CHƯƠNG
THỨ TƯ
TINH
THẦN CỦA ÐẠI THỪA.
TIẾT
THỨ NHẤT: TIỂU THỪA LÀ GÌ?
Muốn
thuyết minh tinh thần Ðại Thừa, trước hết ta hãy nói qua
về Tiểu Thừa, bởi vì một khi nói đến Ðại Thừa, người
ta thường liên tưởng đến ngay đối thủ của nó là Tiểu
Thừa. Cho nên nếu không hiểu đặc chất của Tiểu Thừa
thì cũng khó mà lý giải được tinh thần Ðại Thừa.
Ðức
Phật lấy Ðại Thừa làm chủ hay lấy Tiểu Thừa làm chủ?.
Câu hỏi này, về phương diện giáo lý, thời xưa có nhiều
tranh luận. Theo ý kiến riêng tôi, khi đức Phật còn tại
thế vẫn chưa có sự phân biệt Tiểu Thừa, Ðại Thừa, như
vậy ta không thể khẳng định Tiểu Thừa hay Ðại Thừa đã
được đức Phật đặc biệt lưu ý. Trên lịch sử giáo hội,
vào thời đức Phật vẫn chưa có Tiểu Thừa , Ðại Thừa
đối lập nhau; mà về phương diện giáo lý cũng thế, chưa
có sự phân biệt giáo lý Tiểu Thừa và giáo lý Ðại Thừa.
Tất cả sự phân chia đều là hiện tượng đã phát sinh sau
thời Phật nhập diệt.
Nhưng
tại sao cùng là giáo lý của Phật mà lại chia ra Ðại Thừa
giáo và Tiểu Thừa giáo?. Nếu đứng về phương diện lịch
sử mà giải đáp thì vấn đề này tuy có nhiều khúc mắc,
nhưng tóm lại thì không ngoài sự giải thích bất đồng về
chân tinh thần của Phật. Nghĩa là Tiểu Thừa đối với giáo
pháp hặc hành pháp của Phật chuyên đứng về mặt hình thức
để giải thích; trái lại. Ðại Thừa coi nhẹ hình thức
mà chú trọng nội dung, đó là sự phân chia khác biệt của
hai phái. Nhưng nếu suy cứu cho cùng, ta thấy chính đức Phật
là căn nguyên đã phát sinh ra sự giải thích bất đồng ấy.
Như chúng ta đều biết đức Phật căn cứ vào sự thể nghiệm
của chính mình để xướng lên một cuộc vận động tôn
giáo mới, điều này tưởng không cần nhắc lại. Nhưng khi
thuyết giáo cho hàng đệ tử hoặc tín chúng, đức Phật đã
rất lưu ý những tập quán của thời đại và những hoàn
cảnh lúc bấy giờ. Ðặc biết đức Phật đã mở rộng cửa
giáo pháp của Ngài, thâu nhận người của bốn giai cấp mà
trong đó rất nhiều người kém hẳn phần hiểu biết, cho
nên đối với việc chỉnh lý giáo đoàn, đức Phật đã phải
đặt ra những quy định và đặc biệt chú ý. Do đó, giáo
pháp của Phật có hai phương diện là bản chất giáo và phương
tiện giáo. Song đức Phật đã không quy định phân biệt trước
giáo pháp nào là nhất thời, giáo pháp nào là vĩnh viễn,
cho nên sau khi Phật nhập diệt, đối với chân tinh thần của
giáo pháp đã có nhiều ý kiến bất đồng, đó là sự kiện
tất nhiên không thể tránh khỏi.
Tiểu
Thừa giáo rút lại chỉ là hình thức phái, vì chủ trương
Phật quy định thế nào thì cứ thế mà thực hành, Phật
nói thế nào thì cứ thế mà tiếp thụ, đó là châm phái.
Bởi vậy, ta thấy về hình thức, phái này có vẻ rất trung
thức với điều mà đức Phật đã làm, hơn nữa sau khi Phật
nhập diệt, phái này vẫn theo hình thức mà duy trì giáo đoàn.
Cho nên ta không lấy làm lạ khi thấy phái này rất hưng thịnh
sau thời gian Phật mới nhập diệt. Nhưng một khi quá câu
nệ vào hình thức thì tất phải sao lãng phần tinh thần.
Nếu cứ làm theo đũng với những gì Phật đã quy định và
đã nói, cũng là một điều hay, nhưng vì thời thế biến
thiên, hoàn cảnh xã hội mỗi ngày một đổi khác, nếu không
thích ứng được thì tất nhiên có nhiêu chỗ trở thành vô
dụng, âu cũng là một điều khó tránh.
Tiểu
Thừa thật sự dần dần đã có khuynh hướng bảo thủ, chỉ
thiên trọng hình thức mà quên hẳn cái tinh thần sống động
của đức Phật, kết quả là nền Phật Giáo hoạt diệu,
đầy hứng vị nhân sinh do đức Phật khai sáng cũng đã dần
dần trở thành khô cứng, mất hết tính chất dung thông, đó
là lẽ tự nhiên. Ðiều mà Tiểu Thừa lưu ý và tận dụng
năng lực để thực hiện là: làm cách nào để bảo truyền
tăng già và quy luật của tăng đoàn và thuyết minh giáo pháp
của Phật như thế nào. Và đương nhiên là nền thần học,
theo danh từ chuyên môn, là A-Tỳ-Ðạt-Ma, như vậy đã trở
thành quá phiền toái đến nỗi một nhà chuyên môn dù cố
gắng suốt đời tìm hiểu cũng không thể lý hội được
một cánh hoàn toàn.
