CHƯƠNG
V.
ĐIỀU
BỘ
A.
BA-LA-DI
I.
BẤT TỊNH HẠNH
1.
Ưu-ba-ly thỉnh vấn
[971c11]1.
Thế Tôn ở tại Tỳ-xá-ly.
Bấy
giờ, Ưu-ba-ly từ chỗ ngồi đứng dậy, để trống vai bên
hữu, đầu gối bên hữu chấm đất, chắp tay thưa:
«Bạch
đức Thế Tôn, Tu-đề-na Ca-lan-đà Tử[1] cùng vợ cũ làm
bất tịnh hạnh, như vậy có phạm Ba-la-di hay không?»
Đức
Phật dạy:
«Ưu-ba-ly,
lúc ban đầu chưa chế giới, nên không phạm.»
Tỳ-kheo
Bà-xà Tử[2] ưu sầu không vui, không thích sống đời tịnh
hạnh liền trở về nhà cùng vợ cũ làm bất tịnh hạnh.
Tỳ-kheo ấy nghĩ: «Đức Thế Tôn vì các tỳ-kheo chế giới:
‘nếu tỳ-kheo phạm bất tịnh hạnh, làm pháp dâm dục, phạm
Ba-la-di, không được sống chung.’ Ta sầu ưu không vui, không
thích sống đời tịnh hạnh, cùng vợ cũ làm bất tịnh hạnh
như vậy có phạm Ba-la-di chăng?» Không biết việc này thế
nào, liền nói với tỳ-kheo đồng bạn như sau:
«Đức
Thế Tôn vì các tỳ-kheo chế giới: ‘Nếu tỳ-kheo phạm bất
tịnh hạnh, làm pháp dâm dục, phạm Ba-la-di, không được
sống chung.’ Tôi sầu ưu không vui, không thích sống tịnh
hạnh, trở về nhà cùng với vợ cũ làm bất tịnh hạnh.
Tôi có phạm Ba-la-di? Lành thay, Trưởng lão có thể vì tôi
bạch với Phật. Tùy theo lời Phật dạy, tôi sẽ phụng hành.
Nếu tôi còn được phép ở trong Phật pháp tu phạm hạnh
thì tôi sẽ tiếp tục tu.»
Tỳ-kheo
kia liền đến chỗ đức Phật, đầu mặt kính lẽ sát chân
rồi ngồi lui qua một bên, đem nhơn duyên trên bạch đầy
đủ lên đức Phật. Đức Thế Tôn dùng nhơn duyên này tập
hợp Ty kheo Tăng, dùng vô số phương tiện quở trách tỳ-kheo
Bà-xà Tử:
«Ngươi
làm điều phi pháp, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh
hạnh, [972a1] chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không
nên làm. Ngươi ngu si, vì sao không vui sống với tịnh hạnh,
lại trở về nhà cùng với vợ cũ làm bất tịnh hạnh? Nếu
đã vào thì phạm Ba-la-di, không được sống chung. Nếu các
tỳ-kheo khác sầu ưu không vui, không thích sống tịnh hạnh,
cho phép xả giới để về nhà. Nếu sau đó muốn trở lại
trong Phật pháp tu hạnh thanh tịnh thì cho phép xuất gia, thọ
đại giới lại.»
2.
Bấy giờ Ưu-ba-ly từ chỗ ngồi đứng dậy, để trống vai
bên hữu, đầu gối bên hữu chấm đất, chắp tay bạch Phật:
«Là
đạo,[3] tưởng là đạo. Có phạm hay không?»
Đức
Phật dạy:
«Phạm
ba-la-di.»
Ưu-ba-ly
lại hỏi:
«Là
đạo, nghi là đạo. Có phạm hay không?»
Đức
Phật dạy:
«Phạm
ba-la-di.»
Ưu-ba-ly
lại hỏi:
«Là
đạo, tưởng phi đạo có bị phạm hay không?»
Đức
Phật dạy:
«Phạm
ba-la-di.»
Ưu-ba-ly
lại hỏi:
«Chẳng
phải đạo, tưởng là đạo. Có phạm hay không?»
Đức
Phật dạy:
«Phạm
thâu-lan-giá.»
Ưu-ba-ly
lại hỏi:
«Chẳng
phải đạo mà nghi. Có phạm hay không?»
Đức
Phật dạy:
«Phạm
thâu-lan-giá.»
Ưu-ba-ly
lại hỏi:
«Là
nam mà tưởng là nữ, làm bất tịnh hạnh. Có phạm hay không?»
Đức
Phật dạy:
«Phạm
ba-la-di.»
Ưu-ba-ly
lại hỏi:
«Là
nữ mà tưởng là nam, làm bất tịnh hạnh. Có phạm hay không?»
Đức
Phật dạy:
«Phạm
ba-la-di.»
Ưu-ba-ly
lại hỏi:
«Với
người nữ này tưởng cũng đồng như người nữ kia, cùng
làm bất tịnh hạnh. Có phạm hay không?»
Đức
Phật dạy:
«Phạm
ba-la-di.»
«Đối
với người nam này tưởng là người nam kia, cùng làm bất
tịnh hạnh. Có phạm hay không»
Đức
Phật dạy:
«Phạm
ba-la-di »
3.
Cộng súc sanh
1.
Khi ấy có tỳ-kheo cùng với con voi cái làm bất tịnh hạnh,
nghi không biết có phạm ba-la-di hay không?
Đức
Phật dạy:
«Phạm.»
Cũng
vậy, các loài cái như bò, ngựa, lạc đà, nai, lừa, dê, heo,
chó, chim nhạn, khổng tước, gà ... Tất cả đều phạm ba-la-di.
2.
Thế Tôn ở tại Tỳ-xá-ly. Bấy giờ có một tỳ-kheo khất
thực trú ở trong rừng. Có một con khỉ cái sống trong khu
rừng ấy. Tỳ-kheo này vào trong nhân gian khất thực đem về
rừng ăn, thức ăn còn dư cho con khỉ cái ấy. Do đó, con khỉ
cái kia ngày càng thân cận, thường đi theo tỳ-kheo, cho đến
tỳ-kheo dùng tay bắt nó, nó vẫn không chạy. Khi ấy, tỳ-kheo
cùng nó làm bất tịnh hạnh. Bấy giờ chúng tỳ-kheo đi xem
xét phòng xá, ngọa cụ, lần lượt đến trong rừng kia. Con
khỉ cái đến chỗ các tỳ-kheo đứng đưa cái đuôi lên,
hiện tướng. Các tỳ-kheo kia nghĩ: «Con khỉ cái này trước
mặt ta hiện tướng như vậy, đâu không phải có tỳ-kheo
khác đã phạm đến con khỉ cái này?» Các tỳ-kheo liền ẩn
trong chỗ khuất để rình. Khi tỳ-kheo khất thực kia trở
về lại trong rừng, ăn xong, cho khỉ ăn, khỉ ăn xong cùng
nó làm bất tịnh hạnh. Các tỳ-kheo thấy sự việc như vậy
nói:
«Này
Trưởng lão, há không phải đức Phật không chế cấm tỳ-kheo
không được làm bất tịnh hạnh hay sao?»
