CHƯƠNG
THỨ BA.
CHỦ
NGHĨA TƯ LỰC VÀ CHỦ NGHĨA THA LỰC
TIẾT
THỨ NHẤT:
TỰ
LỰC VÀ THA LỰC CỦA NGỌAI GIÁO.
Sự
an tâm lập mệnh của chúng ta là do chính chúng ta nỗ lực
mà đạt được hay do một cái gì ngoài chúng ta mà có? Về
mặt tín ngưỡng tôn giáo, đây là một vấn đề rất lớn
lao. Nếu nhìn qua các tôn giáo lớn trên thế giới, ta thấy
như Cơ Ðốc Giáo, Hồi giáo và Bà-la-môn giáo, đại để
xây dựng trên cơ sở chủ nghĩa tha lực; còn như phật giáo
(đặc biệt là phật giáo nguyên thủy), kỳ na giáo (Jainism)....đại
để xây dựng trên cơ sở chủ nghĩa tự lực.
Song,
thật ra đây chỉ là sự quan sát đại thể mà thôi. Nếu
nói một cách chặt chẽ thì tự lực, tha lực, về mặt đối
tượng của tín ngưỡng, chưa hẳn là vấn đề nhất trí
với sự lập nhân cách khách thể hoặc không lập nhân cách
khách thể. Căn cứ theo lịch sử tôn giáo cho biết thì : Trong
những tôn giáo lấy tín ngưỡng lý trí làm chủ có cả phần
tự lực lẫn tha lực; đồng thời, trong những tôn giáo ấy
tín ngưỡng tình cảm làm chủ cũng lại bao gồm cả hai chủ
nghĩa đó .Như vậy rất khó mà quyết định một cách nhất
khái được.
Bây
giờ ta thử quan sát vấn đề này như sau :
Tín
ngưỡng của Cơ Ðốc Giáo, như trên đã nói, đại để là
chủ nghĩa tha lực: sự cầu Nguyện của Gia Tô không phải
để đạt đến ý chí của chính ngài : đó là chỗ lập cước
của Gia Tô .Song đến thời kì thần học được giải thích
thì vấn đề này không thể không đề cập đến. Quan niệm
cho rằng sự cứu rỗi là hoàn toàn nhờ vào ân huệ của
Thượng đế chứ con người không thể tự lực đạt đến
được, đó là một phương diện . Ở một phương diện khác,
đồng thời, cũng lại phát sinh một quan niệm cho rằng phải
nhờ vào sự nổ lực của chính mình mới có thể được
hưởng ân huệ của Thượng đế . Dĩ nhiên. Ở vào thời
kì đầu của nền thần học các học giả chưa có một quan
niệm nhất định về vấn đề này.
Hiện
giờ phái Thần học chính thống điều hòa cả hai truyền
thuyết trên, chủ trương do tự lực và ân huệ mà được
cứu rỗi để thành lập thuyết gọi là thần nhân hiệp dồng
luận (Synergisme). Nhưng mà đạt đến điểm đó thật đã
tốn nhiều công trình tư lự . Một điều đặc biệt thú
vị là giữa các phái Lạt-Ma-Nô-Ca (thành lập vào thế kỉ
sau Tây lịch) tại Nam, Bắc Ấn Ðộ cũng đã có những cuộc
tranh luận tương tự như những thuyết trên đây. Dĩ nhiên,
tuy cùng mong cầu ân sủng tối cao của thần Tỳ-Nữu-Noa (Vis-nu)
nhưng về điều kiện được cứu rỗi thì lại có sự tranh
luận về tự lực và tha lực bất đồng . Phái Nam-Phương
(tengaila) chủ trương: Thượng Ðế cứu rỗi người ta cũng
giống như mèo mẹ đối với mèo con vậy , nghĩa là mèo con
không cần phải cố gắng uổng công mà mèo mẹ vẫn cứ tha
chúng đi bất cứ chổ nào mà nó cho là an toàn đề giữ gìn
nuôi nấng . Cũng thế, con người không cần phải cố gắng
mà thượng Ðế vẫn cứu rỗi như thường. Do đó mà người
ta mệnh danh cho phái này là phái Miêu-Thuyết (MarjaraNyaya _
Thuyết con mèo). Còn phái Bắc phương (Vadagala) thì lại chủ
trương : Thượng đế tuy vì lòng bác ái mà cứu rỗi con người
cũng cần phải nổ lực một chút mới mong được ân huệ
cứu rỗi , cũng giống như con vượn con ôm lấy bụng vượn
mẹ mà được che chở hay di chuyển đến chổ an toàn. Do đó
mà ngươi ta mệnh danh cho phái này là phái Viên Thuyết (Mar
kata Nyaya_ Thuyết con vượn ). Như vậy Miêu thuyết chủ trương
tha lực chủ nghĩa đối vô điều kiện, còn Viên thuyết lại
chủ trương chủ nghĩa tha lực có điều kiện tự lực để
tạo thành một chủ thuyết mà hiển nhiên là tương tự như
thuyết Thần-nhân hiệp đồng (Synergisme) của Cơ Đốc giáo
vậy: Có thể nói đây là điểm rất thú vị .
