CHƯƠNG
THỨ HAI
QUAN
NIỆM VỀ NGHIỆP CỦA PHẬT GIÁO VỚI TỰ DO Ý CHÍ
TIẾT
THỨ NHẤT:
PHẠM
VI CỦA VẤN ÐỀ.
Trong
khi trình bày tư tưởng của Phật Giáo Nguyên thủy, tôi đã
cố gắng hết sức để nghiên cứu vấn đề này một cách
rõ ràng về mặt lý luận mong đạt đến một kết luận thỏa
mãn. Tựu trung, về vấn đề nghiệp, tôi đã đứng về phương
diện tâm lý và luận lý mà nhận xét để nói đến nhiều
vấn đề khác tiềm tàng trong đó; và cái kết quả của sự
khảo sát đó, tôi đã trình bày ở mục "Nghiệp và luân hồi"
trong cuốn "Nguyên thủy Phật Giáo Tư Tưởng luận", (thiên
thứ hai, chương thứ tư). Lúc đó tôi tưởng thế đã là
được rồi, nhưng giờ tôi tự cảm thấy vẫn chưa được
thỏa mãn. Khi cố gắng thuyết minh về luật nhân quả của
Nghiệp, tôi đã có ý kiến cho thuyết đó của Phật Giáo
tương tự như Cực Ðoan Quyết Ðịnh Luật (Deter minism) và
Tất Nhiên Luật (Necesssita-rianism). Dĩ nhiên là lập trường
của Phật không phải như thế. Vấn đề hiện tại nêu ra
là: làm thế nào để có thể điều hòa giữa luật nhân quả
của Nghiệp và ý chí tự do? Vì chưa đề cập đến lý luận
đó, cho nên không khỏi có chỗ còn khuyết điểm. Ðể bổ
cứu sự thiếu sót đó, tôi xin nêu ra ở đây dể giải thích,
hy vọng các bậc cao minh phê phán và bổ khuyết.
Muốn
nói đến vấn đề tự do ý chí trong Phật Giáo Nguyên thủy,
trước hết cầnn phải thuyết minh các vấn đề sinh mệnh
quan và tâm lý quan. Nhưng về những vấn đề này tôi đã
thảo luận một cách rất tường tận trong Nguyên thủy Phật
Giáo Tư Tưởng luận rồi. Cho nên ở đây, tôi chỉ xin đề
cập đến những điểm cần thiết mà thôi.
Theo
Phật thì hoạt động sinh mệnh của chúng ta lấy dục (tanha)
làm trung tâm, nghĩa là lấy hữu dục (bhava tabha) làm cái hạch
tâm rồi thành ái dục (kama tanha), phồn vinh dục (vibhava tanha)
làm hiện tượng sinh mệnh là hoạt động. Nhưng theo Phật
thì cái gọi là dục ấy về bản chất, vốn không phải là
sự xung động ý thức mà là vô thức. Cái gọi là vô minh
chẳng qua chỉ là cái tên gọi được thêm vào cho sự xung
động vô thức ấy mà thôi. Cái mà Schopenhauer gọi là "ý
chí mù quáng" chính là cái đó. Nhưng cái "ý chí mù quáng
vô minh" ấy, nếu nói là phát sinh thì có thể gồm những
yếu tố tâm lý như Sắc (cái tác dụng lấy vật chất hình
thành), Thụ (cảm tình), Tưởng (biểu tượng), Hành (ý chí)
và Thức (ngộ tính, lý tính). Tựu trung, thức là yếu tố
khai triển đầu tiên. Vô minh là ý chí sinh tồn, để đạt
đến mục đích sinh tồn đó, cần phải có một cơ quan chỉ
đạo, cho nên Thức là yếu tố phát sinh đầu tiên để làm
nhiệm vụ ấy. Thuyết "Biểu tượng phát sinh từ ý chí" của
Schopenhauer chính là cái đó.