Vị
ấy trả lời:
«Đức
phật cấm đối với người nữ chứ đâu cấm đối với
súc sanh.»
Các
tỳ-kheo về lại chỗ đức Phật, đầu mặt kính lễ sát
chân rồi ngồi lui qua một bên, đem nhơn duyên này bạch đầy
đủ lên đức Phật. Đức Phật dùng nhơn duyên này tập hợp
tỳ-kheo Tăng, quở trách tỳ-kheo khất thực rằng:
«Ngươi
làm việc sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn,
chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm
việc không nên làm. Tại sao ngươi cùng con khỉ cái làm bất
tịnh hạnh. Nếu vào, tức là phạm ba-la-di. Ngươi là người
si, không được sống chung.»
3.
Bấy giờ Ưu-ba-ly từ chỗ ngồi đứng dậy, để trống vai
bên hữu, đầu gối bên hữu chấm đất, chắp tay thưa đức
Thế Tôn:
«Bạch
Đại đức, nếu tỳ-kheo cùng với loài súc sanh khác làm bất
tịnh hạnh. Có phạm ba-la-di hay không? Đức Phật dạy:
«Phạm.»
4.
Dữ học giới
1.
Bấy giớ đức Thế Tôn ở tại thành Vương-xá. Tỳ-kheo Nan-đề[4]
ngồi thiền, đạt được tâm giải thoát thuộc thế tục,
từ đệ tứ thiền giác tỉnh. Khi ấy có ma thiên nữ đứng
trước mặt. Tỳ-kheo nắm lấy muốn phạm ma nữ. Ma nữ bèn
ra ngoài, tỳ-kheo cũng theo ra ngoài. Ma ra ngoài hành lang của
thất, tỳ-kheo cũng theo ra ngoài hành lang của thất. Ma ra giữa
sân, tỳ-kheo cũng ra giữa sân. Ma ra ngoài chùa, tỳ-kheo cũng
ra ngoài chùa. Bên ngoài chùa, lúc ấy có một con ngựa cái
đã chết. Nơi xác chết của con ngựa im nữ ẩn hình, biến
mất. Khi ấy tỳ-kheo Nan-đề bèn làm bất tịnh hạnh với
con ngựa chết. Làm bất tịnh hạnh xong, tỳ-kheo hoàn toàn
không có tâm che dấu, liền rằng: «Đức Thế Tôn vì các
tỳ-kheo chế giới không được làm bất tịnh hạnh, nếu
làm bất tịnh hạnh phạm ba-la-di, không được sống chung.
Nay ta làm bất tịnh hạnh hoàn toàn không có tâm che dấu.
Ta đâu không phạm ba-la-di, ta nên làm thế nào?» Nan-đề liền
nói với tỳ-kheo đồng bạn: «Đức Thế Tôn vì các tỳ-kheo
chế giới, nếu tỳ-kheo làm bất tịnh hạnh, phạm ba-la-di,
không được sống chung. Nay tôi phạm bất tịnh, hoàn toàn
không có tâm che dấu, há không phạm ba-la-di? Lành thay, Trưởng
lão vì tôi bạch Phật. Tùy theo lời dạy của đức Phật,
tôi sẽ phụng hành.»
Các
tỳ-kheo đến chỗ đức Phật, đầu mặt đảnh lễ sát chân
rồi ngồi qua một bên, đem nhơn duyên này tập hợp tỳ-kheo
Tăng, bảo rằng:
«Nay
Tăng nên trao cho tỳ-kheo Nan-đề giới ba-la-di bằng pháp bạch
tứ yết-ma.»
Pháp
thức như sau: tỳ-kheo phạm nên đến trong Tăng, cởi bỏ giày
dép, để trống vai bên hữu, đầu gối bên hữu chấm đất,
chắp tay bạch:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tôi là tỳ-kheo Nan-đề phạm pháp
dâm, hoàn toàn không có tâm che dấu. Nay đến trong Tăng xin
Tăng giới ba-la-di. Nguyện Tăng từ mẫn trao cho tôi giới ba-la-di.»
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng thưa xin như vậy.
Trong
Tăng nên sai một vị có khả năng yết-ma, dựa theo sự việc
trên tác bạch:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo Nan-đề này phạm pháp dâm,
hoàn toàn không có tâm che dấu. Nay đến trong Tăng xin giới
ba-la-di. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp
thuận, nay Tăng trao cho tỳ-kheo Nan-đề giới ba-la-di. Đây
là lời tác bạch.
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo Nan-đề này phạm pháp dâm,
hoàn toàn không có tâm che dấu. Nay đến trong Tăng xin giới
ba-la-di, nay Tăng trao cho tỳ-kheo Nan-đề này giới ba-la-di.
Các Trưởng lão nào đồng ý Tăng trao cho tỳ-kheo Nan-đề
giới ba-la-di thì im lặng, vị nào không đồng ý xin nói. Đây
là yết-ma lần thứ nhất.»
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy.
«Tăng
đã trao cho tỳ-kheo Nan-đề giới ba-la-di rồi. Tăng đồng
ý nên im lặng. Việc này được ghi nhận như vậy.»
Tỳ-kheo
phạm được trao cho giới ba-la-di rồi, nên làm hạnh tùy thuận.
Tùy thuận pháp gồm có: không được trao đại giới cho người
và cho người y chỉ; không được nuôi sa-di; không được
nhận giáo thọ tỳ-kheo-ni, dù có sai cũng không được đến
giáo thọ; không được vì Tăng nói giới; không được giữa
Tăng vấn đáp Tỳ-ni; không được nhận Tăng sai làm người
tri sự;[5] không được nhận Tăng sai làm bình đoán sự;[6]
không được nhận Tăng sai làm sứ mạng; không được vào
xóm làng sớm đến sẫm tối mới về; nên gần gũi tỳ-kheo,
không được gần gũi ngoại đạo, bạch y; nên tùy thuận
pháp của tỳ-kheo; không nói lời của thế tục; không được
phạm trở lại tội này; tội khác cũng không được, hoặc
tương tợ, hoặc từ tội này sanh, hoặc nặng hơn đối với
tội này; không được ngăn yết-ma, ngăn người làm yết-ma;
không được để cho tỳ-kheo thanh tịnh trải chỗ ngồi ngồi,
rửa chân, lấy đồ đựng nước, lau giày dép, xoa bóp thân
thể, lễ bái, nghinh đón, hỏi chào; không được để cho
tỳ-kheo thanh tịnh cầm y bát; không được cử tội tỳ-kheo
thanh tịnh, tác ức niệm, tác tự ngôn; không được tán trợ
thuyết của người khác; không được ngăn thuyết giới, tự
tứ; không được cùng tỳ-kheo thanh tịnh tranh cãi.
