NHỮNG
CẦU NGUYỆN
Những
“khấn cầu” này được lấy từ sưu tập những bản văn
terma liên hệ với Bardo Thoštrošl. Chúng đều được đề
cập đến như những thực hành sùng mộ trong bản thân Bardo
Thoštrošl, và một số câu được trích ra như là một phần
của những giáo huấn cho người chết. Từ ngữ thường được
dịch đơn giản là cầu nguyện nghĩa đen có nghĩa là “con
đường ước nguyện” (Tây Tạng smon-lam). Nó không phải
là một cầu xin đến một bổn tôn hóa thần ở bên ngoài,
mà là một phương pháp tịnh hóa và hướng dẫn tâm thức.
Nó hoạt động như sự gây cảm hứng bằng cách khởi lên
lòng mong muốn nội tại trong tâm về cái thiện, mong ước
về cái thiện này lôi cuốn sự thành tựu mục đích của
nó.
Cầu
Nguyện chư Phật
và
chư Bồ tát Cứu Thoát
Vào
lúc chết của một người nào, người ta nên luôn luôn kêu
cầu chư Phật và chư Bồ tát cứu thoát cho. Người ta cần
có những cúng dường vật chất và tâm thức lên Tam Bảo,
và cầm hương trong tay, nói lên những lời này với năng lực
tập trung mạnh mẽ : ÷
Chư
Phật và chư Bồ tát ở trong mười phương, bi mẫn, toàn tri,
với năm nhãn, từ ái, những bậc bảo vệ cho tất cả chúng
sanh, xin đến chỗ này bằng thần lực đại bi và chấp nhận
những phẩm vật cúng dường bằng vật chất và tâm thức.
÷
Hỡi
các Bậc Bi Mẫn, các ngài có trí huệ thấu suốt, lòng từ
bi, hoạt động hiệu quả và năng lực che chở bất khả tư
nghì. Hỡi các Bậc Bi Mẫn, con người này (tên) đang đi từ
thế giới này qua bờ bên kia, nó đang từ bỏ thế giới này,
nó đang chết không có quyền lựa chọn, nó không có bạn
bè, nó đang khổ đau cực kỳ, nó không có nơi nương tựa,
nó không có người bảo vệ, không có đồng minh, ánh sáng
của đời này sắp lặn, nó đang đi qua thế giới khác, nó
đang vào trong bóng tối dày đặc, nó đang rớt vào một hố
thẳm sâu, nó đang đi vào rừng rậm, nó đang bị nghiệp lực
đuổi theo, nó đang vào nơi hoang dã bao la, nó đang chìm trong
một biển lớn, nó đang bị thổi đi bởi gió nghiệp, nó
đang đi đến nơi không có đất cứng, nó đang vào trong một
trận chiến lớn, nó bị những hồn linh nắm lấy, nó đang
bị khủng khiếp bởi những sứ giả của Thần Chết, nó
đang đi vào đời này sau đời khác vì nghiệp của mình, nó
vô vọng, thời gian đã đến khi nó phải ra đi một mình không
một người bạn. ÷
Hỡi
những Bậc Bi Mẫn, xin hãy là một nơi nương tựa cho nó (tên),
kẻ không nơi nương tựa, xin hãy bảo vệ nó, phòng hộ nó,
giữ gìn cho nó khỏi bóng tối lớn lao của trung ấm, xoay
nó khỏi cơn bão cuồng loạn của nghiệp, che chở nó khỏi
sự sợ hãi dữ dội đối với Thần Chết, giải thoát nó
khỏi lối đi dằng dặc và hiểm nguy của trung ấm. Hỡi các
Bậc Đại Bi, xin đổ lòng bi mẫn của các ngài xuống khắp,
cứu thoát nó, chớ để nó đi vào ba cõi thấp, xin chớ quên
những lời nguyện xưa của các ngài mà nhanh chóng gửi tới
thần lực của lòng đại bi của các ngài. ÷
Chư
Phật và chư Bồ tát, xin chớ để lòng đại bi và những
phương tiện thiện xảo của các ngài đổ xuống ngoài nó
(tên), xin hãy nắm lấy nó bằng lòng đại bi, xin chớ để
một chúng sanh rơi vào quyền năng của nghiệp dữ. ÷
Nguyện
Tam Bảo là một nơi nương tựa khỏi khổ đau trong trung ấm.
÷
Điều
này cần được chính mình và tất cả những người khác
nói lên ba lần với sự sùng mộ sâu xa. Rồi sau đó cần
đọc lên “Giải Thoát Thông Qua Sự Nghe”, “Giải Thoát
Khỏi Lối Đi Nguy Hiểm của Bardo”, và “Cầu Nguyện Trong
Bardo Che Chở Khỏi Sợ Hãi”. ÷
Những
Câu Kệ Chánh về Sáu Bardo
Bây
giờ khi bardo của sự sanh hiện lên cho tôi,
tôi
sẽ bỏ biếng lười vì cuộc đời không có thì giờ cho nó,
đi
vào con đường không xao lãng của học hỏi, tư duy và thiền
định
biến
những phóng tưởng và tâm thức thành con đường, và chứng
ngộ ba thân ;
giờ
đây một khi tôi đã có được thân người,
không
có thì giờ cho tâm thức lang thang trên con đường. ÷
Bây
giờ khi bardo của giấc mộng hiện lên cho tôi,
tôi
sẽ bỏ giấc ngủ như xác chết của vô minh cẩu thả,
và
để cho những tư tưởng của tôi đi vào trạng thái tự nhiên
của chúng mà không xao lãng ;
kiểm
soát và chuyển hóa những giấc mộng thành quang minh,
tôi
sẽ không ngủ như loài thú vật
mà
kết hợp trọn vẹn giấc ngủ và thực hành. ÷
Bây
giờ khi bardo của thiền định hiện lên cho tôi,
tôi
sẽ bỏ lũ phóng dật và mê lầm rối rắm,
và
trụ trong trạng thái vô biên mà không bám nắm hay náo động
;
vững
chắc trong hai thực hành : quán tưởng và thành tựu,
vào
lúc thiền định này, nhất tâm, thoát khỏi mọi hoạt động,
tôi
sẽ không rơi vào sức mạnh của những xúc cảm rối bời.