Trong
những người không hiểu Phật Giáo, có một số cho rằng
giáo lý Tiểu Thừa nông cạn, nhưng đó là một nhận xét
vô cùng lầm lẫn. Trái lại, phải nói giáo lý Tiểu Thừa
quá phiền toái, quá khó khăn mới đúng. Tóm lại, Tiểu Thừa
chỉ chú trọng đến phần hình thức mà không hiểu rằng
vì muốn hoá độ đệ tử, đức Phật đã phải tuỳ theo
căn cơ đặt ra nhiều phương thức, chứ thật ra không phải
phần chủ yếu của Phật, nhưng lại coi đó là toàn thể
mà sao lãng cái tinh thần hoạt bát của giáo pháp cũng như
nhân cách của Phật. Cứ duy trì hình thức cũng là một việc
hay, nhưng như vừa nói ở trên, một khi quá câu nệ vào hình
thức thì phần tinh thần tất nhiên bị bỏ quên, điều này
trong lịch sử Phật Giáo Ấn Ðộ là một sự thật không
thể phủ nhận.
TIẾT
THỨ HAI: CHỦ NGHĨA TINH THẦN CỦA ÐẠI THỪA.
Ðể
đối phó lại chủ nghĩa hình thức của Tiểu Thừa, Ðại
Thừa lấy chủ nghĩa tinh thần làm tiêu bàng. Người phật
tử chân chính quyết không phán định những quy luật hoặc
giáo pháp của Phật một cách vội vàng hấp tấp, hay nhắm
mắt tin theo một cách mù quáng, mà phải tham chiến tinh thần
của Phật, đó là lập trường của Ðại Thừa. Theo Ðại
Thừa, những quy luật nhất thời mà đức Phật quy định,
và giáo pháp đức Phật tuỳ cơ phương tiện nói cho mỗi
cá nhân đều chưa đựng một tinh thần tôn quý, điều đó
tưởng không cần nói cũng rõ. Nhưng trong khi dùng phương tiện
nói pháp để thực hiện lý tưởng cao cả của Ngài, tuy ở
một thời gian hay nơi chỗ nào đó, đức Phật đã thực hiện
được một phần nào lý tưởng đó, nhưng quyết không thẻ
trong một thời gian hoặc nơi chỗ ấy mà phối hợp được
toàn bộ lý tưởng của Ngài. Mà toàn bộ lý tưởng của
Phật là cái tinh thần lớn nằm trong nội dung của các buổi
thuyết giáo nhất thời, và ẩn sau lớp hình thức quy luật
phương tiện, cho nên hễ nắm được cái đó mới thật là
đã nắm được tinh thần Phật Giáo. Song, nói một cách thực
tế, lý tưởng và tinh thần đó của phật tất kính của
là gì ? Về điểm này ngay trong hàng ngũ Ðại Thừa lại cũng
có nhiều ý kiến khác nhau.
Ngày
nay, Phật Giáo Nhât Bản tuy là Phật Giáo Ðại Thừa, nhưng
cũng có nhiều lập trường bất đồng, đó là một sự thật.
Tuy nhiên họ điều đồng ý ở điểm là: ngoài mớ hình thức
và câu văn ra, cần phải nắm được chân tinh thần của Phật,
mà chủ trương này bắt đầu từ thời nào?. Nếu nói theo
lịch sử thì tất nhiên là sự kiện xảy ra sau thời đại
Tiểu Thừa Phật Giáo, có thể nói rằng vào khoảng đầu
thế kỷ thứ nhất Tây-Lịch. Bởi vì đến thời kỳ này,
Phật Giáo Tiểu Thừa đã dần dần trở nên khô cứng, chủ
nghĩa hình thức hoá của giáo hội đã quá rõ rệt, đồng
thời tư tưởng giới lúc đó cũng bắt đầu biến động,
nền Phật Giáo hình thức hủ hoá khó có thể còn đáp ứng
được yêu cầu của lòng người, do đó mà cuộc vận động
tự do của Ðại Thừa được phát khởi. Theo ý nghĩa này
ta có thể nói rằng Ðại Thừa là cuộc vận động cách mệnh
Phật Giáo để thích ứng với tinh thần thời đại. Nếu
tìm đến uyên nguyên thì ý nghĩa đó đã chứa đựng ngay
trong chính bản thân đức Phật, đồng thời mặc dầu Tiểu
Thừa đang ở vào thời kỳ toàn thịnh, nhưng tư trào ấy
cũng đã ngấm ngấm sôi động trong lòng người.
Trở
lên, ta đã trình bày lý do căn bản tại sao cùng là Phật
Giáo mà chia thành Ðại Thừa, Tiểu Thừa khác nhau? tiến thêm
bước nữa, tôi tưởng nên thuyết minh về giáo lý, lý tưởng
xem có gì sai khác giữa Ðại Thừa và Tiểu Thừa. Nếu nói
một cách tỉ mỉ thì vấn đề này tuy vô cùng phức tạp,
nhưng ở đây chúng tôi chỉ trình bài qua những điểm chủ
yếu mà thôi.
TIẾT
THỨ BA:
ÐỨNG
TRÊN LẬP TRƯỜNG HÌNH THỨC QUAN SÁT
TIỂU
THỪA VÀ ÐẠI THỪA.
