CHƯƠNG
THỨ HAI
GIẢI
THOÁT LUẬN
TIẾT
THỨ NHẤT: GỢI Ý.
Tất
cả các tôn giáo, bất luận thuộc hình thái nào, đều lấy
yêu cầu giải thoát làm bối cảnh. Dĩ nhiên không phải tôn
giáo nào cũng chủ trương hết thảy là ý thức. Nếu chủ
trương yêu cầu giải thoát xuất phát từ ý thức thì sinh
hoạt quan của nhân loại sẽ trở thành một vấn đề hết
sức phức tạp và nan giải. Tư tưởng giải thoát là đặc
trưng của nền tôn giáo cao đẳng, bởi lẽ thời thái sơ
những tôn giáo mà loài người sản sinh ra chỉ là những tôn
giáo tự nhiên nên chưa có được tư tưởng đó. Song, đứng
về mặt biểu tượng mà nói, có phải tất cả tôn giáo đều
đồng nhất về giải thoát và nội dung của giải thoát không?
Trên căn bản, tuy cũng có điểm cộng thông, nhưng về mặt
hình thức biểu tượng, giữa các tôn giáo có nhiều điểm
bất đồng. Nghĩa là các tôn giáo tuy cũng cùng chủ trương
chủ nghĩa giải thoát, nhưng phần nhiều đứng trên các lập
trường khác nhau: đó là điều rất rõ ràng. Xa hơn nữa,
cũng có tôn giáo tuy chủ trương chủ nghĩa giải thoát, nhưng
khi khảo sát người ta không hiểu rõ nội dung của giải thoát
đó là gì, nó chỉ là một danh từ suông không thôi.
Bên
Tây-phương cũng có những tôn giáo hay triết học chủ trương
giải htoát. Điển hình nhất là các nhà triết học Hy-Lạp
như Pythagoras và Plato. Cơ Đốc Giáo dĩ nhiên là xây dựng
trên nền tảng giải thoát chủ nghĩa. Trong số các tư tưởng
gia Đức, trước hết phải kể đến Tiêu Bá Nội, cũng có
rất nhiều người chủ trương thuyết giải thoát. Nói tóm
lại, chủ nghĩa giải thoát và yêu cầu giải thoát ta có thể
thấy nó biểu hiện dưới nhiều hình thái và khắp nơi trên
thế giới, nhưng nếu muốn tìm đến chỗ xuất phát của
tư tưởng giải thoát thì ta không thể không tìm đến Ấn
Độ từ thời đại Áo Nghĩa Thư (triết học Upanishads) trở
về sau, tất cả tư tưởng Ấn Độ, không những chỉ đứng
trên lập trường giải thoát chủ nghĩa mà còn tận tâm tận
lực để phấn đấu giải thoát, ta có thể nói đều đó
ngoài Ấn Độ ra ta không thể tìm thấy ở một nơi nào khác.
Do đó nếu muốn hiểu rõ chủ nghĩa giải thoát toàn thế
giới, ta không thể không tìm hiểu giải thoát quan của Ấn
Độ.
Ở
đây chúng tôi gọi là Giải-thoát-luận là có ý muốn tìm
hiểu tất cả các loại giải-thoát-quan của Ấn Độ để
có được một khái niệm đầy đủ, đồng thời, mong tìm
ra cái ý nghĩa cộng thông giữa các giải-thoát-quan đó. Đương
nhiên, nếu khảo sát cho tường tận, thì đây là một vấn
đề vô cùng phức tạp và khó khăn, không thể một sớm một
chiều có thể nói hết, cho nên ở đây chúng tôi cũng xin
thanh minh trước là chỉ có thể cố gắng trình bày vấn đề
một cách khái quát đơn giản mà thôi. Và trước tiên chúng
tôi xin trình bày toàn bộ tư tưởng Ấn Độ về giải-thoát-quan.
Sau khi ở Tiết-thứ-ba, chúng tôi sẽ đặc biệt đề cập
đến nội dung của giải-thoát-quan Phật Giáo.
TIẾT
THỨ HAI: Ý NGHĨA VÀ CÁC LOẠI GIẢI-THOÁT-QUAN ẤN ĐỘ.
1-
Nguồn gốc của tư tưởng giải thoát:
Trước
đây, trong cuốn sách nổi tiếng của mình, cuốn “Phật Giáo
Nguyên-lý-luận” bác sĩ Muraye đã nhận định rằng các tông
phái Phật Giáo đều nhất quán về lý tưởng Niết Bàn, do
đó mà thảo luận về khả năng thống nhất Phật Giáo. Quan
điểm này rất đúng, song, nói đúng ra lý tưởng đó không
phải chỉ hạn cục trong các tông phái Phật Giáo, mà nói
rộng ra nó là toàn bộ tư tưởng của các giáo phái Ấn Độ
nữa. Vì cái gọi là Niết Bàn (Nirvana) hay Giải-thoát (Moksa)
thật ra cũng chỉ cùng một ý nghĩa là đã giải phóng được
cuộc sinh hoạt cá thể mà dựng nên cuộc sinh hoạt tinh thần
tự chủ và độc lập.