TIẾT
THỨ HAI:
SỰ
TRIỂN KHAI CỦA THUYẾT TỰ LỰC VÀ THA LỰC TRONG PHẬT GIÁO.
Ðứng
trên lập trường tự lực chủ nghĩa mà nhận xét vấn đề
này, ta thấy Phập Giáo Nguyên thủy dĩ nhiên đã không dựng
lên một vị Nhân-Cách-Thần nào, mà trên đại thể, đã hoàn
toàn là tự lực chủ nghĩa. Ðến thời đại Bộ-phái, cũng
có phái chủ trương theo đúng lời Phật dạy "Tự mình thấp
đuốc lên mà đi" và lấy đó làm phương châm tu dưỡng. Nhưng
đến điểm ngộ nhập thì trong đó lại phát sinh ra chủ trương
tha lực, nghĩa là do người khác mà ngộ nhập Thánh-đạo.
Vì nảy sinh ra tư tưởng đó (chủ trương của Ðại-chúng-bộ)
cho nên trong nội bộ giáo hội cũng lại phát sinh ra những
mối tranh luận, đây là sự thật hiển nhiên trong thời kỳ
đầu của lịch sử giáo hội. Về điểm này, đặc biệt
thú vị là sự bất đồng giữa phái Du-Già (Yoga) và phái
Số Luận (Samkhya). Phái Số Luận muốn do tự lực quan sát
để đạt đến cảnh giới giải thoát an vui, trái lại Du
Già phái lập nên một đấng thần linh để mong cầu sức
phù trì gia hộ và coi đó là phương tiện để đạt đến
mục đích giải thoát.
Xem
hai chủ trương trên đây ta có thể nhận thấy sự đối lập
giữa tự lực và tha lực chủ nghĩa. Nếu đem vấn đề này
mà khai triển thêm thì dĩ nhiên ta không thể không đề cập
đến Ðại Thừa Phật Giáo. Cái gọi là sự hơn, kém giữa
Tự-lực-thánh-đạo-môn và Tha-lực-tịnh-độ môn trong tín
ngưỡng Phật Giáo, trong một truờng hợp nào đó, chính là
vấn đề đã được bàn luận một cách sội nổi. Một đặc
trưng của giáo lý Ðại Thừa là: một mặt thừa nhận Phật
tính của ta, mặt khác lấy chủ thể từ bi cứu độ để
khai triển tư tưởng Phật thân thường trụ, cho nên vấn
đề tự lực và tha lực tự nhiên đã sinh khởi.
Thế
là những người chủ trương tự lực chủ nghĩa thì cho rằng
đức Phật tuy cũng cứu độ, nhưng điều đó chỉ có nghĩa
như một nguời chỉ đường mà thôi, chứ thật sự việc
giải thoát là phải do chính mình nỗ lực tự tạo lấy bằng
cách mở mang trí tuệ và phát triển Phật tính: còn những
người chủ trương tha lực chủ nghĩa thì lại cho rằng nhệm
vụ của Phật là dùng lòng từ bi vô điều kiện để cứu
độ hết thảy chúng sinh, nhất là trường hợp Phật Di-Ðà,
vì đã phát nguyện nếu chưa độ hết chúng sinh thì không
thành Phật, cho nên, để giữ lời nguyện ước đó, Ngài
không đợi chúng ta phải cầu khẩn hay cố gắng, theo phương
diện tương đối mà đến cứu độ. Và theo chủ trương đó,
nhiều sự phê phán về phương diện hơn kém trong việc được
cứu độ đã được thiết lập. Nếu lấy các tông phái Phật
Giáo tại Nhật Bản hiện giờ mà nói Tịnh Ðộ Tông, Chân
Tông thuộc về tha lực tịnh độ môn; còn tất cả các tông
phái khác thuộc về Tự lực thánh đạo môn. Nhưng sự đối
lập rõ rệt nhất là Chân Tông và Thiền Tông, Chân Tông quy
tất cả về bản nguyện của Phật Di Ðà, không thừa nhận
một chút tự lực nào; còn Thiền Tông, trái lại vì chủ
trương "trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật " cho nên
quy tất cả cho tự lực: cả hai đều rất triệt để.
