðộ nguyện,
nếu khảo sát về phần nội dung, tuy cũng bắt đầu một
lúc với 12 nguyện, nhưng nếu đặc biệt kết hợp nó với
đặc tướng 18 thì số đã được thêm vào 12 sau một giai
đoạn triển khai của lịch sử.
8.
Kinh Vô Lương Thanh Tịnh Bình Ðẳng Giác Với Thuyết 24 Nguyện.
Trong
kinh A-Sơ Phật Quốc, ta đã thấy thuyết 12 nguyện và thuyết
18 nguyện, giờ đến thuyết 24 nguyện ta cũng nên tìm hiểu.
Thuyết này, trên văn hiến, hiển nhiên đã được ghi rõ là
số Bản Nguyện: đó tức là Bản Nguyện của Bồ-Tát Pháp
Tạng (Dhrmakara-danh hiệu Bồ-Tát của Phật A -Di-Ðà) được
nói trong kinh Vộ Lượng Thọ tại thời ký đầu. Kinh Vô Lượng
Thanh Tịnh Bình Ðẳng Giác do Chi Lâu Ca sấm (147-186 sau T.L)
là những văn kiện đại biểu cho Bản Nguyện này (Bản của
Chi Lâu được gọi là Hán Dịch, bản của Chi Khiêm được
gọi là Ngô-Dịch). Về nguồn gốc tư tưởng Phật Di Ðà
tuy có nhiều thuyết khác nhau, nhưng bất luận thuyết nào
đi nữa, so với tư tưởng A-Sơ, tư tưởng Di Ðà vẫn phát
khởi sau, và không những đã được khích động bởi tư tưởng
A-Sơ mà chính còn vì đối kháng tư tưởng đó mà tư tưởng
Di-Ðà được phát khởi. Chẳng hạn, đem thế giới Cực Lạc
của Phật Di Ðà đặt ở phương Tây chính là có ý muốn
đối chọi lại với quốc độ ở phương Ðông của Phật
A-Sơ. Giữa hai tín ngưỡng này tôi cho rằng đã có sự quan
hệ mất thiết. Do đó, ta có thể nói, 24 nguyện Di Ðà chẳng
qua chỉ là sự tu chính, tăng bổ của 18 nguyên A - Sơ mà thôi.
Bây
giờ hãy kể đến 24 nguyện trong kinh Bình Ðẳng Giác như
sau:
1.Trong
cõi nước không có ba đường dữ (giống với nguyện thứ
nhất trong Tịnh độ nguyện A-Sơ).
2.Từ
quốc độ của ta không còn lui trở lại ba ngả ác nữa.
3.Nhân
dân đều một sắc vàng (giống với nguyện thứ sáu không
có mầu sắc xấu xí hôi thối trong A-Sơ).
4.Không
có sự khu biệt cõi trời hay cõi người.
5.Nhân
dân trong nước đều có túc mệnh thông.
6.Có
thiên nhãn thông.
7.Có
tha tâm trí.
8.Ðều
bay đi tự tại.
9.Có
thiên nhĩ thông.
10.Dân
chúng không có ái đục (A-Sơ nguyên thứ 7).
11.Tất
cả nhân dân cuối cùng đều được Niết-Bàn.
12.Có
vô số đệ tử và La Hán.
13.Chính
mình có vô lượng ánh sáng.
14.Thọ
mênh cũng vô lượng.
15.Dân
chúng trong nước cũng sống lâu vô lượng.
16.Nhân
dân trong nước không có tâm ác ( A-Sơ nguyện thứ hai).
17.Tiếng
tăm của ta lừng lẫy khắp mười phương, và hết thảy chúng
sinh đều nguyện sinh sang cõi nước của ta.
18.Nếu
chúng sinh nào lấy tâm thanh tịnh niệm danh hiệu của ta, thì
ta và đệ tử ta đều đến đón rước.
