Căn
Bản Phiền Não
1.- Tham là tham
lam. Người tham lam, tánh hay để ý dòm rình những cái gì
họ ưa thích: tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, miếng ăn, chỗ
ở v.v… Rồi họ lập mưu này kế nọ, để tìm kiếm cho
được, được mấy cũng không vưà, nên tục ngữ có câu:
" Bể kia dễ lắp, túi tham khó đầy!". Tham cho mình, rồi tham
cho bà con quyến thuộc. Nói rộng ra, tham cho cả quốc gia,
xã hội của mình.
Cũng vì lòng tham,
mà nhơn loại tranh giành xâu xé cướp bóc giết hại lẫn
nhau, chịu không biết bao nhiêu điều thống khổ. Tham không
những có hại cho mình về hiện tại. Tham không những có
hại cho mình về hiện tại, mà còn liên lụy đến người
và về tướng lai nữa là khác.
Phật-tử tự
xét mình, nếu có tâm tham lam, phải tập tánh thiểu dục tri
túc, bỏ dần lòng tham đi; như thế gọi là "Tu Tâm".
2.- Sân là nóng
nảy. Người có tánh nóng nảy, gẳp những việc trái ý thì
nổi nóng lên, trong tâm bực tức, không an, ngoài mặt nhăn
nhó, xấu xí vô cùng, mắt đỏ tía hoặc tái xanh. Bộ dạng
thô bỉ, thốt ra lời nói thiếu nhã nhặn, có khi đánh đập
hoặc chém giết người. Phật tử chúng ta, mỗi khi nổi sân
lên, cắc cớ lấy kiến rọi mắt mình, thật "ngộ" hết sức…không
phải là Phật-tử chút nào! Tánh "nóng nảy" rất có hại:
làm cho ánh em chẳng ưa, trong gia đình không được hòa nhã,
ngoài xã hội chẳng được kính yêu. Nhiều người vì nóng
nảy mà đánh đập vợ con. lắm khi phải mang bịnh tật suốt
đời, hoặc giết hại đồng bào, chủng loại. Cũng có người
vì quá nóng nảy mà làm hư danh giá, quyền lợi và cả đời
tu của mình. Trong kinh Hoa-Nghiêm, Phật dạy :"Nhứt niệm sân
tâmkhởi, bách vạn chướng moan khai": Một niệm lòng sân hận
nổi lên, thì trăm ngàn cửa ngiệp chướng đều mở ra. Thuở
xưa, ông Uất-Đầu-Làm-Phất, vì sân mà phải đọa làm con
phi-ly trùng. Ông Độc Giác Tiên Nhơn cũng vì sân, mà mất
cả năm phép thần thông. Trong kinh nói: " Nhứt sân chi hóa,
năng thiêu vạn khoảnh công đức chi sơn". Nghĩa là: một đốm
lửa sân, có thể đốt hết muôn mẫu rừng công-đức. Chúng
ta thấy, trong hàng Phật tử, có người phát tâm tu được
5,7 năm hoặc đôi ba năm, cũng có thể gọi là người có công
với Đạo. Một khi gặp cảnh nghịch, nổi sân lên rồi bỏ
hết: Phật pháp không tưởng, việc Đạo cũng chẳng làm,
trái lại còn tìm cách phá hoại. Thật "đốn củi ba năm chỉ
tiêu trong một giời", rất uổng cho công trình tu tập bao nhiêu
năm của người ấy!
Tổ xưa có quở
rằng: "Sân si nghiệp chướng không chừa, bo bo mà giữ tương
dưa gì!" Sân rất có hại như thế, hàng Phật tử chúng ta
phải tu pháp nhẫn nhục để lần lần dẹp lòng sân; như
thể gọi là "Tu Tâm".
3. SI là si mê
(có chỗ gọi là vô minh). Đối với sự vật hiện tiền,
tâm tánh mờ ám, không có trí huệ sáng suốt để phán đoán
việc hay, dở, tốt, xấu lợi hại v.v… nên mới làm những
điều nhiễm ô tội lổi, có hại cho mình, và người (theo
thế tục gọi là "dại" hay "ngu"). Cái Si này thường ám ảnh
trong tất cả việc làm, hại người chẳng phải nhỏ, mà
nhứt là khi tham và sân.
