Hành
giả tu hành muốn mau đạt đến kết quả như mình mong muốn
thì, điều kiện tiên quyết trước hết là chúng ta cần phải
chọn lựa pháp môn nào cho thích hợp với căn cơ của mình,
trong muôn nghìn pháp môn mà đức Đạo sư đã để lại. Kế
đến là chúng ta phải hạ thủ quyết tâm thực hành pháp
môn mà mình đã chọn và, điều kiện cần thiết và quan trong
nhất trong khi tu tập là siêng năng tinh tấn, nếu thiếu đi
tinh tấn siêng năng thì dù cho phương pháp tu có tốt và dễ
dàng đi chăng nữa cũng trở thành vô ích, do đó vấn đề
siêng năng tinh tấn rất cần thiết cho hành giả trên bước
đường tu tập.
Ở
đây chúng tôi xin trình bày một phương pháp tu cực kỳ đơn
giản và, bất cứ ai trong chúng ta dù lớn, nhỏ, già, bé cũng
có thể tu được hết; tu tập bất cứ nơi đâu ở tại nhà,
tại chùa, nơi chợ búa, nơi trường học, nơi văn phòng làm
việc, ở ngoài đường, nơi công sở, nơi ruộng đồng, nơi
trường học, khi ăn, khi đi ngủ, khi đi vệ sinh, khi chạy,
khi nói, khi cười, khi la, khi khóc và trong bốn oai nghi đi,
đứng, nằm và ngồi, nói chung là bất cứ nơi đâu, bất
cứ chỗ nào, trong bất cứ công việc gì chúng ta bắt tay
vào làm và, khi mà hơi thở ra vào của chúng ta vẫn hiện
hữu thì chúng ta cũng có thể tu tập được hết ngay trong
cuộc sống bình thường hằng ngày của chúng ta, đó là pháp
tu Tứ chánh cần. Phương pháp tu này không cần đến trí tuệ
nhiều lắm, mà chỉ cần siệng năng tinh tấn tu tập trong
hiện quán tĩnh thức là hành giả thành công trong việc loại
trừ được ba nghiệp dữ của thân, miệng, ý và, thanh tịnh
hoá được ba nghiệp thân, miệng, ý trong việc vô hiệu hoá
dần ba độc tham, sân, si trên con đường tìm cầu giải thoát.
Tứ
chánh cần, Sanskrit gọi là Catvāri prahāṇāni; Pāli gọi
là Cattāri sammappadhānāni. Có chỗ gọi là Tứ chánh
đoạn, Tứ ý đoạn, Tứ ý đoan, Tứ chánh thắng hay Tứ đoạn.
Chữ cần
và chữ đoạn
ở đây Theo Pāli có nghĩa là pahāna-padhāna (tinh cần để
đoạn trừ) tức là dùng bốn pháp này trong việc siêng năng
tinh tấn (cần) để có thể đoạn trừ (đọan) ác cùng mọi
sự giải đãi biếng nhác của chúng ta trong việc hành thiện.
Tứ
Chánh Cần là hành phẩm thứ hai trong bảy hành phẩm trợ
đạo của ba mươi bảy phẩm đạo, là bốn cách siêng năng
tinh cần trong nổ lực hằng ngày qua hiện quán tĩnh thức
của hành giả để ngăn ngừa các việc ác tâm chưa phát sinh
thì không cho chúng phát sinh và, việc ác đã phát sinh ra trong
ý nghĩ hay việc ác đã phát sinh ra trong ý nghĩ rồi được
thể hiện ra ngoài lời nói hoặc trong hành động thì, phải
nổ lực sịêng năng hiện quán tĩnh thức đoạn trừ không
cho tái phạm những việc ác lỡ đã phát sinh bằng vào ý
nghĩ hay hành động tạo tác của thân hay miệng; cùng lúc
hành giả hiện quán tĩnh thức thực hành các việc thiện
chưa phát sinh làm cho nó phát sinh và, việc thiện đã-đang
phát sinh thì phải luôn luôn nổ lực tiếp nối làm cho nó
càng ngày càng thêm rộng lớn thêm trong việc tu tập theo luật
tắc nhân quả qua việc chỉ ác hành thiện.
Về
chỉ ác
thì dùng mọi sự siêng năng tinh tấn của mỗi chúng ta vừa
nổ lực đọan trừ những việc ác mà chúng ta đã lỡ làm
ra, dứt khóat không bao giờ tái phạm và, nổ lức siêng năng
tinh tấn trong việc ngăn ngừa những việc ác chưa phát sinh
ra ngay từ trong ý nghĩ, không cho chúng phát sinh ra trong tự
ý (ý hành) và ngoài hành động của thân (thân hành) của
miệng (khẩu hành) làm di hại tự chúng ta và cho người khác.