19.Tuy
là kẻ ác, nhưng nếu được nghe thấy danh hiệu của ta mà
ăn năn hối cải thì cũng được sinh sang cõi ta.
20.Tất
cả các Bố-Tát trong quốc độ ta đều là ngôi nhất sinh
bổ xứ (những người có tư cách thành Phật ở kiếp tới).
21.Nhân
dân trong nước đều có đủ 32 tướng.
22.Những
tư liệu để cúng dường chư Phật đều tự tại, đầy đủ.
23.Ăn
uống cũng tự tại (A-Sơ, nguyện 12).
24.Tất
cả các Bồ-Tát trong quốc độ ta đều tu hành và thuyết
pháp như Phật (Phật tuyết Thanh Tịnh Bình Ðẳng Giác Kinh
Ðện Nhất, Ðịa Bát).
Nếu
so sánh với 18 nguyện trước, thì trong 24 nguyện này, xét
về mặt biểu hiện, tuy chỉ có năm hay sáy nguyện là giống
nhau, nhưng về mặt tinh thần tổng quát thì vô cùng tương
đồng. Không những thế, thuyết 24 nguyện do Chi Khiêm dịch
đại thể tuy cũng giống với thuyết 24 nguyện trong kinh Bình
Ðẳng Giác, nhưng trong đó cũng có chỗ bất đồng, và cái
gọi là Quốc độ thanh tịnh nguyện (A-Sơ thứ ba, thứ 4),
con gái biến sinh thành con trai (phát xuất từ nguyện thứ
14 của A-Sơ) cũng có. Sự thật sau đây càng làm sáng tỏ
hơn mối liên lạc giữa 18 nguyện A-Sơ và 24 nguyện Di Ðà:
24 nguyện Di Ðà đã dựa theo 18 nguyện A-Sơ mà được thành
lập. Nhưng điểm bất đồng giữa hai thuyết đó là: quốc
độ của Phật A-Sơ có tính cách đạo đức và văn hóa, còn
thế giới Cực Lạc của Phật Di Ðà thì lại thêm mầu sắc
nghệ thuật và tôn giáo; quốc độ của Phật A-Sơ có tính
cách hiện thực, còn thế giới Cực Lạc đã hoàn toàn được
lý tưởng hóa. Và chính điểm này cho ta thấy cái ý muốn
lập Phật Di Đà siêu việt hẳn Phật A-Sơ, Cũng do đó mà
tư tưởng Di Ðà càng ngày càng hưng khởi, chòn tư tưởng
A-Sơ thì cứ giảm sút lần lần, cho đến cuối cùng không
còn cách nào phục hưng được, nên người ta phải lấy cái
biến hình của A-Sơ mà dựng nên Dược Sư để điều hòa
với tín ngưỡng Di Ðà mong làm sống lại tư tưởng A-Sơ.
9.Thuyết
Ba Mươi Nguyện Của Ðại Phẩm Bát-Nhã.