÷
Bây
giờ khi bardo của giây phút trước cái chết hiện lên cho
tôi,
tôi
sẽ bỏ mọi bám nắm, khát khao và luyến ái,
không
phóng dật đi vào trong tỉnh giác trong sáng của giáo lý,
và
phóng thức tôi vào không gian của tâm vô sanh ;
khi
tôi bỏ thân máu thịt hợp tạo này
tôi
sẽ biết nó là ảo tưởng thoáng qua. ÷
Bây
giờ khi bardo của pháp tánh hiện lên cho tôi,
tôi
sẽ bỏ mọi tư tưởng sợ hãi, kinh hoàng,
tôi
sẽ nhận ra bất cứ cái gì xuất hiện là sự phóng tưởng
của tôi
và
biết nó là một ảnh hiện của bardo ;
giờ
đây tôi đã đến điểm quan yếu này,
tôi
sẽ không sợ hãi những vị thần hòa bình và hung nộ là
những phóng tưởng của chính tôi. ÷
Bây
giờ khi bardo của thác sanh hiện lên cho tôi,
tôi
sẽ nhất tâm tập trung tâm thức tôi,
và
cố gắng kéo dài những kết quả của thiện nghiệp,
đóng
lối vào mẫu thai và nghĩ đến sự chống lại ;
đây
là lúc cần đến sự kiên trì và tư tưởng trong sạch,
hãy
bỏ ghen ghét, và thiền định về guru và phối ngẫu
của
ngài. ÷
Với
tâm thức mơ hồ, không nghĩ đến cái chết đang đến,
tạo
tác những hoạt động vô nghĩa ngoài kia,
trở
về hai tay không bây giờ sẽ là hoàn toàn lầm lạc ;
cần
thiết là nhận biết thánh pháp,
vậy
thì tại sao không thực hành pháp vào chính lúc này ?
Từ
miệng của những thành tựu giả có những lời này :
Nếu
con không giữ lời dạy của guru trong lòng con
con
sẽ không khỏi trở thành kẻ lừa đảo của chính mình. ÷
Cầu
Nguyện để Giải Thoát Khỏi
Lối
Đi Nguy Hiểm của Bardo
Kính
lễ chư guru, yidam và dakini,
với
tình thương bao la, nguyện các ngài dẫn dắt chúng con trên
con đường. ÷
Vì
mê mờ con lạc lõng trong luân hồi sanh tử,
giờ
đây trên con đường ánh sáng không phóng dật của nghiên
cứu, tư duy và thiền định,
nguyện
chư guru của dòng phái thiêng liêng đến trước mặt con,
những
vị phối hợp của các ngài, chúng hội chư dakini ở đàng
sau con ;
xin
giúp con vượt qua nẻo đường bardo nguy hiểm
và
mang con đến trạng thái Phật đà toàn thiện. ÷
Vì
vô minh dày đặc con lang thang trong luân hồi sanh tử,
giờ
đây nương vào con đường ánh sáng quang minh của Pháp Giới
Thể Tánh Trí,
cầu
xin đức Phật Tỳ Lô Giá Na đi trước mặt con,
người
phối hợp của ngài là Hoàng Hậu Hư Không Kim Cương đi phía
sau con ;
xin
giúp con vượt qua nẻo đường bardo nguy hiểm
và
mang con đến trạng thái Phật đà toàn thiện. ÷
Vì
thù hận cao độ con lang thang trong sanh tử,
giờ
đây nương vào con đường ánh sáng quang minh của Đại Viên
Cảnh Trí,
cầu
xin đức Phật Kim Cương Tát Đỏa đi trước mặt con,
người
phối hợp của ngài, đức Phật Mẫu Locana đi sau lưng con
;
xin
giúp con vượt qua nẻo đường bardo nguy hiểm
và
mang con đến trạng thái Phật đà toàn thiện. ÷
Vì
kiêu mạn quá mức con lang thang trong sanh tử,
giờ
đây nương vào con đường ánh sáng quang minh của Bình Đẳng
Tánh Trí,
cầu
xin đức Phật Bảo Sanh đi trước mặt con,
người
phối hợp của ngài, đức Phật Mẫu Mamaki đi sau lưng con
;
xin
giúp con vượt qua nẻo đường bardo nguy hiểm
và
mang con đến trạng thái Phật đà toàn thiện. ÷
Vì
tham muốn quá độ con lang thang trong sanh tử,
giờ
đây nương vào con đường ánh sáng quang minh của Diệu Quan
Sát Trí,
cầu
xin đức Phật A Di Đà đi trước mặt con,
người
phối hợp của ngài là Phật Mẫu Pandaravasini đi sau lưng con
;
xin
giúp con vượt qua nẻo đường bardo nguy hiểm
và
mang con đến trạng thái Phật đà toàn thiện. ÷
Vì
ganh tỵ mãnh liệt con lang thang trong sanh tử,
giờ
đây nương vào con đường ánh sáng quang minh của Thành Sở
Tác Trí,
cầu
xin đức Phật Bất Không Thành Tựu đi trước mặt con,
người
phối hợp của ngài là Phật Mẫu Samaya-Tara đi sau lưng con
;
xin
giúp con vượt qua nẻo đường bardo nguy hiểm
và
mang con đến trạng thái Phật đà toàn thiện. ÷
Vì
những xu hướng vô ý thức mạnh mẽ con lang thang trong sanh
tử,
giờ
đây nương vào con đường ánh sáng quang minh của trí huệ
vốn sẵn,
cầu
xin những bậc điều ngự vidyadhara đi trước mặt con,
người
phối hợp của các ngài chúng dakini đi sau lưng con ;
xin
giúp con vượt qua nẻo đường bardo nguy hiểm
và
mang con đến trạng thái Phật đà toàn thiện. ÷
Vì
những phóng tưởng mê lầm mãnh liệt con lang thang trong sanh
tử,
giờ
đây nương vào con đường ánh sáng bỏ đi mọi sợ hãi,
cầu
xin Chư Vị Thiêng Liêng, bình yên và xung nộ, đi trước mặt
con,
chúng
hội dakini, Nữ Chúa của Hư Không, đi sau lưng con ;
xin
giúp con vượt qua nẻo đường bardo nguy hiểm
và
mang con đến trạng thái Phật đà toàn thiện. ÷
Xin
cho không đại không khởi lên như một kẻ thù,
nguyện
con thấy được Cõi của đức Phật màu xanh.
Xin
cho thủy đại không khởi lên như một kẻ thù,
nguyện
con thấy được Cõi của đức Phật màu trắng.
Xin
cho địa đại không khởi lên như một kẻ thù,
nguyện
con thấy được Cõi của đức Phật màu vàng.
Xin
cho hỏa đại không khởi lên như một kẻ thù,
nguyện
con thấy được Cõi của đức Phật màu đỏ.