Trước
hết hay nói về phần hình thức:
1)
Tiểu Thừa lấy giáo hội làm bản vị, cho nên không thiên
trọng cá nhân mà thiên trọng đoàn thể. Vì muốn duy trì
giáo đoàn cho nên đã tạo thành chủ nghĩa hình thức, đó
là lẽ tự nhiên. Sau này tuỳ chia ra làm mười tám hoặc hai
mươi bộ phái khác nhau, nhưng bất luận là phái nào thường
cũng lấy đoàn thể làm bản vị để phân chia và chỉnh lý.
Ðại Thừa, trái lại là sản phẩm tự do, cho nên lúc đầu
không thiên trọng đoàn thể mà chú trọng cá nhân, do đó
không nhất định dự tưởng giáo thuyết của một phái nào.
Dĩ nhiên, về sau cái gọi là tôn chỉ Ðại Thừa, nếu căn
cứ vào Nhật Bản ngày nay mà nhận xét, thì tựa hồ như
có nhiều đoàn thể khác nhau, nhưng tìm đến điểm xuất
phát của nó thì chưa chắc đã lấy giáo hội làm điều tất
yếu.
2)
Ðể thích ứng với đặc chất đó, Tiểu Thừa chuyến lấy
tăng lữ làm chủ. Trái lại, Ðại Thừa coi cả tăng cũng
như tục đều được dự phần nào vào sự cứu tế và giải
thoát. Tuy nhiên, trên giáo đoàn Tiểu Thừa tuy có đủ bốn
chúng: Tỷ khưu, Tỷ khưu ni, Ưu bà tắc,Ưu bà di, nhưng về
mặt sinh hoạt của giáo đoàn thì chỉ lấy người xuất gia
làm chủ. Hơn nữa, cái hình thức sinh hoạt đã được đặc
biệt quy định duy chỉ có một số người nhất định có
đủ khả năng thực hành, dần dần đã trở thành gần như
xa la hẳn với quần chúng phổ thông. Còn về phần giáo lý
cũng như đã nói ở trên, đã trở nên vô cùng phiền toái,
không còn tính cách phổ biến cho mọi người, nên giáo lý
đó cũng gần thành như của riêng một số người đặc biệt
có khả năng tiếp tục mà thôi.
Ðại
Thừa, trái lại, là sản phẩm tự do cá nhân, không hạn chế
trong hàng tăng lữ; không những không câu nệ vào nhưng tập
quán tăng lữ truyền thống mà còn mở rộng phương diện
tự do cho tín chúng, cho nên đã được nhiều người hưởng
ứng và thực hành. Hãy thử duyệt qua các kinh Ðại Thừa
như kinh Duy Ma, kinh Thắng Man mà trong đó những nhân vật chính
cũng như Duy Ma cư sĩ, Thắng Mạn phu nhân đều là những thiện
nam tín nữ tại gia. Mà những người này đối với những
đệ tử của Phật theo chủ nghĩa hình thức, tức là các
bật Thanh Văn, đều tỏ ra khinh thị. Không những thế, về
lý tưởng Bồ-Tát của Ðại Thừa, nếu xét đến bản chất
của nó, thì Bồ-Tát là vị hậu bổ của Phật, là người
tín đồ trên thì cầu đạo giác ngộ, dưới thì hoá độ
chúng sinh. Do đó có sự thấy rõ quan hệ giữa Ðại Thừa
và người đời thật vô cùng mật thiết. Nếu nói một cách
đúng đắn thì những người chủ trương Ðại Thừa lúc đầu
hầu hết có thể nói là những người tại gia. Căn cứ vào
ý nghĩa này, nói theo ngôn ngữ ngày nay, ta có thể nói Tiểu
Thừa là tôn giáo của chủ nghĩa quan liêu. Tuy cũng nói rằng
tuân hành giáo lý bình đẳng của Phật, nhưng đã đặt ra
nhiều hạn chế trong hàng tăng lữ. Còn Ðại Thừa thì coi
tại gia, xuất gia, thiện nam, tín nữ đều theo cùng một con
đường của Phật, tu hành mong thành Phật quả: theo tôi, Ðại
Thừa có thể được coi là tôn giáo có tính cách chủ nghĩa
dân chủ. Chính do ở điểm này mà những người Ðại Thừa
tự nhận mình là lợi tha để bài xích những người Tiểu
Thừa là theo chủ nghĩa tự lợi.
3)
Tiểu Thừa có tính cách chuyên môn, Ðại Thừa có tính cách
thông tục, đó là điểm khu biệt chủ yếu giữa Ðại Thừa
và Tiểu Thừa. Như đã nói ở trên, trong số những người
học Phật cũng có người cho rằng Tiểu Thừa không có sức
sáng tạo, còn Ðại Thừa thì quá sâu xa, đây là một ngộ
nhận. Nếu nói cho đúng, phải nói là Tiểu Thừa phiền toái
khó khăn, còn Ðại Thừa thì đơn giản, rõ ràng. Ðứng về
phương diện học Phật mà nói, chẳng hạn như luận Câu Xá,
luận Bà Sa, dù một người chuyên môn khảo cứu cũng vẫn
thấy có điểm khó khăn, mà hai bộ luận trên là Tiểu Thừa.