Mục
đích của tôi ở đây không phải trình bày lịch sử của
chủ nghĩa tự lực và tha lực, cho nên vấn đề phê phán
sự thực cũng như sự hơn kém của nó xin miễn không bàn
tới. Khi nêu ra vấn đề này, tôi chỉ muốn phát hiện sự
điều hòa giữa hai chủ nghĩa đó thôi. Và theo chổ tôi hiểu
thì về ý thức tôn giáo, cái gọi là tự lực tha lực chẳng
qua là sự bất đồng trên văn từ hoặc khái niệm, chứ về
bản chất thật ra không có sự khu biệt nào cả. Trong tự
bao hàm cả tha và ngược lại trong tha bao gồm cả tự, nhưng
chỉ vì quá câu nệ về danh tướng nên chia có tự có tha.
Bây giờ nếu ta muốn tìm hiểu cái bản chất của hai chủ
nghĩa thì ít ra ta phải gạt bỏ mọi thiên kiến tông phái;
đó là mục đích của tôi khi nêu lên vấn đề này để bàn
luận.
TIẾT
THỨ BA:
BẢN
CHẤT HỌAT ÐỘNG CỦA SINH MỆNH.
Muốn
hiểu rõ bản chất của chủ nghĩa tự lực và chủ nghĩa
tha lực, trước hết ta cần phải hiểu tự thể của ý thức
tôn giáo như thế nào. Song, muốn thuyết minh tự thể của
ý thức tôn giáo, ta cần phải hiểu cái bản chất hoạt động
của sinh mệnh trước đã.
Ở
đây ta hãy tạm gác vấn đề vũ trụ luận. Bản chất của
sinh vật là ở ý chí muốn sống còn: đó là quan điểm của
Phật và Schopenhauer. Song, cái ý chí muốn sống còn đó là
cái tự thể vô minh; nói theo Schopenhauer thì đó là cái ý
manh mục. Tuy nhiên, nó có thể hoạt động đầy đủ theo
ba khuynh hướng. Nói theo Phật, con người lấy sinh tồn dục
làm trung tâm mà hướng đến việc khoáng trương ái dục và
danh lợi dục. Ðó chính là biểu hiện bản năng thực dục
(bảo tồn chính mình ), tính dục (bảo tồn chủng tộc), du
hý dục (tự do). Tất cả mọi sinh vật, bất luận là hữu
thức hay vô thức, đều hoạt động theo ba cái dục căn bản
đó.
Vậy
ý thức tôn giáo có địa vị và ý nghĩa gì đối với hoạt
động sinh động? Hoạt động sinh mệnh tự thể tuy là manh
mục (mù quáng), nhưng vì luôn luôn có khuynh hướng khai triển
nên mới phát sinh ra những hoạt động tâm lý. Ðức Phật
nói do hành (ý chí) mà sinh thức, Schopenhauer nói do ý chí mà
có biểu tượng chính là cái đó. Như vậy là do hoạt động
sinh mệnh mà tiến triển đến hoạt động tâm lý, rồi phát
đạt mà thành lý tính trong đó con người tự sinh khởi ý
thức. Sự dục động của ta, xét về mặt biểu hiện, chẳng
qua là để thỏa mãn yêu cầu khát dục; nhưng một khi tìm
đến ý nghĩa tiềm tàng tại nội bộ, thì sự dục động
đó lấy việc duy trì, kế tục và tự do khoáng đại sinh
mệnh làm mục tiêu mà tiến triển. Dĩ nhiên, không phải tất
cả mọi người đều tự ý thức được nghĩa đó, nhưng
mặc dầu vô ý thức, tất cả mọi người đều lấy đó
mà mục đích trực tiếp hoặc gián tiếp mà hành động: đó
là một sự thật hiển nhiên. Mà sự duy trì, kế tục, khoáng
đại tự do đó cuối cùng tiến tới vô hạn. Do đó con người
mới lấy vô hạn làm mục đích để tư duy và hành động:
và căn cứ vào đó mà con người hữu hạn đã có những yêu
cầu vô hạn.