Nhưng
cái tư tưởng giải thoát đó đã phát xuất ở Ấn Độ từ
thời nào? Dĩ nhiên nó đã ngấm ngầm manh nha từ rất sớm
rồi, nhưng thật ra trở thành một tư trào rõ rệt thì đại
khái vào thời kỳ mà các tư trào Ấn Độ đang dần dần
tiến đến chỗ giác ngộ Tự-Ngã trở về trước. Nếu chiếu
theo văn-hiến, theo chỗ tôi tận lực nghiên cứu, thì vào
thời đại Lê-Câu-Về-Đà (Rg-Veda), đại biểu tư tưởng
tối cổ của Ấn Độ, nghĩa là vào khoảng 1500-1000 năm trước
Công-nguyên, tư tưởng giải thoát hầu như vẫn chưa biểu
hiện một cách rõ ràng. Vào thời đại đó, người Ấn Độ
cổ đại (nếu có) định cư tại khu vực Ngũ-Hà, tính tình
còn thuần phác và thanh thản, về mặt ý thức, vẫn chưa
cảm thấy sự mâu thuẫn khổ đau của cuộc sống. Nhưng từ
khi dân tộc Aryan Đại Thừa chuyển về phía Đông-Nam thượng
lưu sông Hằng-Hà, khai thác nền văn minh tại đây, dần dần
cúng tiến đến bản chất sinh hoạt trầm mặc, do đó tư
tưởng giải thoát cũng đã dần dần nảy nở. Tư tưởng
nay đã thấy tản mát trong Phạm-Thư (Bràhmanas), tức là khoảng
1000-800 trước Công-nguyên, vậy ta có thể coi là tư tưởng
giải thoát đã manh nha bắt đầu từ thời kỳ đó, và đặc
biệt đến cuối thời kỳ này nó đã trở nên rất rõ rệt.
Bắt đầu từ thời kỳ đó, các nhà tư tưởng Ấn Độ dần
dần đi tìm bản chất của Tự-Ngã và cho bản chất đó là
một linh thể bất sinh bất diệt, và lấy việc phát hiện
cái linh thể đó làm lý tưởng cứu kính của con người.
Ô-Da-Bái-Lỗ nói:
“Nguồn
gốc của tư tưởng giải thoát và tư tưởng luân hồi đều
phát xuất song song với nhau”. Rồi đến ông Đốc-Y-Tắc-Âm
nói: “Do sự hình thành tư tưởng Tự-Ngã mà đã phát sinh
ra tư tưởng luân hồi”. Nhưng theo chỗ tôi hiểu thì tư
tưởng luân hồi vẫn là kết quả của tư tưởng giải thoát,
cho nên ý kiến của hai ông nói trên có điểm đồng nhất.
Nghĩa là đối với vạn hữu, đặc biệt là tự thân con người,
người ta cảm thấy cần phải so sánh đối chiếu giữa cái
chân tướng của vạn vật. Và do cái ý hướng muốn xa lìa
giả tướng để trở về với chân tướng mà đã phát sinh
ra tư tưởng giải thoát. Song, tại Ấn Độ cái thời đại
mà tự đối chiếu giữa chân tướng và giả tướng được
bộc lộ một cách rõ ràng, đồng thời, vấn đề giải thoát
được luận cứu rộng rãi, dĩ nhiên là thuộc thời đại
Upanishads. Do đó, vấn đề giải thoát được thiên hạ đặc
biệt chú ý và đưa ra thảo luận vẫn là thuộc thời đại
Upanishads (800-500 trước kỷ nguyên). Đến thời kỳ này giải
thoát quan mới thật sự được quy định thành hình. Upaishads
nói: “cái bản tính của Tự-Ngã cùng với thật tại của
vũ trụ tức Phạm-Thiên là đồng nhất, bản lai thanh tịnh,
không nhơ nhớp, là cảnh giới diệu lạc, vĩnh viễn bất
biến. Nhưng vì mê mờ không thấy được cái chân tướng
ấy nên con người đã bị tách khỏi cái tính đồng nhất
kia để rồi phải lăn lộn trôi dạt trong bể khổ sinh tử,
bị đắm chìm và trói buộc mất hết tự do”. Cũng vì thế
mà cái lý tưởng cứu kính của con người là làm thế nào
để thoát ly được cảnh giới sinh tử trói buộc này để
trở thành với bản tính đồng nhất của Phạm-Thiên. Nền
giáo lý của Upanishads tuy rất mông mênh, nhưng cái quy kết
tối hậu thì không ngoài tư tưởng này. Mà một khi đã tin
như thế rồi thì một mặt miêu tả cái cảnh giới lý tưởng
đó càng tốt đẹp và sung sướng bao nhiêu, thì nhìn lại
hiện thực giới người ta càng cảm thấy mất sinh thú bấy
nhiêu. Do đó mà tư tưởng yếm thế cũng dần dần nảy mầm
và yêu cầu giải thoát cũng mỗi ngày một tăng. Như vậy
là tư tưởng triết học của Upanishads dù có không thừa nhận
học phái A-Đốc-Ma đi nữa, cũng đã lấy lý tưởng giải
thoát làm tối cao. Và như đã nói ở trên kia, nguồn gốc
và sự thành lập tư tưởng giải thoát là cái lý tưởng
đích thực cộng thông của mỗi học phái.