Còn niệm danh hiệu Quán Thế Âm, để cầu xin cứu giúp, hoặc
tin vào bản nguyện của Phật Di Ðà để cầu vãng sinh là
những giáo pháp cực đơn giản và thông tục, mà giáo pháp
này là nền thần học của Ðại Thừa. Ðó là sự tiến bộ
của Ðại Thừa. Duy đứng về phương diện thâm, thiển mà
nói, thì vô luận ở vào trường hợp nào ta cũng có thể
nói là Ðại Thừa thâm, Tiểu Thừa thiển. Vì Tiểu Thừa
chuyên lưu tâm về sự chỉnh lý, lấy việc chú thích làm
chủ mọi công tác, cho nên chỉ có mỗi một điểm là phiền
toái. Trái lại, Ðại Thừa lấy lý tưởng của Phật làm
mục tiêu, cho nên có thể tiến đến chỗ sâu rộng.
TIẾT
THỨ TƯ:
SỰ
BẤT ÐỒNG VỀ NỘI DUNG.
Thứ
đến phần nội dung, nghĩa là những phương pháp bất đồng
trong việc xây dựng giáo lý.
1)
Ðứng về phương diện lý tưởng mà nhận xét thì Tiểu Thừa
nói một cách cụ thể, lấy đệ tử của Phật làm lý tưởng
tối cao; đến Ðại Thừa thì lấy Phật làm lý tưởng, đó
là điểm khu biệt chủ yếu thư nhất. Theo Tiểu Thừa, Phật
là một nhân vật đặc biệt, người thường không thể sánh
kịp, dù có cố gắng tu hành cũng không được như Phật,
mà chỉ là đệ tử Phật, nói theo danh từ chuyên môn là các
vị Thanh Văn mà quả vị tối cao, một đệ tử Phật có thể
đạt được là quả vị La Hán, chứ không phải quả vị
Phật. Ðại Thừa, trái lại, cho rằng hết thảy chúng sinh
đều có Phật-tính. Người nào đã hoàn toàn thực hiện được
cái bản thể của Phật-tính đó thì được gọi là Phật,
bởi vậy nếu chúng ta cố gắng đều cũng có thể được
thành Phật. Xuất phát từ lập trường ấy cho nên Ðại Thừa
tất nhiên lấy Phật làm lý tưởng.
2)
Cách nhận xét về đức Phật, giữa Ðại Thừa và Tiểu Thừa
cũng có nhiều sai khác, đây cũng là lẽ tự nhiên. Theo Tiểu
Thừa, Phật là một nhân vật đặc biệt, công phu tu luyện
qua nhiều điều kiếp mới thành, bởi vậy trong thế gian này
không có hai đức Phật cùng xuất hiện một lúc. Ở quá khứ
hay vị lai tuy có nhiều Phật, nhưng ở hiện tại thì chỉ
có một Phật. Trái lại, Ðại Thừa chỉ vì chủ trương rằng
mọi người đều có Phật- tính và cần làm sao cho Phật tính
ấy thể hiện được toàn vẹn tức là thành Phật. Bởi thé
khi nói đến Phật không nhất định hạn chế một Phật ở
hiện tại. Trong vũ trụ bao la này có vô số thế giới, để
thích ứng với đều đó, Ðại Thừa nhận có vô số Phật
thường do bản nguyện cứu độ chúng sinh mà xuất hiện.
Như phương Tây thì có Phật A Di Ðà, phương Ðông có Phật
A Sơ những tín ngưỡng này thật sự đã phát sinh từ điểm
kể trên.
3)
Do quan niệm về đức Phật đã có sự sai khác nên đối với
quan niệm về Bồ-Tát giữa Ðại Thừa và Tiểu Thừa cũng
có sự bất đồng, đó là điều ta không thể bỏ qua. Danh
từ Bồ-Tát, nếu tìm đến bản chất thì danh từ đó là
tên của đức Phật khi chưa xuất gia, có nghĩa là người
đi tìm cầu đạo Bồ Ðề. Mà vị Bồ-Tát tìm cầu đạo
Bồ Ðề là hoàn toàn muốn vì cứu vớt chúng sinh như trong
kinh bản sự đã nói, trong khoảng năm trăm kiếp ra vào đường
sinh tử, hiện không biết bao nhiêu thân. Vì muốn cứu chúng
sinh mà sau mới thành Thích Ca Mâu Ni tu hành trong kiếp này.
Song, theo sự giải thích của Tiểu Thừa, các hạnh tu của
vị Bồ-Tát này chỉ là công hạnh của Phật ở quá khứ
và hiện tại, chứ không phải những người thường là đệ
tử Phật có thể so sánh được. Do đó, những công hạnh
ấy không liên can gì với chúng ta cả. Ðại Thừa lấy Phật
làm lý tưởng, về điểm này, Ðại Thừa chủ trương bất
cứ ai tu hạnh Bồ-Tát đều có thể thành Phật được cả.
Ðể thích ứng với hiện tại có vô số Phật, Ðại Thừa
cũng cho rằng ở hiện tại có vô số Bồ-Tát làm cứu độ
chúng sinh. Chẳng hạn như tín ngưỡng về Quan Âm, Thế Chí,
Văn Thù, Phổ Hiền v.v. thật sự đã xuất phát từ điểm
này. Song những người theo Ðại Thừa, tuy lấy Phật làm lý
tưởng nhưng lý tưởng đó không thể thực hiện được một
cách nhanh chóng và dễ dàng. Về vấn đề quan hệ trước
hết phải lấy Bồ-Tát làm lý tưởng, vì Bồ Tát là môi
giới, là người dẫn đạo đến quả vị Phật. Do lòng tin
ấy cho nên nhiều người cùng sùng bái Bồ-Tát, và trên thực
tế làm theo những hạnh tự lợi lợi tha của Bồ-Tát. Do
ý nghĩa này mà Tiểu Thừa được gọi là Thanh Văn Thừa,
và Ðại Thừa là Bồ-Tát Thừa. Song có một điểm rất hứng
thú là: Bồ-Tát nguyên là danh hiệu chỉ người thế tục
phát tâm cầu đạo, trên vấn đè quan hệ, bậc đại Bồ-Tát
của Ðại Thừa phải hiện tư thái của người thế tục.
