CHƯƠNG
II.
TẠP
SỰ
1.
Bát
Thế
Tôn ở tại Ba-la-nại, thì bấy giờ có năm tỳ-kheo đến
chỗ đức Phật, đầu diện kính lễ sát chân rồi ngồi lui
qua một bên, bạch Phật chúng con nên thọ trì loại bát nào?
Đức Phật dạy:
«Cho
phép thọ trì bát ca-la, bát xá-la.»[1]
Bấy
giờ, có tỳ-kheo vào trong Tăng thọ thực mà không có bình
bát. Đức Phật dạy:
«Vị
ngồi cạnh nên cho. Nếu trong Tăng có hai loại bát này thì
nên cho mượn.»
Bấy
giờ, có tỳ-kheo bị rắn phun nọc độc trong bát, không rửa
mà dùng để ăn. Ăn xong bị bệnh. Các tỳ-kheo bạch Phật.
Đức Phật dạy:
«Không
nên không rửa bát mà đựng thức ăn để ăn. Cho phép, rửa
bát rồi mới đựng đồ ăn.»
2.
Dao
Các
tỳ-kheo tóc dài. Phật cho phép cạo. Hoặc tự cạo, hoặc
nhờ người cạo. Cần dao cạo, cho phép sắm. Có vị dùng
vật báu làm cán dao. Đức Phật dạy, không được dùng vật
báu. Cho phép, dùng đồng, thiếc để làm. Có vị để dao
trần, khó cất giữ. Đức Phật cho phép làm bao dao. Có vị
dùng vật báu để làm. Đức Phật dạy không được dùng
vật báu để làm. Cho phép, dùng xương, ngà voi, đồng, sắt,
bạch lạp, chì, thiếc, cỏ xá-la, trúc, tre, cây để làm.
Có vị sợ khua động bao dao làm hư lưỡi dao, Phật cho dùng
vật mịn để ngăn, như lông, như kíp bối, như da chó. Nếu
sợ rơi, nên dùng sợi dây buộc dính lại. Nếu cầm nơi tay,
khó giữ; nên dùng cái đãy để đựng. Đựng trong đãy bị
rơi ra, nên dùng cái dây buộc miệng đãy lại. Nếu cầm đi,
sợ rơi mất, nên dùng sợi dây buộc nơi vai.
Bấy
giờ, các tỳ-kheo dùng dao. Dao bị cuốn lại. Cho phép mài[2]
trên tay. Nếu vẫn cuốn, thì nên mài trên đá. Tay cầm đá,
sợ mất; nên đựng trong túi dao. Nếu dao lụt, nên gọt.[3]
Hoặc mình tự gọt hay nhờ người gọt. Có vị cần dao để
gọt.[4] Đức Phật cho phép.
3.
Râu-tóc-móng
Tỳ-kheo
cạo tóc sợ tóc rơi trên y. Đức Phật cho phép sắm đồ
để hứng tóc. Các tỳ-kheo không biết làm như thế nào? Đức
Phật cho phép bện bằng tre; hoặc uốn gỗ làm cái vành rồi
cáng lá cây lên. Hoặc dùng một trong mười loại y để làm
đồ hứng tóc. Có vị để đồ hứng tóc dưới đất nên
khi để lên đầu gối để hứng, bùn, đất lang bẩn y. Phật
dạy, không được làm như vậy. Cho phép dùng sợi dây buộc
trên đầu cây trụ.
Tỳ-kheo
lông mũi dài. Phật cho phép nhổ. Hoặc tự mình nhổ hay nhờ
người nhổ. Có vị cần nhíp, đức Phật cho phép sắm. Có
vị dùng vật báu làm. Phật dạy, không được dùng vật báu
làm mà nên dùng xương, ngà voi, đồng, sắt, bạch lạp, chì,
thiếc để làm. Đầu nhíp bị sứt, nên bao bằng sắt. Cầm
tay, khó giữ gìn, cho phép để trong bao của dao cạo tóc.
