CHƯƠNG
THỨ NĂM
PHẬT
GIÁO Ở THỜI ÐẠI VÔ TRƯỚC VÀ THẾ THÂN
TIẾT
THỨ NHẤT : TỔNG LUẬN.
Như
đã nói ở chương trước, từ sau thời đại Long Thụ, một
mặt sản sinh ra tư tưởng Như-lai-tạng, một mặt sản sinh
ra tư tưởng A-lại-gia-thức, trong thời gian đó cũng có chủ
trương muốn điều hòa cả hai để phát triển. Nhưng đứng
về phương diện tổ chức mà nói thì trên hình thức các
kinh đó vẫn còn thiếu tính cách triệt để. Chẳng hạn như
kinh Giải Thâm Mật, kinh Ðại Thừa A Tỳ Ðạt Ða đã nói
trên tuy về luận thuyết đã được chỉnh lý hẳn hoi, nhưng
về điều lý vẫn chưa đạt đến sự hoàn bị, đó là một
sự thật không thể che dấu được. Như vậy, nếu kinh Bát
Nhã và những kinh điển Ðại Thừa sau Bát Nhã phải chờ
đến Long Thụ mới được chỉnh lý và chú thích, thì những
kinh điển mới thuộc Như-lai-tạng và A-lại-gia-thức hệ
cũng cần phải có các đại luận sư Vô-Trước (Asanga), Thế-Thân
(Vasubandhu) đã đáp ứng nhu cầu đó. Phật Giáo ở thời đại
Long Thụ đả phá Tiểu Thừa để phát huy Ðại Thừa, nhưng
đến thời đại Vô-Trước và Thế-Thân thì về một phương
diện nào đó, Ðại Thừa và Tiểu Thừa Phật Giáo đã được
thông hợp làm một. Vô-Trước, Thế-Thân lấy giáo lý Tiểu
Thừa làm nền tảng để xây dựng Ðại Thừa và đó là cái
đặc sắc của Phật Giáo thuộc thời kỳ này.
Theo
truyện ký thì anh em Vô-Trước, Thế-Thân là con của người
Bà-la-môn Kiều-Thi-Ca (Kausika), người Bắc Ấn Ðộ, ở thành
Kiện-đà-la (Purusapura) nay là thành Bạch-Sa-Ngõa (Peshawar),
cả hai anh em đều xuất gia. Người anh là Vô-Trước tu theo
Hóa-Ðịa-Bộ còn em là Thế-Thân tu theo Hữu-Bộ (Virincivastsa).
Về sau tuy cả Vô-Trước và Thế-Thân cùng đổi sang Ðại
Thừa, nhưng lúc đầu vì họ xuất gia theo Hóa-Ðịa-Bộ và
Hữu-Bộ nên ta cần phải biết cái học phong của họ và
đó là điểm ta cần phải lưu ý. Trước hết, Vô-Trước
chuyển sang Ðại Thừa trước, còn Thế-Thân sau nhờ sự cảm
hóa của anh mới tu theo Ðại Thừa và trở thành một bậc
luận sư của Ðại Thừa. Cả hai anh em đều lấy A-Du-Xà làm
trung tâm để hoạt động và như vậy A-Du-Xà là trung tâm
điểm của Phật Giáo Ðại Thừa lúc bấy giờ. Ðây là điểm
thứ hai mà ta cần phải lưu ý.
Về
niên đại của Vô-Trước và Thế-Thân có nhiều thuyết khác
nhau, nhưng theo sự suy định của riêng tôi thì các Ngài ra
đời vào cuối thế kỷ thứ tư, hoạt động đến quá tiền-bán-thế-kỷ
thứ năm, đó có lẽ là điểm ổn thỏa hơn cả (Vô-Trước
thọ được 75 tuổi và Thế-Thân thọ 80 tuổi).
Vô-trước
và Thế-Thân trứ tác rất nhiều sách. Bản chính tuy đại
khái đã thất lạc nhưng những bản dịch chữ Hán còn được
lưu truyền rất nhiều. Song ta cần phải lưu ý điểm này:
cũng có nhiều tác phẩm của Di-Lặc (Maitreya) liên quan đến
Vô-Trước. Theo truyền thuyết thì những tác phẩm đó được
Vô-Trước biên tập sau khi đã thụ giáo Bồ Tát Di-Lặc trên
cung trời Ðâu-Suất, cho nên trên thực tế, tác phẩm đó
cũng được coi như của Vô-Trước đến sau nhất, là các
bậc tiền bối của Vô-Trước, đã có người mệnh danh là
Di-Lặc luận sư, và những tác phẩm đó được coi như là
của các vị trước tác. Ðiều này tuy đối với mọi người
có chổ thích thú, nhưng đối với sự thực lịch sử thì
còn cần phải nghiên cứu nhiều trước khi thừa nhận. Nhưng
tạm thời ta hãy nói rằng mặc dầu đó là những tác phẩm
của Di-Lặc song cũng không ngoài những thuyết của Vô-Trước.
Như vậy, theo tôi là ổn thỏa hơn cả. Bản dịch chữ Hán
của bộ luận Ðại Thừa Trang Nghiêm kinh (Sutralukara) hiện
nay được truyền là trứ tác của Di-Lặc, nhưng nguyên bản
bằng chữ Phạn lại truyền là tác phẩm của Vô-Trước.
Cứ xem thế thì đủ biết, và cũng căn cứ vào đó mà đề
cập đến những tác phẩm chủ yếu của hai vị như sau:
A-Những
tác phẩm sau đây được truyền tụng là của Di Lặc :
-Du
Già Sư Ðịa Luận (Rocaryabhmuisastya), 100 quyển, Huyền Trang
dịch .
-Ðại
Thừa Trang Nghiêm kinh luận, 12 quyển, Bà La Phả Mật Ða La
dịch (Mahayanasutylankra.Pxr.S Levi.Paris 1907).
-Thập
Ðịa Kinh luận (trong các bài tụng chú thích là Thế-Thân),
12 quyển, Bồ Ðề Lưu Chi dịch.