Nghĩa là nếu đứng về phương diện mỹ thuật hiện đại
mà nói thì ngoài Bồ-Tát Ðại Tạng đầu tròn áo đen ra các
vị Bồ-Tát khác đều đội mũ, mặc áo anh lạc, dáng mạo
lộng lẫy trông như những vị thân sĩ, thục nữ vậy. Có
lẽ đây là một điểm ám chỉ Ðại Thừa là tôn giáo của
những người thế tục.
Ngoài
tất cả những điểm kể trên, đối với Niết-Bàn, giữa
Ðại Thừa và Tiểu Thừa cũng có những nhận xét khác nhau,
mà Niết-Bàn là lý tưởng chung cùng của Phật Giáo. Nó là
cảnh giới tuyệt đối vẵng lặng, giải thoát, không còn
phiền não khổ đau. Nhưng cảnh giới đó như thế nào? Về
điểm này, trên phương diện giáo nghi học, có nhiều giải
thích khác nhau. Theo Tiểu Thừa thì Niết-Bàn là một cảnh
hư vô tịch diệt, do đó lý tưởng Niết-Bàn của Tiểu Thừa
đượm một màu sắc vô cùng tiêu cực. Nhưng Ðại Thừa giải
thích về Niết-Bàn có tính cách hoạt động và tích cực
hơn. Không như Tiểu Thừa, Niết-Bàn là một nơi hư vô tịch
diệt, mà trái lại là đại nguyện cứu độ chúng sinh, vĩnh
viễn hoạt động mà lòng không nhiễm trước, đó mới là
lý tưởng Niết-Bàn chân thật. Và Niết-Bàn đó được mệnh
danh là Vô-Trụ Niết-Bàn. Hiện giờ như Bồ-Tát Quan Âm, Văn
Thù không nhập Niết-Bàn, mà chỉ vì lòng từ bi vô hạn vẫn
tiếp tục hoạt động để cứu độ chúng sinh. Nếu nói một
cách tỉ mỉ thì còn rất nhiều điểm khác biệt giữa Tiểu
Thừa và Ðại Thừa, song nếu đi sâu vào chi tiết quá, vấn
đề sẽ trở nên phức tạp, cho nên chỉ tạm nói sơ lược
một vài điểm hệ trọng thôi. Tóm lại, đặc sắc của Ðại
Thừa là tự chủ, Tiểu Thừa là tha luật. Ðại Thừa thiên
trọng tinh thần, Tiểu Thừa thiên trọng hình thức. Ðại
Thừa có tính cách sáng tạo, Tiểu Thừa có tính cách truyền
thống. Ðại Thừa có màu sắc thế gian, Tiểu Thừa xuất
thế gian. Ðại Thừa có tính cách thần bí, tổng hợp, Tiểu
Thừa có tính cách đạo lý, phân tích. Ðại Thừa hoạt động,
Tiểu Thừa phi hoạt động. Ðại Thừa có tính cách dân chủ,
Tiểu Thừa có tính cách quan liêu. Theo tôi, những sự phân
tích kể trên đại khái rất phù hợp.
TIẾT
THỨ NĂM:
CHÂN
KHÔNG DIỆU HỮU VỚI LẬP TRƯỜNG
CỦA
CÁC KINH ÐIỂN ÐẠI THỪA.
Trở
lên đã nói một cách đại thể về những điểm sai khác
giữa Ðại Thừa và Tiểu Thừa, nhưng còn một điểm cực
kỳ trọng yếu: đó là vấn đề tìm hiểu tinh thần Ðại
Thừa. Nghĩa là nhân sinh quan của Triết-học Ðại Thừa như
thế nào? Vấn đề này có quan hệ đến tất cả những điểm
đã được trình bài ở trên. Ðại Thừa, về mọi phương
diện, là tôn-giáo thông tục, bởi thế không nhất định
là thế giới quan triết học. Song, vì Phật Giáo là một tôn
giáo triết học nên mặc dầu bên ngoài không biểu hiện tình
hình đó, nhưng đằng sau thường cũng dự tưởng một triết
học nhân sinh quan. Vả lại, nền thần học của Ðại Thừa
đã được xây dựng trên cở sở triết học thâm thuý của
Tiểu Thừa, cho nên khi nói đến Ðại Thừa thông thường
người ta hiểu ngay là chỉ về phương diện triết học.
Nhưng
thế giới quan của triết học Ðại Thừa như thế nào? Ðều
này tuy cùng là Ðại Thừa nhưng cũng có chủ trương khác
biệt: bởi thế quan niệm về triết học cũng có nhiều điểm
bất đồng. Tuy nhiên, nếu nói một cách đại khái, thì theo
tôi tất cả đều quy nạp về bốn chữ "Chân-không Diệu-Hữu".
Chân-không nghĩa là hết thảy hiện tượng đều không có
tự tính, còn Diệu-hữu là chỉ sự tồn tại của vạn pháp
mặc dầu vạn pháp đó không có tự tính. Hai quan niệm này
không bao giờ lìa nhau, đó là đặc sắc của Triết-học Ðại
Thừa. Về phía Tiểu Thừa có những nhà quan niệm luận cho
rằng hết thảy các pháp đều giả danh, không có thực thể.