2)
-Các loại giải thoát quan:
Như
vừa lần lượt trình bày ở trên,các phái từ thời đại
Upanishads trở về sau, vì tất cả đều lấy giải thoát làm
trung tâm, nên giải thoát quan cũng trở về sau khi giải thoát
và phương pháp thực hiện giải thoát, do chỗ nhận xét bất
đồng của các học phái mà cũng có những sự trình bày khác
nhau. Nếu nói một cách cực đoan thì mặc dù các phái đều
lấy giải thoát làm trung tâm, nhưng chỉ vì giáo lý của các
phái bất đồng cho nên giải thoát quan dĩ nhiên cũng có những
điểm sai biệt. Song, muốn cho tiện lợi, và nếu phân loại
một cách đơn giản những tính chất hay khuynh hướng giải
thoát thì đại khái có bốn loại có thể thâu tóm toàn bộ.
Thứ nhất: giải thoát do nhờ nơi Nhân cách thần. Thứ hai:
giải thoát do nơi tinh thần độc lập cá nhân. Thứ ba: giải
thoát do sự phủ định ý chí sinh tồn và thứ tư: giải thoát
do tự kỷ thể hiện thực tại của vũ trụ, Phật tức tâm.
Thứ
nhất giải thoát nhờ nơi nhân cách thần. Người gây nghiệp
thiện, sau khi chết được sinh lên cõi trời Dạ Ma mà hưởng
mọi phúc báo: đó là tín ngưỡng đã có từ thời đại Lê
Câu Về Đà (Rg-Veda). Đến thời đại Upanishads, tín ngưỡng
đó được coi là chưa cứu kính, hơn nữa còn cho rằng cõi
trời vẫn chưa phải là cảnh giới giải thoát. Tuy nhiên,
tín ngưỡng đó vẫn được một thế lực phi thường vì
nó đã được phổ biến rộng rãi trong xã hội. Chẳng hạn,
khi nói về sự luân hồi của linh hồn thì Upanishads nói nó
đi trong Tổ đạo, Thiên đạo thì Thiên đạo đây cũng có
nghĩa là cõi trời. Thế nhưng, tại nơi này tuy coi đó là
một cảnh giới luân hồi, song tại nơi khác lại vẫn chưa
có là cảnh giới cứu kính. Đến thời đại học phái, thuyết
hữu thần của Nhất Thần Giáo nẩy nở và tín ngưỡng đó
càng ngày càng thịnh đạt thì người ta coi vị Thần duy nhất
ấy là lý tưởng giải thoát. Giải thoát quan của các phái
Tỳ Nữu Nao và Tháp Bà hoàn toàn xây dựng trên lòng tin đó.
Hình như tín ngưỡng vãng sinh Phật quốc của Phật Giáo cũng
thuộc hệ thống này, vì giải thoát quan này có tính cách
phổ thông và đầy hương vị tôn giáo nên đã được đón
nhận một cách rộng rãi trong xã hội. Mà đặc trưng của
giải thoát quan này là ở phương diện tha lực. Người ta
có thể thoát khỏi sự ràng buộc của hiện thế mà đạt
đến cảnh giới tự do nếu người ta được Thần ban cho
ân sủng đó. Nếu giải thoát quan của Tây-phương được
nói đến ở đây thì lập trường của Cơ Đốc Giáo có thể
nói cũng thuộc bộ loại này.
