CHƯƠNG
THỨ SÁU
THIỀN
VÀ Ý NGHĨA TRIẾT HỌC
TIẾT
THỨ NHẤT:
Ý
NGHĨA CỦA THIỀN.
Muốn
thảo luận về vấn đề này trước hết cần phải có một
ý niệm khái quát về thiền, nếu không thì sự thảo luận
sẽ thiếu hẳn cơ sở.
Nói
đến thiền không phải chỉ đặc biệt đề cập đến cái
gọi là Thiền Tông mà trong đó có nhiều loại khác nhau. Thiền
là dịch âm của chữ Phạn dhyana và chữ Pali - Jhana, nói đủ
phải là Thiền na.
Nghĩa
gốc của chữ dhyana là tư duy hay tịnh lự nhưng trong lịch
sử văn hóa Ấn độ, cách dùng này không phải nhất định
mà dường như còn có nhiều nghĩa khác. Phái Du Dà trong sáu
phái đặt Thiền vào vị thứ bảy trong tám cấp tu hành. Tiểu
Thừa Phật Giáo ra Tứ Thiền mà trong các loại Thiền, Tứ
Thiền được gọi là một hành pháp đặc định. Ðến Ðại
Thừa thì trong Thiền-na-ba-la-mật bao hàm tất cả các loại
Thiền. Tóm lại, cách sử dụng về ngôn ngữ tuy không đồng
nhất, nhưng đến bản chất của Thiền thì chủ yếu làm
cho cái tâm chuyên chú vào một cảnh giới hay chuyên tư duy
vào một sự kiện nào đó. Nếu phải miễn cưỡng chia thành
cấp bậc thì Thiền và Tam Muội (samdhi ) tuy có khu biệt, nhưng
trên đại thể thì Tam Muội hay Thiền na cũng đều là một,
nghĩa là dùng phương pháp quán tưởng để khiến cho cái tâm
chuyên chú vào một sự kiện thì gọi là Thiền hoặc Tam Muội.
Ðó là một giải thích tổng quát và có thể được coi là
ổn thỏa. Thuyết Bát chính đạo của Phật Giáo nguyên thủy,
chính định thứ tám là samyaksamadhi, cho nên khi nói Tam Muội
tức là chỉ tất cả các phương pháp tu hành thuộc Thiền
na một cách khái quát. Ðến Ðại Thừa thì lập ra Lục Ðộ
thứ năm là Thiền na ba la mật cũng lại đại biểu cho quan
niệm đó.
Xem
thế đủ biết khi nói đến Thiền là ám chỉ tất cả lối
tu theo phép Thiền quán. Bởi thế, ở đây khi đề cập đến
ý nghĩa của Thiền, tôi muốn căn cứ vào nghĩa rộng phổ
thông đó. Thiền Tông được gọi là Thiền, về hình thức,
ít ra cũng căn cứ vào định nghĩa bao quát trên đây, đó
là điểm cần phải lưu ý. Các nhà học giả của Câu Xá
Luận nói một cách vụng về rằng Thiền chỉ hạn cục trong
tứ Thiền mà thôi; rồi đến các nhà nghiên cứu Du Dà phái
thì lại so sánh một cách hời hợt mà cho rằng Thiền thấp
kém hơn Tam Muội. Những nhận xét trên đây có lẽ là những
sự kiện được thêm thắt vào sau này, bởi vậy ở đây
tôi muốn trình bày sơ lược về Thiền trước đã.
Phép
tu Thiền tuy là một phép tu toàn nhất cho thân, tâm tương
ứng. Nhưng nếu phân tích ra mà khảo sát thì nó đã thành
hai phương diện, phương diện hình thức và phương diện nội
dung.
Về
mặt hình thức thì trước hết phải làm cho thân thể yên
tịnh, đoan nghiêm để giúp cho tinh thần được thống nhất,
đó là cách tu luyện thân thể. Ðây là hình thức phổ thông
đối với tất cả lối tu Thiền. Mà nó cũng là yếu tố
hết sức trọng yếu, nếu không có nó thì phép tu Thiền sẽ
không thành tựu được.
Nhưng
nghĩa căn bản của Thiền không phải cốt ở sự thống nhất
tinh thần, bởi lẽ sau khi đã thống nhất tinh thần mà không
tư duy về một sự kiện hoặc một cảnh giới nào đó thì
ý nghĩa của Thiền hiển nhiên là chưa thể hoàn thành, vì
thân, tâm duy đã có công năng yên tịnh nhưng chưa khai ngộ.