Nhưng trái lại, cũng có những người chủ trương ba đời
thật có, pháp thể hằng có, đó là Bộ-phái Thực-tại-luận
cực đoan. Ðại Thừa chỉ dương thống hợp cả hai quan niệm
đó mà chủ trương Chân-không tức Diệu-hữu. Ðó là chổ
lập cước căn bản của Ðại Thừa. Dĩ nhiên, về triết
học Ðại Thừa, cũng có người chỉ thiên về phương diện
Chân-không mà lập thành thế giới quan nhưng cũng có ngưới
phản đối chủ trương ấy mà nghiêng về phương diện Diệu-Hữu
để khảo sát các hiện tượng.
Tuy
có những chủ trương tương phản đó, nhưng bất luận chủ
trương nào cũng đều thừa nhận rằng:Chân-Không không ngoài
Diệu-Hữu và ngược lại. Nghĩa là khi đã đạt đến tuyệt
đối thì Chân-không là Diệu-Hữu tức Chân-Không. Ðó là
điểm cộng thông của tất cả các Bộ-phái Ðại Thừa .
Bây
giờ hãy đề cập qua đến những kinh điển chủ yếu của
Ðại Thừa. Trong tất cả kinh Ðại Thừa, bộ kinh Nguyên thủy
là căn bản nhất là bộ Bát-Nhã. Số lượng của bộ kinh
này tuy gồm sáu trăm quyển nhưng chủ yếu không ngoài việc
giải thích một chữ "không","không không","Ðại-không", rốt
ráo là "không", đó là lập trường của bộ kinh này.
Nhưng
nếu lấy chủ ý của Bát-Nhã mà giải thích là chủ nghĩa
hư vô thì đó là một điều hết sức sai lầm. Cứ theo kinh
Bát-Nhã thì cái sức phủ định "không không" ấy lại biểu
hiện thành cái sức khẳng định tối đại tự do. Do cái
sức đó mà trong một ngọn cỏ có thể bao gồm trăm nghìn
vạn ức núi Tu-Di, và trong một giọt nước có thể chứa
tất cả nước của bốn đại dương. Ðứng về phương diện
tâm lý mà nhận xét thì "không" của Bát-Nhã là cái năng động
thái thuần tuý, có thể nói nó là đương thể của ý chí
thuần tuý được thực hiện. Bởi vậy, Bát-Nhã cho rằng
hết thảy mọi hiện tượng đều do cái sức "không" đó biểu
hiện, thế giới là không, đồng thời không cũng là thế
giới. Theo ý nghĩa đó thì cái không của Bát-Nhã không phải
là cái không trống rỗng, cái "ngoan không", mà là cái "Chân-Không
Diệu-Hữu". Cái không ấy không thể dùng nhôn ngữ mà diễn
tả được, chỉ khi nào thể nghiệm được nó bằng trực
quan (intuition) ta mới có thể hiểu được một cách hoàn toàn.
Nhưng điểm khế cơ của cái không đó là ở chổ nhân cách
hoạt động, đặc biệt lấy việc từ thiện (bố thí) đức
hạnh (trì giới) nhẫn nại,nỗ lực (tinh tấn) tỉnh-quán
(thiền-định) nghĩa là lấy Lục-Ba-La Mật để thể hiện.
Như vậy ta có thể bảo đó là một chủ nghĩa tiêu cực hư
vô không?.
Tư
tưởng "không" của Bát-Nhã là tư tưởng căn bản của Phật
Giáo Ðại Thừa. Sau cái Chân- Không phủ định đó vẫn có
cái nhân cách khẳng định Diệu-Hữu. Nếu ta bỏ qua điểm
này thì sẽ không thể hiểu được nghĩa căn bản của Ðại
Thừa. Ðó là điểm ta nên chú ý trước hết. Ta có thể nói
hầu hết các kinh điển Ðại Thừa đều xuất phát từ tư
tưởng "không" của Bát-Nhã. Chẳng hạn như kinh Duy Ma thì
nội dung cũng nói đến Bát-Nhã, và ý nghĩa đặc biệt của
kinh này tôi đã trình bày qua ở các chương trước. Cư sĩ
Duy Ma thì hiện là một người thế tục, mà so sánh với các
vị Sa-môn xuất gia thì ông này lại thực hiện được lý
không của Bát-Nhã một cách dễ dàng hơn. Nghĩa là vì muốn
thể hiện tư tưởng Bát-Nhã giữa thế giới hiện thực mà
thể hiện ra cư sĩ Duy-Ma. Trên căn bản, kinh Pháp-Hoa vẫn
cùng thuộc hệ thống Bát-Nhã, nhưng đã tiến thêm một bước
nữa mà phát hiện Diệu-Hữu là cái cụ thể cùng cực của
Chân-Không, ta có thể nói đây là một điển trọng yếu mà
tư tưởng Bát-Nhã muốn đạt đến. Nói về thực tướng
của các pháp, tướng thường trụ thế gian. Bản thể của
Chân-Không là muốn hiển thị diệu nghĩa của thế gian, thể
hiện được cái nhân cách không đó thì gọi là Phật, nghĩa
là nhân cách cụ thể thừa nhận tính vĩnh viễn thường còn,
bất biến; sau nữa, lấy nhân cách cứu thế hoạt động và
cái bản nguyện của Bồ-Tát Quan-Âm là cứu khổ, cho vui làm
đại biểu cho sự sinh hoạt lý tưởng của con người. Thậm
chí như nàng Long Nữ chỉ mới tám tuổi mà cũng có thể thành
Phật, đó là cái ý chỉ pháp thể chúng sanh đều có Phật
tính đã được biểu hiện một cách rõ ràng và cũng là sự
kết cấu cùng cực của kinh Pháp-Hoa vậy. Sở dĩ kinh Pháp-Hoa
được tôn sùng là hoàn toàn ở điểm đó. Bởi vậy ở phía
sau dự tưởng về Chân-Không của Bát-Nhã, thật thì đó là
phần diệu hưu hiển hiện về mặt khẳng định hoạt động,
coi đó thì thấy nó đã biểu hiện ý nghĩa thật sâu xa. Bất
luận trên lãnh vực lịch sử hay giáo lý, cách nhận định
này là cách nhận định chân chính của kinh Pháp-Hoa.