Thứ
hai, giải thoát quan do tinh thần độc lập cá nhân. Tinh thần
của mọi người là cái linh thể tự thân vốn thuần khiết
bất hoại, nhưng vì sự chướng ngại của vật chất nên
linh thể đó trở thành mất tự do không trong sạch. Bởi vậy,
nếu muốn đạt đến cảnh giải thoát, người ta chỉ cần
xóa bỏ những chướng ngại vật chất đó để tinh thần
cá nhân ra không có thật tại vũ trụ hoặc một vị Thần
biệt lập, do đó, ngoài bản tính của chính mình ra không
cần có một trạng thái nào khác để chuyển hướng. Cũng
như lau sạch bụi trên một tấm gương, chỉ cần tẩy trừ
những lớp bụi vật chất che lấp tâm tính là tức khắc
cảnh giới lý tưởng sẽ hiển hiện. Giải thoát quan này
đã tiềm tàng trong Upanishads, nhưng thật sự được biểu
hiện rõ ràng thì phải chờ đến phái Số luận và phái Du
Già. Vạn hữu sở dĩ có là do sự kết hợp giữa tinh thần
tính của Tự ngã và tự tính của vật chất tính, và đó
chính là cái nguyên lý trói buộc, vậy đoạn tuyệt được
sự cấu kết giữa những yếu tố đó tức là đã đạt đến
giải thoát, giải thoát quan của Kỳ Na Giáo cũng gần tương
tự như lập trường của phái Số luận, nghĩa là lấy việc
diệt trừ những ràng buộc vật chất khỏi tinh thần làm
lý tưởng tối hậu. Trong Phật Giáo, từ khi các học giả
thuộc Đại-chúng-bộ-hệ xướng thuyết Tâm Tính Bản Tịnh
đến Đại Thừa chủ trương thuyết Tất Hứu Phật Tính tức
là cái Linh thể của các phái kể trên, cho đến lập trường
diệt trừ khách trần phiền não để đạt giải thoát Niết
Bàn, thì chủ trương đó cũng có thể được coi là thuộc
về hệ thống này. Tóm lại, giải thoát quan của bộ loại
này là sản phẩm của tư tưởng triết học có khuynh hướng
Nhị nguyên luận. Vì nó lấy sự đối lập giữa tự ngã
và phi ngã làm điều kiện và cái phương pháp thực hiện
giải thoát không phải dựa vào tín ngưỡng mà xây dựng trên
trí tuệ, lấy sự tự lực tu hành làm thông lệ. Quan niệm
của Plato cho rằng nhục thể là nhà tù giam hảm tinh thàn
và muốn được giải thoát, người ta phải phá vỡ ngục
tù nhục thể: quan niệm đó cũng có thể được liệt vào
bộ loại giải thoát quan này.
Thứ
ba, giải thoát quan do phủ định ý chí sinh tồn. Giải thoát
quan này thuộc Nhị nguyên luận, một mặt bảo tồn bản tính
bất động, một mặt diệt trừ yếu tố bất định. Nhưng
quan niệm giải thoát thứ ba này lại cho sinh hoạt hiện thực
là mê vọng và muốn được giải thoát người ta phải hoàn
toàn chối bỏ sự sống mê vọng đó: đây là lý tưởng của
Tiểu Thừa Phật Giáo. Tiểu Thừa Phật Giáo đại biểu của
chủ nghĩa vô thần, vô ngã, lấy vô thường và khổ làm cương
yếu của nhân sinh quan. Do đó lý tưởng cứu kính của con
người không thể thấy ở những cái vô thườn, những cái
khổ, mà trái lại phải hoàn toàn chối bỏ những cái đó.
Nghĩa là phải diệt cho tuyệt cái ý muốn sinh tồn mới hy
vọng đạt đến cảnh giới giải thoát yên vui, và cảnh giới
đó được mệnh danh là Niết Bàn (Nirvana). Dĩ nhiên, danh từ
Niết Bàn, theo cách dùng ở thời đại Phật giáo Nguyên thủy,
tuy có bao hàm ý nghĩa tích cực, nhưng nếu theo ý nghĩa “dập
tắt”, “tiêu diệt” thì trong trường hợp này nó đã được
dùng đúng với ý nghĩa của nó. Theo chủ nghĩa này, ít ra
về mặt biểu tượng giải thoát có nghĩa là tiêu diệt hoàn
toàn sự sinh tồn hiện thực, cũng vì thế mà nhiều người
đã cho Niết Bàn là một cảnh giới tuyệt diệt hư vô. Trong
các phái Tiểu Thừa, khi Kinh Lượng Bộ chẳng hạn, đại
khái đã theo giải thích đó. Dĩ nhiên, trên thực tế cái
cõi tuyệt đối hư vô ấy không thể là lý tưởng của người
ta được, cho nên tuy các học giả Tiểu Thừa nhận đó là
hư vô, người sau này họ vẫn thừa nhận một cảnh giới
quan minh vĩ đại và thường còn, đó là một sự thật. Mà
cảnh giới này chỉ khi nào phủ định hoàn toàn ý chí sinh
tồn mới có thể đạt đến được. Bên Tây-phương, giải
thoát quan của Schopenhauer cũng rất tương tự với quan niệm
giải thoát trên đây, có lẽ đã chiệu ảnh hưởng của hệ
thống tư tưởng đó chăng?