-Biên
Trung Biên Tụng, 1 quyển, Huyền Trang dịch.
B-Những
tác phẩm sau đây được truyền tụng là của Vô-Trước:
-Hiển
Dương Thánh Giáo luận, 20 quyển, Huyền Trang dịch.
-Nhiếp
Ðại Thừa Luận (Mahagana-samgra-hasastra), 3 quyển có ba bản
dịch của Chân Ðế, Huyền Trang và Phật Ðà Phiến Ða .
-Ðại
Thừa A Tỳ Ðạt Ma Tập luận (Mahayanabhidharmasan-gitisastra)
7 quyển, Huyền Trang dịch.
-Kim
Cương Bát Nhã luận, 2 quyển , Ðạt Ma Cấp Ða dịch.
-Thuận
Trung luận, 2 quyển, Cừu Ðàm Bát Nhã Lưu Chi dịch.
C-
Những tác phẩm sau đây là của Thế-Thân:
-A
Tỳ Ðạt Ma Câu Xá luận (Abhidharma-kosasastra), 38 quyển, Huyền
Trang dịch.
-Duy
Thức Tam Thập tụng, 1 quyển, Huyền Trang dịch.
-Duy
Thức Nhị Thập luận, 1 quyển, Huyền Trang dịch.
-Ðại
Thừa Duy Thức Luận, 1 quyển, Chân Ðế dịch.
-Duy
Thức luận, 1 quyển, Bát Nhã Lưu Chi dịch.
-Phật
Tính Luận, 4 quyển, Chân Ðế dịch.
-Nhiếp
Ðại Thừa Luận, 10 quyển, Huyền Trang dịch.
-Nhiếp
Ðại Thừa luận thích, 15 quyển, Chân Ðế dịch.
-Nhiếp
Ðại Thừa luận thích Luận, 10 quyển, Ðạt Ma Cấp Ða dịch.
-Biện
Trung Biên luận, 3 quyển, Huyền Trang dịch.
-Trung
Biên Phân Biệt Luận, 2 quyển, Chấn Ðế dịch.
-Thập
Ðịa Kinh luận, 12 quyển, Bồ Ðề Lưu Chi dịch.
-Diệu
Pháp Liên Hoa kinh Ưu Ba Ðề Xá, 2 quyển, Bồ Ðề Lưu Chi và
Ðàm Lâm dịch.
-Vô
Lượng Thọ kinh Ưu Bà Ðề Xá, 1 quyển, Bồ Ðề Lưu Chi dịch.
-Niết
Bàn Luận, 1 quyển, Ðạt Ma Bồ Ðề dịch.
-Niết
Bàn kinh Bản Hữu Kim Vô Kệ luận, 1 quyển, Chân Ðế dịch.
Ngoài
ra, còn có Ngũ Uẩn luận, Bách Pháp Minh Môn Luận, Thắng Tư
Duy Phạm Thiên Sở Vấn kinh luận, Như Thực Luận, Kim Cương
bát Nhã luận v.v. nhưng ở đây chúng tôi chỉ nói sơ qua mà
thôi.
Nhưng
muốn hiểu được Phật Giáo ở thời đại Vô-Trước và
Thế-Thân, ta phải xử lý với những tác phẩm đó như thế
nào? Ðây thật là một vấn đề rất khó khăn cho các học
giả. Vì những tác phẩm này không nhất định là theo cùng
một chủ nghĩa mà phát xuất, đặc biệt đối với những
kinh luận của Thế-Thân trước tác, lập trường chân chính
của nó ở chổ nào? Ðiều đó rất khó quyết định. Hơn
nữa, những bản dịch chữ Hán được lưu truyền ở Trung
Quốc sợ cũng có chổ bất đồng. Giữa khoảng Bồ Ðề lưu
Chi, Chân Ðế, Huyền Trang, tuy cùng có thuyết Duy Thức, nhưng
đối với sự nhận xét về thức ấy lại có nhiều ý kiến
bất đồng hầu như không biết chổ quy nhất.
Theo
quan niệm thống nhất và tìm hiểu Phật Giáo vào thời đại
Vô-Trước và Thế-Thân, người ta không thể không cảm thấy
hết sức khó khăn. Bởi vậy, dưới đây tôi chỉ có thể
lần lượt trình bày quan điểm một cách đại thể mà thôi.
Vô-Trước,
sau khi đã chuyển sang Ðại Thừa, lúc đầu ít nhất cũng
đã đứng trên căn bản giáo lý nhất định nào đó. Nghĩa
là, nếu nhận xét theo các kinh điển kể trên, thì Vô-Trước
đã căn cứ vào các kinh Giải Thâm Mật, Ðạt Thừa A Tỳ
Ðạt Ma để thành lập chủ nghĩa A-lại-gia-thức. Còn trong
những thuyết Như-lai-tạng hay Phật-tính thì ai cũnh biết
rằng Vô-Trước không mấy lưu tâm. Bởi vì đã lập nên cái
nguyên lý "Bản lai thanh tịnh", đó là cái kết quả mà Vô-Trước
mong thuyết minh lập trường của mình. Du-già-sư-địa-luận.
Hiển-dương-thánh-giáo-luận, A-tỳ-đạt-ma-luận, Nhiếp-đại-thừa-luận
v.v. tất cả đều xuất phát từ lập trường này. Theo chổ
tôi biết thì trong những bộ luận đó không thấy phát hiện
những tư tưởng Như-lai-tạng. Bản hữu Phật tính, Thường-lạc-ngã-tịnh
v.v. Như vậy, về phương diện Thế-Thân ra sao? Phạm vi của
Thế-Thân có lẽ rộng hơn của Vô-Trước. Ðứng về mặt
tiêu cực mà nói thì Thế-Thân là một trước thuật gia, nhưng
về tích cực thì Thế-Thân có thể được coi là ngang với
Long Thụ, tuy muốn kiến lập tất cả Ðại Thừa, nhưng lập
trường đó đã thiếu mất tính cách nhất quán.