Như
vậy, tín gưỡng Di Ðà tuy muốn chỉ dương tín ngưỡng A-Sơ,
nhưng sự tiến triển của tư tưởng Bản Nguyện A Di Ðà
hiển nhiên là tha lực: một cuộc vận động duy trì Bản
Nguyện tự lực của A-Sơ, đồng thời lại muốn siêu việt
hẳn 24 nguyện Di Ðà: đó là tư tưởng Bản Nguyện được
biểu hiện trong kinh Ðại phẩm Bát-Nhã (Ðại Bát-Nhã kinh,
phần thứ 2-25 nghìn Tụng Phóng Quang Bát-Nhã Quang Tán Bát-Nhã_La
Thập dịch 27 quyển, bản Ma Ha Bát-Nhã v.v…). Chắc chắn
rằng Ðại phẩm Bát-Nhã là kinh điển đã được tăng bổ
và mở rộng từ tiểu phẩm Ðại Thừa, và đến đây, tư
tưởng A-Sơ, tư tưởng Di Ðà đã đều đặt thành nền tảng
cho Ðại Thừa. Nhưng trong khi đặc biệt vẫn duy trì mối
quan hệ mật thiết với tư tưởng A-Sơ., Ðại phẩm Bát-Nhã
lại cũng cố cho mình một địa vị ưu việt và muốn vượt
lên trên thuyết 24 nguyện nên mới dành một phẩm đặc biệt
nói về Bản Nguyện, đó là Mộng Hành Phẩm thứ 58 (do La
Thập dịch) trong Ðại phẩm Bát-Nhã. Cứ theo thể văn trong
kinh mà nhận xét thì phẩm Mộng Hành này đã khai thác phần
nội dung của phẩm Thậm Thâm Nghĩa trong Tiểu phẩm Bát-Nhã
để trở thành một phẩm độc lập. Nghĩa là, để thích
ứng với Lục-Ba-La-Mật, Tiểu phẩm Bát-Nhã đã thành lập
sáu nguyện, đến Ðại phẩm Bát-Nhã đại khái cũng theo y
như thế, nhưng đồng thời lại thêm vào 24 nguyện mà thành
30 nguyện để làm Bản Nguyện kiến tạo Tịnh Ðộ của các
vị Bồ-Tát. Và sau đây là nội dung của 30 nguyện:
1.Nguyện
trong nước có đầy đủ y thực và các vật cần thiết khác
của đời sống (A-Sơ thứ 10, 12; Di Ðà 23).
2.Nguyện
trong nước không có ai mắc bệnh tật mà toàn những người
khỏe mạnh (A-Sơ 5).
3.Nguyện
nhân dân trong nước thương yêu và giúp đỡ nhau như cha con,
anh em.
4.Nguyện
nhân dân tinh tiến tu tam Thừa để được giải thoát.
5.Nguyện
mọi người đều thống nhất tinh thần mà an trụ nơi chính
niệm.
6.Nguyện
không có những kẻ tà kiến mà tất cả đều an trụ nơi
chính kiến (A-Sơ 9)-(Sáu nguyện trên đây là thích ứng với
sáu độ (Lục Ba-La-Mật), trên đại thể, cũng giống với
sáu nguyện của Tiểu phẩm Bát-Nhã).
7.Nguyện
tất cả chúng sinh đều được chánh định và trụ nơi Niết-Bàn
(Di Ðà 11).
8.Nguyện
không có ngả ác (A-Sơ 1; Di Ðà 1).
9.Nguyện
đất nước đều thanh tịnh (A-Sơ 3; Di Ðà 3 bản của Chi
Khiêm).
10.Nguyện
đất toàn bằng vàng.
11.Nguyện
không có tâm ái dục và luyến trược (A-Sơ 7, Di Ðà 10).
12.Nguyện
không có sự phận biệt bốn giai cấp.
13.Nguyện
không có sự đối xử phân biệt thượng, trung, hạ giữa
chúng sinh (hai nguyện này hợp thành nguyện thứ 4 trong Di Ðà?).
14.Nguyện
giữa chúng sinh không có sự sai khác về sắc tướng (A-Sơ
6; Di Ðà 3).
15.Nguyện
chỉ có Pháp Vương chứ không có danh hiệu vua chúa (A-Sơ 18).
16.Nguyện
không có ngũ thú hay lục thú.
17.Nguyện
tất cả đều hóa sinh chứ không có bốn loài sinh khác nhau.
18.Nguyện
nhân dân trong nước đều được năm thần thông ( A-Sơ 5-9).
19.Nguyện
trong nước không còn cái nạn đại, tiểu tiện.
20.Nguyện
nhân dân có ánh sáng vô lượng ( Di Ðà 13).
21.Nguyện
không có cái tên gọi ngày, tháng, năm (Di Ðà 15).
22.Nguyện
sống lâu vô lượng (Di Ðà 14, 15).
23.Nguyện
tất cả đều có đủ 32 tướng (Di Ðà 21).
24.Nguyện
lấy việc vun trồng thiện căn cúng dường chư Phật.