Tỳ-kheo
được trao giới ba-la-di rồi, khi Tăng thuyết giới và yết-ma,
[973a1] đến hay không đến, Tăng không phạm.
Các
tỳ-kheo thưa:
«Tỳ-kheo
được trao giới ba-la-di rồi, phạm trở lại, được trao
giới ba-la-di nữa hay không?»
Đức
Phật dạy:
«Không
được trao mà nên diệt tẫn.»
5.
Phi đạo
1.
Bấy giờ, có tỳ-kheo cơ thể mềm mại, dùng nam căn để
vào miệng. Vị ấy nghi không biết có phạm ba-la-di hay không.
Đức
Phật dạy:
«Phạm.»
2.
Có tỳ-kheo tên là Lam-bà-na, nam căn dài, nắm để vào đường
đại tiện. Vị ấy nghi không biết có phạm ba-la-di hay không?
Đức
Phật dạy:
«Phạm.»
3.
Khi ấy có tỳ-kheo nam căn khởi. Tỳ-kheo khác liền nắm, để
vào trong miệng mình. Tỳ-kheo này không cảm thấy khoái lạc,
bỏ đi, không thọ. Nhưng sanh nghi: như vậy mình có phạm ba-la-di?
Đức
Phật dạy:
«Không
phạm. Tỳ-kheo kia phạm.»
4.
Có tỳ-kheo khất thực buổi sáng, khoác y, bưng bát đến nhà
bạch y. Nhà bạch y có đứa nhỏ nam căn khởi. Tỳ-kheo liền
cầm, để vào trong miệng mình; rồi nghi: mình có phạm ba-la-di?
Đức Phật dạy:
«Phạm.»
6.
Cưỡng dâm
1.
Có tỳ-kheo bắt ép tỳ-kheo khác cùng hành dâm. Vị kia nghi:
Ta có phạm ba-la-di? đức Phật hỏi:
«Ngươi
có thọ lạc không?»
Vị
kia trả lời: «Có.»
Đức
Phật dạy:
«Cả
hai đều phạm ba-la-di.»
Có
tỳ-kheo cùng với sa-di hành dâm, rồi nghi, ta có phạm?
Đức
Phật :
«Ngươi
sa-di có thọ lạc không?»
Sa-di
thưa: « Có.»
Đức
Phật dạy:
«Cả
hai đều phạm.»
Có
sa-di bắt ép đại tỳ-kheo cùng hành dâm, rồi nghi, đức Phật
hỏi tỳ-kheo:
«Tỳ-kheo,
ngươi có thọ lạc không?»
Tỳ-kheo
thưa: «Có.»
Đức
Phật dạy:
«Cả
hai đều phạm.»
Có
sa-di cùng với sa-di hành dâm, rồi nghi, đức Phật hỏi:
«Ngươi
có thọ lạc không?»
Sa-di
thưa: «Có.»
Đức
Phật dạy:
«Cả
hai đều phạm.»
Có
tỳ-kheo bị cưỡng bức cùng tỳ-kheo hành dâm, không thọ
lạc; lấy ra rồi nghi. Đức Phật hỏi:
«Ngươi
có thọ lạc không?»
Tỳ-kheo
kia thưa: «Không thọ lạc.»
Đức
Phật dạy:
«Ngươi
không phạm. Người nào để vào thì phạm.»
Có
tỳ-kheo cưỡng bức bắt ép sa-di hành dâm, không thọ lạc;
lấy ra, vị kia nghi. Đức Phật hỏi ông sa-di:
«Ngươi
có thọ lạc không?»
Sa-di
thưa: «Không thọ lạc.»
Đức
Phật dạy:
«Ngươi
không phạm. Người để vào thì phạm.»
Có
sa-di cưỡng bức bắt ép tỳ-kheo hành dâm, không thọ lạc;
lấy ra rồi nghi. Đức Phật hỏi:
«Ngươi
có thọ lạc không?»
sa-di
thưa: «Không thọ lạc.»
Đức
Phật dạy:
«Ngươi
không phạm. Người nào để vào thì phạm.»
Có
sa-di cưỡng bức bắt sa-di hành dâm, không thọ lạc. Lấy
ra rồi nghi. Đức Phật hỏi:
«Ngươi
có thọ lạc không?»
Sa-di
thưa: «Không thọ lạc.»
Đức
Phật dạy:
«Ngươi
không phạm. Người nào để vào thì phạm.»
Có
tỳ-kheo thân căn bị hư hoại, không có cảm giác. Vị ấy
có ý nghĩ: «Ta không có cảm giác, hành dâm không phạm.»
Vị
ấy hành dâm rồi nghi. Đức Phật dạy:
«Ngươi
phạm ba-la-di.»
Có
tỳ-kheo nam căn không khởi, nghĩ rằng mình hành dâm không
phạm. Vị ấy bèn hành dâm, rồi nghi. Đức Phật dạy:
«Ngươi
phạm ba-la-di.»
Có
tỳ-kheo có ý nghĩ: «Ta cùng với người nữ đang ngủ hành
dâm. Nó không biết khoái lạc. Ta không phạm.» Vị kia bèn
hành dâm, rồi nghi. Đức Phật dạy:
«Ngươi
phạm ba-la-di.»
Có
tỳ-kheo có ý nghĩ: «Cùng với người nữ say hành dâm. Người
kia không biết khoái lạc. Ta không phạm.» Vị kia bèn hành
dâm, rồi nghi. Đức Phật dạy:
«Ngươi
phạm ba-la-di.»
Có
tỳ-kheo có ý nghĩ: «Ta cùng người nữ điên cuồng hành dâm.
Người kia không biết cảm giác lạc. Ta không phạm.» Vị
kia bèn hành dâm, rồi nghi. Đức Phật dạy:
«Ngươi
phạm ba-la-di.»
Có
tỳ-kheo có ý nghĩ: «Ta cùng người nữ đang sân hận hành
dâm. Người kia không thọ lạc, không phạm.» Vị kia hành
dâm, rồi nghi. Đức Phật dạy:
«Ngươi
phạm ba-la-di.»
Có
tỳ-kheo có ý nghĩ: «Ta cùng người nữ đang đau nhức khổ
hành dâm. Người kia không thọ lạc. Ta không phạm.» Vị kia
hành dâm rồi nghi. Đức Phật dạy:
«Ngươi
phạm ba-la-di.»