Nền
tảng của Tiểu Thừa luận hãy tạm gác ra một bên chưa bàn
đến hãy nói ngay đến những luận thuyết Ðại Thừa, tức
là những kinh điển đã kể trên, như Pháp Hoa, Niết Bàn,
Bát Nhã , A Di Ðà v.v. Thế-Thân cũng còn chú thích huống chi
những tư tưởng A-lại-gia-thức, Như-lai-tạng mặc dầu chú
trọng nhiều hơn về A-lại-gia-thức, đương nhiên Thế-Thân
cũng đã từng chú ý đến. Kết quả là vì trước tác nhiều
mà lập trường có đôi chút khác nhau. Như vậy, tuy thuần
túy thừa kế hệ thống Vô-Trước, tổ chức lại hệ thống
đó một cách đơn giản, nhưng lại mong khoáng trương về
phần nội dung đó là lập trường Duy Thức-nhị-thập luận
và Tam-thập-tụng. Những nhà tân-phiên-dịch tại Trung Quốc
(phái Huyền Trang) thừa kế hệ thống này và theo tôi nên
gọi nó là Du-Già-Phật-Giáo hoặc là Duy-Thức-Hệ (kinh Thâm-Mật-Thế-Thân
hệ hay Vô-Trước-Thế-Thân hệ). Hệ thống này cũng gồm
có cả tư tưởng Như-lai-tạng hệ, chủ đích lấy kinh Nhập-Lăng-Già
làm điểm xuất phát, đó là Thập-Ðịa-Kinh luận và Phật-tính-luận.
Ðến đây đã thừa nhận thực hữu tính của tịnh thức.
Tiến lên bước nữa là Chân Như chỉ có thể hiểu theo ý
nghĩa tùy duyên. Theo tôi thì nên gọi tư tưởng hệ này là
Như Lai Tạng-kinh-Thế-Thân hệ. Lập trường của Bồ Ðề
Lưu Chi, Bát-Nhã-Lưu-Chi và Chân-Ðế đều thuộc hệ thống
này.
Nói
theo thời đại thì lập trường của Thế-Thân khởi điểm
từ đâu? Ðiều này tôi vẫn chưa xác định được một cách
minh bạch. Như bản thân Thế-Thân có lẽ đã miễn cưỡng
dung hợp cả hai lập trường trên. Không bao lâu, ngay trong
cùng một hệ thống Thế-Thân, về Thức-Thể-luận, đã phát
sinh nhiều ý kiến bất đồng. Tuy nhiên như thế, song lập
trường của Vô-Trước, Thế-Thân tuy cùng chủ trương thuyết
Duy-Thức theo nghĩa rộng, nhưng nói một cách chặt chẽ thì
trong Như-lai-tạng thuyết Duy-Thức của Thế-Thân với thức
A-lại-gia cũng có nhiều sai khác, điều này ta không thể công
nhận là đúng.
TIẾT
THỨ HAI :
PHẬT
GIÁO THUỘC VÔ-TRƯỚC THẾ-THÂN (DU-GIÀ-PHẬT-GIÁO).
1)
Như đã nói ở trên, đặc chất Phật Giáo của Vô-Trước
và Thế-Thân ở chổ lập nên thức A-lại-gia-thứ tám để
giải quyết hết thảy, nghĩa là thức A-lại-gia là nguồn
gốc của vạn vật, là nơi nương tựa của vạn vật, là
nguyên lý của cá nhân, đồng thời cũng là nguyên lý của
vũ trụ. Ðó là đứng trên lập trường Duy Tâm luận mà thuyết
minh hiện thực, hơn nữa muốn thuyết minh luôn cả chổ quy
hướng của lý tưởng. Lấy luận lý Duy Tâm luận của Phật
Giáo Nguyên thủy làm điểm xuất phát trải qua những Thức
thể quan (căn bản thức, cùng sinh tử uẩn, tế ý thức v.v.)
của Phật Giáo Tiểu Thừa lại xây dựng trên lý thuyết Tam-giới
duy tâm của Phật -giáo Ðại-Thừa, đem tổng hợp tất cả
những kết quả đó lại, theo một ý nghĩa nào đó, ta có
thể nói rằng đó là một thuyết tổng hợp của cả Ðại-Thừa
lẫn Tiểu-Thừa: Nhất thiết duy tâm. Do đó Phật giáo thuộc
Vô-Trước và Thế-Thân hệ, đứng về phương diện tổ chức,
tuy cực kỳ phức tạp, nhưng trung tâm điểm là thuyết A-lại-gia-thức.
Nếu muốn hiểu rõ quan niệm A-lại-gia-thức, ta phải đứng
trên lập trường trung tâm đó để quan sát. Như bộ Nhiếp-Ðại-Thừa
luận hiện nay cũng vậy, không bàn nhiều về bảy thức trước,
mà chỉ lấy thức thứ tám A-lại-gia làm trung tâm mà thuyết
minh Ðại-thừa, xem đấy đủ biết tầm quan trọng của A-lại-gia-thức
như thế nào rồi. Song, nếu giải thích vấn đề này cho thật
tỉ mỉ thì ta sẽ thấy nó phức tạp vô cùng, cho nên ở
đây tôi chỉ nêu ra cái đặc chất của A-lại-gia-thức quan
đó mà thôi.
2)
Về một phương diện, thức A-lại-gia tuy là nguyên lý của
vũ trụ nhưng thuyết bản thể của nó lại là cá nhân. Mỗi
chúng sanh đều có thức A-lại-gia và thức ấy là nguyên lý
của chúng sinh đó, đồng thời biến hiện thành thế giới
tùy theo nghiệp của nó. Theo ý nghĩa này ta có thể nói Duy
thức thế giới quan là một loại Duy tâm luận cá nhân. Song,
tác dụng của thức A-lại-gia và cái nguyên lý phổ thông
về nhận thức chủ quan lại khác nhau, cho nên nếu nói theo
Tây phương thì nguyên lý đó gần giống như nguyên lý "đơn
tử" (monade).