25.Nguyện
không có ba độc, bốn bệnh.
26.Nguyện
không có hai thừa, tất cả đều quy về một Ðại Thừa (Di
Ðà 24?).
27.Nguyện
trong nước không có những kẻ tăng thượng mạn.
28.Nguyện
ánh sáng vô lượng, thọ mệnh vô lượng, số đệ tử vô
lượng (Di Ðà 12-14).
29.Nguyện
quốc độ lớn hợp thành vô số Phật độ.
30.Nguyện
chúng sinh đều hiểu rằng, tuy ở trong sinh tử nhưng thật
không sinh mà cũng không giải thoát (kinh Bát-Nhã, quyện thứ
17, La Thập dịch, Ðại Chí Tạng 8, 347 trang 9. Phóng Quang Bát-Nhã,
quyển 13, Ðại Chính Tạng 8, trang 92. Kinh Ðại Phẩm Bát-Nhã,
phần đầu, Phẩm Nguyện Hành cũng có 30 nguyện này).
Nếu
so sánh và đối chiếu với 18 nguyện A-Sơ và 24 nguyện Di
Ðà, ta sẽ thấy trong số 30 nguyện trên đây, có 5 nguyện
giống với A-Sơ và Di Ðà, có 12 giống với 24 nguyện Di Ðà
và ba giống với 18 nguyện A-Sơ: đó là đại ước những
điểm mà thuyết 30 nguyện đã khai thác và lợi dụng. Mà
trong đó thuyết 24 nguyện được khai thác nhiều nhất, cho
nên, về điểm này, ta có thể nói chắc rằng, 30 nguyện trên
đây là những Bản Nguyện đã trực tiếp phát triển từ
thuyết 24 nguyện.
Nhưng
nếu xét ở một phương diện khác, thì nguyện "Không danh
hiệu vua chúa" chỉ lợi dụng Bản Nguyện A-Sơ thôi, rồi
sau hoàn toàn cắt bỏ Bản Nguyện có tính cách tha lực chủ
nghĩa của thuyết 24 nguyện. Nhận xét theo điểm này, ta thấy
30 nguyện của Ðại phẩm là sản vật tư tưỡng, như trên
đã nói, muốn đứng trên lập trường Bát-Nhã mà kiến tạo
phương diện Diệu-Hữu để vượt lên trên thuyết 24 nguyện.
Nhất là nguyện thứ 30 đề cao tư tưởng đạt quan "Sinh tử
nhất như" Ðã cho ta thấy rõ dấu hiệu đó.
10.
Thuyết Ba Mươi Sáu Nguyện Của Kinh Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm.
Với
thuyết Ba mươi nguyện, Ðại phẩm Bát-Nhã muốn siêu việt
thuyết 24 nguyện trung tâm Di Ðà. Giờ đây, tiến tới một
bước nữa, lại có thuyết muốn siêu việt thuyết 30 nguyện,
và nếu muốn biết thuyết này ra sao,t a không thể không đề
cập đến phương diện tín ngưỡng Di Ðà. Trên văn tự, thích
ứng với nhu cầu mà biểu hiện là thuyết 36 Nguyện của
kinh Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm (ba quyển, do Pháp Hiền dịch).
Bộ
kinh này được dịch ra chữ Hán vào thời Tống (982-1001) và
nếu cứ theo niên đại này mà nhận xét, thì tuy nó ra đời
sau thuyết 48 Nguyện (kinh Phật-Thuyết-Vô-Lượng-Thọ, do Khương
Tăng Khải dịch vào đời Ngụy, và Vô Lương Thọ Như-lai-
hội trong kinh Ðại Bảo Tích, do Bồ Ðề Lưu Chi dịch vào
đời Ðường), nhưng nếu căn cứ vào tính chất số mục
Bản Nguyện mà nhận xét, thì kinh này nhất định đã được
thành lập trước thuyết 48 Nguyện, mãi về sau, khi phong trào
dịch thuật phát đạt, người ta mới chú ý đến và đem
dịch ra chữ Hán đó thôi. Nếu so với thuyết 24 Nguyện thì
thuyết 36 Nguyện này hơn những 12 Nguyện, nhưng đó không
phải do số 24 mà tăng vọt lên 36, mà chính nó là sản phẩm
từ 30 Nguyện của Ðại phẩm Bát-Nhã rồi tiến đến 36 vậy.