Thứ
đến là kinh Hoa-Nghiêm. Bộ kinh này tuy không kém kinh Pháp-Hoa,
nhưng đứng trên lập trường phiếm thần luận mà nhận xét
thì chủ ý của kinh Hoa-Nghiêm cho rằng vạn vật trong vũ trụ
đều hỗ tương dung thông, không ngăn ngại, không gián đoạn,
lập sự diệu dụng pháp giới để thể hiện Ðại-Nhật-Như
Lai. Tuy nhiên nếu tìm đến nguồn gốc của vũ trụ đó, ta
vẫn thấy đã xuất phát từ tư tưởng "không" của Bát-Nhã.
Nghĩa là kinh Hoa-Nghiêm đã đem phần diệu dụng của Chân-Không
để biểu hiện về phương diện phiếm thần luận. Lại như
kinh Di Ðà (hay kinh Vô-Lượng-Thọ), chủ ý lấy bản nguyện
của Phật A-Di-Ðà dẫn dắt chúng sanh nhận Phật sinh về
nước Cực Lạc. Mới xem qua, ta tưởng như rất xa cách với
tư tưởng Bát-nhã. Song nếu ta tìm đến nghĩa lý và lịch
sử của tư tưởng đó, ta vẫn thấy tác dụng cứu tế của
đức Phật sáng suốt vô lượng, thọ mệnh vô lượng đã
được thể hiện từ chân không, đặc biệt là đã giải
thuyết sự hoạt động ở tương lai. Không thế thì sự tín
ngưỡng về Phật A-Di-Ðà rốt cục chỉ là một mẩu chuyện
thần thoại, chúng ta cần phải ghi nhận điểm này.
Ngoài
ra, nếu nghiên cứu tất cả các kinh điển Ðại Thừa ta sẽ
thấy bất luận dưới hình thức nào, không một bộ nào mà
không liên hệ đến kinh Bát-Nhã. Nghĩa là, trong mỗi bộ nếu
ta không nhận thấy ý nghĩa "không" thì cũng nhận thấy phần
Diệu-Hữu. Tuy vậy, nếu ta lại đi sâu hơn nữa mà nghiên
cứu ta có thể nói bộ kinh Ðại Thừa nào rốt cục cũng
đưa đến nghĩa Chân-Không, đó là một điểm rất rõ ràng.
Nhưng giải thích như có vẻ quá ư phiền toái, nhưng thật
thì đạo lý đó khó có thể dùng ngôn ngữ làm luận chứng
thừ khi người ta đã thể hiện bằng kinh nghiệm bản thân.
Bởi thế đã có nhiều người, đặc biệt là những học
giả Tây phương thường cho Phật Giáo Ðại Thừa chủ ý đưa
người ta đến một chủ nghĩa hư vô. Ðó chẳng qua là người
ta đã hiểu nghĩa Chân-Không một cách hời hợt, và không
có ý thức về Diệu-Hữu, cho nên mới chỉ nhìn thấy mặt
tiêu cực chứ không thấy phần tích cực của tư tưởng Ðại
Thừa. Chân-Không quan hệ đến Diệu-Hữu là chân lý triết
học Ðại Thừa, ta nên ghi nhớ rõ điểm này.
Tóm
lại, nếu nhận xét về phương diện khái niệm thì Chân-Không
tựa hồ như trống không, nhưng về phương diện thể hiện
thì lại rất cụ thể rất hiện thực. Như đã nói trên hoặc
theo lịch trình tiêu cực, nhưng tối hậu, bất luận về phương
diện thực tế hay lý luận, đạt một kết luận sinh hoạt
thực tế và khẳng định đó là chủ ý của tư tưởng Ðại
Thừa.
TIẾT
THỨ SÁU:
THỰC
HIỆN TINH THẦN ÐẠI THỪA.
Trở
lên tuy đã nói qua về mọi phương diện, nhưng cũng đã thuyết
minh phần nào đặc chất của Ðại Thừa. Sau đây ta hãy đề
cập đến phương pháp thực hiện tinh thần và triết lý của
Ðại Thừa. Nếu đứng về phương diện lịch sử mà nói
thì Ðại Thừa chia ra rất nhiều ngành, bởi vậy nếu nói
một cách tóm tắt thì rất khó khăn. Lập trường của những
kinh điển Ðại Thừa như đã nói ở trên, đối với phương
pháp thực hiện tinh thần Ðại Thừa cũng có nhiều chỗ bất
đồng. Nếu nói về phương diện tâm lý học thì trong Ðại
Thừa hoặc có phái chỉ chuyên chú trọng trí tuệ, do trí
tuệ đưa đến trực quan để thể nghiệm lý Chân-Không Diệu-Hữu.