3)
Dù theo Du-già-sư-địa luận hay Nhiếp Ðại-thừa luận, vì
thức A-lại-gia là nguồn gốc của tất cả tạp nhiễm, cho
nên ta không thể quyết định đặc chất của nó là hoàn
toàn, Vì nguyên lý ấy trong Duy-thức tam thập tụng và Phật
tính luận đều giống nhau cho nên Du-già Phật-giáo mới lập
ra A-lại-gia-thức. Ðứng về phương diện đặc chất của
A-lại-gia-thức, ta có thể nói nó thừa nhận phương diện
"bản tịnh". Mà điều này, như đã nói ở trên, kinh Lăng-Già
kinh Mật-Nghiêm và các nhà dịch thuật thuộc hệ thống cũ
đã có những sự giải thích về lập trường khác nhau, cho
nên đây là một điểm ta cần phải lưu ý.
4)
Vì thức A-lại-gia là bản chất của mọi loài hữu tình,
nên đứng trên phương diện liên tục gần như vô thủy vô
chung mà nhận xét thì ta thấy nó tương tự như thuyết "tự
ngã" hay "thần ngã" của ngoại đạo. Nhưng cái "ngã" của
ngoại đạo lấy một vị chủ tể thường còn bất biến
làm đặc chất, còn Du-già Phật-giáo lấy thức A-lại-gia
do nghiệp lực, từ kiếp vô thủy quy định (nghiệp quả),
như một dòng nước liên tiếp chảy xiết không ngừng (bất
đoạn) , rồi do nghiệp lực mà phải sinh trong ba cõi do đó
tính chất của thức A-lại-gia cũng hoàn toàn bất đồng (biến
Tam giới), quyết không thể so sánh với một vị chủ tể
thường còn như cái "ngã" của ngoại đạo chủ trương. Không
những thế thức A-lại-gia này phát sinh ra ngã chấp vốn là
nguồn gốc của tất cả một sự mê lầm. Vô-Trước và Thế-Thân
đều đã hết sức khảo luận để chứng minh điều đó.
5)
Song, thức A-lại-gia này là nguyên lý của ý thức hay của
vô ý thức? Ðiểm này về mặt kinh nghiệm tuy có điểm chưa
được rõ ràng lắm, nhưng ít nhất về mặt ý thức, nó có
thể được coi như là nguyên lý của ý thức. Nhưnh cái tác
dụng của ý thức đó vô cùng tế nhị, bởi vậy nó không
đồng với bất cứ một tác dụng tâm lý nào. Về điểm
này, trong Tam-thập-tụng gọi nó là cái biết không thể biết
(nghĩa là cái nhận thức nhỏ nhiệm quá, không thể biết
được).
6)
Thức A-lại-gia đã như thế thì dĩ nhiên không thể không
có chủ quan (năng thủ, năng duyên) và khách quan (sở thủ,
sở duyên) đối lập khác nhau. Mà Vô-Trước và Thế-Thân
theo thức A-lại-gia đó để tím cái nguyên lý của cá nhân
và vũ trụ.
Theo
các vị thì trong tất cả các thức ít nhất cũng có hai: chủ
quan, danh từ Duy thức học là kiến phần; khách quan, danh từ
Duy thức là tướng phần. Do đó, trong A-lại-gia-thức cũng
có hai phần này: kiến phần tức là cái biết không thể biết,
đối lại với kiến phần là tướng phần tức là cái chủng
tử khả năng thái của vạn hữu, có căn thân nghĩa là thân
thể của cá nhân và vạn hữu trong vũ trụ.
Thức
A-lại-gia với tác dụng chủ quan và tác dụng khách quan quy
định thân thể con người, vũ trụ và khả năng tính của
vạn thể để tạo thành thế giới hiện tượng này, cho nên
hết thảy không ngoài thức A-lại-gia do đó mới nói là vạn
pháp đều do thức biến hiện. Nhưng cái phạm vi chủ quan,
khách quan và sự nhận thức của ý thức phổ thông không
giống nhau, cho nên theo một ý nghĩa nào đó nó có cái sắc
thái của nhận thức luận và bản thể luận. Ðó là điểm
ta nên ghi nhận.
7)
Như vậy, thức A-lại-gia, về mặt tướng phần quy định
chủng tử căn-thân và khí thế-giới và trong ba cái đó nói
theo tính chất của của thức A-lại-gia, thì chủng tử quan
trọng hơn cả. Nhưng đã nói ở trên, là cái tiềm thế của
vạn hữu trong thức A-lại-gia, và thuyết chủng tử này đã
được triển khai từ kinh Lượng-Bộ hay Hoá-Ðịa-Bộ. Chủng
tử còn được kêu là tạp khí, vì những kinh nghiệm và tập
quán của vô-ý-thức ảnh hưởng và lưu lại tâm thể, rồi
sau biến thành tác dụng của thức A-lại-gia để thực hiện
hóa chủng-tử. Danh ngôn chủng tử là cái nhân của vạn-hữu;
nghiệp chủng tử là cái nhân của động lực. Mà cả hai
cái đó đều hổ tương phối hợp lẫn nhau để biến thành
hoạt động và hiện tượng nhất định, tức là hiện-hành.
Nói theo danh từ Duy-thức học thì "chủng tử sinh hiện hành".