Thứ
tư, giải thoát quan do tự mình thể hiện thực tại.
Trong
ba bộ loại giải thoát quan kể trên, loại thứ nhất, thứ
nhì có thể nói là thuộc khuynh hướng Nhị nguyên hoặc Đa
nguyên, loại thứ ba có khuynh hướng hư vô, còn loại thứ
tư này có thể nói giải thoát quan Nhất nguyên tích cực.
Quan niệm này cho rằn bản thể của vũ trụ và tự ngã của
con người vốn là bất đồng nhất, chỉ vì vô minh nên thấy
như có cách biệt, nhưng nếu diệt trừ được vô minh thì
tức khắc tự thân con người sẽ trở thành bản thể toàn
diện. Vậy từ cái tự thân nhỏ bé cách biệt, giả tạm
và bất tịnh, bị phiền não trói buộc này mà vạn dụng
để đạt đến cảnh giới phổ biến, vĩnh hằng, thanh tịnh
và tự do, tức là đã đạt đến cảnh giới giải thoát.
Chủ thuyết này đã được đề xướng bởi các học phái
Upanishads, Vedanta và Phật Giáo Đại Thừa. Lập trường hình
nhi thượng của giải htoát quan này là chủ nghĩa thực thể
nhất nguyên của Quan niệm luận, hay là vạn hữu Thần giáo,
lấy bản thể của vũ trụ làm sự tồn tại duy nhất của
tinh thần, vạn hữu đều do tinh thần đó khai triển hoặc
hiển hiện. Phái Vedanta gọi là Phạm hay Đại Ngã, Đại Thừa
Phật Giáo mệnh danh là Chân-như, Pháp-thân v.v…tức là tinh
thần đó. Vì vậy mà cảnh giới giải thoát theo quan niệm
này, về mặt biểu tượng cũng rất phong phú, hơn nữa, rất
hoạt động, không cần phải chối bỏ hiện thực, mà trái
lại hiện thực tức là bản thể, vậy hiện thực tức cũng
lại là giải thoát. Trong Upanishads nói: “Tất cả đều là
Phạm”. Thiên-Thai-Tông nói: “Nhất sắc, nhất hương đều
là Trung-Đạo”. Đứng trên lập trường giải thoát mà nói
thì vạn hữu đều biểu hiện cái tướng vĩnh hằng, tất
cả đều tự do, vô ngại. Hoa Nghiêm Tông lập thế giới quan
Sự-Sự-Vô-Ngại, Thiền Tông nói Sinh-Tử tức Niết Bàn, Chân
Ngôn Tông nói Tức Thân Thành Phật v.v…đều căn cứ trên
lập trường đó mà phát triển cả. Đến đây, giải thoát
quan của Ấn Độ, ít ra là về mặt lý luận, có thể nói
đã đạt đến chỗ điều hòa giữa quan niệm yểm thế và
quan niệm lạc thiên,, đã đến điểm dung thông giữa thử
ngạn và bỉ ngạn, giữa động và tịnh, giữa thực tại
và hiện tượng để mà khoáng đại cái phạm vi tự tại.
Trở
nên, chúng tôi đã tạm chia giải thoát quan của Ấn Độ thành
bốn loại. Nói đúng ra, trong các học phái dĩ nhiên cũng còn
nhiều phái chủ trương giải thoát quan khác nữa, nhưng bất
luận là chủ trương khuynh hướng nào đi nữa, trên đại
thể, vẫn không ngoài bốn bộ loại trên đây. Nói cách khác,
bốn bộ loại giải thoát quan trên đây có thể bao gồm tất
cả khuynh hướng giải thoát trong tư tưởng Ấn Độ.