Có
tỳ-kheo có ý nghĩ: «Ta cùng người nữ thân căn bị hư hoại
hành dâm. Người kia không biết lạc. Ta không phạm.» Vị
kia hành dâm rồi nghi. Đức Phật dạy:
«Ngươi
phạm ba-la-di.»
Có
tỳ-kheo có ý nghĩ: «Ta cưỡng bức bắt buộc người nữ
hành dâm. Người kia không thọ lạc. Ta không phạm.» Vị kia
bèn hành dâm, rồi nghi. Đức Phật dạy:
«Ngươi
phạm ba-la-di.»
Có
tỳ-kheo có ý nghĩ: «Ta cưỡng bức bắt buộc huỳnh môn hành
dâm. Nó không thọ lạc. Ta không phạm.» Vị kia liền hành
dâm rồi nghi. Đức Phật dạy:
«Ngươi
phạm ba-la-di.»
Có
tỳ-kheo có ý nghĩ: «Ta cưỡng bức bắt buộc nam tử hành
dâm. Nó không thọ lạc. Ta không phạm.» Vị kia liền hành
dâm, rồi nghi. Đức Phật dạy:
«Ngươi
phạm ba-la-di.»
Bấy
giờ, có người nữ cưỡng bức bắt tỳ-kheo hành dâm. Tỳ-kheo
không thọ lạc; lấy ra rồi nghi. Phật hỏi tỳ-kheo:
«Ngươi
có thọ lạc không?»
Vị
đó thưa:
«Không
thọ lạc.»
Đức
Phật dạy:
«Ngươi
không phạm.»
Có
huỳnh môn cưỡng bức bắt tỳ-kheo hành dâm, nghi. Đức Phật
hỏi tỳ-kheo:
«Ngươi
có thọ lạc không?»
Vị
kia thưa:
«Không
thọ lạc.»
Đức
Phật dạy:
«Ngươi
không phạm.»
Có
nam tử cưỡng bức bắt tỳ-kheo cùng hành dâm. Tỳ-kheo không
thọ lạc, lấy ra, rồi nghi, đức Phật hỏi tỳ-kheo:
«Ngươi
có thọ lạc không?»
Tỳ-kheo
trả lời: «Không thọ lạc.»
Đức
Phật dạy:
«Ngươi
không phạm.»
Bấy
giờ, có ác tỳ-kheo, ác sa-di, ác a-lan-nhã bắt ép tỳ-kheo
để vào đường đại tiện, hoặc nơi miệng hành dâm. Thân
vị kia thọ lạc. Khi lấy ra, nghi. Đức Phật hỏi:
«Ngươi
có thọ lạc không? Vị kia trả lời:
«Có
thọ lạc.»
Đức
Phật dạy:
«Cả
hai đều ba-la-di.»
Có
ác tỳ-kheo, ác sa-di, ác a-lan-nhã bắt ép tỳ-kheo-ni, sa-di,
sa-di ni, thức-xoa-ma-na để vào đường đại tiểu tiện hoặc
trong miệng hành dâm. Vị kia thọ lạc. Khi lấy ra nghi. Đức
Phật hỏi:
«Ngươi
có thọ lạc không?»
Vị
kia trả lời:
«Có
thọ lạc.»
Đức
Phật dạy:
«Cả
hai đều phạm.»
Có
ác tỳ-kheo, ác sa-di, ác a-lan-nhã bắt ép tỳ-kheo để vào
đường đại tiện, trong miệng hành dâm. Vị kia không thọ
lạc, nghi. Đức Phật hỏi tỳ-kheo:
«Ngươi
tỳ-kheo có thọ lạc không?»
Vị
kia thưa:
«Không
thọ lạc.»
Đức
Phật dạy:
«Ngươi
không phạm. Người kia phạm.»
Có
ác tỳ-kheo, ác sa-di, ác a-lan-nhã bắt ép tỳ-kheo-ni, thức-xoa-ma-na,
sa-di, sa-di ni để vào đường đại tiểu tiện, trong miệng
hành dâm. Vị kia không thọ lạc. Khi lấy ra, nghi. Đức Phật
hỏi sa-di ni:
«Có
thọ lạc không?»
Vị
kia thưa:
«Không
thọ lạc.»
Đức
Phật dạy:
«Ngươi
không phạm. Người kia phạm.»
Có
ác tỳ-kheo, ác sa-di, ác a-lan-nhã bắt ép tỳ-kheo đang ngủ
để vào đường đại tiểu tiện, trong miệng hành dâm. Vị
đang ngủ kia không biết, khi thức dậy cũng không biết. Vị
kia nghi. Đức Phật hỏi:
«Người
có biết hay không?»
Vị
kia thưa:
«Không
biết.»
Đức
Phật dạy:
«Ngươi
không phạm. Người kia phạm.»
Có
ác tỳ-kheo, ác sa-di, ác a-lan-nhã bắt ép tỳ-kheo-ni, thức-xoa-ma-na,
sa-di, sa-di-ni đang ngủ để vào để vào đường đại tiểu
tiện, trong miệng hành dâm. Vị đang ngủ kia không biết, khi
thức dậy cũng không biết. Vị kia nghi. Đức Phật hỏi:
«Ngươi
có biết không?»
Vị
kia trả lời:
«Không
biết.»
Đức
Phật dạy:
«Ngươi
sa-di-ni[7] không phạm. Người kia phạm.»
Có
ác tỳ-kheo, ác sa-di, ác a-lan-nhã đối với tỳ-kheo đang ngủ
để vào nơi đại tiện, trong miệng hành dâm. Vị ngủ kia
tỉnh giấc, nhưng không thọ lạc. Khi lấy ra, vị kia nghi.
Đức Phật hỏi:
«Ngươi
có thọ lạc không?»
Vị
kia thưa:
«Không
thọ lạc.»
Đức
phật dạy:
«Ngươi
sa-di-ni không phạm. Người để vào phạm.»
Có
ác tỳ-kheo, ác sa-di, ác a-lan-nhã với tỳ-kheo-ni, thức-xoa-ma-na,
sa-di, sa-di ni đang ngủ để vào đường đại tiểu tiện,
trong miệng hành dâm. Vị đang ngủ kia không biết. Khi tỉnh
giấc, không thọ lạc, nghi. Đức Phật hỏi:
«Ngươi
có thọ lạc không?»
Vị
kia trả lời: «Không thọ lạc.»
Đức
Phật dạy:
«Ngươi
không phạm. Người để vào kia phạm.»
Có
ác tỳ-kheo, ác sa-di, ác a-lan-nhã với tỳ-kheo đang ngủ để
vào đường đại tiện, trong miệng hành dâm. Vị ngủ kia
không biết, [974a1] khi tỉnh giấc thì biết, thọ lạc. Khi
lấy ra, nghi. Đức Phật hỏi:
«Ngươi
có thọ lạc không?