Móng
tay của các tỳ-kheo dài. Phật cho phép cắt. Hoặc tự mình
cắt hay nhờ người cắt. Có vị cần dao để cắt móng tay,
Phật cho phép sắm. Có vị dùng vật quý báu để làm. Phật
dạy, không được dùng vật quý báu để làm. Cho phép dùng
đồng hay sắt để làm. Cầm nơi tay, kho giữ. Phật cho phép
dùng ống nhựa để đựng. Có vị dùng vật quý báu để
làm ống. Phật dạy, không được dùng vật quý báu để làm
mà nên dùng đồng, sắt, bạch lạp, chì, thiếc, tre hay cây
để làm. Sợ trong ống rơi ra nên nhét miệng ống lại. Có
vị dùng đồ quý báu để nhét. Phật dạy, không được dùng
đồ quý mà nên dùng đồng, thiếc, bạch lạp, chì, kẻm,
tre, cây để làm. Nếu sợ để riêng một chỗ bị rơi mất
thì nên để chung trong đãy của dao.
Bấy
giờ, có tỳ-kheo móng tay dài, đến nhà bạch y. Tỳ-kheo này
tướng mạo xinh đẹp, phụ nữ bạch y thấy liền để ý
và nói với tỳ-kheo rằng, tôi cùng thầy làm việc như vậy,
như vậy. Tỳ-kheo nói, đại tỷ đừng nói như vậy. Pháp
của chúng tôi không có việc ấy. Người phụ nữ nói, nếu
thầy không làm theo lời của tôi, tôi sẽ tự lấy móng tay
cào nơi mắt, nơi thân có thương tích, rồi khi chồng tôi
về tôi nói là thầy bảo tôi làm việc như vậy, như vậy,
tôi không chịu làm, thầy liền lấy móng tay cào nơi mặt,
nơi thân tôi, thương tích đến như vậy. Tỳ-kheo nghe nói
như vậy liền hoảng sợ, chạy vội vàng ra khỏi nhà. Trong
khi tỳ-kheo vừa chạy ra khỏi nhà thì người chồng cũng vừa
từ ngoài về lại nhà. Người phụ nữ kia liền tự lấy
móng tay cào vào thân vào mặt nói với người chồng rằng
tỳ-kheo bảo em làm việc như vậy, như vậy, em không đồng
ý. Tỳ-kheo liền cào vào mặt vào thân em nên có thương tích
như vậy. Người chồng liền đuổi theo bắt tỳ-kheo và nói:
«Ông
muốn phạm vợ tôi. Vợ tôi không đồng ý, ông cào vào mặt
vào mình vợ tôi có thương tích, là sao?»
Tỳ-kheo
trả lời:
«Này
cư sĩ, ông đừng nói như vậy. Pháp của chúng tôi không có
làm việc ấy.»
Người
chồng liền nói:
«Tại
sao ông bảo tôi đừng nói như vậy? Móng tay của ông dài
như vậy kia mà!»
Nói
xong, người chồng liền đánh tỳ-kheo gần chết. Các tỳ-kheo
bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Không
nên để móng tay dài.»
Nhóm
sáu tỳ-kheo cắt móng tay quá sát, khiến cho chảy máu. Phật
dạy, không được cắt như vậy. Có vị cắt móng tay như
hình bán nguyệt. Phật dạy, không được cắt như vậy. Có
vị cắt móng tay nhọn trên đầu. Phật dạy, không được
cắt như vậy. Có vị mài móng tay cho sáng. Phật dạy, không
được mài như vậy. Có vị nhuộm móng tay thành màu sắc.
Phật dạy, không được nhuộm như vậy. Đức Phật lại nói
với các tỳ-kheo:
«Các
ông là những người ngu si, tránh những điều ta chế cấm
này, để rồi làm bao nhiêu điều khác. Cho phép các tỳ-kheo
cắt móng tay vừa gần ngoài da.»