Ta
hãy tạm gọi đó là yêu cầu "cầu sinh mệnh vô hạn" hoặc
là "sinh mệnh tuyệt đối" Đương nhiên nếu nói theo tâm lý
học thì yêu cầu đó là yêu cầu kéo dài cuộc sống hiện
thực. Còn về phương diện tôn giáo, ta có thể nói yêu cầu
đạt đến sinh mệnh tuyệt đối.
TIẾT
THỨ TƯ :
YÊU
CẦU VÔ HẠN SINH MỆNH VỚI Ý THỨC TÔN GIÁO.
Một
khi đã ý thức đến yêu cầu đó thì yêu cầu ý chí của
chúng ta do đó cũng gồm có hai đặc tính: nghĩa là một xây
dựng trên cơ sở dục động mà thực hiện khuynh hướng tìm
cầu sự khoái lạc; còn một thì lại mong cầu một sự sống
lý tưởng tuyệt đối. Mà hai yêu cầu đó tuy là hai khía
cạnh ngoại diện và nội diện của chính sự sống, nhưng
khi nghiên cứu nó thì tựa hồ nó lại biểu hiện một cách
tuyệt đối không dung hợp nhau. Một là yêu cầu cấp thiết,
còn một lại là toàn nhất, do đó yêu cầu trước có tính
cách cá thể, còn yêu cầu sau có tính cách phổ biến; cái
trước là vật chất, cái sau là tinh thần; cái trước là
yêu cầu bất tuyệt mà không thỏa mãn, cái sau là lý tưởng
tuyệt đối thỏa mãn ; cái trước là tạm bợ, cái sau là
vĩnh cửu.Vậy hai yêu cầu này là một hay khác nhau ? Diểm
này, khi nói đến sự không dung hòa thì nó nghiễm nhiên trở
thành đối lập.
Nếu
khảo sát những hoạt động của sinh mệnh một cách toàn
thể thì tất lại phải tiến đến vấn đề ý thức tôn
giáo. Trong sự thành lập của các tôn giáo tuy có nhiều loại
và trình độ khác nhau, nhưng nếu đứng về phương diện
yêu cầu mà nói, thì bất luận tôn giáo nào cũng không ngoài
việc lấy yêu cầu sinh mệng tuyệt đối trên đây làm nội
chứng để thực hiện yêu cầu của mình, tức là yêu cầu
sinh mệnh vô hạn lấy liên tục, tự do và sáng suốt làm
sáng suốt làm thuộc tính. Mà lòng yều cầu đó tức là tâm
tôn giáo hoặc gọi là tâm Bồ Ðề. Kết hợp tự giác với
lòng từ bi cứu thế mà hoạt động trong trạng thái giải
thoát. Lấy một vị Thượng Ðế toàn trí, toàn năng của
Cơ Ðốc làm thuộc tính, lấy đức Phật Di Ðà vô lượng
quang, vô lượng thọ làm thuộc tính, lấy Phật Thích-Ca thường
ở trên núi Linh Thứu làm thuộc tính đều là những chủ
trương muốn thích ứng yêu cầu sinh mệnh tuyệt đối vậy.
Nhất là trong Phật Giáo tuy cũng có phái lấy Niết-Bàn không
tịch làm lý tưởng, nhưng Niết-Bàn không tịch đó chẳng
qua cũng chỉ là sự biểu hiện khía cạnh khác của sinh mệnh
tuyệt đối mà thôi.
Như
vậy, tất cả các tôn giáo, mặc dầu khác nhau về trình độ
nhưng bất luận dưới hình thái nào, trong thâm tâm ít ra cũng
có thể nói rằng đều lấy sinh mệnh vô hạn làm mục tiêu
và lấy sự thực hiện sinh mệnh đó làm bản chất.
TIẾT
THỨ NĂM:
SỰ
THỰC HIỆN SINH MỆNH VÔ HẠN VỚI THUYẾT TỰ LỰC VÀ THA LỰC.
Như
vậy các phương pháp để thực hiện sinh mệnh tuyệt đối
đó như thế nào? Đây mới chính là vấn đề then chốt, một
vấn đề trung tâm có mối quan hệ đến chủ nghĩa tự lực
và chủ nghĩa tha lực.
Nhìn
qua lịch sử tôn giáo, từ xưa đến nay, những phương pháp
được các tôn giáo áp dụng tuy rất nhiều, nhưng nếu căn
cứ theo ý thức ntôn giáo vừa nói trên mà phân loại, thì
đại khái có hai phương pháp hoàn toàn khác nhau: một chuyên
lấy việc ức chế sinh mệnh hiện thực làm tôn chỉ, và
một chuyên lấy việc trong đợi sự hoạt diệu của chính
sinh mệnh tuyệt đối làm tôn chỉ.