Khai ngộ có nghĩa là thực hiện một lý tưởng nào đó trong
tinh thần, vì chính vì muốn thực hiện ý tưởng ấy nên
mới lấy sự tập trung thống nhất tinh thần làm căn bản
tư duy. Ðó là phần nội dung của Thiền.
Trong
Phật Giáo còn một danh từ nữa để thay cho Thiền, đó là
Chỉ-quán. Chỉ là làm cho tâm yên định, Quán là căn cứ
vào sự yên định mà tư duy về một cảnh giơi nào đó. Như
vậy, Chi-quán đã biểu hiện đúng với ý nghĩa của Thiền.
Nhưng Chỉ-quán phải được quân bình nếu tâm được trấn
định một cách thái quá sẽ trở thành hôn mê trì độn và
như thế cố nhiên là không thể được. Song nếu tư duy một
cách quá độ cũng lại khiến tâm tán loại, cũng không được
tốt. Vậy quân bình nghĩa là tâm yên định, trầm mặc, chuyên
chú vào một mục tiêu lý tưởng đã được hoạch định,
đó là sự quân bình của Chỉ-quán, mà bản chất của Thiền
cũng hoàn ở điểm này.
TIẾT
THỨ HAI:
CÁC
LOẠI THIỀN
Lối
tu Thiền không những chỉ nhắm vào việc thống nhất tinh
thần mà trong đó còn bao hàm cả quan niệm, và do nội dung
của quan niệm đó như thế nào mà có vấn đề khu biệt về
Thiền. Trong bài tựa quyển Thượng của bộ Thiền Nguyên
Chư Thuyên Tập Ðô, Tôn Mật Thiền Sư đời nhà Ðường đã
chia Thiền thành 5 loại:
1)
Ngoại đạo Thiền, là lối tu niệm của những người ngoại
đạo; ngoài bản ngã ra, họ tin có một vị Thiền thiêng liêng,
họ chán ghét cái thế giới này, chỉ cầu mong được đạt
đến cái thế giới của vị thần đó.
2)
Phàm phu Thiền, hạng người này tuy là tín đồ Phật Giáo,
nhưng chỉ tin đạo lý nhân quả, chứ chưa đạt đến đạo
lý chân thật. Tôn Mật ngoài những người này là chính tín
nhân quả, nhưng cũng còn ý niệm vui, chán mà tu hành.
3)
Tiểu Thừa Thiền, hạng người này tin đạo lý vô ngã, và
chỉ lấy sự diệt trừ cái ngã làm mục đích tu hành.
4)
Ðại Thừa Thiền, hạng người này vì muốn biểu hiện chân
lý ngã pháp đều không mà tu hành, nghĩa là không những chỉ
có bản ngã mà hết thảy mọi hiện tượng đều là không.
5)
Như-lai-tối-thượng-Thiền, hạng người này tự biết mình
vốn là Phật vì muốn thực hiện nó mà tu Thiền quán.
Tôn
Mật nói : "Nếu biểu tự tâm bản lai thanh tịnh, vốn không
có phiền não, đầy đủ trí tín vô lậu, tâm đó tức là
Phật, không sai khác, theo đó mà tu hành thì gọi là Tối Tượng
Thừa Thiền ". Pháp môn này còn được gọi là Tổ Sư Thiền.
Lại cũng gọi là Nhất Hạnh Tam Muội, Như-lai thanh tịnh Thiền.
Môn đệ của Ðạt Ma truyền lại chính là loại Thiền này.
Tôn
Mật chia Thiền làm năm loại như trên tuy rất đơn giản song
cũng có thể nói đã khá đầy đủ. Tuy nhiên, trên đại thể
thì như thế, còn về chi tiết thì như trong Ngoại-đạo-thiền,
nhất là phái Vedanta cũng có nhiều người hoài niệm và tu
luyện theo một loại thể nói cũng tương tự như loại Như-lai-tối-thượng-Thiền.
Do đó sự phân loại của Tôn Mật chưa hẳn đã xác đáng.
Như
vậy là Thiền đã có nhiều loại mà những người tu luyện
cũng lại tuỳ theo từng loại mà có những sắc thái và sự
khu biệt khác nhau, đó là một sự kiện không tránh khỏi.