Phật
nói, dài nhất bằng hạt lúa là nên cắt.
Nhóm
sáu tỳ-kheo dùng kéo xén râu tóc. Phật dạy, không được
làm như vậy. Có vị cạo tóc mà không cạo râu. Đức Phật
dạy nên cạo cả râu tóc. Có vị cạo râu mà không cạo tóc.
Đức Phật dạy nên cạo cả râu tóc. Có vị nhổ tóc, Phật
dạy, không được nhổ. Có vị chừa tóc. Phật dạy, không
được để [946a1] như vậy. Có vị vuốt râu mép cho cong lên.
Phật dạy, không được vuốt như vậy.
«Các
ông là những người ngu si, tránh những điều ta đã chế
cấm này, để rồi làm bao nhiêu việc khác. Từ nay về sau,
râu tóc nên cạo hết.»
Các
tỳ-kheo không biết tóc dài bao nhiêu thì nên cạo. Đức Phật
dạy dài nhất là hai ngón tay, hoặc hai tháng cạo một lần,
đó gọi là dài nhất.
Nhóm
sáu tỳ-kheo chải râu tóc. Đức Phật dạy không nên chải
như vậy. Có vị dùng dầu thoa vào tóc. Phật dạy, không được
thoa như vậy.
Nhóm
sáu tỳ-kheo kẻ mí con mắt. Các cư sĩ thấy, cơ hiềm nói,
«Sa-môn Thích tử muốn nhiều không nhàm chán, mà tự xưng
mình biết chánh pháp. Nhưng như vậy có gì là chánh pháp?
Giống như người bạch y!» Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức
Phật dạy:
«Không
được kẻ mí mắt như vậy.»
Các
tỳ-kheo bị bệnh mắt, đức Phật cho phép nhỏ các loại
thuốc.
4.
Trang sức
Nhóm
sáu tỳ-kheo dùng gương soi mặt hoặc soi mặt dưới nước,
hay dùng vật mài cho có ánh sáng để soi mặt. Các cư sĩ thấy
cơ hiềm, nói: «Sa-môn Thích tử nhiều lòng ham muốn không
biết nhàm chán, mà tự xưng là mình biết chánh pháp. Nhưng
như vậy có gì là chánh pháp, trong khi soi gương giống như
người bạch y?» Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Không
nên làm như vậy.»
Có
tỳ-kheo bị mọc mụt nơi mặt, đức Phật cho phép các tỳ-kheo
khác xức thuốc giùm. Nếu một mình ở trong phòng, đức Phật
cho phép dùng kiếng soi mặt để xức thuốc. Có tỳ-kheo trau
chuốt thân, trau chuốt tóc. Phật dạy, không được làm như
vậy. Có tỳ-kheo nhổ nước bọt vào mình rồi chà xát. Đức
Phật dạy, không được làm như vậy.
Có
vị tắm rửa nơi chỗ đất trống, các cư sĩ thấy, cơ hiềm
nói: «Sa-môn Thích tử ham muốn nhiều không nhàm chán, mà
tự xưng là mình biết chánh pháp. Nhưng như vậy có gì là
chánh pháp, trong khi tắm rửa nơi chỗ đất trống như bạch
y!» Các tỳ-kheo bạch Phật. Phật dạy, Không được tắm
như vậy.
Có
tỳ-kheo nghĩ, tự đấm vào vai, vào cánh tay, cho nó nở to
đẹp. Phật dạy, không được làm như vậy. Có tỳ-kheo bôi
hương vào mình cho thơm. Phật bảo, không được như vậy.
Tỳ-kheo lo ngại thân mình hôi hám vì mồ hôi, đức Phật
cho phép dùng dao để nạo mồ hôi. Có vị dùng vật báu làm.