Ðứng
về mặt phương pháp lấy ức chế sinh mệnh hiện thực mà
nói thì chúng ta tuy có yêu cầu sinh mệnh vô hạn, nhưng sở
dĩ không thực hiện được là vì chúng quá lệ thuộc vào
những sinh hoạt hiện thực, bị vật dục trói buộc, không
thể vươn lên lý tưởng sinh mệnh tuyệt đối được. Bởi
thế, nếu muốn thực hiện được sinh mệnh tuyệt đối,
cần phải vượt lên trên sinh hoạt hiện thực thì phải ức
chế những dục vọng bản năng, nhất là ngã chấp, ngã dục.
Ức chế được ngã chấp, ngã dục thì sinh mệnh tuyệt đối
tự nó sẽ biểu hiện, vì con người lúc đó đã tự giác,
đã được giải thoát. Mà sự ức chế ngã-chấp, ngã-dục
đáo để phải nhờ vào nổ lực bản thân, phải có một
tinh thần phấn đấu mạnh mẽ và bất tuyệt.
Đứng
về mặt phương pháp chuyên trông đợi ở sự hoạt diệu
của sinh mệnh tuyệt đối mà nói thì cái ta nhỏ bé này dù
có cố gắng mấy đi nữa cũng chỉ là cái sức nhỏ nhoi,
yếu ớt, không thể tự lực vươn lên đến sinh mệnh tuyệt
đối được, cũng như người ta đứng lơ lửng giữa không
trung được. Con người muốn thực hiện sinh mệnh tuyệt đối
cần phải nhờ một sức thiêng liêng ở ngoài cái ta bé nhỏ
hẹp hòi này. Vì trông đợi ở một đấng từ bi bác ái cứu
thế ấy, nên mới dốc lòng cầu nguyện, mong đem cái tâm
kiền thành cầu sự cứu rỗi giải thoát ở sức thiêng liêng
đó, chứ không tin ở nổ lực bản thân. Ðó là lập trường
của những người chủ trương tha-lực chủ nghĩa, nghĩa là
chủ trương cho rằng sinh mệnh tuyệt đối chỉ có thể tìm
ở ngoài bản thân.
Như
vậy ta thấy về phương pháp thực hiện sinh mệnh tuyệt đối
giữa các tôn giáo hoặc tông phái rõ rằng những quan điểm
hoàn toàn bất đồng, mà chung quy cũng liên quan đến hai chủ
trương căn bản là Tự-lực chủ nghĩa và Tha-lực chủ nghĩa.
TIẾT
THỨ SÁU :
SỰ
QUAN HỆ GIỮA TỰ LỰC VÀ THA LỰC.
Tiến
một bước nữa mà khảo sát thì sự tương quan giữa hai chủ
nghĩa trên như thế nào? Và con đường điều hòa giữa hai
chủ nghĩa ấy ra sao? Nếu nói một cách tương đối, tuy có
những khuynh hướng tự lực, tha lực khác nhau, nhưng lập
trường của đa số tôn giáo tựa hồ cũng muốn điều hòa
giữa hai chủ nghĩa này. Nghĩa một mặt do chủ nghĩa ức chế
ngã chấp, ngã dục, mặt khác, trông mong một tha lực tuyệt
đối từ bi cứu tế của một vị Phật hoặc một vị thần
thiêng liêng làm chỗ an tâm lập mệnh. Nhìn vào hình thức
hành đạo của tất cả các tôn giáo ta đều thấy hiện tượng
đó. Ở đây tôi muốn tìm ra mối quan hệ cũng như sự điều
hòa giữa hai chủ nghĩa và thử xem có hay không có cái khả
năng tính thống nhất.
Như
trên kia tôi đã nói qua, đối với vấn đề này, nếu chỉ
nhận xét qua hình thức, thì giữa hai chủ nghĩa tuy có điểm
tuyệt đối bất đồng, nhưng nếu nói theo kinh nghiệm thuần
túy tôn giáo thì nó lại có điểm tuơng dung: có thể nói
chẳng qua cùng một kinh nghiệm mà phiên dịch thành những
biểu tượng khác nhau mà thôi.