Vị
kia nói: «Có thọ.»
Đức
Phật dạy:
«Cả
hai đều phạm.»
Có
ác tỳ-kheo, ác sa-di, ác a-lan-nhã, với tỳ-kheo-ni, thức-xoa-ma-na,
sa-di, sa-di ni đang ngủ, để vào trong đường đại tiểu tiện,
trong miệng hành dâm. Vị ngủ kia không biết, tỉnh giấc mới
biết, thọ lạc. Đức Phật hỏi:
«Ngươi
có thọ lạc hay không?»
Vị
kia thưa: «Có thọ lạc.»
Đức
Phật dạy:
«Cả
hai đều phạm.»
2.
Bấy giờ, tỳ-kheo-ni Liên Hoa Sắc, ban ngày không đóng cửa
mà ngủ. Giặc vào nhà hành dâm, rồi đi. Tỳ-kheo-ni không
biết. Thức dậy rồi, thấy đồ bất tịnh bẩn người, bèn
nghĩ: «Thân ta có đồ bất tịnh dơ dáy thế này, có người
phạm dâm ta sao?» Nghi. Đức Phật nói:
«Không
phạm. Nhưng tỳ-kheo-ni ban ngày không được không đóng cửa
mà ngủ.»
Tỳ-kheo-ni
Nan-đà, ban ngày ngồi dưới gốc cây hoa, chỗ nhiều người
vui đùa, bọn cướp bắt ép phạm dâm. Tỳ-kheo-ni nghi. Đức
Phật hỏi:
«Này
Nan-đà, ngươi có thọ lạc hay không?»
Tỳ-kheo-ni
thưa:
«Bạch
Đại đức, cảm thọ như bị sắt nóng áp vào người con.»
Đức
Phật dạy:
«Không
phạm. Nhưng tỳ-kheo-ni không được ở chỗ như vậy.
3.
Có tỳ-kheo trì khất thực. Buổi sáng, khoác y, bưng bát, đến
nhà bạch y, bên dưới cửa của nhà kia có cột một con chó.
Thấy tỳ-kheo nó sủa, tỳ-kheo dủ lòng thương đối với
nó nên mở thả nó ra. Tỳ-kheo lại đến chỗ khác. Vợ cũ
thấy, gọi vào làm bất tịnh hạnh. Vị kia tự nghĩ: «Ta
mở thả con chó của người khác, đã phạm ba-la-di rồi.»
Bèn cùng vợ cũ làm bất tịnh hạnh. Các tỳ-kheo nghĩ: «Tỳ-kheo
này, việc làm trước phạm, hay việc làm sau phạm?»
Đức
Phật dạy:
«Việc
trước không phạm, việc sau phạm. Nhưng không được thả
chó của người ta.»
Có
tỳ-kheo, buổi sáng, khoác y, bưng bát đến nhà bạch y, thấy
con heo con bị chìm xuống nước. Thấy tỳ-kheo nó kêu. Tỳ-kheo
thưong xót, vớt nó lên và thả nó đi. Tỳ-kheo đến chỗ
khác thấy người nữ tư thông trước kia, rủ làm bất tịnh
hạnh. Tỳ-kheo với ý nghĩ: «Ta thả con heo của người đi,
đã phạm ba-la-di rồi.» Bèn làm bất tịnh hạnh. Tỳ-kheo
khác nghĩ: «Tỳ-kheo này, việc làm trước phạm hay việc làm
sau phạm?» Đức Phật dạy:
«Việc
làm trước không phạm. Việc làm sau phạm. Nhưng không được
làm việc như vậy.»
Có
một người đàn bà đến chỗ bán thịt bò, mua thịt mang
đi. Có con quạ đớp lấy miếng thịt bay đi. Nhưng sơ ý,
rơi xuống trong bình bát của tỳ-kheo khất thực. Người đàn
bà kia thấy vậy kêu:
«Đại
đức, miếng thịt đó của tôi, đừng mang đi!»
Tỳ-kheo
trả lời:
«Nó
rơi vào bát của tôi, chẳng phải thịt của bà.»
Tỳ-kheo
nói như vậy rồi cứ mang đi.
Trên
đường đi, sau đó, có dâm nữ rủ tỳ-kheo cùng hành bất
tịnh hạnh. Vị kia có ý nghĩ: «Vừa rồi ta lấy thịt của
người, đã phạm ba-la-di rồi.» Bèn cùng người nữ làm bất
tịnh hạnh. Các tỳ-kheo nghĩ: «Tỳ-kheo kia, việc làm trước
phạm, hay việc làm sau phạm?» Đức phật dạy:
«Việc
làm trước không phạm. Việc làm sau phạm. Nhưng không được
lấy thịt như vậy.»
Có
tỳ-kheo hành dâm vào miệng con chó rồi nghi. Đức Phật nói:
«Phạm
ba-la-di.»
4.
Có tỳ-kheo vén y tiểu tiện, có con chó đến liếm nước
tiểu, rồi lại ngậm nam căn của tỳ-kheo. Vị kia không thọ
lạc; lấy ra, nghi. Đức Phật hỏi tỳ-kheo:
«Ngươi
có thọ lạc không?»
Tỳ-kheo
thưa:
«Không
thọ lạc.»
Đức
phật dạy:
«Không
phạm.»
Có
tỳ-kheo vén y để tiểu tiện, con chó liếm nước tiểu rồi
lại ngậm nam căn của tỳ-kheo, tỳ-kheo thọ lạc; lấy ra,
nghi. Đức Phật hỏi:
«Ngươi
có thọ lạc hay chăng?»
Tỳ-kheo
thưa: «Có thọ lạc.»
Đức
Phật dạy:
«Ngươi
phạm ba-la-di.»
Có
tỳ-kheo vén y lội qua sông Y-la-bà-đề. Cá ngậm nam căn tỳ-kheo.
Tỳ-kheo không thọ lạc; lấy ra, nghi. Đức Phật hỏi tỳ-kheo:
«Ngươi
có thọ lạc không?»
Vị
kia thưa: «Không thọ lạc.»
Đức
Phật dạy:
«Không
phạm.»
Có
tỳ-kheo vén y lội qua sông Y-la-bà-đề. Cá ngậm nam căn. Tỳ-kheo
thọ lạc; lấy ra, nghi. Đức Phật hỏi tỳ-kheo:
«Ngươi
có thọ lạc hay không?
Vị
kia thưa: «Thọ lạc.»
Đức
Phật dạy:
«Ngươi
phạm ba-la-di.»
5.
Có tỳ-kheo hành dâm giữa đường đại tiện và tiểu tiện
rồi nghi. Đức Phật nói:
«Phạm
thâu-lan-giá.»