Cứ chiếu theo lịch trình tiến triển của số mục bản nguyện
trong những thuyết đã nói trên ta sẽ thấy đó là một sự
thật.
Vậy
thì, trong thuyết 36 Nguyện này, những Nguyện nào mới được
thêm vào? Vấn đề này, nếu cứ theo như thủ tục trên kia,
nghĩa là kể hết ra để mà so sánh, đối chiếu thì sợ phiền
phức quá, nên ở đây tôi sẽ chỉ đề cập một cách khái
quát đến kết luận của thuyết này như sau:
Về
hình thức, thuyết này muốn siêu việt thuyết 36 Nguyện của
Ðại Phẩm Bát-Nhã, nhưng về nội dung thì lại không thể
trút bỏ hẳn được cái hình tích Bát-Nhã.
Nếu
cứ theo đúng lịch trình tiến triển của số mục Bản Nguyện
như trên thì sau thuyết 36 Nguyện, tất phải đến thuyết
42 Nguyện, nhưng như trên tôi đã nói qua, tôi vẫn chưa phát
hiện được kinh 42 Nguyện: đó là điều rất đáng tiếc.
11.
Thuyết 48 Nguyện Của Kinh Ðại Vô Lượng Thọ.
Như
vậy là thuyết Bản Nguyện đã lần lượt tiến đến con
số 48 Bản Nguyện Di Ðà được truyền đến nay là hình thức
hoàn chỉnh nhất. Về văn hiến, thuyết này được biểu hiện
trong các kinh Ðại Vô Lượng Thọ (nói tắt là Ðại Kinh,
bản dịch của Khương Tăng Khải, đời Ngụy) và kinh Ðại
Bảo Tích, bản dịch của Lưu Chí đời Ðường). Ðại Kinh
được dịch vào thế kỷ thứ tám (693-713). Song Ðại Kinh,
tại Trung Quốc, có rất nhiều dấu hiệu rõ ràng được thêm
thắt vào, cho nên đại khái chỉ có Bảo Tích Kinh bản mới
thật đại biểu cho nguyên điển Phạm Văn. Nhưng thuyết 48
Nguyện, về hình thức cũng như nội dung, trừ một vài điểm
nhỏ, còn ngoài ra, cả hai bộ hinh này đều nhất trí. Do đó,
để tiện cho việc khảo sát, ở đây, tôi sẽ căn cứ theo
kinh Vô Lượng Thọ do Khương Tăng Khải dịch, rồi tham chiếu
cả bản dịch đời Ðường và luôn cả nguyên điển Phạm
Văn mà nhận xét thuyết 48 Nguyện.
Cái
đặc trường của thuyết 48 Nguyện ở chỗ nào? Vấn đề
này, trước hết phải tìm trong thuyết 48 Nguyện, Trên đại
thể, thuyết 48 Nguyện tuy giống với thuyết 28 Nguyện trong
kinh Bình Ðẳng Giác, nhưng nó đã phải huy một đặc chất
rõ rệt nhất, đó là tư tưởng "mười niệm vãng sinh". Theo
toàn văn được dịch từ tiếng Phạm là:
"Nếu
sau khi ta thành tựu được Bồ Ðề, chúng sinh trong Vô Lượng,
vô số Phật độ nghe danh hiệu của ta, muốn sinh sang cõi
nước ta, phát nhất tâm niệm (citta), trồng mọi thiện căn,
hồi hướng vãng sinh, cho đến phát mười niệm tương tục
(dasabhiscitta utpadraivarltaih) mà không được sinh sang cõi nước
ta thì ta nhất định sẽ không chứng ngôi Vô Thượng Chính
Ðẳng Giác. Chỉ trừ những chúng sinh tạo nghiệp vô gián
và những kẻ phỉ báng Chính Pháp (Nguyên điển Phạm ngữ
nguyện 19, bản dịch đời Ngụy, nguyện 18 và 20; bản dịch
đời Ðường, nguyện 18)".