Trước
hết hãy đề cập đến chủ nghĩa tuyệt đối tự lực. Lập
trường của Phật Giáo Nguyên thủy và Thiền -Tôn là: không
ỷ lại vào Trời, không ỷ lại vào Thần, duy chỉ nhờ vào
sự khắc phục lấy mình mà triệt để đại ngộ: đó là
phương châm tu dưỡng của chủ nghĩa Tự-Lực. Tuy nhiên, khi
đạt đến giai đoạn chứng ngộ lại không thể không nhờ
một thứ tha lực. Tại sao vậy? Vì phương pháp hành đạo
để đạt đến chứng ngộ tuy có thể do ý chí của hành-giả
quy định, nhưng cái đương thể của sự chứng ngộ thì cuối
cùng lại phải tùy thuộc vào cái gọi là "thời tiết nhân
duyên ". Nghĩa là dù cho hành giả có tự nổ lực đến đâu
đi nữa mà thời tiết nhân duyên chưa đến thì vẫn chưa
có thể chứng ngộ được. Sự chứng ngộ ở đây có nghĩa
là thực hiện sự giải thoát, mà giải thoát lại là trạng
thái bộc phát bất thần, cho nên, đứng về phương diện
của người tu hành mà nói, ta có thể cho đó là một
loại "Thiên-khải". Ðức Phật phải mất sáu năm mới thành
Chính-Giác; A Nan đã gần gũi Phật hai mươi lăm năm sau khi
Phật nhập diệt mới khai ngộ. Sự bộc phát bất thần: tức
là "hốt nhiên đại ngộ"; thật sự đã xãy ra trong mọi trường
hợp chứng ngộ, đặc biệt ta thấy trong các truyện ký về
ngộ đạo tại Trung Quốc và Nhật Bản điểm này rất rõ
ràng. Tuy có phân chia Nam đốn, BẮc tiệm khác nhau, nhưng đến
sự chứng ngộ thì được như một sự kiện "Thiên khải
" siêu việt hẳn sự tư lự và phân biệt. Dĩ nhiên sự "hốt
nhiên đại ngộ" đó, trên đại thể, tuy là do kết quả do
công khu tu luyện, nhưng cái đó chưa hẳn là điều kiện duy
nhất, mà yếu tố "cơ hội bất khả tư nghị" ( thời tiết
nhân duyên) cũng đóng một vai trò quan trọng. Ðiểm này rất
tương tự với cái gọi là Dự định luận của tính ngưỡng
tha lực, nghĩa là sự cứu tế đến mau hay chậm là tùy thuộc
ở ý chí của đấng Thiêng liêng tuyệt đối. "Hữu cầu tất
ứng, hữu cảm tất thông" tuy là chủ nghĩa tha lực của Gia
Tô Giáo, thế nhưng ngay đến chủ nghĩa tư lực của Thiền
Tôn cái quan hệ" hữu cầu tất ứng, hữu cảm tất thông"
đó cũng được biểu hiện trong câu "Thối, chác đồng thời
", nghĩa là (theo truyền thuyết), cái trứng sắp đến lúc
nở. Con chim con ở trong động đậy thì ngay lúc đó chim mẹ
ở ngoài mổ vỏ trứng để cho chim con ra. Cái cảnh giới
chứng ngộ cũng vậy, do nỗ lực của hành giả cùng với
thời tiết nhân duyên trong ngoài nhất trí mới ngộ đạt
được. Theo một ý nghĩa sâu xa mà nói thì chủ nghĩa tự
lực chung cùng cũng phải nhất trí tha lực, bởi vì cảnh
giải thoát tuy có thể tìm cầu ngay trong chính mình, nhưng
nếu siêu việt cái tự kỷ nhỏ bé thì lại tưởng đến
một cái gì ở ngoài mình.
Bây
giờ bước sang chủ nghĩa tha lực. Trung tâm của chủ nghĩa
này là khước từ ý chí tự kỷ hoàn toàn và tuyệt đối
trông cậy ở một đấng thiêng liêng tối cao. Nhưng nếu muốn
có được đức tin ấy, trước hết không thể bỏ qua cái
tác dụng của tự lực. Vì lòng khẩn cầu nhờ vào tha lực
để đạt đến tuyệt đối, nhưng nếu không xả ly ngả chấp,
ngã dục thì quyết không thể hướng đến tuyệt đối được.