Mà bảy thức trước (chuyển-thức) hoạt động và biến hiện
thành những hiện tượng, rồi phản ảnh lại thức thứ tám,
đó là hiện-hành huân chủng tử. Như vậy là chủng tử gieo
trong tạng thức (A-lại-gia) liên tục bất đoạn. Cái giai
đoạn mà chủng-tử sinh hiện-hành, huân chủng-tử phải trải
qua, nếu khảo sát luận theo thứ tự thì hình như có thời
gian, nhưng trong chủng-tử hiện-hành tất phải có bảy thức,
bởi vậy sự liên hệ giữa chủng-tử sinh-hiện-hành, hiện-hành
huân chủng-tử là đồng thời. Nói cách khác do sự chuyển
động của bảy chuyển-thức mà thức A-lại-gia được liên
tục tồn tại; do sự hoạt động của thức A-lại-gia chủng-tử
mà bảy chuyển-thức được thường thường hiện hành. Ðó
là hỗ tương phối hợp lẫn nhau mà thành lập nhân sinh vũ
trụ vậy. Ba nguyên tắc triển-chuyển (chủng tử -> hiện
hành -> chủng tử) được gọi là nhân quả đồng thời. Sở
dĩ thức thứ tám được nhận là nghiệp quả, được mệnh
danh là A-lại-gia-thức (Alayavijinana-Tạng-thức) cũng đều
căn cứ vào sự quan hệ đó. Song chủng-tử không thể sinh
hiện-hành một cách độc lập mà còn có tác dụng của chủng-tử
này sinh chủng-tử khác. Cho nên dù bảy chuyển thức có ở
trạng thái bất động chăng nữa thì thức A-lại-gia cũng
vẫn bất diệt, liên tục như dòng nước chảy đều.
8)
Nhưng nguyên động lực của bảy chuyển thức huân tập chủng-tử
trong thức A-lại-gia như thế nào? Bảy chuyển-thức là: Ngoài
sáu thức phổ thông ra còn thêm một thức thứ bảy gọi là
Mạt-na-thức (Manas-lúc nào cũng xét nét, suy nghĩ). Thức Mạt-na
này được thêm vào sau thời kỳ phát đạt của kinh Giải-thâm-mật,
và trong lịch sử phát triển tư tưởng Duy Thức, ta phải
chú ý điểm nầy. Song, Mạt-na-thức lấy cái tác dụng chấp
trì thức thứ tám mà phát khởi ngã chấp làm đặc chất,
đó là chỉ hướng nội, chứ về phương diện hướng ngoại,
vì không có sự quan hệ, cho nên nhận xét theo lập trường
Phiền não luận thì tuy cũng có một ý nghĩa rất trọng yếu,
nhưng nhận xét theo Bản thể luận hay Nhận thức luận thì
nó không có sự trọng yếu như A-lại-gia thức. Sau thức Mạt-na
là sáu thức: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý mà sáu thức
này trên thực tế là chủ thể của những hoạt động tâm
lý, cho nên đối với những điều thiện, ác, mê, ngộ tuy
là tâm lý rất trọng yếu, nhưng nhận xét theo lập trường
A-lại-gia thức luận thì không ngoài việc đem tâm lý quan
phụ thuộc vào nó mà thôi. Do đó, từ lúc ban đầu giữa
sự thuyết minh về tâm lý thực tế với luận thuyết của
Tiểu Thừa A Tỳ Đạt Ma không có sự sai khác mấy. Chẳng
hạn như nhiếp Đại Thừa luận tuy lượt bỏ tất cả bảy
chuyển thức nhưng đến Thế Thân thì nguyên lý Duy Thức Biến
vẫn được thừa nhận. Nghĩa là thức thứ tám gọi là đệ
nhất năng biến, rồi sau cùng là chủ trương tám thức đều
tự nó có thể biến hiện để lập nên thuyết Duy Thức.
9)
Vô-Trước, Thế-Thân lấy A-lại-gia thức làm trung tâm để
luận chứng rằng hết thảy đều do thức biến hiện; tuy
đó là lập trương mới, nhưng thật thì lập trường ấy
đã được nêu lên trong Hoa Nghiêm thức; bởi vậy, như đã
nói ở trên. Thế-Thân, Vô-Trước cũng chỉ thừa kế lập
trường “Tam giới duy tâm” mà thôi. Song trên thực tế cũng
là Duy Thức biến, nếu phê phán theo Nhận thức luận thì
giữa vấn đề nhận thức thỏa đáng trình độ xác thực,
không nhiều thì ít, cũng có chỗ bất đồng. Đề cập đến
vấn đề này, ai cũng biết rằng Du Già Phật Giáo có
Tam-Tính luận, tức là chia nhận thức đối tượng thành ba
loại: Biến kế sở chấp tính là đối với tác dụng nhận
thức của thức thứ sáu và thức thứ bảy, giữa khoảng
kiến phần (chủ quan) và tướng phần (khách quan) phát khởi
một cách không nhất trí. Thí dụ như quan niệm Thực Ngã,
Thực Pháp là thuộc về biến kế chấp, do đó được gọi
là có tình mà không có lý hoặc là cảnh tồn tại trung gian.
Y tha khởi tính là nói về những pháp do nhân duyên sinh, về
tự thể tuy không có thực tại tính, nhưng về phương diện
quan hệ thì ít nhất hiện tượng cũng xác thực tồn tại
cho nên gọi đó là tính do vật khác mà phát khởi, đó là
nhận thức nhất trí của kiến phần và tướng phần. Đến
Thế-Thân trong Bách pháp quy định hiện tượng cấu tạo thành
yếu tố, trừ Chân-như, còn tất cả đều thuộc về tính
Y-tha-khởi. Viên-thành-thực tính của vạn hữu là Chân-như,
nó là cái thể thường còn, vắng lặng, bình đẳng, mà chỉ
khi nào thức thứ tám trút bỏ hết tính hữu lậu thì mới
có được diệu trí để nhận thức nó. Như vậy đem nhận
thức chia thành ba đoạn, nếu tiến lên một bước nữa để
khảo sát thì tính Biến-kế-sở-chấp vì có tình mà không
có lý cho nên là KHÔNG (có tướng, không có tính); tính Y-tha-khởi,
vì các pháp do nhân duyên mà sinh, cho nên chung quy cũng là KHÔNG
(có sinh, không có tính); tính Viên-thành-thực, tuy là bản
tính của vạn hữu, nhưng chẳng qua đó cũng chỉ là cái lý
niệm bình đẳng, không sai biệt cho nên không có tính cụ
thể và cũng đông đẳng như không có (có thắng nghĩa, không
có tính). Như vậy, kết quả chung cùng là Tam-tính đưa đến
Tam-vô-tính, bởi thế mới có thuyết Tam Tính Tam Vô Tính.