Xin
cho phong đại không khởi lên như một kẻ thù,
nguyện
con thấy được Cõi của đức Phật màu lục.
Xin
cho cầu vồng của các đại không khởi lên như những kẻ
thù,
nguyện
con thấy được những cõi của tất cả chư Phật.
Xin
cho những âm thanh, ánh sáng và tia sáng không khởi lên như
những kẻ thù,
nguyện
con thấy được vô số cõi của những Bậc Bình Yên và Xung
Nộ.
Xin
cho con biết tất cả âm thanh là âm thanh của tự con,
xin
cho con biết tất cả ánh sáng là ánh sáng của tự con,
xin
cho con biết tất cả tia sáng là tia sáng của tự con.
Xin
cho con biết một cách tự nhiên bardo là chính con,
nguyện
con đạt được những cõi giới của Ba Thân. ÷
Cầu
Nguyện Trong Bardo
Che
Chở Khỏi Sợ Hãi
Khi
cuộc hành trình của đời con đã đến chỗ chấm dứt,
và
vì không thân thuộc đi cùng con ra khỏi thế giới này
con
lang thang trong trạng thái bardo một mình,
xin
chư Phật bình yên và xung nộ ban tới thần lực đại bi
và
làm sạch trống bóng tối dày đặc của vô minh. ÷
Khi
rời bỏ bạn bè yêu dấu, lang thang một mình,
những
hình tướng trống không của những phóng tưởng của con xuất
hiện,
xin
chư Phật ban tới thần lực đại bi
để
cho những kinh hãi của bardo không đến. ÷
Khi
năm ánh sáng quang minh của trí huệ soi chiếu,
không
sợ hãi nguyện con nhận biết chính mình ;
khi
những hình tướng của các vị bình yên và xung nộ
xuất
hiện,
không
sợ hãi và tự tin nguyện con nhận biết bardo. ÷
Khi
con khổ đau vì nghiệp lực xấu,
xin
chư Phật bình yên và xung nộ xóa tan nỗi khổ ;
khi
âm thanh của pháp gầm vang như ngàn tiếng sấm,
xin
cho nó được chuyển hóa thành âm thanh của pháp
đại
thừa. ÷
Khi
con đi theo nghiệp mình, không nơi nương tựa,
xin
chư Phật bình yên và xung nộ là nơi quy y của con ;
khi
con chịu đựng nghiệp của những xu hướng vô ý thức,
xin
đại định của hỷ lạc và quang minh hiện khởi. ÷
Vào
lúc sự sanh tự phát trong bardo thác sanh,
mong
những giáo lý giả mạo của Ma không khởi ;
khi
con đến bất cứ nơi đâu con muốn bằng thần lực siêu nhiên,
xin
những khủng khiếp ảo huyễn của nghiệp xấu không khởi.
÷
Khi
những con thú hoang dã kiếm mồi gầm rống,
xin
cho nó trở thành âm thanh của pháp, lục tự ;
khi
con bị săn đuổi bởi tuyết, mưa, gió và bóng tối,
xin
cho con nhận được con mắt trong sáng, thiêng liêng của trí
huệ. ÷
Nguyện
tất cả chúng sanh cùng đồng cảnh bardo,
thoát
khỏi ghen ghét, được sanh vào trạng thái cao hơn ;
khi
khát và đói dữ dội do những đam mê gây nên,
xin
sự đau đớn của đói khát, nóng lạnh không khởi. ÷
Khi
con thấy cha mẹ tương lai của con đang kết hợp,
xin
con được thấy chư Phật bình yên và xung nộ với những
vị phối hợp của các ngài ;
với
năng lực chọn lựa chỗ sanh, vì sự tốt đẹp của những
người khác,
xin
cho con nhận được một thân thể hoàn hảo với những tướng
tốt lành. ÷
Có
được một thân người hoàn hảo cho mình,
nguyện
tất cả ai thấy và nghe con đều tức thời giải thoát ;
xin
cho con không đi theo tất cả nghiệp xấu của mình,
mà
đi theo và tăng trưởng công đức con có thể có. ÷
Bất
cứ chỗ nào con sanh, ở ngay nơi ấy,
xin
cho con mặt đối mặt gặp được yidam của đời này ;
biết
đi và nói khi vừa sanh ra,
nguyện
con được năng lực không quên và trí nhớ những đời trước.
÷
Trong
tất cả những giai đoạn học, cao, trung và thấp,
xin
cho con hiểu ngay bằng nghe, nghĩ và thấy ;
chỗ
nào con sanh ra, nguyện xứ sở ấy được ban phước,
để
tất cả chúng sanh được hạnh phúc. ÷
Ôi
chư Phật bình yên và xung nộ, nguyện con và những người
khác
trở
nên giống như các ngài, như chính các ngài,
với
hình thức và các tướng tốt lành của các ngài,
với
những tùy tùng, thọ mạng và cõi nước. ÷
Phổ
Hiền, những bậc bình yên và xung nộ, lòng bi vô hạn,
thần
lực của chân lý của pháp tánh thanh tịnh,
và
những người tu tantra trong thiền định nhất tâm :
xin
sự ban phước của các ngài đáp ứng lời cầu nguyện này.
÷
Phụ
Lục :
Những
Trích Dẫn
Ai
có thể thực hành Bardo Thošdošl.
Bardo
Thošdošl là một phần của truyền thống mật thừa và theo
nguyên tắc, nó không được nghiên cứu và thực hành một
cách bừa bãi (không phân biệt). Nhưng ngược lại với những
giáo huấn Bardo Thošdošl thì ai cũng nghiên cứu được tử
thư. (Tử thư trang 97)[24]*
Giáo
huấn Bardo Thošdošl và đặc biệt phần thực hành “chuyển
thức” là một con đường đã được vạch sẵn cho những
xứ sở mà ở đó không có những bậc thầy thích hợp ngay
bên cạnh. (Tử thư trang 98)
Thực
hành sử dụng Bardo Thošdošl.
Bardo
Thošdošl luôn nhắc nhở cần phải nhớ lại lời giáo huấn
vị Lạt ma lúc ta còn sống. Việc này khác hẳn với một
ký ức đơn giản. Chúng ta phải hiểu thật rõ từng chữ,
từng sắc thái, từng ý nghĩa của văn bản. Điều đó có
nghĩa là không đơn giản chỉ nghiên cứu giáo huấn này bằng
cách đọc qua vài lần, mà phải thực hành nó đến khi nó
có thể theo chúng ta vào cả trong giấc ngủ. (Tử thư trang
100)
Để
thực hành được Bardo Thošdošl cũng phải có một trái tim
dũng cảm, sẵn sàng để bài tập biến đổi mình, và nhờ
thực hành lâu dài, bài tập trở thành một bộ phận không
tách rời ta. Có thể lúc chết dù sự sợ hãi và đau đớn
tới gần, ta vẫn thực hiện bài tập một cách vững vàng.