Chẳng hạn có người lấy thân, tâm phân cách làm mục đích,
hy vọng phủ nhận ý chí sinh tồn mà tu hành, thì tự nhiên
đã trở thành những người yếm thế, vô hoạt động, có
người lại lấy sự vãng sinh về một thế giới cực lạc
làm mục đích tu hành, mang nặng sắc thái tình cảm và tín
ngưỡng, thì dĩ nhiên thành nhưng người ỷ lại vào tha lực,
lại có những người tin chính mình là thực tại, hoạt động
để tự giải thoát, tức nhiên là hạng người hoàn toàn
trông vào tự lực.
Trên
đây là quan niệm tổng quát về Thiền. Và cũng do đó mà
ý nghĩa triết học và tôn giáo phải được đề cập đến.
Ở đây nói ý nghĩa triết học tôn giáo chẳng qua cũng chỉ
là vấn đề sinh mệnh hoặc vấn đề Tự-ngã, để xem Thiền
có những căn cứ thế nào. Bởi lẽ tôn giáo có quan hệ trực
tiếp phát huy ý nghĩa chân chính của mọi vấn đề nhân sinh.
Ðối với vấn đề này nếu không có đầy đủ căn cứ thì
tôn giáo sẽ thiếu hẳn giá trị chân chính và vĩnh viễn.
Như
vậy, đối với vấn đề sinh mệnh hoặc vấn đề Tự-ngã,
Thiền có những căn cứ ra sao? Vấn đề này tôi đã đề
cập đến ở một vài đoạn khác (xin xem mục Giải Thoát
luận ở trên). Trong những đoạn đó tuy không lấy Thiền
làm trung tâm để thảo luận nhưng đối với nội dung của
Thiền thì cũng đã tiếp xúc qua. Ở đây, để tránh sự lập
lại nhiều lần, chỉ chuyên đứng trên lập trường Tự-ngã
để phân biệt.
Và
trước hết cần phải nói rõ Tự-ngã là gì?
TIẾT
THỨ BA: TỰ NGÃ LÀ GÌ
Mục
đích của các nhà triết học cũng như các nhà sáng lập tôn
giáo từ xưa thật sự đã là sự giải quyết vấn đề Tự-ngã.
Bên phương tây, Tô-Cách-Lạp đã nói: "Anh hãy tự biết bản
thân anh". Từ xưa đến nay, vấn đề Tự-ngã thường là trung
tâm điểm của triết học. Tại Ấn Ðộ từ hai, ba trăm năm
trước khi Phật ra đời, học phái Upanishads đã kiện toàn
vấn đề này đến cao độ, và cho đến ngày nay, đã trở
thành nền tảng cho tất cả mọi sự khảo sát và suy tư.
Do đó, những sự giải thích về vấn đề này mà thôi.
Theo
thói thường thì Tự-ngã là chỉ cái thân thể của mọi người.
Chẳng hạn nếu ta hỏi những người tầm thường "cái ta"
là gì, thì chắc chắn đa số sẽ trả lời toàn bộ thân
thể là cái ta. Câu trả lời này có vẻ ngây ngô tầm thường
đấy. Nhưng nó cũng cho ta thấy cái xuất phát điểm của
cách quan sát về Tự-ngã. Tuy nhiên, cách quan sát về Tự-ngã
không phải chỉ hoàn toàn có thế. Nếu ta suy nghĩ kỹ một
chút ta sẽ thấy ngay chỗ thiếu sót của nó. Nói một cách
dễ hiểu hơn, nếu cho toàn bộ thân thể là cái "ta", thì
nếu không may gặp một tai nạn nào đó mà mất chân hoặc
tay, lúc đó cái ta có còn hoàn toàn không hay đã thiếu một
phần? Hoặc nói theo một khía cạch khác, nếu cho thân thể
này là ta, vậy thì vợ, con, anh, em sẽ đối sử với nhau
ra sao? Cứ thế này mà suy cứu, ta thấy phương pháp suy tưởng
cho thân thể này là ta là một phương pháp không xác đáng.
Do đó theo sự khảo nghiệm của riêng tôi, tôi nhận thấy
quan niệm về Tự-ngã của người ta có vẻ như có tính co
rãn (flexibility). Nói cách khác, một mặt có khuynh hướng nội,
đồng thời, mặt khác có khuynh hướng ngoại.