Về điểm này, như đã nói ở trên, Duy Thức Phật Giáo sau
cùng đã trở thành sự bổ túc của Trung-Quán Phật Giáo.
Nhưng đã đem trình độ KHÔNG chia thành ba đoạn mà thêm vào
một tính viên thành thực, thì dù sao đi nữa ta cũng có thể
nói rằng trong Trung Quán đã không thể nào phát hiện được
điểm tinh xảo đó.
10)
Trở lên, tư tưởng A-lại-gia thức lấy hiện thực làm cơ
sở, tuy căn cứ vào thế giới hiện thực này, song phải thuyết
minh A-lại-gia thức (và bảy chuyển thức) cách nào để cảnh
giới lý tưởng được khai triển? Đó là vấn đề ta cần
phải chú ý trước. Vô-Trước và Thế-Thân rất quan tâm về
việc tìm ra căn cứ cho sự triển khai của lý tưởng giới
đó. A-lại-gia thức, về tính chất, vì là hữu lậu, cho nên
tự nó không thể trở lại vô lậu, vậy cái căn cứ của
sự trở lại đó phải tìm ở đâu? Đó là điểm không thể
không đề cập đến. Mà sự tìm kiếm vẫn phải đặt trọng
tâm vào sự thuyết minh hiện thực cho nên nó đã trở thành
một vấn đề nan giải của Du Già Phật Giáo khi phải bài
xích tư tưởng Như-lai-tạng, và như vậy, cuối cung, Du Già
Phật Giáo đã vượt qua rất nhiều khó khăn để đạt đến
kết luận đó. Nghĩa là A-lại-gia thức, về phương diện
bản tính vẫn có đầy đủ chủng-tử vô-lậu, nhờ công
phu tư tưởng luyện mà thức A-lại-gia có thể trở thành
tịnh thức. Đó là cái gọi là bản tính vốn bất tịnh đã
tương ứng với vô lậu chủng-tử. Nhưng chủng-tử vô lậu
lại là phần khách quan cho nên A-lại-gia thức trong mỗi cá
nhân chưa hẳn đều hoàn toàn có chủng-tử vô lậu, mà trong
đó còn chia ra nhiều loại. Và sự phân chia này đã được
minh định trong Tứ Tính Các Biệt luận hay Ngũ Tính. Các Biệt
luận, nghĩa là trong mỗi chúng sinh về phương diện tiên thiên
(à priori, inné), có chủng-tính Thanh Văn, chủng tính Độc
Giác, chủng tính Bồ Tát và chúng sinh vô tính (Nhất xiển
đề) hoặc thêm một chủng tính bất định nữa để làm
thành năm chủng tính khác nhau. Trong số này, chúng sinh vô
tính hoàn toàn thiếu hẳn chủng-tử vô lậu, đó là chúng
sinh khó được cứu vớt; còn Thanh Văn, Độc Giác và Bồ
Tát tuy có chủng-tử vô lậu của Tam Thừa đều có đầy
đủ và có đầy đủ và điều do thiên tiên của mỗi Thừa
quyết định. Sự thuyết minh đó được triển khai, từ kinh
Giải-thâm-mật. Đến đây, kinh Pháp-Hoa,kinh Niết Bàn, kinh
Thắng Man v.v…đều cực lực chủ trương thuyết hết thảy
đều thành Phật, mà lập trường của Du Già Phật Giáo có
vẻ như lại biến thành thoái chuyển, như thế có lẽ là
bất đắc dĩ chăng?
Tóm
lại, tuy có năm tính khác nhau, nhưng mục tiêu của Du Già
Phật Giáo là chủng-tính Bồ Tát hoặc dự tưởng hồi hướng
về chúng tính bất định, tức là thành Phật quả. Song, trên
thực tế làm thế nào để chuyển hóa được thức A-lại-gia
hữu lậu? Chủng tử vô lậu đã là phần khách, tự nó không
có hoạt đông, cho nên phương pháp chuyển hóa cũng dự tưởng
lấy chủng-tử vô lậu làm nội ứng; nhưng cái phương pháp
chuyển từ bề ngoài (bảy chuyển thức) rồi lần lần đi
vào căn cứ địa của thức A-lại-gia cũng cần phải nhờ
sự giúp đở của Phật, do đó, lịch trình tư tưởng hành
tuy hết sức phức tạp, nhưng tóm lại phải lấy việc hiểu
thấu cái lý “vạn pháp duy thức”, “nhân (ngã), pháp đều
là không”, và phải phá trừ phiền não chướng và sở tri
chướng, dần dần làm cho thức A-lại-gia chuyển hóa, chỉ
còn lại chủng tử vô lậu, làm cốt tủy. Điểm này đến
các nhà chú giải Duy Thức Tam Thập Tụng coi cái phương pháp
tu hành trọng yếu nhất là phương pháp quán tưởng, nghĩa
là căn cứ vào tôn nghĩa Duy Thức, đối với Tam-tính, nội,
ngoại tướng phần, kiến phần, tâm vương, tâm sở, thức
tướng, chân như, phải dần dần từ phần thô đến phần
tế, từ ngoài dần dần tiến vào trong: Đó là cái thường
được mệnh danh là “Ngũ trùng duy thức quán”. Như vậy,
lấy Thập-địa làm trung tâm, trải qua nhiều giai đoạn, thực
hành nhiều đức mục, lấy năm thức trước làm điểm xuất
phát, lần lượt đến thức thứ sáu và thứ bảy, trước
hết phải tiêu trừ hai cái chướng ngại là phiền não chướng
và sở tri chướng, rồi lại phải tiêu diệt cho hết mọi
chủng tử, tập khí để làm cho thức A-lại-gia mất hết
tính hữu lậu của nó mà chỉ hoàn toàn còn lại cái trí
tuệ vô lậu thuần khiết mà thôi: đó là cái thường được
mệnh danh là “chuyển thức thành trí”.