(Tử thư trang 101)
Có
thể nói những dấu hiệu sau đây, nói chung, báo trước cái
chết đang đến gần : cảm nhận cơ thể nặng hơn lúc bình
thường, môi miệng khô đi, nhiệt lượng sống rời bỏ thân,
tâm trí tối sầm, đi đến bất tỉnh. Tâm trí đi vào vùng
ánh sáng trắng mờ (như buổi chiều tà hay bình minh). Ánh
sáng mờ chuyển sang màu đỏ, tâm trí như bao một màn tối
tăm. Đó là lúc “hơi thở bên ngoài đã ngừng nhưng hơi
thở bên trong chưa chấm dứt”. (Tử thư trang 103)
Điều
cực kỳ quan trọng là người sắp chết phải nhớ lại những
hành động tốt lành của mình để có thể đến với cái
chết trong một tâm trạng tin tưởng hoàn toàn đối với cuộc
đời đã qua của mình. Lúc đó một nụ cười yên tĩnh hiện
ra trên mặt người chết và thân xác thoải mái trên giường.
Chính vì lý do này mà người Tây Tạng tránh sự khóc lóc
và than vãn ở trong phòng người chết. Thân nhân thường ở
xa căn phòng người chết vì khi không thể nén được sự
đau buồn họ có thể gây trở ngại cho sự chuyển tiếp của
người chết sang thế giới bên kia. (Tử thư trang 104)
Đọc
Bardo Thošdošl sau khi chết.
Khi
tâm thức người chết đi vào trạng thái trung ấm thì thoạt
đầu người chết không biết mình đã chết. Anh ta tưởng
mình còn sống và ngạc nhiên khi thấy thế giới xung quanh
khác lạ... Tuy nhiên thể-trí ấy vẫn còn liên lạc với thể
xác và với nơi sinh sống trước kia. Việc đọc Bardo Thošdošl
ở đầu giường người chết hay ở nơi anh ta thường sinh
sống có thể làm thể-trí ấy nghe được. (Tử thư trang 107)
Chuyển
thức. (tiếng Tây Tạng là Phowa)
Vào
lúc xuất hiện những dấu hiệu chắc chắn của cái chết,
cần làm theo những hướng dẫn của tài liệu, thì sự giải
thoát tức thì nhờ thực hiện cách chuyển thức. Người nào
thực sự thấm nhuần bài tập chuyển thức và thực hiện
một cách hoàn hảo bài tập ấy thì có thể chắc chắn được
giải thoát trong trạng thái trung ấm. Chuyển thức là một
bước phát triển có ý nghĩa của việc thiền định về đức
A Di Đà, nó là sự chuẩn bị tốt nhất cho cái chết và trạng
thái trung ấm. (Tử thư trang 108)
Lời
bình Phần thứ nhất. (Tử thư)
“Tinh
hoa của tâm trí” : Khi nào những hoạt động của tâm trí,
những cuộc đối thoại liên tục bên trong đều trở nên
lặng lẽ, khi tâm trí trở nên sáng suốt và không còn một
ý nghĩa nào làm xáo trộn nó, lúc ấy nó mới thật hoàn toàn
sáng rỡ. Có nhiều phương pháp để nhận biết bản chất
thật của cuộc đối thoại bên trong ấy : chẳng hạn như
tập trung vào một vài âm (không phải thần chú), vào chùm
sáng tuôn trào ra... Khái niệm “tinh hoa của tâm trí” đã
nói ở đây là một cố gắng để diễn đạt khái niệm “rang-rig”
của Tây Tạng... “Cái gọi là “Tinh hoa của tâm trí” ấy
có thể nói xuất phát từ những phạm trù ý thức”, mặc
dù nó vượt qua những phạm trù này. Từng-lúc-một-của-ý-thức
thường xác định một vật nào đó. Chính thiền định giải
phóng ý thức khỏi sự xác định ấy, khi ấy sức mạnh của
ý thức hướng vào nội tâm, vào bên trong của chính nó, cái
rỗng không, chính là tinh hoa của tâm trí. Cái nhìn trực giác
hay “nhìn sâu sắc” ấy vào tận trung tâm sâu thẳm của
thực thể tự nó, được đạt tới vào lúc ta đóng kín con
đường của xu hướng, thúc đẩy ý thức chạy ra bên ngoài,
về phía đối tượng. Cái nhìn sâu sắc về tinh hoa của tâm
trí ấy không phải cái nhìn nhị nguyên tách rời khỏi đối
tượng nhận biết và đem đặt nó trước mặt ; đó là một
sự hiểu biết, nó cảm nhận cái tinh hoa của đối tượng
giống hệt như tinh hoa chứa đựng trong một cái nhìn sâu
sắc. Truyền thống Tây Tạng nói rằng cái nhìn đối tượng
với cái chứa đựng bên trong nó cũng giống như giọt nước
rơi vào trong nước. (Tử thư trang 138)
Khái
niệm “rang-rig” cũng mô tả cuộc khảo sát nội tâm bằng
Thiền định hay cái nhìn sâu sắc, đồng thời (nó) cũng mô
tả cái tinh hoa của “Trí huệ tự nó”. (Tử thư trang 140)
Thân
thể con người có ba đường kinh vi tế xuyên qua, một ở
trung tâm và hai đường nữa ở hai bên phải, trái. Giống
như cấu trúc một cây tre, chúng có những mắt (đốt) ngang,
ngăn chặn sự tuôn chảy tự do của dòng sinh lực, dòng sinh
lực này liên quan mật với “hơi thở của cuộc sống”
và sự hô hấp. Trong cả cuộc sống, ba đường kinh vi tế
này được gắn liền với nhau bằng cách không cho sinh lực
chảy tự do. Khi chết sinh lực được giải phóng và chảy
vào đường kinh trung ương. Như văn bản đã chỉ rõ, người
ta lật nghiêng người chết lại để đường kinh trung ương
thoát khỏi sức ép của hai kinh bên.
Chuyển
thức.