Như
vậy, hoạt động sinh mệnh tuy đã biến thành hoạt động
tâm lý, nhưng theo Phật, trong sự hoạt động ấy không có
một vật cố định gì làm trung tâm để làm cho sinh mệnh
và tâm lý hoạt động cả. Hết thảy là một dòng nước
chảy liên tục, không một khắc nào ngừng ở một trạng
thái giống nhau. Nhưng theo Phật, cái nguyên tắc quán thông
làm cho những hoạt động đó liên tục, không gián đoạn,
là sự liên tục của kinh nghiệm. Nếu nói theo Phật thì:
những hoạt động của ta, bất luận là căn cứ vào thức
hay vô thức, đều ghi lại trong hoạt động tâm lý của ta
một tính cách, và cái tính cách đó sẽ là cái nhân tố quyết
định cho những hoạt động tới. Như vậy, từ hành động
tiến tới tính cách, do tính cách tiến tới hành động: đó
là hiện tượng của những hoạt động sinh mệnh hoặc tâm
lý. Á-Lý-Sĩ-Ða-Ðức (?) nói do hành động mà sinh tính cách,
còn Schopenhauer thì lại nói do tính cách mà có hành động.
Nhưng
Phật, vì thừa nhận kết quả của sự luân hồi vô hạn,
thì cho rằng cả hai phương diện trên đều đúng cả. Những
hoạt động ý chí của ta, tuy là một dòng nước luôn luôn
biến hóa, nhưng nếu có một cái gì nhất quán giữ cho ta
được đồng nhất, thì đó chính là cái tính liên tục trên
đây vậy. Cái được gọi là Nghiệp trong Phật Giáo thật
ra cũng là ám chỉ cái tính cách được khắc thêm bởi hành
động đó, và mối quan hệ nhất định giữa hành động và
tính cách, tính cách và hành động ấy được gọi là nhân
quả. Nói theo đức Phật thì cái quan hệ nhân quả đó biểu
hiện theo hai lớp: một về mặt hoạt động tâm lý và một
về mặt hưởng thụ họa phúc. Nói một cách rõ ràng hơn
thì người tạo nghiệp thiện một mặt làm cho mình trở thành
người tốt, mặt khác chính mình cảm thấy là người có
hạnh phúc; còn người làm việc ác thì kết quả trái ngược
hẳn với điều trên đây. Mà chính nhữnh điều thiện, ác,
họa, phúc đó là lý do khiến cho nhân loại trỏ thành thiên
sai vạn biệt (xin xem Nguyên thủy Phật Giáo Tư Tưởng luận,
thiên thứ hai, chương thứ tư, mục Nghiệp và Luân Hồi).
Khảo
sát như thế, ta thấy kiếp này chúng ta mỗi người có một
vận mệnh khác nhau, tuy do ở sự hoạt động của tâm lý,
nhưng thật thì hết thảy đều do cái nghiệp lực từ bao
nhiêu kiếp trước mà Phật gọi là vô-thủy kiếp nó xui như
thế. Như vậy, có thể nói tất cả đều tùy theo sinh mệnh
mà quyết định cả. Tại sao? Vì từ lúc sinh ra có tích tụ
nhiều kinh nghiệm, những kinh nghiệm đó chẳng qua cũng chỉ
là kết quả của cái tính cách thiên nhiên mà thôi. Nghĩa
là khi người ta định thực một hành động gì đều từ
hai loại động cơ trở lên , thì trong đó nên chọn động
cơ nào? Sau khi khảo lự chắc chắn, người ta sẽ chọn lựa
động cơ đầu tiên. Nếu căn cứ vào bề ngoài mà nói, ta
thấy điều đó tựa hồ như tác dụng của ý chí tự do,
nhưng trên thực tế, cái động cơ được lựa chọn đó rốt
cuộc cũng nhất trí với tính cách tiên-thiên. Nghĩa là tính
cách tiên-thiên có thể được coi là nguyên động lực vô
thức quy định sự lựa chọn đó.
Như
vậy, sự khảo sát của đức Phật cuối cùng cũng giống
như thuyết "Túc-Tác-Nhân-Luân (Pubha_Katahetu_Vada)", hoàn toàn
là người chủ trương định mệnh luận, không thừa nhận
có ý chí tự do. Còn từ hiện tại đến vị lai thì như các
bộ phái Vương Sơn Bộ (Rajagirika), Nghĩa-Thành-Bộ(Saddhatthika)...chủ
trương: "hết thảy đều do ở nghiệp_Sabbamidam Kammatoti" (Katha
Vatthu XVII, bà ), quy kết tất cả cho túc nghiệp và cho đó
là chân lý cuả đức Phật.