11)
Sau hết xin nói qua về sự diệu dụng liên quan đến việc
đạt tới Phật quả. Bồ Tát, khi đến quả vị thứ mười,
đã đoạn trừ được chủng-tử của phiền não chướng và
sở tri chướng: chuyển phiền não chướng thành Đại Niết
Bàn (Chân-Như), chuyển sở tri chướng thành Đại-bồ-đề
(trí huệ). Như vậy, nhờ sự quán tưởng của trí tuệ thuần
khiết mà chiếu rọi đến pháp tính chân như để thành tựu
quả vị Phật. Khi đạt đến quả vị này, hành giả đã
có đầy đủ ba thân, thành tựu được bốn trí, được bốn
loại Niết Bàn, và bất luận về mặt tự thụ dụng hay tha
thụ dụng đều hoàn toàn được tự do. Ba thân là: tự tính
thân, thụ dụng thân, biến hóa thân. Tự tính thân là tên
khác của Pháp-Thân, nghĩa là pháp giới chân như bình đẳng:
thụ dụng thân, còn được gọi là Báo-Thân, cái sắc thân
viên mãn, nghĩa là cái thân xây dựng thế giới Tịnh độ;
biến hóa thân hay là Ứng thân, nghĩa là tùy căn cơ của chúng
sinh mà ứng hiện ra nhiều thân để cứu độ. Thuyết Tam
Thân sau thời Long Thụ đến đây đã hoàn toàn được thành
lập. Bốn trí là: Đại viên kính trí, Bình đẳng tính trí,
Diệu quán sát trí và Thành sở tác trí. Trí thứ nhất do
thức thứ tám mà chuyển hóa mà thành, là cái trí huệ lấy
pháp giới làm đối tượng và lấy vô ngại làm đối tượng
và lấy vô ngại làm đặc tướng của nó; trí thứ hai do
thức thứ bảy chuyển hóa mà thành và lấy từ bi, bình đẳng
làm đặc tướng của nó; trí thứ ba do thức thứ sáu chuyển
hóa mà thành và lấy sự tự tại quán sát làm đặc tướng
của nó; trí thứ tư do năm thức trước chuyển hóa mà thành
và lấy ba nghiệp tự do làm đặc tướng của nó. Khi
đến được quả vị Phật thì tất cả đều được tự
do cho nên có được bốn trí đó. Còn bốn loại Niết Bàn
là: Tự tính thanh tịnh Niết Bàn, Hữu dư Niết Bàn, Vô dư
Niết Bàn, và Vô sở trụ Niết Bàn. Thứ nhất là cái lý
thể của chân như bình đẳng, thứ hai là cảnh địa tuy đã
diệt trừ phiền não chướng nhưng thức thứ tám vẫn còn
một phần hữu lậu; thứ ba là cái quả vị đã hoàn toàn
chuyển hóa thức hữu lậu thành thức vô lậu; và thứ tư
là cái cảnh địa của bậc đại trí không trụ trong vòng
sinh tử, đại bi không trụ ở Niết Bàn hoàn toàn tự do giải
thoát và tế độ hết thảy chúng sinh.
TIẾT
THỨ BA:
NHƯ
LAI TẠNG PHẬT GIÁO CỦA THẾ THÂN.
Trở
lên tôi đã đề cập qua đến hệ thống Phật Giáo Thâm Mật,
Du Già của Vô-Trước và Thế-Thân và trong đó kể cả triết
học A-lại-gia thức mà người sáng lập là Vô-Trước. Song,
như đã nói ở trên, với Thế-Thân, ngoài A-lại-gia thức
quan ra, giữa các thuyết Phật-tính, Như Lại Tạng, Bản-tịnh
thức v.v…đều có quan hệ. Đó là những tư tưởng được
biểu diễn trong Thập-đại-kinh luận (Bồ-Đề-Lưu-Chi dịch),
và trong Phật-tính luận (Chân-Đế dịch). Trong Thập Đại
kinh luận chỗ nào cũng nói đến danh từ A-lại-gia, Điểm
đầu tiên ta nên chú ý là thức thứ tám được gọi là thức
thứ tám được gọi là A-lại-gia thức (danh từ cũ là A-lê-gia-thức),
thức thứ bảy thì gọi là A-lại-gia thức (luận thứ tám).
Nếu theo cách thuyết pháp trong Phật-tính luận do Chân-Đế
dịch (quyển thứ 3) mà phán định thì có thể coi những danh
từ đó đặc biệt do Thế-Thân dùng. Song, về địa vị và
tính chất của thức A-lại-gia nếu chỉ khảo sát trong Thập
Địa kinh luận thì vẫn chưa được rõ ràng. Quyển thứ ba
trong luận này nó về Duyên khởi thì cho rằng danh sắc và
thức A-lại-gia cùng phát sinh một lúc và lấy thức A-lê-gia
làm nhân; rồi trong quyển thứ tám nói về thức A-lại-gia
và A-đà-na cầu giải thoát thì cho rằng cầu đạo giải thoát
chân thật, thậm chí còn nói thức A-lê-gia quán pháp Đại
không Tam muội, và chuyển thức thì quán Hợp không Tam Muội,
nhưng điểm này vẫn chưa được thuyết minh một cách tinh
tường. Tóm lại, trong Thập Địa Kinh luận Thế-Thân thừa
nhận có tâm thanh tịnh, đó là điều không còn nghi ngờ gì
nữa. Chẳng hạn trong quyển thứ 8 của bộ luận này nói:
“Mười hai nhân duyên đều y vào một tâm”. Và để giải
thích câu trên đây, luận này nói: “Đó là hai đế sai khác,
nhất tâm và tạp nhiễm hòa hợp với nhau tạo thành nhân
duyên”, lấy sự hòa hợp của nhất tâm và tạp nhiễm để
nhìn thấy chỗ cơ bản của duyên khởi, về điểm này khiến
cho người ta liên tưởng đến luận thuyết của Khởi Tín
Luận. Duy có điều không may là “Thập Địa kinh luận vẫn
chưa nói rõ được sự quan hên giữa cái nhất tâmđó và
thức A-lê-gia, cho nên không thể dùng tư tưởng Chân, Vọng
hòa hợp với nhau mà thành thức A-lê-gia của Khởi Tín luận
để giải thích điểm trên đây. Tóm lại, bất luận dưới
hình thái nào trong phạm vi Thập Địa Kinh luận, đều mà
không ai có thể phủ nhận được là Thế-Thân thừa nhận
có chân thức.