Lúc
này ta làm cho người chết nhận biết được thông qua việc
đọc nghe những gì xuất hiện với anh ta : lúc này Bardo thứ
nhất gọi là sự chiếu sáng của Chân lý tự nó, sự nhận
biết Thân Hư Không (Pháp thân) không bị biến dạng, xuất
hiện trong tâm trí của tất cả chúng sanh. Chính trong giai
đoạn từ lúc sự hô hấp bên ngoài chấm dứt đến khi chấm
dứt dòng bên trong, chính lúc này Prajna tuôn vào đường kinh
trung ương. Người ta thường nói Vía hay Thức của người
chết bay đi. Thời gian của quá trình này thay đổi. Nó tùy
thuộc vào năng lực vật chất và tâm linh người chết cũng
như trạng thái của những đường kinh vi tế. Đối với những
người mà tâm trí được ổn định nhờ thực hành (Thiền)
Samatha (thiền định để trấn an những xúc động làm rối
loạn sự sáng suốt của tâm trí và đưa nó vào trạng thái
ổn định) và đối với những người có đường kinh mạnh
mẽ thì thời gian này có thể kéo dài. Vì vậy cần tích cực
ứng dụng cách nói trên cho đến khi một chất lỏng màu vàng
xuất hiện ở các khiếu. (Tử thư trang 146)
Cái
nhìn sâu sắc về ánh sáng cơ bản.
Cái
nhìn sâu sắc là sự nhận biết tức khắc theo nghĩa đen,
tức là không qua một khâu trung gian nào. Vậy đó là trực
giác. Cái nhìn sâu sắc cơ bản giúp người chết hiểu được
ánh sáng là tâm trí. (Tử thư trang 152)
Yidam
: vị thần “bẩm sinh” của một người, một mặt lồng
vào sự hiện hữu của người đó trong mức độ thâm sâu
nhất nhưng mặt khác lại vượt lên con người mà vị thần
đó luôn ở bên cạnh để giúp đỡ và hướng dẫn. Thần
Yidam bao trùm bản chất của con người thấm nhuần vào con
người nhưng đồng thời lại vượt qua con người bởi sự
kiện Yidam đồng thời tham gia vào cái thiêng liêng. (Tử thư
trang 153)
Ánh
sáng cơ bản sắp xuất hiện cho người. Hãy nhận biết nó
đúng như vậy : xin người hãy đi vào thực hành. (Chú thích
: Ánh sáng cơ bản là nguồn sáng làm xuất hiện mọi hiện
tượng, tư tưởng, nhận thức, tất cả mọi vật. Đó là
sự sáng suốt của tâm trí dưới dạng ánh sáng). (Tử thư
trang 154)
Trong
trạng thái trung ấm thứ nhất tiếp ngay sau khi chết, ta có
thể rơi vào một trạng thái vô thức rất tệ hại, đến
mức bỏ qua mất khả năng tốt nhất để có được cái nhìn
sâu sắc về bản chất thật xuất hiện sau khi chết. Trong
giai đoạn này chỉ có những người đã trải qua quá trình
tu hành nghiêm túc và đã có kinh nghiệm mới có thể thấy
được ánh sáng cơ bản trong toàn bộ sự thuần khiết của
nó. Họ có thể làm cho trạng thái trên đây kéo dài rất
lâu trong khi đối với những người khác, như văn bản đã
nói, chỉ bằng thời gian khảy móng tay. (Tử thư trang 159)
Trạng
thái trung ấm của bản thể. Lời giới thiệu.
Điều
tốt nhất là nhận biết ánh sáng ngay trong giai đoạn đầu
tiên của trạng thái trung ấm... Trong trạng thái trung ấm
trong giai đoạn thứ hai gọi là thân huyễn thanh tịnh, tâm
trí rất sáng ở trong trạng thái phân vân không biết chết
hay sống. Nếu lúc ấy người chết hiểu được giáo huấn,
anh sẽ nhận biết chân lý Mẹ hợp nhất với chân lý con.
(Chú thích : chân lý con là một chứng nghiệm mà người ta
có thể đạt được lúc còn sống. Chân lý Mẹ là chân lý
tuyệt đối không hề thay đổi theo thời gian). (Tử thư trang
168)
Năm
Bộ Phật. (Trí Huệ và Đại Bi – Dalai Lama)
Đất,
nước, lửa, gió và không gian với tư cách là yếu tố căn
bản của dòng sống của con người là những cấu thể đòi
hỏi được tịnh hóa để cho sự chuyển hóa thành năm vị
Phật của năm bộ. Trong tiến trình cái chết, sắc uẩn, thân
xác vật chất của chúng ta tan rã, trong khi một sắc uẩn
vi tế hơn đi theo chúng ta vào trạng thái trung ấm cho đến
sự khởi đầu của đời tiếp theo. Đến nỗi rằng nếu
chúng ta xem xét sắc uẩn mà không đặt một tấm chắn giữa
mức độ vật chất và mức độ vi tế, chúng ta có thể nói
đến nó như một dòng chuỗi liên tục vô thủy vô chung. Trong
phương diện đã được tịnh hóa, sắc uẩn là Phật Vairochana
(Tỳ Lô Giá Na). Về phần tâm thức chúng ta phân biệt nơi
nó có sáu thức và năm mươi mốt yếu tố tâm thức, trong
đó gồm năm yếu tố có khắp năm uẩn : uẩn cảm thọ, hình
thức tịnh hóa của nó biểu lộ trong Ratnasambhava (Bảo Sanh
Phật) ; uẩn phạm trù hóa (tưởng uẩn) mà phương diện tịnh
hóa biểu hiện nơi Amitabha (A Di Đà Phật) ; uẩn của các
hành, mà phương diện tịnh hóa biểu lộ nơi Amoghasiddhi (Bất
Không Thành Tựu Phật) và cuối cùng uẩn của tâm thức bổn
nguyên mà phương diện tịnh hóa là Akshobya (A Súc Bệ Phật).
Nếu các uẩn của chúng ta được tạo thành bằng những phương
diện thô sơ và vi tế thì các uẩn của đức Phật của năm
bộ đặc biệt rất vi tế và phi thời gian.
Cái
chết trong Phật giáo Tây Tạng.
(Trí
Huệ và Đại Bi – Dalai Lama, NXB. Thiện Tri Thức.)