Nhưng
trên đây chỉ là những kiến giải đại lược thôi, chứ
thật ra chưa phải là kết luận thỏa đáng của chính đức
Phật. Vì người ta thấy trong các kinh điển có ghi lại những
cuộc tranh luận của đức Phật đối với những thuyết cực
đoan quyết định luận, Vận mệnh luận lưu hành ở thời
bấy giờ. Chẳng hạn như trong bộ Trung A Hàm, quyển thứ
ba, Ðộ Kinh (Anguttara IP. In 3), đưa ra thyết ba loại ngoại
đạo để bài xích, mà trong đó ít ra đã có hai loại chủ
trương Quyết định luận, còn loaị kia chủ trương cái gọi
là thần ý luận (Isssranimmanahe tuvada), cho hết thảy đều
do nơi thần ý . Do đó đã di đến kết luận là: tất cả
hành động ý chí của ta đều có thần ý ngấm ngầm thao
túng. Quyết định luận tức là Túc-Nghiệp luận (Pubha Kata
heda vada), một sự khảo sát cho rằng tất cả đều do cái
nghiệp ở kiếp trước. Ðức Phật không những không chấp
nhận thần ý luận, mà đối với thuyết cho hết thảy dều
do tiền nghiệp triệt để quyết định, cùng cực lực bài
bác. Lại như trong kinh Sa Môn Quả (Samann Phala Sutta) nói đến
phái lục sư , trong đó có Ma Ha Ly. Cù Xà La (Makkhali Gosala)
chủ trương tất cả đều do tự nhiên quy định. Ðó là học
phái không thừa nhận tự do ý chí của người . Ðức Phật
cho đó là một chủ trương rất phi lý , bởi thế đã cực
lực bài bác. Nhất là xem trong Tạp A Hàm bằng văn pãli (Samyutta
Mikaya, IV, pp 230_231), có người tên là Thi Bà Ca (Moli yasivaca)
chủ trương tất cả những kinh nghiệm khổ vui đều do túc
nghiệp. Người này đem ý kiến đó hỏi phật; Phật trả
lời đó là nhận định sai lầm. Vì sự khổ vui của người
ta, tuy một phần nào đó do túc nghiệm, nhưng ngoài ra cũng
còn có những nguyên nhân hậu thiên gây nên. Ðối với vấn
đề này Ðức Phật đã tỏ thái độ minh bạch như thế,
cho nên ta có thể nói đức phật quyết không phải chủ trương
Tất nhiên luận và cố chấp vào quan niệm túc nghiệp. Hơn
nữa , dù có chiếu theo chủ trương các bộ phái sau này, Tuy
Vương Sơn Bộ, Nghĩa Thành Bộ, chủ trương Túc Mệnh luận
, nhưng Thượng-Toạ-Bộ chính thống coi những bộ phái đó
là dị giáo. Ðiều này ta thấy rõ ràng trong luận sự (Kattha
Vatthu) , trong đó đã đưa ra những sự thật để bài bác
ý kiến đó.
Lại
như trong Dị Bộ Tôn Luân luận cũng nói: "trong số những
người mạt chấp thuộc Ðại-Chúng-Bộ, có người chủ trương
có những điều do chính mình làm, có những điều do người
khác gây ra cho mình, có những điều vừa do chính mình vừa
do người khác làm, có những điều do mọi nhân duyên sinh"
Ðây là những câu nói rất khó hiểu từ xưa đến nay. Theo
ý kiến của các nhà học Phật Trung Hoa, Nhật Bản, tuy cũng
cho là khó hiểu nhưng theo sự lý giải của riêng tôi thì
đó chẳng qua là muốn thuyết minh cái nguyên nhân của những
sự khổ vui mà thôi. Nghĩa là những kinh nghiệm khổ vui của
chúng ta không phải hoàn toàn do cái nghiệm của kiếp trước,
mà là do kết quả của nhiều nguyên nhân kết hợp lại trong
đó muốn chia ra mình, người, vừa mình vừa người và nhiều
nhân duyên để mà thuyết minh. Tóm lại, nó không ngoài ý
nghĩa câu giải đáp của đức Phật trả lời Thi-Bà-Ca ở
trên, và thêm một chút phân tích để nói cho rõ rằng hơn
mà thôi. Do đó, nếu đưa nó lập thành hình thức Ý-chí-luận
thì hoạt động ý chí của ta một phần tuy do nghiệp ở kiếp
trước và những sự kiện khác quy định, nhưng một phần
cũng do chính mình phát động. Như vậy, đến một thời đại
các bộ phái, trừ một vài bộ như Vương-Sơn-Bộ, Nghĩa-Thành-Bộ,
còn tất cả đều chủ trương Tự-Do-Luận đến một trình
độ nào đó, và cho rằng như thế mới đúng với chân ý
của Phật.