Phật dạy, không được dùng vật báu để làm mà nên dùng
xương, ngà voi, đồng, thiếc, sắt, kẽm, cỏ xá la, tre, cây
để làm. Nhóm sáu tỳ-kheo làm dao nạo mồ hôi, cái đầu
giống như dao cạo tóc, khi nạo mồ hôi, lông trong người
cũng đứt luôn. Phật dạy, không được làm như vậy, cũng
không nên cất chứa dao như vậy.
Có
tỳ-kheo bị bệnh ghẻ lở, dùng thuốc bột thô để rửa
nên bị đau. Đức Phật dạy, cho phép dùng thuốc bột thứ
mịn, hoặc là bùn mịn, hoặc lụa là, hoặc bông hay trái,
tuỳ theo sự thích hợp với thân người bệnh, cho phép người
rửa ghẻ dùng để trị các loại ghẻ, cho đến bệnh hôi
mồ hôi.
Nhóm
sáu tỳ-kheo đeo hoa tai. Phật dạy, không được làm như vậy.
Nhóm sáu tỳ-kheo gắn hạt châu trên vành tai. Phật bảo, không
được như vậy. Nhóm sáu tỳ-kheo đeo khoen tai. Phật bảo,
không được như vậy. Nhóm sáu tỳ-kheo dùng lá đa-la, hoặc
chì hoặc thiếc làm cái vòng căng lớn lỗ tai. Phật dạy,
không được làm như vậy. Nhóm sáu tỳ-kheo quấn thuỳ tai
lại. Phật dạy, không được làm như vậy.
Có
vị làm dây lưng bằng chì. Phật dạy, không được làm như
vậy. Có vị đeo anh lạc quanh cổ. Phật dạy, không được
đeo như vậy. Có vị đeo xuyến nơi tay chân. Phật dạy, không
được đeo như vậy. Các vị kia đeo khoen[5] nơi ngón tay. Phật
dạy, không được đeo như vậy. Có vị dùng chỉ năm màu
buộc nơi nách, nơi lưng, nơi cánh tay. Phật dạy, không được
buộc như vậy. Có vị đeo nhẫn.[6] Phật dạy, không được
đeo như vậy.
5.
Thần biến thị đạo
Thế
Tôn ở tại thành Vương xá. Bấy giờ, Lục sư ngoại đạo
cùng đệ tử ở chung với nhau. Bất-lan Ca-diếp[7] cùng chín
vạn đệ tử. Mạt-khư-la Cù-xa-la[8] cùng tám vạn đệ tử.
Cứ như vậy giảm dần cho đến Ni-kiền Tử[9] cùng bốn vạn
người. Khi ấy tại thành Vương xá, có trưởng giả là đệ
tử của Lục sư nhận được một khúc gỗ chiên đàn, dùng
làm cái bình bát đựng trong cái đãy bằng vật báu, treo lên
cây trụ biểu cao trước sân, cùng với lời công bố: «Nếu
trong thành Vương xá này có Sa-môn, Bà-la-môn là A-la-hán có
đại thần lực, thì cứ lấy chiếc bát này đi.» Khi ấy
Phú-lan[10] Ca-diếp đến chỗ ông trưởng giả nói:
«Tôi
là A-la-hán có đại thần lực. Xứng đáng thọ trì chiếc
bát cùng với đãy. Hãy lấy cho tôi.»
Ông
trưởng giả nói:
«Nếu
ông là A-la-hán có đại thần lực thì tôi cho ông. Ông hãy
lên mà lấy.»
Vị
kia muốn lấy nhưng không cách nào lấy được. Bấy giờ,
Mạt-khư-la Cù-xa-la, A-di-đầu Xí-xá-khâm-bà-la, Ba-cù Ca-chiên-diên,
San-đâu Tỳ-la-tra Tử, Ni-kiền-đà Nhã-đề Tử, đều đến
chỗ trưởng giả nói:
«Tôi
là A-la-hán có đại thần lực. Xứng đang thọ trì chiếc
bát cùng với đãy. Hãy lấy cho tôi.»