Hướng
nội nghĩa là đưa bản chất con người dần dần trở về
phương pháp nội tỉnh, qua một giai đoạn tâm lý phổ thông,
tức là nhục thể tiến đến hô hấp tiến đến nội tâm.
Lại nữa, cùng trong tâm như nhau, nhưng lại có phần năng
kiến và sở kiến, một động tác và một bị động tác.
Cho nên nếu lấy toàn thể làm Tự-ngã thì hoàn toàn sai lầm.
Trên cách thức Tự-ngã có ý chỉ một nghĩa chủ tể thường
nhất, bởi vậy nó có phương diện sở động, sở quan. Nếu
ta cho toàn bộ thân thể là ta thì chính ta đã tự mâu thuẫn.
Do đó, đối với vấn đề này, bất luận như thế nào, người
ta đều phải hướng vào cái tâm sâu kín mà tìm cầu Tự-ngã.
Song
cái Tự-ngã từ trong tâm sâu kín đó như thế nào? Nói tóm
một câu là: cái cảm giác sở động, cái tri giác liên quan
đến ngoại giới, Nhưng mà tri giác phân biệt, tức là khái
niệm tác dụng, tất cả rút cục cũng do kinh nghiệm mà có,
nghĩa là nó bao gồm cả những yếu tố phi ngã, cho nên nếu
dùng khái niệm của người ta mà trực tiếp với Tự-ngã
thì như thế không thể nào nói hết được. Tại sao? Vì nếu
cho Tự-ngã là như thế thì cái bản thân của Tự-ngã đã
trở thành đối tượng tri giác của người ta, mà cái bản
thân ấy, xét kỹ thì nó ở một điểm nào sâu xa hơn.
Bởi
thế Tự-ngã là tuyệt đối. Ðứng về mặt lý luận mà nói
thì chẳng qua chỉ là giả định mà lập nên, còn nói về
mặt thực tế thì chỉ có thể dùng trực quan mới thấy được,
và như vậy, nếu còn lẩn trong vòng ngôn ngữ, tư lự thì
không thể đạt được.
TIẾT
THỨ TƯ: CÁI TA TUYỆT ÐỐI.
Như
đã được trình bày ở trên, phạm vi của Tự-ngã tuy nhiều,
nhưng ý nghĩa thực tế thì cái phạm vi rất thấp và rất
hẹp là cách nhận xét lấy nhục thể làm Tự-ngã. Nhục thể
chẳng qua chỉ là một vật chiếm khoảng không gian chừng
hơn một mét, hay nhiều lắm là hai mét, và tồn tại với
thời gian khoảng sáu, bảy mươi năm, nếu thật đó là Tự-ngã
của ta thì nhân loại thật đáng thương. Con người nếu không
có phạm vi sinh hoạt tinh thần, thì về nhiều phương diện,
chúng ta còn kém hơn động vật xa lắm. Vì đa số chúng ta
chỉ cặm cụi để thỏa mãn mọi dục vọng của nhục thể
mà không bao giờ chịu tìm hiểu ý nghĩa của những dục vọng
ấy, cho nên ta mới được mệnh danh là kẻ phàm phu. Trên
thực tế, nếu ta ham mê nhục thể một cách thái quá thì
bề ngoài ta không có được độ lượng dung nạp kẻ khác,
mà bề trong ta cũng không có được cái năng lực nội tỉnh.
Trái lại, nếu ta chịu khó cắt bỏ dần dần những ràng
buộc của nhục thể, đi sâu vào đời sống tinh thần, thì
bề ngoài cái phạm vi hoạt động đó càng ngày càng được
mở rộng, làm cho ta trở thành rộng lượng, để đồng tình
với kẻ khác có thể coi người như chính mình. Ðó là cái
ý tứ "trí nhân vi nhân" Thực tế cho ta thấy những người
"trí nhân vi nhân" hay quên mình vì kẻ khác, đều là những
người có đạo hạnh tốt. Ðó là những người đã bồi
dưỡng được cái ta nội tỉnh tuyệt đối. Nếu đem thích
ứng nó ra bề ngoài thì ta có thể giải thích đó là cái
ngã nhất trí quán thông với cái ngã của toàn vũ trụ. Nghĩa
là khi quan niệm về cái ngã được phát triển thì cả hai
mặt nội quan và ngoại duyên đều tiến song hành. Nội quan
càng sâu thi sự hoạt động ngoại duyên càng mở rộng. Nói
tóm lại, một khi người ta dứt bỏ được những yếu tố
cảm giác nhục dục thì bất luận là bề trong hay bề ngoài,
ta đều có thể nói một cách quả quyết rằng Tự-ngã của
ta đã dần dần khoáng đạt. Các bậc thánh giả thường đi
sâu vào nội quan, rồi vì lòng thương vô hạn mà theo nguyện
độ sinh chính là ở chổ đó.