Như anh chàng thanh
niên kia, biết cô mỹ nhơn nọ bị ho lao và có bịnh truyền
độc… Nhưng đến khi si mê ám ảnh, thì anh không còn thấy
vi trùng lao và bịnh truyền độc nữa.
Một người tham
tiền, đánh bài bạc, mê đề, vì si mê ám ảnh, nên đến
lúc thua hết của tiền mà cũng không chán.
Có một người
vì lòng tham, si nổi lên, giữa lúc ban ngày đông người, vào
tiệm giựt vàng.
Lính bắt được
hỏi: "ANh không thấy lính tráng ở chung quanh và không sợ
tù tội sao?" Anh trả lời rằng: "Lúc đó tôi chỉ thấy vàng
thôi; nếu thấy lính tráng tội, thì tôi đâu dám làm như
thế!"
Đây là những
bằng chứng, trong lúc tham, vì có si mê ám ảnh, nên anh chàng
thanh niên kia phải mang bịnh ho lao và truyền độc; người
đánh bạc nọ mới hết cửa hết nhà; anh giựt vàng kia mới
mang gông cùm từ tội! Nếu trong lúc ấy, được sáng suốt,
phân biệt lợi hại, thì anh thanh niên kia có thể thắng lại
được dục vọng của mình, đâu có lâm bệnh hiểm nghèo
như thế; người đánh bạc, cậu giựt vàng, có thể thắng
được lòng tham, không đến đổi bị hết của và mang tù
tội. Cho biết trong lúc tham mà có Si, thì có hại rất lớn!
Khi nóng giận cũng vậy, nếu trong lúc nóng giận mà sáng suốt,
biết suy xét việc lợi hại, lúc ấy có thể dằn bớt sự
nóng giận ít nhiều! Trái lại vì bị si mê ám ảnh, nên nói
càn làm bướng, đến khi hết giận rồi thì tội lỗi quá
nhiều! Nên lời tục nói: "An nóng mất ngon, giận lắm mất
khôn" là vậy.
Có nhiều người
trong lúc nóng giận, đánh đập vợ con đến tàn tật, phá
hoại nhà cửa cho đến tiêu tan, hoặc uống thuốc độc hay
trầm mình, để cho thoát kiếp thân đau khổ! Những tai nạn
như thế, đều do si mê ám ảnh cả.
Tổ sư có dạy
rằng: "Bất úy tham sân khởi, duy khủng tự giác trì!; nghĩa
là không sợ tham và sân nổi lên, mà chỉ sợ mình tự giác
ngộ chậm. Nói cho dể hiểu, là không sợ tham, sân mà chỉ
sợ si mê đó thôi. Nếu tham, sân nổi lên, mà ta sáng suốt
phán đoán kịp thời, không có si mê, thì tham sân kia cũng
chẳng làm gì được. Người học Phật phải dẹp trừ lòng
si mê của mình, lúc nào cũng phải sáng suốt đối với tất
cả mọi việc. Như thế gọi là "Tu Tâm".
4.- MẠN là ngã
mạn cống cao. Nói theo lối thông thường có hơi thô một
chút là "phách lối" lấn lướt, hiếp đáp người. Vì ỷ
tiền tài, tài năng và quyền thế của mình mà khing rẻ người,
chẳng kính người già cả, không kể người phước đức.
Bởi hiêu hiêu tự đắc, coi không có người (mục hạ vô
nhơn) nên chẳng ai ưa. Vì lòng ngã mạn, cho mình hơn ai hết,
không kính phục người, nên bị tổn đức. Vì thế mà phước
lành tổn giả, tội lỗi càng thêm, nên phải sanh tử luân
hồi, không bao giờ cùng tột. Người học Phật nên tự kiểm
thảo mình, nếu có ngã mạn cống cao thì phải cố gắng dẹp
trừ đi. Như thế mới phải là Phật tử, và như thế mới
gọi là "Tu Tâm".