Mà xả ly ngã chấp, ngã dục tức là đã phải nhờ vào tự
lực rồi. Chẳng hạn, tin tưởng niệm Phật, nhờ nguyện
lực của Phật để được giải thoát, nhưng nếu không cùng
một lúc tinh tiến diệt bỏ tham, sân, si thì chí nguyện không
thể thành. Duy có điểm bất đồng giữa chủ nghĩa tự lực
cho sự diệt trừ ngã chấp, ngã dục là nơi ý chí của chính
mình, còn chủ nghĩa tha lực thì lại cho là do hơi tha lực
giúp đỡ. Nhưng bất luận là giải thích theo cách nào đi
nữa người ta cũng đều lấy ý chí xả ly ngã-chấp, ngã
dục làm điều kiện tất yếu để được cứu rỗi hay chứng
ngộ: có thể nói, trên thực chất điểm này hoàn toàn giống
nhau.
Như
vậy, nhận xét theo hai phương diện, nghĩa là trong tự lực
bao hàm cái lý tha lực, và trong tha lực cũng bao hàm cái lý
tha tự lực, ta thấy tự hay tha chẳng qua chí bất đồng trên
quan điểm mà thôi. Hơn nữa, nếu nhìn vào tự thể ý thức
tôn giáo thì cái cảnh giới đạt đến có thể nói là tâm
thái đồng nhất. Lập trường của các phái tuy có chỗ khác
nhau, nhưng giữa các bậc Thánh nhân, nếu ta quan sát một cách
tường tận, ta sẽ thấy có nhiều điểm nhất trí khiến
ta phải ngạc nhiên: đó là một sự thật. Cái gọi là Di-Ðà
là Thiên-Ðế, là tâm tính, chẳng qua chỉ là sự phiên dịch
thành biểu tưởng và danh từ khác nhau của yêu cầu sinh mệnh
tuyệt đối mà người ta muốn thể hiện bằng sự tự giác
cái đương thể đó mà thôi.
TIẾT
THỨ BẢY:
PHƯƠNG
PHÁP ÐIỀU HÒA GIỮA TỰ LỰC VÀ THA LỰC.
Căn
cứ vào những sự khảo sát trên để tiến đến tinh thần
biểu tượng và thực hành, ta thấy có cách nào để điều
hòa hai chủ nghĩa tự lực và tha lực không? Nói cách khác,
dựa vào giáo lý nào để duy trì cái ý thức thuần túy trên
đây? Và muốn thực hiện nó phải làm thế nào? Ðó là những
vấn đề không thể không bàn đến.
Trước
hết hãy nói về phương diện giáo lý. Sự giáo lý hóa ý
thức tôn giáo tuy có nhiều giai đoạn khác nhau nhưng theo A.Drew,
có thể chia nó thành ba giai đoạn. Thứ nhất, trực quán cảm
giác (Diesinnlieh Anshauung); thứ hai, biểu tượng (Die Vorstellung);
và thứ ba, lý niệm (Die Idee).
1)
Trực quán cảm giác là cái gọi là Ða Thuần Giáo, ngoài tự
kỷ ra lập nên nhiều Thần.
2)
Biểu tượng là Nhất Thần giáo chủ trương Nhị-nguyên luận,
cho Thần là thống nhất và duy nhất, nhưng lại cho thế giới
và sinh vật tồn tại ngoài Thần.
3)
Lý niệm, A.Drew còn gọi nó là Nhất Nguyên luận cụ thể
(Der konkrete Monismus), tuy cho Thần ở ngay trong tự kỷ, nhưng
lại chủ trương ý thức cá nhân tồn tại ngoài Thần: có
thể nói đây là một loại khảo sát Phiếm Thần luận (Arthur
Drews, Dre Religion als Selbstbewusstsein des Gottes, pp. 163 _184).
Vậy
trong những thuyết trên đây, thuyết nào thích hợp với sự
chỉ dương thống hợp giữa hai chủ nghĩa tự và tha lực?
Ðương nhiên là thuyết Lý niệm thứ ba thích hợp hơn cả.