3)
–Ý nghĩa của sự thể nghiệm giải thoát:
Tuy
cùng lấy giải thoát làm lý tưởng, người ta vì sự tranh
luận về những điểm chân, ngụy, ưu, liệt, cho nên giữa
các học phái cũng có nhiều điểm bất đồng, điều đó
không có gì là lạ cả. Song theo chỗ chúng tôi nhận xét thì
đó chỉ là trên vấn đề lý luận mà thôi, chứ về ý nghĩa
sự giải thoát thì đại khái các học phái đều có những
điểm tương đồng. Bất cứ biện luận theo chiều hướng
nào, cái ý nghĩa chân chính của sự giải thoát là phải làm
sao cho tinh thần thanh thản trước mọi cảnh khổ, vui, thật,
giả, động, tịnh: tóm lại đưa ý chí đến một cảnh giới
tuyệt đối giải phóng. Nói theo lý luận hình nhi thượng
thì chẳng qua lấy sự đưa ý chí đến cảnh giới tuyệt
đối giải thoát làm mục tiêu vậy. Và dĩ nhiêm do cái mục
tiêu đó ra sao mà có sự bất đồng về tính chất và phong
thái của sự giải thoát. Bởi thế nếu đứng trên lập trường
thể nghiệm để luận xem loại giải thoát nào là thật, loại
nào là giả thì e rằng ta sẽ làm một việc không đâu, vì
lẽ bất luận theo phương pháp nào, hể đã đưa tinh thần
đến được một cảnh giới tuyệt đối giải phóng đó thì
đều có thể được coi là sự giải thoát chân thực. Nếu
nhận xét theo lý luận và thực tế thì chỗ kiến giải có
nhiều điểm bất đồng. Chẳng hạn, về lý luận thì có
Nhất-nguyên-luận, Nhị-nguyên-luận, Hữu-thần-thuyết, Vô-thần-thuyết,
khkông dung hòa được nhau. Song nếu xét theo sự thể nghiệm
thực tế về giải thoát thì trong những thuyết mâu thuẫn
đó người ta vẫn thấy có điểm cộng thông. Do đó, bất
luận là Nhất-nguyên, Nhị-nguyên, hoặc Hữu-thần, Vô-thần
chủ trương khác nhau, nhưng khi ý chí đã đạt đến cảnh
giới tuyệt đối giải thoát thì quan điểm ở đây không
còn dị biệt nữa. Đó cũng là cách giải thích chung của
các nhà sáng lập tôn giáo,các bậc hiền-triết-cổ, kim, đông,
tây, tuy có những giáo lý khác nhau, ở vào những bối cảnh
bất đồng, nhưng vẫn có điểm cộng thông, điều này thiết
tưởng không phải một sự ngẫu nhiên vậy.
TIẾT
THỨ BA: ĐẶC CHẤT CỦA GIẢI THOÁT QUAN PHẬT GIÁO.
Phạm
vi của Phật Giáo quá rộng cho nên về giải thoát quan cũng
có nhiều chủ trương khác nhau. Nói một cách tổng quát thì
như chúng tôi đã trình bày ở tiết trước toàn bộ bốn
loại giải thoát quan. Để khỏi phải nhắc đi nhắc lại,
ở đây chúng tôi chỉ đặc biệt đề cập đến loại thứ
ba mà thôi, theo tôi có thể đại biểu cho đặc chất của
giải thoát quan Phật Giáo. Mà trong lịch trình phát triển
của Phật Giáo, thế giới quan “không” của Bát Nhã có
thể bảo tồn được hệ thống đó, những cũng bị coi như
tư tưởng được triển khai. Cho nên, ở đây, một mặt phải
đi sâu vào ý nghĩa đó, mặt khác phải luận qua về chân
nghĩa của Niết Bàn.
Lập
trường chủ yếu của giải thoát quan Phật Giáo là vượt
ra ngoài cõi Dục (Dục-Giới). Phật Giáo không thừa nhận
thế giới quan thần quyền lại cũng không thừa nhận cái
“Ngã” cá nhân bất biến, mà chủ trương hết thảy đều
do nhân duyên hòa hợp mà hiển hiện, và sở cứ của nhân
duyên là ý chí của chúng ta. Do đó, nếu muốn được giải
thoát, con người phải cắt đứt mọi nhân duyên, nghĩa là
diệt hết dục vọng của ý chí. Theo các học phái khác, giải
thoát tức là đưa cái tiểu ngã của cá nhân trở về với
Đại-ngã của một đấng sáng tạo ra vũ trụ. Nhưng Phật
Giáo vì không thừa nhận thần quyền, nên gọi giải thoát
là Niết Bàn.Mà Niết Bàn theo nghĩa đen là “dập tắt”,
nghĩa là dập tắt hết dục vọng tồn tại và lấy đó làm
lý tưởng cứu kính. Các kinh điển Đại Thừa, nhất là kinh
Bát Nhã, đặc biệt thuyết minh về điểm này và mệnh danh
là “không”, “không không” rốt ráo là “không”. Đó
là chân tướng của vũ trụ, và khi đã đạt được chân
tướng ấy tức là đạt đến giải thoát, đến Niết Bàn.