Việc
niệm danh hiệu Phật Di Ðà mà có thể được vãng sinh thì
tuy ở thời kỳ 24 nguyện cũng đã được biểu hiện, nhưng
ở đây, đề cao đạo tha lực dễ thành mà tiến đến điểm
duy chỉ nhờ "mười niệm tương tục" cũng có thể được
vãng sinh thì đó là một đặc trường của thuyết 48 Nguyện.
Nhất là bản dịch đời Ngụy, Nguyện 18 nói: “Dốc lòng
tín nhạo, muốn sinh sanh nước ta, cho đến mười niệm v.v…”
đã đề cao sự chuyên niệm chính là nhân để vãng sinh tịnh
độ. Nhưng sự phiên dịch này có đúng với nguyên điển
Phạm ngữ không? Về vấn đề này, giữa các học giả tuy
có những ý kiến bất đồng, nhưng bất luận thế nào đi
nữa cũng đều thừa nhận rằng nguyên điển Phạm ngữ và
các bản dịch đời Ngụy, Đường đều có đoạn “mười
niệm” cả. Do đó, cơ sở của Bản Nguyện tha lực, trong
Tịnh Độ giáo là rất trọng yếu. Nhưng cái chướng ngại
cho Bản Nguyện này là ở những điểm trừ những kẻ tạo
nghiệp Vô gián (chúng sinh phạm tội Ngũ nghịch) và những
kẻ phỉ báng Chánh pháp, vì đây là một sự hạn chế trong
sự vãng sinh. Mà điều này trong thuyết 24 Nguyện cũng như
thuyết 36 Nguyện đều không có, không những không có mà còn
như ngược lại nữa. Chẳng hạn, thuyết 24 Nguyện nói “Tuy
kiếp trước tạo nghiệp ác, nhưng nếu như kẻ tạo ác sám
hối niệm Phật cũng được vãng sinh” (bản dịch của Ca
Sấm Nguyện 19, bản dịch của Chi Khiêm Nguyện 5). Như vậy,
đứng trên lập trường thuần túy tha lực mà nói thì đây
là một khuyết điểm lớn của thuyết 48 Nguyện.
Sau
đây là những số nguyện của thuyết 48 Nguyện căn cứ theo
các bản dịch đời Ngụy và Đường; nhưng từ nguyện thứ
nhất đến thứ 25 tuy có khác nhau chút ít, nhưng trên đại
thể thì giống với 24 Nguyện trong kinh Bình Đẳng Giác, bởi
vậy ở đây tôi chỉ kể từ nguyện thứ 26 trở đi:
26.
Nguyện nhân dân trong nước đều có thân hình của Na-La-Diên.
(Thuyết 36 Nguyện, bản dịch của Pháp Hiền, đời Tống,
nguyện thứ 22).
27.
Nguyện cõi nước hình sắc rất trang nghiêm.
28.
Bất luận người nào cũng đều được thấy cây Bồ Đề
lớn.
29.
Nguyện nhân dân trong nước đều có bốn trí vô ngại, thuyết
pháp tự do (Ngô dịch 18, Tống dịch 23).
30.
Nguyện nhân dân trong nước đều có vô hạn trí tuệ và biện
tài.
31.
Nguyện cõi nước bằng phẳng trong ánh sáng như gương (Ngô
dịch 3, Tống dịch 25).
32.
Nguyện trong nước đầy dẫy hương thơm vi diệu (Tống dịch
24).
33.