Chính
đức Phật thường nói: "Ta là người chủ trương Tác-dụng-luận
(Ahamiryavado), Nỗ-lực-luận (Ahamviryavado). Chủ trương Tự-do-luận,
ít ra cũng về mặt pháp tướng, là quy tắc phổ thông của
Phật Giáo. Do đó, những người cho rằng Phật Giáo quy tất
cả mọi sự cho túc nghiệp là đã phản lại giáo ý của
Phật Giáo.
Nhưng
ở đây vấn đề được đặt ra là: lý luận đó căn cứ
vào đâu? Cùng với túc-nghiệp, thâu nạp cả thuyết Tự-do,
nếu nhận xét một cách đơn giản thì đó là một thái độ
trung đạo, nhưng nếu thiếu căn bản lý luận thì e chẳng
qua là một sự thỏa hiệp mà thôi. Song nếu căn cứ vào những
sự kiện khác mà suy định thì thuyết trung đạo của Ðức
Phật quyết không phải chỉ là thỏa hiệp. Trong thuyết trung
đạo đó là căn cứ hoàn bị rồi. Mà đức Phật-đối với
bất cứ vấn đề nào cũng vậy -không coi trọng việc thuyết
minh bằng lý luận suông. Vậy thì cái căn cứ của thuyết
trên ở chỗ nào? Vấn đề này ngoài sự phát kiến toàn thể
lập trường của đức Phật, không còn có cách nào khác.
Riêng
phần tôi, khi đề xuất vấn đề này ở đây là có ý muốn
thảo luận sơ qua về điểm này. Dĩ nhiên, xét cho cùng thì
vấn đề này hoàn toàn là Nghiệp-Luận với Ý-chí tự-do.
Nếu nói rõ hơn thì đó là vấn đề tím hiểu sự quan hệ
giữa tính cách hay khí chất tiên thiên và hành động hậu
thiên như thế nào? Cái phạm vi quan hệ của vấn đề tự
do ý chí rất rộng, cho nên nếu hạn cục ở một phạm vi
hay quan điểm nhất định thì không thể nào nắm được những
chỗ chủ yếu.
TIẾT
THỨ HAI:
CĂN
CỨ CỦA TÍNH CÁCH VÀ Ý CHÍ TỰ DO.
Ðể
thuyết minh vấn đề này, cần phải nói qua lại hai tình hình
của những hoạt động tâm lý.
Như
đã nói trước kia, thep Phật thì bản chất của sinh mệnh
tuy là ý chí vô thức, nhưng nếu liên hệ với phát động
thì trong đó khai triển hoạt động tâm lý mà trở thành ý
thức.
Trong
12 nhân duyên, theo thứ tự, lấy vô minh (ý chí căn bản),
hành (ý chí), thức (chủ quan), danh sắc (khách quan) để nói
sự khai triển của hoạt động tâm lý, mà tạo ra một hình
thức hoàn bị, thì như trên đã nói, lấy bốn yếu tố: thụ
(cảm tính), tưởng (biểu tượng), hành (ý chí), thức (ngộ
tính, lý tính) để quan sát thành lập: đó là tâm lý quan
của Phật Giáo. Trong 4 yếu tố đó, hành (ý chí) được coi
là tác dụng của tâm, do đó, đứng trên lập trường bản
chất của tâm mà nói thì ý chí là phần căn bản nhất. Ðức
Phật nói: "Hết thảy đều được thành lập bởi ý chí (hành)".