Về
hành thiện
thì hành giả chúng ta cũng dùng siêng năng tinh tấn hiện quán
tịnh thức trong việc vừa khơi dậy những việc làm thiện
chưa phát sinh ra trong ý nghĩ thì khiến cho chúng phát sinh ra
trong tự ý và thể hiện ra ngoài bằng những hành động của
thân mình và miệng mình, đồng thời cũng dùng siêng năng
tinh tấn hiện quán tĩnh thức trong việc tiếp tục tiếp nối
làm cho những việc làm thiện đã-đang phát sinh tăng trưởng
ngày càng nhiều hơn trong việc lợi mình lợi người. Đó
là ý nghĩa của Tứ chánh cần hay Tứ chánh đoạn trong việc
chỉ ác hành thiện lợi mình lợi người trong cuộc sống.
Ở
đây chúng tôi xin phân biệt rõ ràng về hai chữ ác và thiện.
- Sao
gọi là việc ác?
Một,
việc ác là việc làm của chúng ta mang tính cách ích kỷ muốn
thoã mãn và nuôi lớn ba thứ độc hại đó là lòng tham lam,
tính hận thù và, sự si mê ngu muội được thể hiện ra trong
ý nghĩ, lời nói và, hành động làm hại người hai vật và,
chỉ biết lợi về mình mang hại lại cho kẻ khác về tinh
thần lẫn vật chất, bất kể thủ đoạn nào chúng ta cũng
làm.
Hai,
việc ác là việc làm của chúng ta mang tính ích kỷ, muốn
thoã mãn và nuôi lớn ba thứ độc hại của lòng tham lam,
tính thù hận và, sự si mê ngu muội không biết phân biệt
phải trái nên để cho chúng thể hiện qua ý nghĩ, lời nói
và hành động tự làm hại mình và làm hại người. Đó là
hai việc ác được chúng tôi trình bày theo những lời dạy
của đức Đạo sư.
-
Sao gọi là việc thiện (lành)?
Một,
việc thiện là việc làm của chúng ta không mang tính cách
ích kỷ không phải để thoã mãn và nuôi lớn ba thứ độc
hại, của lòng tham lam, tính hận thù và, sự si mê ngu muội
mà thể hiện lòng từ bi thương giúp mọi người, mọi vật
đem lợi chánh đáng về cho mọi người. Trong việc làm này
có thể có hại cho ta về mặt vật chất, nhưng trong việc
làm này làm cho tinh thần chúng ta vui vẻ vì đã làm việc
tốt cho mọi người, mọi vật … đó gọi là việc thiện.
Hai,
việc thiện là việc làm của chúng ta không mang tính cách
ích kỷ không phải để thoã mãn và nuôi lớn ba thứ độc
hại, của lòng tham lam, tính hận thù và, sự si mê ngu muội
mà thể hiện lòng từ bi thương giúp mọi người, mọi vật
đem lợi chánh đáng về cho mọi người, và cho cả chính mình
về mặt vật chất, cũng như tinh thần. Nhân việc làm này
làm cho mọi người và ngay chúng ta có lợi với nhau mà còn
đem lại vui vẻ cho cả hai bên … đó gọi là việc thiện.
Cả
hai việc thiện được chúng tôi trình bày theo những lời
dạy của đức Đạo sư.
Phương
pháp tu tập pháp Tứ chánh cần này, hành giả chúng ta phải
đem chúng áp dụng ngay vào trong cuộc sống của chính mọi
người. Vì trong cuộc sống của chúng ta bất cứ ai cũng biết
tư duy suy nghĩ và biết ý nghĩ nào đúng, ý nghĩ nào sai, ý
nghĩ nào thiện, ý nghĩ nào ác chúng ta có thể phân biệt
được ngay trong ý nghĩ, ngay trong hành động, ngay trong lời
nói của chúng ta. Nhờ ý nghĩ luôn đi trước hành động và
lời nói nên hành giả chúng ta có thể kiểm soát chúng từ
trong từng ý nghĩ, ngay trong từng lời nói, ngay trong từng
hành động, khi chúng ta sống một mình, khi chúng ta làm việc,
khi chúng ta học hành, khi chúng ta giao tiếp với mọi người
chung quanh v.v… bằng vào nổ lực tinh tấn trong hiện quán
tĩnh thức. Ở đây chúng tôi xin giải thích rõ ràng về hai
chữ HIỆN QUÁN một chút cho quí hành giả nắm vững. Hiện
quán là hai từ của nhà Thiền chỉ cho sự quán sát, để
ý, xem xét theo dõi từng ý nghĩ, từng lời nói, từng việc
làm của mình khi chúng khởi lên, khi lụac căn tiếp xúc với
lục trần cảnh giới bên ngoài, chúng đang xuất hiện là
đúng hay là sai, là thiện hay là ác, có lợi hay là có hại.