Cái
tính chất Tự-ngã của người ta như thế, vậy bản thể
của nó ra sao? Bản tính của người ta không thể không thừa
nhận cái gọi là sinh mệnh tuyệt đối hoặc cái ngã tuyệt
đối tồn tại. Nếu vậy thì cái thân thể của chúng ta cao
không quá hai thước, và sống lâu bảy, tám mươi năm, bề
trong cũng như bề ngoài, đều không thể duy trì được những
nhu cầu khoáng trương vô hạn. Còn sinh mệnh, tức Tự-ngã
của người ta thì bất luận về phương diện nào, thời gian
hay không gian, đều hướng đến sự tiến triển vô hạn,
vì bản tính đó vốn liên tiếp với Ðại-ngã vô hạn tuyệt
đối. Mà Ðại-ngã ấy, trên thực tế, không bao giờ tách
rời khỏi bản tính củ ta. Tại sao? Vì nếu nó tách rời
với bản tính của ta thì đó là tha-ngã, và nếu đã là cái
khác với Tự-ngã của ta thì ta không nên khoáng đại Tự-ngã.
Tưởng
không cần nói ai cũng biết rằng cái sinh mệnh tuyệt đối
đó không nằm trong phạm vi nhận thức tương đối của ta,
chúng ta chỉ có thể có một khái niệm như thế thôi, chứ
thật ra cái chân tướng của nó ta không thể biết được.
Cái gọi là Chân-như, Pháp thân, Phật tín, cho đến cái mà
người ta gọi là Thần minh, thật không ngoài cái ngã tuyệt
đối đó.
TIẾT
THỨ NĂM:
PHƯƠNG
PHÁP THỰC HIỆN ÐẠI NGÃ VÀ THIỀN.
Nhưng
điều vừa được trình bày ở trên tuy có nhiều điểm phản
phúc, nhưng một mặt dự tưởng cái pháp tắc sinh mệnh hoạt
động, mặt khác đặt biệt theo dõi con đường pháp triển
của Tự-ngã, cuối cùng chúng ta đã đặt đến cái ngã tuyệt
đối.
Nhưng
làm thế nào để thực hiện được cái ngã đó? Nhận xét
một cách đại thể thì sinh mệnh hoạt động của chúng ta,
trong tất cả các lĩnh vực, đều hướng đến con đường
thực hiện sinh mệnh tuyệt đối mà tiến tới. Ðiểm này
tôi đã trình bày ở một nơi khác ( xin xem mục "Ý nghĩa nhân
sinh" trong sách này). Dĩ nhiên mục này đối với vấn đề
của cái ngã tuyệt đối cũng là một luận lý thích đáng.
Vì thật ra Tự-ngã không phải là cái gì khác hơn cái đương
thể của ý thức về sinh mệnh của chính mình, và giữa Tự-ngã
và tuyệt đối ngã hay đại ngã không có sự tồn tại khu
biệt.
Song
nếu tiến thêm một bậc nữa muốn trực tiếp thể nghiệm
đại-ngã trong chính Tự-ngã, chúng ta không thể không hướng
ngoại mà tìm cầu. Bất luận sự nghiên cứu về lịch sử
của nền văn minh nào, thuyết minh các tổ chức, thành lập
các quốc gia, mổ xẻ những hiện tượng đạo đức, tất
cả đều đã không thể đáp ứng được nhu cầu thể hiện
bản chất của đại-ngã. Bởi lẽ tất cả cái đó tuy cũng
là hoạt động hướng về sinh mệnh tuyệt đối, song chung
cục vẫn chưa thoát ra khỏi vòng tương đồi. Nếu muốn đạt
đến sinh mệnh tuyệt đối, ta cần phải nương theo một phương
pháp tuyệt đối. Và phương pháp đó chính là tôn giáo. Ðứng
về phương diện tiêu cực mà nói, tất cả tôn giáo tuy được
thành lập để đáp ứng những nhu cầu giải thoát, nhưng
về phương diện tích cực thì bất luận là dựa vào hình
thái nào để lập thuyết tuyệt đối, như Phật. Chân-như,
Không, Thần v.v., những danh từ đó tuy bất đồng nhưng nguyên
lý thành lập tuyệt đối thì đều muốn lấy sư dung hợp
giữa Tự-ngã va Ðại-ngã làm bản chất. Nói cách khác , tất
cả danh từ sai biệt dùng để biểu hiện tuyệt đối chẳng
qua cũng chỉ là tên khác của cái ngã tuyệt đối đó mà
thôi.