Nguyện nhờ sức quang minh của Phật, thân tâm của dân chúng
khắp các quốc độ đều nhu hòa (Tống dịch 26).
34.
Nguyện nhờ nghe danh hiệu Phật, bất luận người nào cũng
được ly sinh và tổng trì.
35.
Nguyện nhờ nghe danh hiệu mà chuyển được thân nữ nhân
thành nam tử (Tống dịch 27).
36.
Nguyện nhờ nghe danh hiệu mà nhân dân tu tập phạm hạnh và
cuối cùng đều thành Phật (Tống dịch 28).
37.
Nguyện nghe danh hiệu, tu hạnh Bồ-Tát, tất cả đều kính
người, trời (Tống dịch 29).
38.
Nguyện y thực của nhân dân trong nước đều tự nhiên có
(Tống dịch 30).
39.
Nguyện những người sinh vào cõi nước của ta thân tâm thanh
tịnh và vui vẻ như những người giải thoát (Tống dịch
31).
40.
Nguyện nhân dân trong cõi nước ta, trong khi ngồi dưới hàng
cây báu, được thấy vô số Phật độ khác.
41.
Nguyện dân chúng trong nước tất cả đều đầy đủ các
căn.
42.
Nguyện chúng sinh ở các cõi khác, nghe danh hiệu ta được
Tam Muội Thiện phân biệt (Suvibhaktava-tisamadhi), thấy tất
cả chư Phật trong mười phương (Tống dịch 32).
43.
Nguyện chúng sinh ở các cõi khác, nghe danh hiệu của ta đều
được sinh vào những nhà tôn quý đời đời.
44.
Nguyện chúng sinh các cõi khác, nghe danh hiệu ta đều có thể
nỗ lực tu hành và hoan hỷ nhất trí (Tống dịch 33).
45.
Nguyện người nào nghe danh hiệu ta sẽ được Tam Muội Phổ
Chí (samantanugatasamadhi), chỉ trong khoảnh khắc có thể cúng
dường chư Phật ở mười phương (Tống dịch 34).
46.
Nguyện chúng sinh trong cõi nước ta đều tùy ý muốn được
nghe pháp (Tống dịch 34).
47.
Nguyện người nào nghe danh hiệu ta, bất luận ở cõi ta hay
cõi khác, đều được ngôi vị bất thoái chuyển (Tống dịch
36).
48.
Nguyện người nghe danh hiệu ta, đều được vô-thượng pháp-nhẫn,
đạt đến chân lý Tam Bảo (Tống dịch 36). (Xin xem kinh Phật
Thuyết Vô Lượng Thọ, bản Phạm ngữ của Nam Ðiều và các
bản Hán dịch, Ðại Tạng quyển 12).
Nhìn
vào số mục trên, ta thấy trong 48 Nguyện thì 24 Nguyện sau
đại khái đã phát triển từ thuyết 36 Nguyện, nhưng hơn
thuyết 36 Nguyện ở chỗ đề cao công đức trì niệm danh
hiệu của Phật để khuyến khích chúng sinh ở các cõi khác,
và nói rõ sự hoàn bị của Tịnh Ðộ về mặt văn hóa: đó
là đặc trường của thuyết 48 Nguyện.
Tóm
lại, đến thuyết 48 Nguyện, một mặt quyết định cơ sở
cho Bản Nguyện tha lực, đồng thời, mặt khác triệt để
nổ lực vào việc lý tưởng hóa Tịnh Ðộ. Hơn nữa, đối
với chúng sinh ở các cõi khác nói rõ công đức trì niệm
danh hiệu Phật: đó là đặc chất lớn của thuyết này. Cũng
vì thế mà, trên văn hiến, thuyết 48 Nguyện này đã chiếm
địa vị tối thượng trong các thuyết Bản Nguyện. Về sau,
tuy có đề xướng thuyết 500 Nguyện của Thích-Ca, song cuối
cùng cũng vẫn không địch lại được thế lực của thuyết
48 Nguyện.
Xem
Tiếp Trang 2