Ngoài nghĩa trên ra hiện quán ở đây còn mang ý nghĩa
tinh cần tinh tấn của chánh cần nữa. Do đó sự kết hợp
Tứ chánh cần với pháp Hiện quán là một yếu tố cần thiết,
làm tăng thêm sự chính xác qua hiện quán của xem xét, của
phát hiện đúng bộ mặt thật của thiện và, ác. Khi mà hành
giả đã nhận dạng ra bộ mặt thật của chúng rồi thì,
tự động automatic theo sự phát hiện của chúng ta tuỳ theo
sự lựa chọn lấy bỏ lập tức chúng ta có quyết định
ngay qua chỉ ác hành thiện. Như vậy nếu chúng ta luôn nổ
lực siệng năng tinh tấn hiện quán tĩnh thức trong cuộc sống
của chính mình qua mọi tiếp xúc, qua mọi cuộc giao tế làm
ăn, qua mọi sinh hoạt bình thường hằng, qua cơ sở, trường
lớp, qua chợ búa, quán xá của mỗi hành giả chúng ta trong
hiện quán tĩnh thức thì, lo gì chúng ta không chế ngự được
ba độc tham, sân, si và, thanh tịnh hoá ba nghiệp thân khẩu
ý một cách dễ dàng. Khi mà hành giả đã thanh tịnh hoá được
ba nghiệp thân, khẩu, ý thì bạch nghiệp phát sinh và con đường
giải thoát sẽ cận kề quanh bạn trong việc làm chủ tâm
mình và, sẽ đạt được an ổn, được an lạc, thân tâm
không còn phiền não nữa. Dưới đây chúng tôi sẽ trích đoạn
kinh được đức Đạo sư chính thức dạy cho tôn giả A-nan
theo Kinh Trung A-hàm 21 đức Đạo sư dạy cho người
đệ tử thân cận của mình rằng:
“A-nan,
trước kia Ta đã nói cho ông nghe về bốn chánh cần, Tỳ-kheo
đối với pháp ác bất thiện đã sanh, vì để đoạn trừ
chúng nên khởi ước muốn, nỗ lực hành, tinh cần, dốc hết
tâm, đoạn trừ (đoạn trừ giải đãi biến nhác). Đối với
các pháp ác bất thiện chưa sanh, vì để chúng không phát
sanh nên khởi ước muốn, nỗ lực hành, tinh cần, dốc hết
tâm, đoạn trừ (đoạn trừ giải đãi biến nhác) . Đối
với các pháp thiện chưa sanh, vì để cho phát sanh nên khởi
ước muốn, nỗ lực hành, tinh cần, dốc hết tâm, đoạn
trừ (đoạn trừ giải đãi biến nhác) . Đối với các pháp
thiện đã sanh, vì để chúng kiên trụ, không bị quên lãng,
không bị thoái hóa, được bồi bổ tăng tiến, được phát
triển rộng rãi, được viên mãn cụ túc, nên khởi ước
muốn, nỗ lực hành, tinh cần, dốc hết tâm, đoạn trừ (đoạn
trừ giải đã biến nhác). A-nan, bốn chánh cần này, ông hãy
nói để dạy cho các Tỳ-kheo niên thiếu. Nếu nói và dạy
cho các Tỳ-kheo niên thiếu về bốn chánh cần này, họ sẽ
được an ổn, được sức lực, được an lạc, thân tâm không
phiền nhiệt, trọn đời tu hành phạm hạnh.”
Theo
phương pháp tu này rất khế hợp với mọi căn cơ hành giả
trong hiện quán tĩnh thức qua cuộc sống. Vì việc thiện và
ác luôn luôn là những pháp đồng hành trong mỗi chúng ta.
Chúng luôn xuất hiện theo sự tác động của ba độc tham,
sân, si được thể hiện ra ngoài thân, khẩu và, ý nơi mà
mọi hành giả chúng ta có thể phát hiện tiếp cận và kiểm
soát được chúng qua những nổ lực tinh cần siêng năng
hiện quán tĩnh thức của chúng ta. Nhờ vậy mà ai trong chúng
ta cũng có thể tu tập theo pháp nôm này được, ở mỗi nơi,
mỗi lúc và, mọi lứa tuổi cũng có thể tu tập một cách
dễ dàng nếu người đó biết nổ lực siêng năng tinh tấn
với chính mình qua hiện quán tĩnh thức thì, sẽ đạt được
hiệu quả đưa đến kết quả tốt đẹp nhanh hơn, ngay trong
cuộc đời này.