Nơi
khuỷu chân, nách, lỗ tai, nơi mụt ghẻ lỡ, giữa giường
dây, giường cây, nơi nạm lớn nạm nhỏ, nơi gối, nơi lỗ
bùn, nơi miệng bình, hoặc tưởng đạo, hoặc nghi, tất cả
đều phạm thâu-lan-giá.
Có
tỳ-kheo khất thực, sáng sớm, khoác y, bưng bát đến nhà
bạch y. Có bé gái nằm ngữa ngủ bên trong cửa. Tỳ-kheo nghĩ:
«Nếu ta dùng nam căn để vào thì phạm tội ba-la-di.» Tỳ-kheo
lấy ngón chân cái để vào nữ căn, rồi nghi. Đức Phật
dạy:
«Phạm
tăng-tàn.»
Có
tỳ-kheo đang ngáp. Tỳ-kheo khác dùng nam căn để vào trong
miệng, không thọ lạc; lấy ra, nghi. Đức phật hỏi:
«Ngươi
có thọ lạc không?»
Vị
ấy trả lời:
«Không
thọ lạc.»
Đức
Phật dạy:
«Ngươi
không phạm. Người nào để vào thì phạm. Từ nay về sau
khi ngáp, nên dùng tay che miệng lại.»
Có
tỳ-kheo ở trong nhà tắm, xoa mình cho vì tỳ-kheo khác. Tỳ-kheo
kia thân hình mềm mại. Tỳ-kheo này tâm dâm khởi lên, bèn
làm bất tịnh hạnh. Vị kia không thọ lạc. Lấy ra, nghi.
Đức Phật hỏi:
«Ngươi
có thọ lạc không?»
Vị
kia thưa: «Không thọ lạc.»
Đức
Phật dạy:
«Ngươi
không phạm. Người kia để vào là phạm.»
6.
Thế Tôn ở tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, có tỳ-kheo, ban
ngày không đóng cửa mà ngủ, nam căn khởi. Lúc đó có một
số đông người nữ đến tham quan nơi Tăng phòng, chỗ tỳ-kheo
kia ngủ. Thấy tỳ-kheo nằm ngửa ngủ, nam căn khởi, hổ thẹn
đi ra gấp. Trong số đó có một tặc nữ cùng đi. Tặc nữ
vào trong nhà, hành dâm bên trên thân của tỳ-kheo. Hành dâm
xong, lấy tràng hoa quàng lên đầu nam căn, rồi đi. Tỳ-kheo
kia ngủ không biết. Khi thức dậy, thấy đồ bất tịnh bẩn
thân; nam căn lại có quàng tràng hoa; bèn nghĩ: «Có vật bất
tịnh bẩn thân, nam căn lại có quàng trang hoa. Có người nữ
hành dâm ta ư ?» Sinh nghi. Đức Phật hỏi:
«Ngươi
có biết hay không?»
Vị
kia thưa:
«Không
biết.»
Đức
Phật dạy:
«Không
phạm. Nhưng không được ban ngày không đóng cửa mà ngủ.»
7.
Bấy giờ tại nước Xá-vệ có tỳ-kheo cùng tỳ-kheo-ni, là
mẹ con, an cư mùa hạ. Mẹ con thường gặp nhau. Vì việc thường
thấy nhau nên đều sanh dục tâm. Người mẹ nói với con:
«Ông
từ nơi đây mà ra, nay trở lại vào nơi đây, có thể được,
không phạm.»
Người
con liền làm theo lời của mẹ, rồi nghi. Đức Phật dạy:
«Phạm
ba-la-di.»
8.
Có tỳ-kheo hành dâm trên xác chết của người nữ rồi nghi.
Đức Phật dạy:
«Ngươi
phạm ba-la-di.»
Nếu
xác chết kia đa phần không hư hoại thì phạm ba-la-di. Nếu
hư hoại phân nửa thì phạm thâu-lan-giá. Đa phần hư hoại,
hoặc tất cả đều bị hư hoại, cũng phạm thâu-lan-giá.
Nếu là bộ xương, cũng phạm thâu-lan-giá.
9.
Bấy giờ ưu-bà-di Tô-tỳ nói với tỳ-kheo: «Nam căn, nữ
căn đều có vật ngăn che, hành dâm có thể được, không
phạm.»
Tỳ-kheo
liền như lời nói đó hành dâm, rồi nghi. Đức Phật nói:
«Phạm
ba-la-di.»
Ưu-bà-di
Tô-tỳ nói với tỳ-kheo, «Thầy cùng tôi hành dâm, nhưng để
tinh xuất ra ngoài, có thể được, không phạm.»
Tỳ-kheo
liền như lời nói đó, hành dâm; rồi nghi. Đức Phật nói:
«Ngươi
phạm ba-la-di.»
Có
dâm nữ nói với tỳ-kheo, «Thầy dùng lá cây bao nam căn, hành
dâm có thể được, không phạm.» Tỳ-kheo như lời nói kia
hành dâm; rồi nghi. Đức Phật dạy:
«Ngươi
phạm ba-la-di.»
Có
tỳ-kheo đi nơi bãi thây ma, thấy thân người nữ chết, y
phục còn trang nghiêm, hành dâm rồi nghi. Đức Phật dạy:
«Ngươi
phạm ba-la-di.»
Tỳ-kheo
giữ phòng, có bé gái đến báo giờ ăn. Tỳ-kheo liền bắt
ép hành [975a1]dâm. Nữ căn của đứa nhỏ bị vỡ, cùng đường
đại tiện thông qua, đứa nhỏ mạng chung. Vị kia nghi. Đức
Phật hỏi:
Ngươi
với tâm niệm thế nào? Có vị thưa:
«Con
không có tâm giết nó.»
Đức
phật dạy:
«Không
phạm sát mà phạm dâm, ba-la-di.»
10.
Có Tỳ-kheo hành dâm nơi tượng gỗ của người nữ rồi nghi.
Đức Phật dạy:
«Phạm
thâu-lan-giá.»
Hành
dâm với hình tượng nữ nơi vách. Đức Phật dạy:
«Phạm
thâu-lan-giá.»
Có
tỳ-kheo cùng thiên nữ hành dâm rồi nghi. Đức Phật dạy:
«Phạm
ba-la-di.»
Hành
dâm cùng a-tu-la nữ, long nữ, dạ-xoa nữ, ngạ quỷ nữ hoặc
súc sanh cái có thể biến hóa, tất cả đều phạm ba-la-di.