Tại sao? Vì Ða-thần trong cái gọi là đối tượng tạp tu
tạp hành tuy là thích hợp, nhưng nếu theo đó mà thống hợp
triệt để chủ nghĩa tự lực và tha lực thì rất khó, cho
nên nó không thích hợp. Còn Nhất Thần Giáo siêu việt tuy
cũng thích hợp để sinh khởi và duy trì chủ nghĩa tự lực,
nhưng thống hợp cả hai thì nó lại không thích đáng. Ðến
tôn giáo lý niệm thì đặc biệt, trên tính chất, kiêm cả
hai chủ nghĩa nên có thể đứng trên tư cách đó để thống
hợp điều hòa. Trong Ðại Thừa Phật Giáo, như triết học
Khởi-Tín-Luận chính là đứng trên lập trường này để
phê phán và thống hợp hai chủ nghĩa đó. Nghĩa là lấy tâm
Chân-như (lý niệm thể) để thuyết minh quá trình thực hiện
tự kỷ. Một mặt khác lại nói dùng các pháp thanh tịnh để
huân tập tự thể Chân-như, tiêu diệt tác dụng mê tình:
đó là phương pháp nhằm chỉ dương hai chủ nghĩa, mà lập
công. Chính trong Áo Nghĩa Thư ta cũng thấy ý tứ phảng phất
giống như lập trường tôn giáo lý niệm này. Cái chân ngã
dù có nhờ Phệ Ðà, nhờ năng lực lý giải, hay nhờ học
nhiều đi nữa cũng không thể có được, mà duy chỉ nhờ
chính cái chân ngã đó quyết định mới được. Nghĩa là,
cái đương thể của chân ngã không phải nhờ ở sự tạp
tu tạp hành mà có được, duy chỉ nhờ ở sự hoạt động
thiên khải của chính chân nhã đó, trên đại thể tuy là
chủ nghĩa tự lực, nhưng trong đó vẫn phảng phất cái ý
tứ tha lực mà không mâu thuẫn , cho nên ta có thể cho đó
là phương pháp ngụ ý tổng hợp hai chủ nghĩa. Sau này đến
phái Vedanta, cái tư tưởng đó của Áo Nghĩa Thư lại càng
trở nên rõ rệt.
Cứ
theo hai thí dụ trên đây, ta thấy tôn giáo lý niệm là tổ
chức giáo lý duy nhất phù hợp với sự thống nhất hai chủ
nghĩa, không những thế nó còn là hình thức thể hiện gần
đúng với tự thể của tôn giáo nữa. Cái lý do tại sao tôn
giáo lý niệm được coi là cao siêu nhất trong các tôn giáo
chính là ở điểm này. Song, nếu đặt nó thành vấn đề
lý luận mà khảo sát cho thật khúc chiết, để giải quyết
mọi vấn đề tiềm tàng trong đó, thì không thể nói một
cách đơn giản được vì đây là một vấn đề vô cùng trọng
đại, bởi thế chỉ xin trình bày những chỗ đại thể mà
thôi.
Sau
nữa, phải có thái độ hay tâm địa nào để thích ứng với
tôn giáo lý niệm đó mà thực hiện nó trong cuộc sống thực
tế? Về vấn đề này, nếu nói một cách đơn giản thì:
đặc trường của chủ nghĩa tự lực ở chỗ nỗ lực; đặc
trường của chủ nghĩa tha lực là ở sự an vật. Như vậy,
cái phương pháp điều hòa hai chủ nghĩa để thống nhất
nó trong cuộc sống thực tế, tóm lại, là ở nơi sự cố
gắng liên tục không ngừng. Mà hễ thấu hiểu được tôn
giáo lý niệm một cách triệt để thì tự nhiên cái thái
độ hay tâm cảnh cũng xuất hiện, Vì nói theo tôn giáo lý
niệm, tuyệt đối vì bản chất của ta và của thế giới,
cho nên tuy chúng ta đã có thể bảo chứng được thân phận
an trụ tuyệt đối, nhưng cái hiện được cái đương thể
đó một cách như thực. Bởi thế, cần phải có sự nỗ lực
liên tục, bất tuyệt trong công cuộc thực tu. Ðây tuy là
một thí dụ cổ xưa, nhưng, lấy lý niệm làm bối cảnh,
thái độ của chúng ta đối với cuộc sống thực không thể
không liên tục mài dũa viên bảo châu, Mài gạch thành gương
tuy là một công việc làm uổng công, nhưng mài ngọc để
làm cho có ánh sáng là việc làm có hy vọng thành công. Cho
nên, nỗ lực, hy vọng và hoan hỷ phải được thống hợp
trong việc thực hành để thể hiện cái khả năng tính duyệt
đối. Cái thái độ thực tế lấy tín ngưỡng lý niệm làm
bối cảnh cũng thế. Nói một cách dễ hiểu hơn, được cổ
vũ bởi lý tưởng vĩnh viễn, hành giả vui vẽ hăng hái tiến
tới mục tiêu, tự lực cũng được mà tha lực cũng được,
tất cả đều được thống hợp,