Trong
các giải thoát quan Ấn Độ, giải thoát quan của Áo-Nghĩa-Thư
cao siêu hơn cả, xây dừng trên lòng tin: Tiểu Ngã và Đại
Ngã là đồng nhất, Tiểu Ngã là sự thể hiện của Đại
Ngã, muốn giải thoát người ta phải hủy bỏ Tiểu Ngã để
về Đại Ngã. Bởi vậy người ta thường có khuynh hướng
“tuẫn-thế”, nghĩa là xa lánh hẳn cuộc sống hoạt động
ồn ào, ở những nơi thâm sơn cùng cốc, cố giữ cho tâm
hồn vắng lặng. Giải thoát quan của phái Số-Luận cũng vô
cùng tinh diệu. Họ lấy cái Chân-Ngã bất biến bất động
làm giải thoát, lấy sự thoát ly hết thảy mọi sự ràng
buộc vật chất, chỉ sống với tinh thần luôn luôn thanh thản
làm giải thoát. Nếu đứng trên lập trường hoạt động
mà nhận xét thì quan niệm giải thoát này mang nặng tính chất
tiêu cực, hàng giả chỉ là một vị tiên xa là hẳn với
đời sống thực tế.
Trong
thời kỳ đức Phật tại thế cũng vậy, tuy có nhiều quan
niệm giải thoát khác nhau. Nhưng tựu trung, người ta cũng
đều lấy sự xa lánh xã hội, sống trong cảnh tịch mịch
của núi rừng làm phương châm để tự thể nghiệm cảnh
giải thoát cho chính mình. Do đó mà tất cả các bậc hiền
triết đương thời đều được kêu là Mâu-Ni, nghĩa là những
bậc ưa sự vắng lặng. Chính đức Phật cũng được gọi
là Mâu-Ni sống cuộc đời tịch mịch trong rừng sâu núi thẳm.
Sáu
năm khổ hạnh, đức Phật cũng đã từng sống cuộc đời
vắng lặng đượm màu tiêu cực ấy; nhừng sau khi thành đạo
dưới gốc cây Bồ Đề. Ngài đã bắt đầu sống cuộc đời
cực kỳ hoạt động. Lấy các đô thị lớn thời bấy giờ
làm trung tâm đức Phật đã đi khắp nơi để giáo hóa độ
sinh, và cứ như thế, nay đây mai đó, ròng rã bốn mươi lăm
năm trời, ta có thể coi là tấm gương hoạt động chói lọi
vậy.
Các
học phái khác lấy siêu nhiên làm chủ nên không quá coi trọng
đạo đức thế gian, nhưng Phật thì lấy từ bi làm chủ,
chuyên đứng về phương diện đạo đức để giáo hóa người
đời, đó là tiếng nói giải thoát. Tại Ấn Độ có nhiều
tôn giáo, nhưng chỉ có Phật Giáo là lấy toàn thể nhân loại
làm đối tượng để truyền giáo, và cũng chỉ có Phật Giáo
mới có những giáo lý làm thỏa nãm nhu cầu tinh thần của
mọi hạng người. Nguyên nhân tại sao Phật Giáo được bành
trướng khắp toàn cầu cũng như chính là ở điểm đó.
Tiến
thêm một bước nữa mà khảo sát thì Phật, theo một ý nghĩa
nào đó, có thể được coi là một nhà đề xướng hiện
thực chủ nghĩa. Cái gọi là “giải thoát”, là “Niết
Bàn”, nếu không có ích gì đối với cuộc sống thực tế,
thì tự nó cũng không có một ý nghĩa nào cả. Giải thoát
hay Niết Bàn, theo Phật, không phải chỉ có thể đạt được
sau khi chết, mà trái lại, nó có thể được chứng nghiệm
ngay ở hiện tại, ngay trong giây phút. Nghĩa là bất cứ trong
mọi giờ phút nào ta cắt đứt được mọi mối ràng buộc
của tham lam, của dục vọng, khiến cho tâm hồn thanh thản,
lâng lâng, tự tại, tự do, thì ngay giờ phút ấy ta đã đến
cảnh giải thoát chân thực rồi. Các học phái khác chủ trương
chỉ khi nào con người hòa đồng được Tiểu-Ngã của mình
với Đại-Ngã của vũ trụ thì lúc ấy mới có giải thoát,
chứ không thể có giải thoát trong thế giới hiện thực.
Đó là điểm sai khác giữa giải thoát quan của các phái và
giải thoát quan của Phật Giáo.
Do
đó trong Phật Giáo, nếu nói đến giải thoát mà phủ nhận
đến giá trị của thế giới hiện thực thì không những
trái với đạo lý mà còn làm hại cho chính pháp rất nhiều.