Có
tỳ-kheo, buổi sáng khoác y, bưng bát đến nhà bạch y khất
thực. Gặp lúc trời mưa lớn, có người nữ cúi người xuống
để khơi thông nước ngập nên lộ hình. Vị kia nghĩ: «Ta
không xúc chạm nơi thân người nữ, mà chỉ dùng nam căn để
vào, có lẽ không phạm.» Nghĩ rồi hành dâm, và nghi. Đức
Phật dạy:
«Phạm
ba-la-di.»
11.
Thế Tôn ở tại nước Xá-vệ. Có tỳ-kheo đến nơi a-lan-nhã,
ngủ ngày. Bấy giờ, có người nữ hái củi hành dâm bên
trên thân của tỳ-kheo, rồi bỏ đi. Cách tỳ-kheo không xa,
đứng lại. Tỳ-kheo thức dậy, thấy thân mình bất tịnh
dơ bẩn, nghĩ: «Chắc người nữ này hành dâm bên trên thân
của ta.» Sanh nghi. Đức Phật hỏi:
«Ngươi
có biết không?»
Vị
kia thưa:
«Không
biết.»
Đức
Phật dạy không phạm. Nhưng tỳ-kheo không được ban ngày
mà ngủ chỗ khuất như vậy.
Thế
Tôn ở tại nước Bà-kỳ-đề. Bấy giờ có tỳ-kheo trụ
nơi a-lan-nhã, ngủ ngày. Có người nữ gánh cỏ, hành dâm
bên trên thân của tỳ-kheo. Tỳ-kheo bất ngờ biết, nhưng
không thọ lạc; liền đuổi đánh người nữ. Tỳ-kheo nghi,
đức phật hỏi:
«Ngươi
có thọ lạc hay không?»
Vị
kia thưa:
«Không
thọ lạc.»
Đức
phật dạy:
«Ngươi
không phạm. Nhưng đánh người nữ. Phạm đột-kiết-la.»
12.
Thế Tôn ở tại nước Chiêm-bà. Có tỳ-kheo đến chỗ a-lan-nhã,
ban ngày tư duy, buộc niệm trước mặt. Tỳ-kheo này là bậc
A-la-hán. Bị gió gắt, nam căn khởi. Bấy giờ, có tặc nữ
cưỡng bức tỳ-kheo hành dâm. Các tỳ-kheo nói như vầy: «A
la hán còn có dục, nên nam căn khởi chăng?» Các tỳ-kheo bạch
Phật. Đức Phật dạy:
«Có
năm nhơn duyên khiến cho nam căn khởi: đại tiện thúc bách,
tiểu tiện thúc bách, gió gắt, trùng ủy-châu-lăng-già[8]
cắn, có dục tâm. Đó là năm nhơn duyên khiến cho nam căn
khởi. Không có trường hợp A-la-hán nam căn khởi do có dục
tâm.»
13.
Thế Tôn ở tại thành Vương-xá.
Bấy
giờ nam căn của Vương tử Vô Úy bị bệnh, khiến người
nữ ngậm, sau đó được lành. Được lành rồi, Vương tử
lại hành dâm nơi miệng người nữ này. Người nữ này ưu
sầu không vui nên nghĩ: «Nếu khi nào Vua Bình-sa đến, ta sẽ
trùm đầu, để lộ hình, đứng trước mặt người. Nếu
Vua hỏi: ‘Ngươi điên hay sao? Tại sao làm như vậy?’ Khi
ấy ta sẽ trả lời: ‘Tôi không điên. Nhưng vì Vương tử
cần nên tôi phải trùm đầu lại để giữ. Tại sao vậy?
Vương tử thường hành dâm nơi miệng tôi, nên tôi phải trùm
đầu lại để giữ miệng.’»
Sau
đó Vua Bình-sa đến chỗ Vô úy. Người nữ kia làm như đã
nghĩ trước mặt Vua. Vua hỏi:
«Ngươi
điên phải không? Tại sao làm như vậy?»
Người
nữ trả lời:
«Tôi
không điên. Nhưng vì Vương tử cần nên tôi phải trùm đầu
lại để giữ.»
Vua
liền kêu Vô Úy đến hỏi:
«Tại
sao con lại hành dâm nơi miệng của thị nữ?»
Vô
Úy nghe như vậy rất hổ thẹn. Sau đó Vương tử Vô Úy nói
người nữ này có tội, cho mặc áo đen, để đứng bên ngoài
cửa thành, với lời rao: «Nếu ai có mắc bệnh như vậy thì
hành dâm nơi miệng người nữ này sẽ được lành bệnh.»
Các
tỳ-kheo nghĩ: «Nếu cần trị bệnh thì nên đem nam căn để
vào trong miệng người nữ bảo họ ngậm lại thì không phạm
phải không?»
Đức
Phật dạy:
«Phạm
ba-la-di.»
14.
Bấy giờ có một thị trấn tên là Bà-lâu-việt-xa,[9] Vua
tự là Hải. Có một dâm nữ bị tội, Vua truyền lệnh: «Lóc
thịt hai bên nữ căn của người ấy để trị phạt.» Lệnh
ấy được thi hành. Các tỳ-kheo nói: «Nếu đối với người
còn sống mà hành dâm giữa hai đốt xương, có bị phạm hay
không?» Đức Phật dạy:
«Phạm
thâu-lan-giá.»
II.
BẤT DỮ THỦ
1.
Ưu-ba-ly thỉnh vấn
Thế
Tôn ở tại thành Vương-xá. Bấy giờ Ưu-ba-ly từ chỗ ngồi
đứng dậy, để trống vai bên hữu, đầu gối bên hữu chấm
đất, chắp tay thưa:
«Kính
bạch đức Thế Tôn, Đại đức Đà-ni-già, con ông thợ gốm,
lấy cây gỗ của Vua. Không cho mà lấy như vậy có phạm không?»
Đức
Phật dạy:
«Mới
ban đầu chưa chế giới, không phạm.»
Ưu-ba-ly
lại bạch Phật:
«Bạch
Đại đức, nếu chỗ đồng trống, lấy vật có người thủ
hộ, giá trị năm tiền hoặc hơn năm tiền. Có phạm hay không?»
Đức
Phật dạy:
«Phạm
ba-la-di.»
«Vật
của người khác tưởng là vật của người khác, giá trị
năm tiền hoặc hơn năm tiền, không được cho mà lấy, phạm
hay không?»
Đức
Phật dạy:
«Phạm
ba-la-di.»
«Vật
của người khác hay nghi, giá trị năm tiền hoặc hơn năm
tiền, không cho mà lấy. Có phạm hay không?»
Đức
Phật dạy:
«Phạm
thâu-lan-giá.»
«Chẳng
phải vật của người khác, tưởng là vật của người khác,
giá trị năm tiền hoặc hơn năm tiền, lấy, phạm thâu-lan-giá.
Chẳng phải vật của người khác, nghi, giá trị năm tiền
hoặc hơn năm tiền, không cho mà lấy, phạm hay không?»