Sự
khổ đau thực sự chính là bản chất vô thường, khổ, trống
không, và không tự ngã. Có hai loại vô thường : hiển lộ
và vi tế. Loại vô thường vi tế này là một hiện tượng
được các nhà bác học biết khá rõ khi họ nghiên cứu những
tiến trình của nó trong các hạt căn bản. Những quan sát
cho phép họ nhận ra rằng, trái với vẻ bên ngoài, trong một
đồ vật cứng đặc như một cái bàn, ở bề ngoài thì giống
như hôm qua nhưng có những chuyển biến liên tục ở mức
độ những hạt cơ bản tạo thành vật đó. Những hạt này
tan rã từng khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác, cũng y
như cách hiện hữu trong khoảnh khắc của những tri giác bên
trong của chính người quan sát. Điều chúng ta gọi là vô
thường vi tế là tiến trình tan rã từ khoảnh khắc này sang
khoảnh khắc khác, trong khi vô thường hiển lộ nói đến
sự hủy diệt của một đồ vật hay cái chết một sinh vật.
Nó
căn cứ trên quy tắc một sự tương tục của tâm thức sau
khi thân thể tan rã... Khi mà niềm tin về sự thường hằng
bị lung lay, bạn đã giảm bớt bao nhiêu sự luyến ái của
bạn ở cuộc đời này ; cho đến một ngày mà tính cách vô
thường của mọi hình thức đời sống sẽ thấm nhuần thường
trực tâm thức bạn. Từ đó, bạn biết rằng trong bản chất
tất cả đều hướng đến sự tan rã và bạn sẽ ít thương
tổn hơn trong lúc đối mặt với cái chết. (Trí Huệ và Đại
Bi trang 225)
Khi
cái chết đến gần, cần xoay những tư tưởng về sự thực
hành. Tình trạng tâm thức vào giờ phút này là quyết định
cho cái tiếp theo. Những giây phút cuối cùng này mang một
năng lực đến nỗi công đức có được trong suốt cuộc
đời không sánh kịp. (Trí Huệ và Đại Bi trang 226)
Thời
gian thân thể vật chất và tâm thức kết hợp là đời sống,
sự tách lìa chúng tạo ra cái chết. Về ba mức độ biểu
lộ của thân và tâm, tức là mức độ thô, tế và rất vi
tế, cái chết là sự chia lìa giữa tâm thức và thân xác
bởi vì không có sự chia lìa giữa tâm thức vi tế nhất và
yếu tố vật chất vi tế nhất. Vật chất vi tế này chỉ
là năng lực bên trong – hay khí – dùng để chuyên chở các
loại tâm thức. (Trí Huệ và Đại Bi trang 227)
Giáo
lý Dakinis. (dịch theo nguyên bản Dakinis Teachings trang 153)
Dù
có nhiều điểm then chốt sâu xa về thân, hãy cứ thong dong
và thoải mái như con thấy thuận tiện. Mọi thứ được bao
gồm trong một điều đơn giản đó.
Dù
có nhiều điểm then chốt về khẩu như theo dõi hơi thở và
niệm chú, hãy ngừng nói chuyện và cứ làm như người câm.
Mọi thứ đều được bao gồm trong một điều đơn giản
đó.
Dù
có nhiều điểm then chốt về tâm như tập trung, xả, phóng
tưởng, giải tán và tập trung vào bên trong, mọi thứ được
bao gồm trong một điều đơn giản là để tâm trí an nghỉ
trong trạng thái tự nhiên, thoải mái, không nghĩ tưởng tạo
tác.
“Tâm
không” hoàn toàn ở trong trạng thái đó. Nếu người ta hỏi
: “Nó không là gì cả sao ?” thì như hơi nóng trong ánh sáng
mặt trời, nó vẫn lung linh và phát sáng. Nhưng nếu được
hỏi : “Nó là một vật gì ?” thì nó không màu sắc và
hình dạng để nhận ra, mà tuyệt đối trống không và hoàn
toàn tỉnh thức. Đó là tính chất của tâm.
Đã
nhận ra nó là như vậy để xác tín về nó thì đó là thấy
(kiến). Trụ vững trong trạng thái yên tĩnh, không nghĩ tưởng
tạo tác hay chấp thủ, đó là thiền định. Trong trạng thái
đó, không tham ái, thủ hay xả, mong cầu hay lo sợ, đối với
bất cứ cảm thức nào của lục căn thì đó là hành động...
Vào
lúc sắp chết con nên thực hành như sau đây :
Bởi
đất tan trong nước, thể xác trở nên nặng và không thể
tự nâng đỡ. Bởi nước tan trong lửa, miệng và mũi khô
đi. Bởi lửa tan trong gió, hơi nóng thân thể biến mất. Bởi
gió tan trong tâm thức, chỉ có thở ra khò khè và thở vô
cạn cợt. Lúc đó con có cảm giác như bị một quả núi lớn
đè, bị nhốt trong bóng tối hay bị thả rơi vào không gian.
Tất cả những kinh nghiệm này đều có những tiếng sấm
và những tiếng rít đi kèm. Cả bầu trời sẽ sáng rực rỡ
như một tấm gấm trải rộng...
Ở
lúc này, nên biết : Cảm giác bị đè không phải bị núi
đè. Đó là tứ đại của con đang tan rã. Đừng sợ điều
này ! Cảm giác bị nhốt trong bóng tối không phải là một
thứ bóng tối nào, mà đó là ngũ giác của con đang tan biến.
Cảm giác bị thả rơi vào không gian không phải là bị thả
rơi mà đó là tâm trí của con không còn chỗ tựa vì thể
xác và tâm trí đã chia lìa và hơi thở của con đã tắt.
Tất cả những kinh nghiệm về ánh sáng nhiều màu như cầu
vồng chỉ là những biểu lộ tự nhiên của tâm. Hình ảnh
những vị thần hiền và dữ đều là những hình ảnh tự
nhiên của tâm con. Tất cả những âm thanh đều là những
âm thanh của chính con. Tất cả những ánh sáng đều là ánh
sáng của chính con. Đừng nghi ngờ về điều này. Nếu con
nghi ngờ con sẽ bị ném vào luân hồi. Đã hiểu những điều
đó chỉ là sự biểu lộ, nếu con giữ tỉnh táo trong tánh
không quang minh thì chính trong trạng thái đó con sẽ đạt
ba thân và giác ngộ. Bổn tôn (deity) nội tại là sự hộ
trì hiện tiền tâm con với chánh niệm không xao lãng. Từ
đây trở đi, cần phải không mong cầu hay lo sợ, bám giữ
hay chấp thủ đối với các đối tượng của lục căn cũng
như đối với sự hấp dẫn, hạnh phúc hay đau khổ.
Sách
Giáo lý Dakinis, Padmasambhava, trang 211.