Nhưng đây cũng lại là điểm vô cùng khó khăn, bởi lẽ vẫn
sống trong thế giới hiện thực mà làm cách nào để đừng
bị mê hoặc, lôi cuốn theo, để tìm cầu giải thoát khỏi
hiện thực là một việc mà có lẽ không ai giám tự phụ
làm một cách dễ dàng. Trong hàng ngũ đệ tử Phật, có những
người chỉ muốn xa lìa cuộc đời để được giải thoát,
những người này đại biểu cho khuynh hướng Nam Tông hay Tiểu
Thừa Phật Giáo. Nhưng vì khuynh hướng đó đúng với chân
lý của Phật nên lại có một số đứng trên vận động
phản kháng, và số này đại biểu cho khuynh hướng Bắc Tông
hay Đại Thừa Phật Giáo. Và trong số này, Bát Nhã giáo thuộc
thời kỳ đầu và cũng có thuần túy nhất. Mà lập trương
của Bát Nhã là chủ trương phương diện nào đó mà nhận
xét thì có vẻ như thanh thản, lâng lâng, phủ định hết
thảy Phật cũng không, chúng sinh cũng không, thế giới không,
mê không, mà ngộ cũng không: tất cả đều là không, nhưng
khi đã đến cái tuyệt đỉnh của cái “không không”, rồi
trở lại khẳng định tất cả để thích ứng với hoàn cảnh
thiên sai vạn biệt mà hoạt động một cách tự do, tự tại,
không chấp trước, không đam mê, thái nhiên tự nhược (xem
chương nói về Chân-như quan của Bát Nhã ).
Coi
đó ta thấy chủ nghĩa giải thoát của Phật Giáo, nếu chỉ
nhìn bề ngoài, có vẻ như một chủ nghĩa “không tịch”,
nhưng nếu căn cứ vào nhân cách hoạt động của đức Phật,
do nhân cách đó mà tìm hiểu ý nghĩa chân thực của giáo
lý Ngài, ta thấy Phật Giáo quyết không phải lấy hư vô làm
lý tưởng, đó là điều không một nhà học Phật chân chính
nào phủ nhận.
Trái
lại, đặc chất của chủ nghĩa giải thoát của Phật Giáo
có thể nói là một chủ nghĩa hoạt động cụ thể nhất.
Trong số các học giả Tây-phương một thiểu số khi nghiên
cứu đạo Phật thường cho Phật Giáo là tiêu cực, đó chẳng
qua chỉ phê bình một mặt mà không lý giải được cái tinh
thần căn bản của đạo Phật. Đại Thừa Phật Giáo lập
nên nhiều nguyên lý tích cực, hoặc nói là Phật, là Chân-như,
là Như-lai-tạng, v.v… nhưng đến mục tiêu giải thoát thì
tuyệt nhiên không thêm một nguyên lý nào. Thoảng hoặc trong
lịch trình phát triển tư tưởng đời sau có thêm thắt điều
gì chăng nữa thì chẳng qua cũng không ngoài cái tinh thần
của đức Phật. Đây là điểm chúng ta không nên bỏ qua khi
nghiên cứu về lịch sử của Phật Giáo.
Tóm
lại, đứng về phương diện nào đó mà nhận xét thì Phật
Giáo là chủ nghĩa phủ định. Thế giới hiện thực chỉ
là cái thực ngã là thần, hoặc là thực thể của lý niệm.
Phủ định tất cả để đi đến “không”. Nhưng đặc chất
của Phật Giáo là một khi đã đạt đến cái không tuyệt
đối hay Niết Bàn vắng lặng rồi, thì lại trở về mà khẳng
định tất cả để tạo thành Phiếm-thần-quan của Đại
Thừa Phật Giáo. Song điểm khế cơ này chưa chắc đã được
đức Phật thuyết minh trong lúc Ngài còn tại thế. Căn cứ
trên lịch sử, điểm đức Phật đã chỉ rõ là: vượt thế
giới hiện thực để đến cái không rồi từ không trở lại
hiện thực giới hoạt động, chỉ bày phương châm đó để
lập nên các thuyết về giải thoát, tuy cũng xây dựng trên
căn bản không, song tiến thêm một bước nữa mà khẳng định
hết thảy: đó là Phật Giáo Đại Thừa.
Như
thế chung cục nhận Phật là vị Nhân-cách-thần, nhận Như-lai-tạng
là Chân-ngã, rồi từ lập trường hiện tượng tức thật
tại mà xướng lên thuyết “tức thân thành Phật”, cứ
như thế giáo lý Phật Giáo bắt đầu tiển khai. Mà cái đặc
trưng nhất quán của chủ nghĩa giải thoát của Phật Giáo
ở chỗ tự mình tuyệt đối mãn túc, rồi vì hạnh phúc của
thế giới, vì sự tiến bộ của nhân loại, đem hết sức
mình ra làm việc với một tâm hồn thái nhiên tự nhược,
nghĩa là không đam mê, không cố chấp, luôn luôn thanh thản
tự do trước mọi hoàn cảnh.