Ông
trưởng giả nói:
«Nếu
ông là A-la-hán có đại thần lực thì tôi cho ông. Ông hãy
lên mà lấy.»
Các
vị kia muốn lấy mà không cách nào lấy được.
Bấy
giờ, Tân-đầu-lô,[11] Đại Mục-liên, cùng ngồi trên một
hòn đá lớn. Tân-đầu-lô nói với Mục-liên:
«Thầy
là A-la-hán có thần túc, đã được đức Thế Tôn thọ ký
vào hạng nhất. Thầy có thể đến đó để lấy.»
Mục-liên
nói:
«Tôi
chưa từng hiện thần túc trước người bạch y. Thầy cũng
là A-la-hán có đại thần lực, đã được đức Thế Tôn
thọ ký cho là sư tử hống vào hàng tối thượng bậc nhất.[12]
Thầy có thể đến đó lấy.»
Khi
Tân-đầu-lô nghe Mục-liên nói rồi, liền cùng với hòn đá
vụt mình lên hư không, bay quanh thành Vương-xá bảy vòng.
Người trong nước thấy, sợ đá rơi nên lấn nhau chạy trốn.
Bấy giờ, ông trưởng giả kia từ trên lầu gác, nhìn thấy
Tân-đầu-lô ở trên hư không, liền chắp tay kính lễ, thưa
rằng:
«Lấy
chiếc bát đi, Tân-đầu-lô!»
Tân-đầu-lô
liền lấy chiếc bát. Ông trưởng giả lại nói:
«Xin
dừng lại một chút, Tân-đầu-lô!»
Tân-đầu-lô
liền dừng lại một chút. Ông trưởng giả tự tay lấy bát
và đựng đầy thức ăn ngon bổ dâng cho Tân-đầu-lô. Tân-đầu-lô
nhận lại chiếc bát, trở lại dùng thần túc lực nương
nơi hư không mà đi. Các tỳ-kheo nghe chuyện, trong đó có vị
thiểu dục tri túc, sống khổ hạnh, ưa học giới, biết hổ
thẹn, hiềm trách Tân-đầu-lô rằng: «Sao lại hiện thần
thông trước người bạch y?» Các tỳ-kheo đến chỗ đức
Thế Tôn, đầu diện kính lễ sát chân rồi ngồi lui qua một
bên, đem nhơn duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn.
Đức Thế Tôn dùng nhơn duyên này tập hợp tỳ-kheo Tăng,
biết mà vẫn hỏi Tân-đầu-lô:
«Thầy
có hiện thần túc trước người bạch y không?
«Kính
bạch đức Thế Tôn! thật có.»
Đức
Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách Tân-đầu-lô:
«Thầy
làm việc sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn,
chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm
điều không nên làm. Tại sao đối trước người bạch y mà
hiện thần túc? Giống như dâm nữ vì nửa đồng tiền mà
trình diện trước mọi người. Thầy cũng như vậy, vì chiếc
bát bằng gỗ không đáng gì mà đối trước bạch y hiện
thần túc.» Phật dạy:
«Không
nên đối trước bạch y hiện thần túc. Nếu hiện, phạm
đột-kiết-la. Tỳ-kheo không nên chứa cất bát bằng chiên-đàn.
Nếu chứa thì sẽ trị như pháp.[13] Nếu nhận được bát
đã làm thành thì nên phá ra chia cho các tỳ-kheo làm thuốc
trị mắt.»
Bấy
giờ, các ngoại đạo nghe Sa-môn Cù-đàm cấm các tỳ-kheo
không được hiện thần túc trước người bạch y. Bèn nghĩ,
«Điều mà Sa-môn ấy cấm chế thì trọn đời không ai phạm.