Song đứng trên lập trường nhận thức của ý thức mà nói
thì cái yếu tố đóng vai trò quan trọng nhất lại là thức,
là nguyên nhân làm cho tâm có một nguyên lý thống nhất. Nhưng
nếu theo thứ tự khai triển mà nói thì đối với hành, tức
là tiên thiên ý chí, thức là hoạt động hậu thiên. Theo
ý nghĩa này thì thức tuy ở sau hành, nhưng nói theo giá trị
tâm lý thì dĩ nhiên có thể nói thức chiếm một địa vị
trọng yếu hơn hết các yếu tố khác. Chính đức Phật cũng
đã nói một chỗ khác rằng tất cả đều do thức mà đượpc
thành lập.
Vậy
thì, tiến lên bước nữa mà nhận xét, cái quan hệ giữa
hành và thức đó như thế nào? Có thể nói thức là người
dẫn đạo của hành, trách nhiệm của thức là chỉ đường
cho hành. Trong phạm vi đó, có thể nói thức chẳng qua là
thừa hành ý muốn của ý chí tức là hành mà thôi. Song, ở
đây ta cần chú ý là thức, đặc biệt là nhận thức của
lý tính, không phải hoàn toàn nô lệ cho ý chí đâu. Khi mà
lý tính nhận thức phát đạt mạnh thì đối với ý chí nó
lại cũng biểu hiện tác dụng nội ứng, nghĩa là tác dụng
của lý trí ức chế ngã-chấp, ngã-dục là những sản phẩm
của ý chí. Nói tóm lại, cái quan hệ giữa thức và hành
là: nếu thức phát triển phát đạt ít thì hoạt động của
ta bị ý chí bản năng, tức là tiên thiên khí chât, chi phối;
còn nếu thức phát đạt nhiều, cao độ thì ngược lại chi
phối bản năng và có thể đạt đến giải thoát. Nói cách
khác, nếu thức phát triển đến cao độ thì có thể chi phối
đến tính cách bản tính. Ngược lại, nếu thức không phát
triển thì phải chịu sự chi phối của tính cách tiên thiên.
Cái căn cứ của tự do ý chí trong Phật Giáo là ở đó. Nói
một cách đơn giản thì: thức có tác dụng chi phối hành,
tức là căn nguyên của ý chí tự do, vì hành động đúng
theo nghiệp, tức là thuộc về tính khí tiên thiên, còn thức
thì vì thuộc về những hoạt động hậu thiên cho nên có
thể dựa vào đó mà chi phối hành. Ðối với nghiệp lực
có thể nói thức có một trình độ giải thoát.
TIẾT
THỨ BA:
TƯ
TƯỞNG ÐẠI THỪA VỚI NHỮNG QUAN NIỆM Ở TRÊN.
Nếu
tóm tắt tất cả những điểm vừa được trình bày ở trên,
theo đức Phật khi ta sinh ra và do nghiệp lực của kiếp trước
mà trong đó đã bao hàm một tính cách nhất định. Song cái
thức của ta không phải chỉ chiếu theo cái tính cách đó
mà dẫn đạo ý chí, mà trái lại, đối với nội bộ ý dục,
để thích ứng với giá trị sinh sống, thức còn có thức
chỉ thị ý chí.
Song
khi đem sự quan hệ trên đây chiếu theo quan niệm về pháp
của đức Phật mà khảo sát thì như thế nào? Ðây tức là
Pháp môn Tứ Ðế. Ðứng trên lập trường Tứ Ðế mà nhận
xét thì đây chính là thuyết minh quan hệ đó ở hai phương
diện. Nghĩa là Khổ, Tập liên quan đến quy tắc sống còn,
chính là thuyết minh phương diện vận mệnh tự nhiên. Trái
lại, Diệt, Ðạo liên quan đến vấn đề tu dưỡng. Khổ,
Tập bị luật nhân quả trói buộc cho nên không thể đạt
được sự tự do triệt để. Diệt, Ðạo trái lại đả phá
tự nhiên để thực hiện sự tự do đó. Chính vì lẽ đó
mà đức Phật thường khuyến khích con người phải nỗ lực
thoát ly các quy tắc sống còn để thực hiện sự tự do giải
thoát về mặt tu đạo.