5.-NGHI là nghi
ngờ. Đối với đạo lý chơn chánh, lại nghi ngờ không tin.
Những pháp tu giải thoát và điều phước thiện, lại do dự
chẳng làm. Nó chướng ngại lòng tin, cản trở việc từ thiện.
Nghi có ba: 1-Nghi mình. Như nghe nó: "Tu hành sẽ được giải
thoát", rồi từ nghi ngờ: không biết mình đã có tu được
hay không? Vì lòng nghi ngờ, do dự ấy, nên không chịu tu.
2.- Nghi người; nghĩa là nghi người dạy mình. Như có người
dạy ta: "Làm lành được phước, làm ác sẽ bị tội". Chúng
ta nghi: không biết người ấy nói có thiệt hay không? Bởi
nghi nên không làm 3.- Nghi pháp; như nghe lời Phật dạy: "Người
chí tâm niệm Phật, từ một ngày cho đến bảy ngày được
nhứt tâm, thì người ấy đến khi lâm chung, sẽ được Phật
Di Đà tiếp dẫn, sanh về nước Cực lạc", rồi họ nghi rằng:
phương pháp ấy không biết kết quả có đúng như vậy hay
không? nên họ chẳng siêng tu.
Nói tóm lại,
vì lòng nghi ngờ, nó cản trở nhiều điều tiến triển. Những
người có tánh đa nghi, đối với bạn bè, họ thấy không
có ai là người tin cậy. Trong gia đình họ thấy không có
người nào là thân mật. Phật tử nên cẩn thận đề phòng
mọi việc, nhưng phải cương quyết dẹp trừ tánh nghi ngờ.
Như thế gọi là "Tu Tâm’.
6.- THÂn KIẾN
là chấp nhận thân ngũ ấm, tứ đại giả hợp này là "Ta".
Hoặc nghe theo lời tà giáo nói: "Người có 3 hồn, 7 vía, linh
hồn, thế phách v.v…" rồi chấp 3 hồn 7 vía v.v… đó là
Ta. Vì chấp "Ta thật có", nên kiếm món này vật nọ đễ
cho ta ăn, sắm kiểu kia cách nọ để cho Ta mặc, lo cất nhà
cửa, mua ruộng vườn để cho Ta dùng, tranh danh đoạt lợi,
mỗi mỗi cũng vì Ta! Không những lo cho Ta, mà lại lo cho cả
gia đình, quyến thuộc, quốc gia và xã hội của ta nữa. Vì
"chấp Ta" mà tạo ra nhiều tội lỗi: lo tranh danh đoạt lợi
cho ta hưởng, xâu xé cướp giựt nhau để cho quốc gia xã
hội Ta dùng. Vì thế, nên thế giới đạn bay như mưa, bom
nổ như pháo, máu chảy thành sông, xương chất tợ múi!
Hàng Phật tử
chúng ta, phải sáng suốt quan sát thân già này giả hợp không
có thật có. Hễ phá trừ thân kiến rồi, (chấp Ta) thì tánh
ích kỷ vị ngã không còn, nên không tạo những điều tội
lỗi vì bản ngã nữa. Như thế gọi là"Tu Tâm".
7.-BIÊN KIẾN là
chấp một bên, hoặc chấp chết rồi còn hoài, hay chấp chết
rồi mất hẳn.
Một, vì chấp
có Ta, nên có người chấp "Ta" chết rồi còn hoài không mất:
Người chết vẫn sanh làm người, thú chết sanh trở lãi thú,
Thánh nhơn chết trở làm Thánh nhơn. Vì chấp như vậy, cho
nên chẳng sợ tội ác, và cũng không cần tu thiện; bởi họ
cho tu cũng vậy không tu cũng vậy. Do chấp cái "Ta" thường
còn không mất có hại như thế, nên trong kinh Phật gọi là
"Thường kiến ngoại đạo".