Hoặc cũng có phái chuyên về tình cảm thuần chân, muốn từ
chỗ tín ngưỡng mà thể nghiệm trí đó. Xem thế đủ biết
tuy cùng trong Ðại Thừa mà có nhiều sự phân biệt như thế.
Tuy
nhiên, nếu có một phương pháp căn bản để thực hiện tinh
thần Ðại Thừa trong những đường hướng vừa kể trên
thì tất đó phải là cái đại thệ nguyện của Bồ-Tát,
nghĩa là trên cầu đạo giác ngộ dưới cứu độ chúng sinh.
Một mặt tìm cầu chân lý để hoàn thành lý tưởng giác
ngộ của chính mình, đồng thời, mặt khác phát nguyện cứu
độ hết thảy chúng sinh. Mà đặc sắc của Ðại Thừa đối
với nỗ lực trên cầu đạo Bồ-Ðề, dưới hoá độ chúng
sinh này không thể chia ra làm hai mà phải luôn luôn hợp nhất.
Nghĩa là mưu cầu sự giác ngộ cho chính mình, rồi lại mưu
cầu sự giác ngộ cho kẻ khác, đó là điều kiện tất yếu
để đi đến sự hoàn thành. Hai việc đó tuy có hai phương
diện nhưng cùng một thể, đó là đặc sắc của Ðại Thừa.
Nếu nói theo phương diện truyền thống thì cái nhân cách
mô phạm đó là hạnh nguyện Bồ-Tát của đức Phật ở các
kiếp trước đã được mô tả trong kinh Bản Sự. Song chủ
yếu của Ðại Thừa không phải tìm cầu ở quá khứ mà ngay
hiện tại này mỗi người phải phát nguyện tu hạnh Bồ-Tát
và thực hành thệ của Bồ-Tát. Mà sự thực hành đó không
phải chỉ hạn cục trong vấn đề hương hoa kinh kệ mà trong
tất cả lĩnh vực của cuộc sống đều phải phát huy đại
thệ nguyện ấy. Xem thế dủ biết cái đặc trưng của Ðại
Thừa thật có bao hàm một chủ nghĩa thế tục, nghĩa là trong
các lĩnh vực chính trị, thực nghiệp, lao động, chỗ nào
cũng có thể áp dụng và thực hiệntinh thần Ðại Thừa được
cả. Cho nên trong các kinh Ðại Thừa ta thường thấy có câu
(nhứt thiết thế pháp giai vi Phật pháp), nghĩa là hết thảy
các pháp thế gian đều là Phật pháp, chính là muốn biểu
dương tinh thần đó.
Tóm
lại, đặc sắc của tinh thần Ðại Thừa là ở chỗ đưa
tinh thần đó từ lĩnh vực triết lý hoặc thệ nguyện đến
lĩnh vực thực hành. Tuy đôi khi tinh thần ấy được thực
hành trên quan niệm giới, nhưng đó chẳng qua là giai đoạn
chuẩn bị cho việc thực hành. Ðiều này ta cứ xem như Bồ-Tát
được gọi là người hoàn thành Lục độ, Vạn hạnh, hoặc
là người thực hành thì đủ rõ. Mà lý tưởng Ðại Thừa
từ chỗ tự lợi, lợi tha, tiến thêm một bước nữa mà
nói là từ chỗ mình chưa được độ mà làm việc độ người
khác trước, mà để thực hiện lý tưởng đó, ta có thể
nói là muốn xã hội hoá lý tưởng đó vậy. Phật Giáo Ðại
Thừa từ xưa tới nay đã cố gắng nhiều trong việc thực
hiện lý tưởng ấy giữa xã hội, nhưng cho đến nay vẫn
chưa được hoàn toàn, và vì thế tinh thần trung trực của
Ðại Thừa vẫn chưa được thể hiện một cách trong xã hội.
Về
ý nghĩa này, người ta muốn đem lý tưởng Tịnh độ thể
hiện trong thế gian này để tạo thành một nền nhân gian
Phật Giáo, đó là muốn phát huy chân lý của Phật Giáo Ðại
Thừa mà sự thực hiện lý tưởng đó, như chúng ta đều
biết, là ở chỗ đưa lý Chân-Không Diệu-Hữu mà thực tế
hoá lvà sinh hoạt hoá. Nghĩa là do Chân-Không mà đã phá hiện
trang, đồng thời từ Diệu-Hữu tiến đến một quy tắc sinh
hoạt cao cả, rồi lại từ Chân-Không đưa quy tắc sinh hoạt
đó đến chỗ giải thoát. Lại tiến thêm một tầng nữa
là từ Diệu-Hữu tạo một quy phạm sinh hoạt trong thực tế
mà vẫn được giải thoát, không chấp trước. Cứ như thế
tiến lên cùng với xã hội thực tế đến vô cùng. Ta có
nói đó là lấy Chân-Không Diệu-Hữu làm bối cảnh để xã
hội hoá cái lý tưởng Niết-Bàn vô trụ vậy. Trong lịch
trình đó một vị Bồ-Tát cố gắng không ngừng và vô cùng
hoan hỷ trong việc mưu cầu sự bản nguyện cho bản thân,
đồng thời thực hiện sự mãn nguyện cho toàn thế giới.