Nhưng
vấn đề ở đây được đặt ra là: có phải đức Phật
cho rằng kết quả tối cao của sự tu đạo là Niết-Bàn,
một cảnh giới chỉ có thể thực hiện sau khi đã hoàn toàn
đả phá sự sống còn hay không? Nói cho rõ hơn: Niết-Bàn
chỉ có thể thực hiện sau khi chết? Bởi vì cái gọi là
đả phá quy tắc sống còn thực ra không ngoài ý nghĩa tuyệt
diệt sự tồn tại. Ðiểm này được giải thích là Vô-Dư
Niết-Bàn và coi đó là lý tưởng tối cao. Nhưng đây chỉ
là sự giải thích về bề mặt thôi, và có thể nói là sự
giải thích của Tiểu Thừa. Còn theo đúng với chân lý của
đức Phật thì cái cảnh giới lý tưởng đó có thể thực
hiện ngay ở kiếp này, và có như thế mới hoàn thành được
cái ý nghĩa tu dưỡng. Nếu nói theo sự tự nội chứng của
đức Phật thì những hoạt động của Ngài từ 35 tuổi sau
khi thành đạo đến 80 tuổi khi nhập Niết-Bàn, tuy tất cả
đều là sống động, nhưng thật ra đó chỉ là cái tự thể
của Niết-Bàn tối cao được hiện thực hóa mà thôi (xem
nguyên thuỷ Phật Giáo Tư Tưởng luận, 449). Song đến đây
một câu hỏi khác lại được đặt ra là: khi lấy sự thật
ở trên đây để khảo sát quan niệm về pháp Tứ Ðế thì
sẽ như thế nào? Sự thực trên đây vì ở ngay trong sự tồn
tại mà thể hiện Niết-Bàn, cho nên phải xây dựng một quy
tắc tồn tại (Diệt, Ðạo đế). Nếu không dự tưởng một
quy tắc tồn tại thứ ba thì sự thực đó sẽ không có căn
cứ.
Như
vậy, đắc Phật có lập ra một quy tắc thứ ba để điều
hòa giữa hai quy tắc Khổ Tập và Diệt Ðạo khổng? Nếu
nhận xét theo bề ngoài thì giáo thuyết của Phật chưa đạt
đến điểm đó. Mà muốn đạt đến điểm đó chính là Ðại
Thừa giáo sau này, nhất là đến tư tưởng Chân-như quan của
Khởi-Tín-luận thì điểm đó đã được hoàn thành. Ðặc
tính của Chân-như của Khởi-Tín-luận, một mặt lấy nó
làm căn cứ tồn tại, mặt khác lấy nó làm căn cứ Niết-Bàn
tối cao, và coi đó là một. Ðến đây thì quy tắc Khổ Tập
cũng như quy tắc Diệt Ðạo đều có thể nói đã được
chỉ dương thống hợp.
Ðể
thích ứng với quy tắc thống hợp đó mà trở thành cái tiêu
chuẩn hay phương thức cụ thể hóa nó là tư tưởng Bất-Trụ
Niết-Bàn của Bồ-Tát. Tuy lấy Niết-Bàn làm lý tưởng tối
cao, nhưng vì thệ nguyện trền cầu giác ngộ, dưới hóa độ
chúng sinh, cho nên thường đặt chân trên con đường Niết-Bàn
vĩnh viễn, mà không lúc nào ở yên trong Niết-Bàn. Ðó chính
thực là cái pháp tắc cụ thể hóa việc điều hoà giữa
tồn tại và Niết-Bàn.
Ðại
Thừa Phật Giáo tuy nói sinh tử tức Niết-Bàn, nhưng thật
ra thì chỉ có cái đương thể trên đây vậy. Do đó, nếu
biến vấn đề tất nhiên thành vấn đề tự do, rồi từ
tự do mà lại đến tất nhiên cao hơn nữa, rồi lại đến
tự do cao hơn nữa, cứ như thế mà tiến mãi, thật ra là
một sự tu đạo hướng thượng vô cùng vô hạn. Câu nói
"Tu đến Phật cũng không thôi" chính là ý ấy. Mà chỉ khi
đến cảnh giới Bất-Trụ Niết-Bàn thì Tự-do luận của
đức Phật mới có thể được coi là đã đạt đến trạng
thái hoàn toàn.