Nhưng
các tôn giáo dùng phương pháp nào để thực hiện và thể
nghiệm cái tuyệt đối đó? Dĩ nhiên vì có nhiều tôn giáo
nên phương thức cũng có nhiều loại khác nhau; nhưng phương
thức được coi là trung tâm thì không ngoài hai phương diện
này : một mặt chế ngự những cảm giác, mặt khác chuyên
chú vào mục tiêu lý tưởng. Lấy ngã tuyệt đối làm nội
tâm, cụ thể hoá phương pháp mà biểu hiện cái ý thức chính
trực : đó là Thiền. Thiền, như đã nói ở trên, có hai phương
diện: hình thức và nội dung; do Chỉ và Quán quân bình mà
thực hiện được một cách đồng thồi cả hai phương diện
chế ngự cảm giác và chuyên niệm lý tưởng: đó là đặc
sắc của Thiền. Cái gọi là "trực chỉ nhân tâm, kiến tính
thành Phật " của Ðạt Ma Thiền chính là chỉ điểm đó.
Như
đã trình bày ở trên, tuy cùng gọi là Thiền nhưng cũng có
nhiều sự phân biệt khác nhau. Song sự khác nhau đó chỉ tùy
theo sự biểu hiện cái ngã tuyệt đối như thế nào, còn
trên nguyên tắc thì bất luận Thiền phái nào cũng có điểm
giống nhau, và đây là lý do làm chúng tôi lấy Thiền làm
yếu điểm của tất cả các tôn giáo. Hơn nữa, tại Ấn
Ðộ, trên thực tế, từ Áo Nghĩa Thư trở về sau, tất cả
các học phái đều sử dụng Thiền cả.
Sự
khai ngộ của Thiền là chỉ cái sức thống nhất tinh thần
để đạt tới sự hòa đồng giữa mình và chân ngã. Trong
Áo Nghĩa Thư tuy mệnh danh chân ngã đó là Diệu lạc, nhưng
theo kinh nghiệm của các bậc khai ngộ thuộc Thiền Tông, một
khi đã đạt đến cảnh giới đó thì cảm thấy một niềm
hoan lạc dù muốn nói ra cũng không được. Ðó đại khái
là cái cảnh giới toàn nhất tuyệt đối, cắt đứt hẳn
với cuộc sống đời phiền tạp nhiễu loạn. Song cái cảnh
giới đó vì không thể nào dùng ngôn ngữ mà miêu tả được,
vì nó vượt ra ngoài vòng đối đãi, ngoài sự thể nghiệm
của chính mình ra không có phương pháp nào khác. Nhà Phật
thường dùng thuật ngữ "ẩm thủy lãnh noãn tự tri", nghĩa
là khi uống nước lạnh hay ấm thì chỉ tự mình biết mà
thôi. Nếu muốn miễn cưỡng lý luận để minh chứng một
cách cụ thể cái cảnh giới đó thì cuối cùng chỉ thành
một thuyết minh siêu luận lý.
TIẾT
THỨ SÁU:
ÐẶC
SẮC CỦA ÐẠT MA THIỀN.