Ngoài
Thập Địa Kinh luận ra, Phật-tínhluận cũng chủ trương vốn
có thức thanh tịnh. Như trên đã nói, Phật-tính luận căn
cứ vào các kinh Thắng Mạn, Như-lại-tạng, Vô-thượng-y,
Bất-tăng-bất-giảm, Đại Thừa Niết Bàn, Lăng-Già v.v…mà
đề xướng tư tưởng “Hết thảy đều thành Phật”. Theo
luận này thì Phật-tính là cái làm sáng tỏ cái lý chân như
ngã, pháp đều không (quyển 1). Đều này đối với Pháp thân
quan hay Niết Bàn quan của Vô-Trước hệ tuy chưa có sự sai
khác mấy, nhưng trong hệ thống Vô-Trước cho Phật-tính là
bất động đến Phật-tính luận thì lại cho Phật-tính ở
trong tâm ta là cái nguyên động lực chán ghét sinh tử, cầu
mong Niết Bàn thúc đẩy hoạt động, đó là điểm bất đồng
khá rõ rệt. Tức là lấy chân như (do kết quả của sự thấu
triệt lý ngã không, pháp không) làm bối cảnh để phát Bồ
Đề tâm mà hướng đến việc tu hành (gia hạnh nhân), rồi
tu hành mà cuối cùng thành tựu được ba đức Trí, Đoạn,
Ân (viên mãn nhân): đó là thuyết Tam Nhân Phật-tính. Nghĩa
là nhờ có Phật-tính mà tâm Bồ Đề nẩy nở, chí tu hành
phát sinh và quả báo của chí tu hành mới được thực hiện.
Theo Phật-tính luận chủ trương của hệ thống Vô-Trước,
quyết không phải chỉ có Bồ Tát chủng-tính mới thực hiện
được điều này, vì hết thảy chúng sinh (Nhất xiển đề).
Có kinh nói Nhất-xiển-đề không thành Phật, đó là kinh không
liễu nghĩa, nếu là liễu nghĩa thì phải nói Nhất-xiển-đề
cuối cùng cũng thành Phật. Cho nên kinh Đại Thừa Niết Bàn
đã nói được cực ý ấy (quyển 2).
Như
vậy là Phật-tính luận đã căn cứ vào những kinh điển
kể trên kia để giải thích chín thí dụ về Như Lại Tạng,
luận về Pháp Thân thường trụ viên mãn, nói về Niết Bàn
thường, lạc, ngã, tịnh, luận về Chân Như, và nói về Tam-tính,
Tam-vô-tính v.v…Ngoài ra, phần nội dung trong một thiên của
Phật-tính luận cũng còn bàn nhiều phương pháp tu hành. Song
điều không may là bộ luận này chỉ chuyên tìm hiểu về
phương diện căn cứ lý tưởng, chứ đối với việc thành
lập hiện tượng giới như thế nào thì vẫn không nói đến,
cho nên chưa thể đoán định một cách minh bạch rằng bộ
luận này thuyết minh về Như-lai-tạng Duyên Khởi hay Chân
Như Duyên Khởi. Phật-tính luận cũng cho rằng nguồn gốc
của sinh tử là thức A-Lê-Gia. Trong quyển thứ ba nói: “A-lê-gia
là gốc của sinh tử, nó có thể sinh ra bốn thứ ngọn là:
Phiền não có hai, nghiệp và quả báo”. Ý nghĩa của câu
trên đây cho thấy nguồn gốc của Hoặc, Nghiệp, Khổ tất
cả đều nằm trong thức A-lê-gia. Do đó, về ý nghĩa này
của thức A-lê-gia, lập trường của Khởi Tín luận và tư
tưởng của Vô-Trước cũng không có khác mấy. Song, ở một
phương diện khác, Phật-tính luận lại căn cứ theo kinh Thắng
Mạn mà cho rằng Như-lai-tạng là nguồn gốc của sinh tử
và Niết Bàn. Theo lập trường này mà phán định, thì Như-lai-tạng,
một mặt thừa nhận ý nghĩa của thức A-lại-gia, mặt khác,
cũng thừa nhận ý nghĩa của Chân như hoặc Pháp thân, thậm
chí còn cho rằng nếu chỉ có thức A-lại-gia không thôi thì
không thể thâu tóm hết được bản nguyên của vạn hữu:
đó là điểm ta cần lưu ý. Nhưng có điều không may là đến
Thế-Thân ý nghĩa đó vẫn chưa được đầy, đủ, song dù
sao đi nữa, căn cứ theo lập trường của Phật-tính luận,
lập trường tiến đến cái gọi là Như-lai-tạng Duyên Khởi,
so với A-lại-gia duyên khởi vẫn có chỗ thâm thúy hơn, đó
là điều rất rõ ràng. Mà lập trường này, tại Ấn Độ,
đã được Kiên Tuệ (cuối thế kỷ thứ 5) khai triển trong
Cứu Kính Nhất Thừa Thực Tính luận, Đại Thừa Pháp Giới
Vô Sai Biệt luận, và trong Đại Thừa Khởi Tín luận của
Mã Minh (?) v.v…Khi đến Trung Quốc thì giữa Địa Luận Tôn
và Nhiếp Luận Tôn, lập trường này đã sản sinh ra nhiều
kiến giải cơ bản, và điểm này, đối với tư tưởng sử
Phật Giáo tại Ấn Độ có một ý nghĩa rất trọng đại.