Hai, có người
chấp "chết rồi mất hẳn". Vì họ thấy bầu thế giới mênh
mang, không gian vô tận, chết rồi là mất chớ có thấy tội
phước gì đâu! Thấy đời sống của mình chết rồi không
còn giá trị chi hết, nên mặc tình làm những điều tội
lỗi. Họ nói rằng: "Tu nhơn tích đức già đời cũng chết;
hung hoang bạo ngược tận số cũng không còn". Biết bao người
vì chấp chết rồi là hết, nên mỗi khi gặp cảnh nghịch
lòng, nhứt là tình duyên trắc trở, họ không trầm tĩnh sáng
suốt tìm phương pháp để xử trí. Cứ cho chết rồi là hết
đau khổ, nên họ tự liều mình với chén thuốc độc hay
dòng sông sâu! Chớ họ không biết rằng chết rồi đâu có
phải là hết khổ! Bởi chấp chết rồi mất hẳn có hại
như vậy, nên trong đạo Phật gọi là "Đoạn kiến ngoại
đạo".
Thật ra người
chết không phải thường còn và cũng không phải mất hẳn,
mà theo nghiệp lực lành hay dữ luân hồi.
Người Phật tử
phá trừ hai món chấp trên, như thế gọi là "Tu Tâm".
8.-KIẾN THỦ là
bảo thủ sự hiểu biết sai lầm của mình. Đây có hai cách:
1.- Hành vi của mình sai lầm, ý kiến lại thấp thỏi, nhưng
không tự hiểu biết, lúc nào cũng bảo thủ cho mình là hay
giỏi, đúng đắn hơn hết, ai nói cũng chẳng nghe. 2.-Biết
mình như thế là sai, nói như vậy là dở, nhưng cứ bảo thủ
cái sai và cái dở ấy, không chịu thay đổi.
Như có người,
ông bà trước đã lỡ theo tà đạo, nay con cháu vẫn biết
đó là tà, nhưng cứ theo như vậy mãi không đổi. Họ bảo
rằng: "Xưa sao nay vậy!". Hay như có người, cha mẹ trước
đó có làm nghề tội lỗi, qua đến đời con, cứ bảo thủ
nghề ấy, không chịu thay đổi.
Nói cho rõ hơn,
là những tục lệ trong thế gian, như mỗi năm phải làm trâu
bò để tế thần; khi người chết phải làm heo bò cúng kiến,
mỗi kỳ tuần tự hay giỗ quảy, phải đốt giấy tiền vàng
bạc áo quần kho phướn; mỗi năm phải hội họp để cúng
tà thần ác quỉ v.v… Người học Phật phải dẹp trừ "kiến
thủ", như thế gọi là "Tu Tâm’.
9.- GIỚI CẤM
THỦ là giữ theo giới cấm của ngoại đạo tà giáo. Cấm
một cách vô lý không phải nhân giải thoát mà chấp là nhân
giải thoát. Như bên An Độ có những phái ngoại đạo leo
lên cây cao nhảy xuống, gieo mình vào lửa v.v… có đạo mỗi
năm phải giết một người tế thần; như đạo của anh Vô
Não, phải giết cho đủ 1.000 người mới đắc đạo. Người
học Phật phải dẹp trừ "giới cấm thủ", như thế gọi
là "Tu Tâm’.
10.- TÀ KIẾN là
chấp theo lối tà. Phàm chấp những cái gì không chơn chánh
đều thuộc về tà kiến. Nói bằng cách khác là "mê tín".
Như thờ đầu trâu, đầu cọp, bình vôi, ông táo, xin xâm,
bói quẻ, coi ngày, tìm huyệt, buộc tom, đeo niệt, coi sao,
cúng hạn v.v… Thật ra người học đạo nên coi chỗ tạo
nhơn của mình lành hay dữ, chánh hay tà mà thôi, chớ không
nên coi bói làm gì. Nói rộng ra thì gồm cả bốn chấp trên
đều về tà kiến.
Hàng Phật tử
phải dẹp trừ "Tà kiến", như thế gọi là "Tu Tâm’.