Đức
Phật dạy:
«Phạm
thâu-lan-giá.»
«Vật
của người tưởng là vật của người, giá trị dưới năm
tiền, không cho mà lấy, phạm hay chăng?»
Đức
phật dạy:
«Phạm
thâu-lan-giá.»
«Vật
của người, nghi, dưới năm tiền, không cho mà lấy phạm
hay không?»
Đức
Phật dạy:
«Phạm
đột-kiết-la.»
Chẳng
phải vật của người, tưởng là vật của người, dưới
năm tiền, không cho mà lấy, phạm hay không? Đức Phật dạy:
«Phạm
đột-kiết-la.»
«Chẳng
phải vật của người, nghi, dưới năm tiền, không cho mà
lấy, phạm hay không?»
Đức
Phật dạy:
«Phạm
đột-kiết-la.»
«Nếu
khởi ý tưởng là người nữ mà lấy vật của người nam,
năm tiền hay hơn năm tiền, không cho mà lấy, phạm hay không?»
Đức
Phật dạy:
«Phạm
ba-la-di.»
«Nếu
ý tưởng là người nam mà lấy vật của người nữ, năm
tiền hoặc trên năm tiền, không cho mà lấy, phạm hay không?»
Đức
Phật dạy:
«Phạm
ba-la-di.»
«Nếu
khởi ý tưởng là người nữ này mà lấy vật của người
nữ khác, phạm hay không?»
Đức
Phật dạy:
«Phạm
ba-la-di.»
«Nếu
khởi ý tưởng là người nam này mà lấy vật của người
nam khác, phạm hay không?»
Đức
Phật dạy:
«Phạm
ba-la-di.»
2.
Vật gia dụng
1.
Thế Tôn ở tại Ba-la-nại. Gặp lúc mất mùa nhân dân đói
khát, khất thực khó được. Bấy giờ, có tỳ-kheo khất thực,
buổi sáng khoác y, bưng bát đến nhà bạch y. Nơi đó có người
nữ dùng đồ đựng đầy thức ăn để dưới đất rồi vào
nhà trong. Tỳ-kheo kia nhìn quanh thấy không có ai, bèn nghĩ:
«Ta lấy thức ăn này. Có ích cho ta.» Nghĩ như vậy rồi lấy
đi. Vị kia nghi, đức Phật hỏi:
«Với
tâm niệm như thể nào khi lấy?»
Vị
kia thưa:
«Lấy
với tâm ăn trộm.»
Đức
Phật dạy:
«Nếu
trị giá đủ năm tiền, lấy khỏi chỗ cũ, phạm ba-la-di.
Lương khô, cơm, cá, thịt, khư-xà-ni, tất cả các thứ như
trên mà trị giá năm tiền, lấy khỏi chỗ cũ, phạm ba-la-di.»
2.
Có tỳ-kheo khất thực, buổi sáng khoác y, bưng bát đến nhà
bạch y, thấy có cái bồn bằng đồng. Nhìn chung quanh không
thấy ai, tự nghĩ: «Cái này đối với ta có ích.» Nghĩ như
vậy rồi lấy đi, nhưng nghi. Đức Phật hỏi:
«Với
tâm niệm thế nào khi ngươi lấy?»
Vị
đó thưa:
«Với
tâm trộm cắp.»
Đức
Phật dạy:
«Nếu
trị giá năm tiền, lấy khỏi chỗ cũ, phạm ba-la-di.»
3.
Có tỳ-kheo khất thực, sáng sớm khoác y, bưng bát đến nhà
cư sĩ thấy có chiếc ghế đơn.[10] tỳ-kheo nhìn chung quanh
không thấy ai, liền nghĩ: «Chiếc ghế này có ích cho ta.»
Nghĩ như vậy rồi lấy đi, nhưng nghi. Đức Phật hỏi:
«Khi
thầy lấy với tâm niệm như thế nào?»
Vị
đó thưa:
«Với
tâm trộm cắp.»
Đức
Phật dạy:
«Nếu
trị giá đủ năm tiền, lấy khỏi chỗ cũ, phạm ba-la-di.»
3.
Y phục
1.
Có tỳ-kheo đến chỗ giặt y, lấy y của người khác đi,
nhưng nghi. Đức Phật hỏi:
«Ngươi
lấy với ý nghĩ như thế nào?»
Vị
đó nói: «Lấy với tâm trộm cắp.»
[976a1]Đức
Phật dạy:
«Nếu
trị giá đủ năm tiền, lấy khỏi chỗ cũ, phạm ba-la-di.»
2.
Có tỳ-kheo đi cách chỗ giặt y không xa, thấy có chiếc y
quý giá phơi, để ý, với ý nghĩ sẽ trở lại lấy, sanh
nghi. Đức Phật hỏi:
«Khi
ngươi muốn lấy với tâm niệm như thế nào?»
Vị
đó thưa:
«Với
tâm ăn trộm.»
Đức
Phật dạy:
«Phương
tiện tìm cầu năm tiền, chưa lấy khỏi chỗ cũ, phạm thâu-lan-giá.»
3.
Có tỳ-kheo khất thực, sáng sớm đắp y mang bát đến nhà
bạch y, thấy bên dưới cửa có phơi một chiếc y quý giá,
lấy chân lật qua để xem, rồi nghi. Đức Phật hỏi:
«Với
ý nghĩ như thế nào trong khi làm như vậy?»
Vị
đó thưa:
«Với
tâm niệm kẻ trộm.»
Đức
Phật dạy:
«Phương
tiện tìm cầu năm tiền, chưa dời khỏi chỗ cũ, phạm thâu-lan-giá.»
4.
Có tỳ-kheo khất thực, sáng sớm khoác y, bưng bát đến nhà
bạch y, thấy có cái giường đơn. Nhìn chung quanh không thấy
ai, tự nghĩ: «Cái này đối với ta có ích.» Bèn lấy đi;
rồi nghi. Đức Phật hỏi:
«Với
ý nghĩ như thế nào khi ngươi lấy?»
Vị
đó thưa:
«Với
tâm ăn trộm.»
Đức
Phật dạy:
«Ba-la-di.»
5.
Có tỳ-kheo khất thực, sáng sớm khoác y, bưng bát đến nhà
thế gian, thấy có cái giường ngồi một người và y. Nhìn
chung quanh không thấy ai, tự nghĩ: «Đối với ta cái này có
ích.» Bèn lấy đi; rồi nghi. Đức Phật hỏi:
«Khi
ngươi lấy với ý nghĩ thế nào?»
Vị
đó thưa:
«Với
tâm của kẻ trộm.»
Đức
Phật dạy:
«Trị
giá năm tiền, lấy khỏi chỗ cũ, phạm ba-la-di.»