Pháp
giới thể tánh trí : tổng tướng của tất cả chư Phật
tức bản tánh bổn hữu vô niệm của con là cái tinh túy bổn
nguyên không điều kiện, không do tạo tác, vô sanh, bổn lai
thanh tịnh, vượt lên trên sanh diệt.
Đại
viên cảnh trí : dù pháp giới không có vật chất cụ thể.
Tánh chất của nó là sáng (quang minh) và các pháp xuất hiện
như bóng trong gương, không có tự tánh và được nhận thức
trong khi không có nghĩ tưởng gì cả.
Bình
đẳng tánh trí : pháp giới là tánh giác tự hiện hữu không
ngừng, và trí huệ tánh giác này không có nghĩ tưởng. Tri
giác là vô sanh, bất nhị, tuyệt đối bình đẳng.
Diệu
quan sát trí : không rời trạng thái bình đẳng không nhị
nguyên này, những đặc tánh chung và riêng của của các pháp
không trộn lẫn và rốt ráo trọn vẹn, những tạp khí vô
minh được tiêu diệt, và trí huệ toàn giác phát khởi mà
không có sự phiền não của nghĩ tưởng.
Thành
sở tác trí : là an nghỉ trong khi vẫn nhận thức như vừa
nói trên. Trí huệ không tách lìa này là để thành tựu và
hoàn thiện lợi ích của mình và người khác một cách tự
nhiên với sự kiên trì.
Sách
Tạng thư sống chết, Sogyal Rinpoche, trang 431.
Bản
chất bấp bênh chóng qua của giai đoạn trung ấm có thể là
nguồn suối cho nhiều cơ hội giải thoát, và tính bén nhạy
của tâm trong Bardo này có thể hóa ra lợi lạc cho chúng ta.
Chúng ta chỉ cần nhớ đến những lời giảng dạy, chỉ cần
có một tư tưởng tích cực khởi lên trong tâm ta. Nếu ta
nhớ đến một giáo lý nào gợi cho ta tự tánh tâm, nếu ta
có dù chỉ một xu hướng tu tập, hay sự liên hệ sâu xa với
sự tu hành, ta cũng đủ nhờ vậy mà giải thoát... Bởi thế
trong Bardo này, bất cứ khi nào bạn có thể có lại sự tỉnh
giác dù chỉ trong thoáng chốc, thì bạn hãy lập tức nhớ
lại sự tu tập, nhớ thầy hay vị Phật mà bạn thờ, và
tha thiết triệu thỉnh. Nhờ năng lực ân sủng của bậc thầy
hay Phật, tâm bạn sẽ được giải thoát vào trong khoảng
không gian của tâm giác ngộ. Sự cầu nguyện khi còn sống
dường như ít hiệu quả nhưng trong cõi Bardo lại có hiệu
quả mãnh liệt vô cùng.
Tuy
nhiên sự mô tả trên đây về Bardo chứng tỏ thật rất khó
mà tập trung tâm vào giai đoạn này nếu ta không thực tập
từ trước. Hãy tưởng tượng ta dường như tuyệt nhiên không
nhớ bài chú nào lúc gặp ác mộng ta cảm thấy bất lực
như thế nào thì trong cảnh giới Bardo cũng khó như thế, nếu
không nói là khó hơn, để tập trung tâm ý. Đó là lý do tử
thư luôn nhắc đi nhắc lại lời : “Đừng tán loạn, đừng
xao lãng.” Tử thư nhấn mạnh :
Đến
đây là ngả rẽ giữa Phật và hữu tình
Trong
một giây tâm phân biệt, trong một giây tâm
toàn
giác.
Sách
“Tibetan Elders” trang 173.
Một
người nhận biết khả năng tinh thần của ông ta khi nhìn
vào các vấn đề sinh tồn : sanh, lão, bệnh, tử và biết
những vấn đề này không thể thay đổi được. Nhưng điều
ông ta có thể thay đổi chính là thái độ riêng của ông
ta, cách nhìn cuộc sống riêng của ông ta. Và đó chỉ ở
mức tâm linh tối thiểu. Khi cuộc sống tâm linh thực sự
bắt đầu, ông ta trở nên quan tâm nhiều hơn sự tăng trưởng
riêng của ông ta. Khi sự tăng tiến xảy ra trong cõi tâm linh,
trong cõi tâm thức, thì ông ta mở rộng sự quan tâm của mình
– không chỉ gia đình hạn hẹp mà quan tâm đến cả xã hội
và đến toàn bộ chúng sanh. Cho dù ông ta không đang làm những
hạnh nghiệp thiện, ít nhất ông ta có phút giây có một cảm
giác rằng ôi chúa ôi ! có quá nhiều chúng sanh đang đau khổ,
và tôi có khả năng phát triển sức mạnh tâm linh cũng như
quyền lực sao cho một ngày nào đó tôi sẽ trở nên một
trong những vị thầy vĩ đại có thể giúp họ. Sự nhận
thức này phải trong khuôn khổ “Pháp”. Pháp là nguồn gốc
phát triển tâm linh. Cuối cùng nó mở ra một sự quan tâm
và lòng đại bi đến toàn vũ trụ. Đó mới là cốt lõi (trái
tim) của vấn đề tâm linh.
Chú
thích
[01]
( người (one) : chỉ cho người đọc bộ này cho người chết
nghe.
[02]
( Tam Bảo : Phật hay chân lý giác ngộ (principle of enlightenment)
; Pháp hay giáo lý hiển dương giác ngộ (teaching which proclaims
enlightenment) ; Tăng hay tăng đoàn tu hành Pháp (community practices
the Dharma).
[03]
prana : năng lực hay sinh lực (energy or life-ferce), cái chuyển
tải tâm và thức (the bearer of mind and consciousness).
[04]
wisdom-dhuti : kinh trí huệ trung ương của khí lực (the wisdom
central pathway of prana).
[05]
bhahmarandhra : một lỗ nhỏ trên đỉnh đầu đó là chỗ cao
nhất của kinh khí lực trung ương, mà thức sẽ trồi lên
sau khi chết nếu thức được giải thoát.
[06]
Đại Ấn (Great Symbol) (Tây Tạng phyag-rgyu-chen-po, Sanskrit mahamudra)
là sự thực hành thiền định Kim Cương thừa, trong đó toàn
bộ kinh nghiệm được chuyển thành deity (thần) và mandala
; trong trạng thái này đại phúc lạc (mahasukha) đưọc sản
sinh từ sự hợp nhất các khía cạnh nữ tánh và nam tánh
của thực hành – đó là phương tiện thiện xảo tức là
lòng đại bi và trí huệ tức không tánh (upaya và prajna). Đó
là sự nhận thức (perception) trực tiếp sự thiêng liêng và
sự linh động của đời sống.