Thiền
tuy là con đường chủ yếu để thể nghiệm cái ngã tuyệt
đối, nhưng cách áp dụng Thiền vị tất đã là đồng nhất
vì chính Thiền cũng có nhiếu phái biệt. Vị giác giải thoát
là căn cứ vào lòng tư tín an tâm lập mệnh, đó tuy là điểm
đồng nhất, nhưng khi thể hiện điểm đó vào cuộc sống
cụ thể thì lại tùy theo giáo lý như thế nào mà phát sinh
nhiều điểm bất đồng. Có phái chủ trương sống đạm bạc,
ẩn tuẫn, có phái lại chủ trương tham gia những hoạt động
của xã hội thực tiễn, dùng mọi hình thức để biểu hiện
hình thức của mình. Như ở tiết trên bài về tư tưởng
Tự-ngã, tôi đã đề cập đến hai phương diện trái ngược
nhau, tức là: một mặt chuyên chú lấy sự hướng nội làm
chủ; mặt khác lại muốn hướng ngoại mà khoáng đại Tự-ngã,
do đó mà phát sinh nhiều điểm bất đồng.
Vậy
thì điều mà được gọi là đặc sắc của Như-lai-Thiền
hay Tổ-Sư-Thiền của Ðạt Ma ở chỗ nào?
Ðiểm
này, nếu nói một cách khái quát thì mục đích của nó tuy
lấy "tự nội chứng" để đến sự khai ngộ, nhưng về phương
diện hướng hạ, nghĩa là đem áp dụng vào sinh hoạt, có
thể nói nó còn những đặc sắt chủ yếu khác nữa.
Khi
Thiền-Tông lấy bối cảnh giáo lý khống chế cái "không"
của Bát Nhã, tức là cái "không thuần túy hoạt động", nghĩa
là lấy hình thức biểu hiện cái ngã tuyệt đối ra mọi
hoạt động làm chủ. Thiền -Tông thường cảnh giác những
hành giả cố chấp về tự nội chứng, tức là phương pháp
hướng nội để thể nghiệm bản tính của mình, bằng cách
nói rằng cái mà mình cho là tương tự điều khai ngộ không
phải sự liễu ngộ chân thật. Về phương diện chủ quan,
hướng nội tuy là phương pháp duy nhất để thực hiện đại-ngã,
nhưng nếu cố chấp phương pháp đó một cách thái quá thì
về mặt khách quan, hành giả đã bỏ quên mất phương diện
hướng ngoại khoáng đại, nghĩa là hoạt động của Tự-ngã
do sự cố chấp ấy, sẽ mất hẳn kiện toàn tính. Ðúng như
Thác-Cốc-Lỗ đã nói: "Cái tệ bệnh của Ấn Ðộ từ xưa
là ở chỗ cố chấp thái quá về mặt chủ quan mà quên hẳn
mặt hoạt động khách quan. Muốn chữa mối tệ đó tuy có
đức Phật song khốn nỗi là trong các môn đệ vẫn một số
lớn theo chủ nghĩa "độc thiện kỳ thân"! Nhưng Thiền-Tông
đối với điều này thực đã thông triệt được nhân cách
của Phật, lấy phương diện hoạt động hiện thực làm chủ
nghĩa để phát khởi. Ðó là đặc sắc rất lớn của Ðạt-Ma
Thiền, đã từ các Thiền phái làm nổi bậc một sắc thái
riêng để rồi không bao lâu đã trở thành một phái độc
lập.
Mục
đích của người tu Thiền là muốn thể hiện ý nghĩa của
cái ngã tuyệt đối ngay trong cõi hiện thực. Những người
này từ xưa đến nay sống trong vòng sinh tử, nhưng họ vẫn
thấy tự do, tự tại, rất hoạt động mà vẫn giữ được
vẻ thái nhiên tự nhược, lâng lâng thanh thoát tựa hồ như
không làm gì cả.
Nhưng
ở đây có điểm ta cần lưu ý là trong số những nhà Thiền
học của Thiền-Tông cũng có người vì quá sốt sắng với
sự thích ứng hoạt động đó mà đôi khi quên bẵng mất
phần tự nội chứng rồi chỉ nhận phần gướng ngoại là
đặc sắc của Thiền. Ðối với những người đó nếu không
cảnh giới kịp thời sẽ rất có hại cho sự nghiệp tiến
tu.
Bản
chất của Thiền, bất luận là giải thích như thế nào cũng
đều phải lấy phần tự nội chứng làm căn bản, nếu xa
rời nó thì dù người tu Thiền có hướng ngoại hoạt động
một cách xảo diệu đến đâu đi nữa cũng quyết không phải
là sự diệu dụng của Thiền. Gần đây Thiền chân chính
đã suy yếu, chỉ còn thịnh hành những công án cổ xưa mà
thôi.