[07]
Samantabhadra và Samantabhadri (Tây Tạng kun-tu-bzang-po và kun-tu-bzang-mo)
biểu thị sự không thể tách rời của đại bi và trí huệ,
hai thông số của giác ngộ. Với tư cách là sự biểu lộ
của Pháp thân, hai vị là nguồn gốc của Ngũ Bộ Phật, và
chính Ngũ Bộ Phật lưu xuất từ hai vị và hiện diện ở
hình thức Báo thân. Theo ý nghĩa này, trong truyền thống Nyingma,
Phật Samantabhadra được biết dưới tên là adibuddha, tức
là Phật nguyên thủy. Đó cũng là tên một vị Bồ tát xuất
hiện vào ngày thứ ba của bardo.
[08]
Hai sự tu tập này là hai kiểu thiền định bổ sung nhau trong
Du-già Kim Cương thừa. Trong phép tu quán tưởng (tức giai đoạn
phát sanh, Tây Tạng bskyed-rim, Sanskrit utpattkrama) hành giả quán
tưởng các thần bổn tôn và đồng hóa mình với các thần
bổn tôn đó ; trong phép tu tập hoàn tất (tức giai đoạn
thành tựu hay hoàn tất, Tây Tạng razogs-rim, Sanskrit sampanna
krama) mọi sự được chuyển thành tánh Không và vô tướng
(emptiness and formlessness).
[09]
Yidam là một thần bổn tôn đặc biệt, đại diện cho tánh
giác vốn sẵn có của hành giả, do vị Thầy (guru) chọn cho
phù hợp với những cá tính riêng của hành giả đó cũng
như pháp tu mà ông ta đang hành trì. Đức Quán Thế Âm Bồ
tát, vị Đại Bi Vương được coi là thích hợp cho bất kỳ
ai, nên một “người bình thường” – một người chưa
được chỉ định một yidam – nên thiền định đức Quán
Thế Âm Bồ tát.
[10]
Thiền an định (samadhi-meditation) là thiền định trong đó
sự phân biệt giữa chủ thể (subject) và khách thể (object)
biến mất.
[11]
ảnh quáng nắng : trưa nắng, không khí nóng bốc lên trông
xa có hình ảnh ảo như thật.
[12]
Vidyadhara : người Nắm Giữ Trí Huệ Sâu Sắc : đó là năng
lực khám phá và thông tin giao tiếp (Trì Minh).
[13]
Thập Địa : Mười cấp bậc của Bồ tát trước khi thành
Phật.
[14]
Ngọc xá lợi (relics, Sanskrit sariram, Tây Tạng gdung, ring-bstel
và sku-gzugs) : đây là phần còn lại khi hỏa thiêu. Nó giống
như viên đá tròn, sáng, trắng hay xanh ngọc.
[15]
Đại Toàn Thiện (The Great Completion, Tây Tạng rdzogs-pa-chenpo,
Sanskrit mahasampana) là giai đoạn thiền định tương đương
với atiyoga hay maha-ati. Nó xâm nhập thậm chí vượt khỏi
cái thấy tối thượng rõ ràng (apparently ultimate vision) của
Đại Ấn vào xa hơn tới một kinh nghiệm về sự rỗng rang
và vô tướng (openness and formlessness). Phép tu tập này do Vimalamitra
dạy (ngài đương thời với Padmasambhava) và phát triển trong
dòng Nyingma. Đại Ấn và Đại Toàn Thiện được hợp nhất
bởi Rangjung-Dorje, Karmapa thứ ba.
[16]
Giải thoát bằng cách đeo, mặc, để quanh người chết (The
Liberation through Wearing) là một trong sáu giáo huấn bardo của
đức Liên Hoa Sanh, một loại đa số dùng mật chú cột quanh
tử thi như lá bùa (amulet).
[17]
Heruka Phật Vĩ Đại Vinh Quang là một phối hợp của vị Heruka
Phật và vị Heruka Vĩ Đại, vị này là thủy tổ của các
vị herukas của Ngũ Bộ, như đã mô tả trong luận giảng.
Trong các bức tranh “thankas” của các thần xung nộ, vị
heruka Vĩ Đại xuất hiện ở chính giữa, có chức vụ tương
đương với vị Samatabhadra (Phật Nguyên thủy) trong mạn đà
la của các thần bình yên ; trong khi đó vị Heruka-Phật được
đặt dưới vị Heruka Vĩ Đại.
[18]
gauris có nghĩa “trắng”, đây là nhóm tám thiên nữ đặt
tên chung lấy tên người đầu nhóm, đó là thiên nữ toàn
màu trắng. Trong sách Bardo Thotrol, tên các thiên nữ này
đặt theo chữ Sanskrit. Họ xuất hiện trong nhiều kinh sách
Kim Cương thừa, ở đây Pramoha và Smasani khác với danh sách
thông thường. Pramoha là “kẻ lừa dối” tương đương với
“người đàn bà hạ đẳng”, biểu tượng của đam mê trong
thơ ca Kim Cương thừa, Smasani có nghĩa “người đàn bà sống
trong hang” tương đương tiếng Tây Tạng “người ở núi”.
Rất khó xác định các thiên nữ này theo cách mô tả thường
thấy trong nhiều nguồn kinh điển. Còn pisacis là thiên nữ
ăn thịt tươi có đầu chim hay đầu súc vật. Tên của họ
có nghĩa đen “có sọc” ám chỉ có nhiều màu trên đầu
và trên thân mình. Còn Yoginis có nghĩa là “thiếu phụ đầy
quyền lực”.
[19]
lục tự : om mani padme hum.
[20]
tòa kim cương là chỗ ngự trên đó Đức Thế Tôn đã ngồi
khi ngài đạt giác ngộ ở Bodhgaya.
[21]
samadhi : thiền định trong đó sự phân biệt chủ thể (năng)
và khách thể (sở) biến mất.
[22]
svabhavikakaya : bao gồm và siêu việt vượt lên trên Ba Thân,
“svabhavika-kaya” là thân cốt lõi của bản chất nội tại
(the essential body of intrinsic nature).
[23]
Cầu nguyện quy y cam kết đi vào con đường của Phật : Con
quy y vào Phật, con quy y vào Pháp, con quy y vào Tăng.
[24]
Bản văn do Eva K. Dargyay và Geshe Lobsang Dargyay, dịch từ tiếng
Đức bởi Huỳnh Ngọc Hương và Hoàng Thái.