Nay chúng ta có thể đến chỗ họ nói rằng: ‘Này Sa-môn
Cù-đàm, các ông tự xưng là đắc A-la-hán, chúng tôi cũng
là A-la-hán. Các ông tự xưng là có thần túc, chúng tôi cũng
có thần túc. Các ông tự xưng là đại trí [947a1] tuệ, chúng
tôi cũng có đại trí tuệ. Nay chúng ta có thể cùng hiện
thần lực, pháp thượng nhân. Nếu Sa-môn Cù-đàm hiện một
pháp thượng nhân, thì chúng tôi sẽ hiện hai. Nếu hiện hai
chúng tôi sẽ hiện bốn. Sa-môn Cù-đàm hiện bốn pháp thượng
nhân, thì chúng tôi sẽ hiện tám. Nếu hiện tám thì chúng
tôi sẽ hiện mười sáu. Nếu hiện mười sáu chúng tôi sẽ
hiện ba mươi hai. Nếu hiện ba mươi hai chúng tôi sẽ hiện
sáu mươi bốn. Nếu Sa-môn hiện tăng lên, chúng tôi cũng sẽ
hiện tăng gấp đôi.’»
Các
ngoại đạo đi khắp mọi nơi ở trong thành, tuyên truyền
nói rằng: «Sa-môn Cù-đàm tự xưng là có thần lực, thì
chúng tôi cũng có thần lực. Tự xưng có đại trí tuệ, thì
chúng tôi cũng có đại trí tuệ. Nay chúng tôi muốn cùng Sa-môn
Cù-đàm thi đấu hiện thần lực, pháp thượng nhân. Nếu
Sa- môn Cù-đàm hiện một, chúng tôi sẽ hiện hai, tùy theo
Sa-môn Cù-đàm hiện nhiều hay ít, chúng tôi cũng sẽ hiện
gấp bội.»[14]
Trong
thành Vương xá có một chỗ đất bằng phẳng và rất rộng.
Các trưởng giả đem nhiều hoa hương, anh lạc, kỹ nhạc,
tràng phan, thức ăn, y phục, thuốc men, ngọa cụ đến cúng
dường cho Bà-già-bà[15] của ngoại đạo tại đây. Bấy giờ,
có trưởng giả nọ muốn lấy hoa để cúng dường ngoại
đạo, đưa tay vào để lấy thì lại không lấy được. Muốn
lấy hương anh lạc, tràng phan, kỹ nhạc, ẩm thực, y phục,
thuốc men, ngọa cụ để cúng, bàn tay vừa đưa vào để lấy
thì cũng không lấy được. Trong khi ấy, có vị trưởng giả
kia muốn lấy hoa để cúng dường Phật thì đưa tay vào lấy
không có gì trở ngại. Như vậy, tùy ý ông trưởng giả muốn
lấy bất cứ thứ gì, cho đến thuốc men, ngọa cụ để cúng
cũng đều không trở ngại. Ông trưởng giả liền khởi ý
nghĩ: «Hy hữu thay! Thế Tôn có đại thần lực như vậy.»
Ông liền bạch Phật:
«Cúi
xin đức Thế Tôn cùng đại tỳ-kheo Tăng nhận lời mời thọ
thực của con vào ngày mai.»
Đức
Thế Tôn im lặng nhận lời. Ông trưởng giả biết đức Thế
Tôn im lặng nhận lời rồi, liền đến trước kính lễ sát
chân Phật rồi cáo lui. Về đến nhà, trong đêm, chuẩn bị
mọi thức ăn ngon bổ rồi, sáng ngày ông trưởng giả đến
báo giờ. Đức Thế Tôn đắp y bưng bát cùng đại tỳ-kheo
Tăng một ngàn hai trăm năm mươi vị đến nhà ông trưởng
giả. Khi đức Thế Tôn bước đi, nơi dấu chân có đại thần
lực khiến chư thiên trên hư không dùng hoa trời mạn-đà-la,
hương chiên đàn, mạt hương, hoa ưu-bát-la, hoa bát-đầu-ma,
hoa câu-mâu-đầu, hoa phân-đà-lợi rải nơi dấu chân đức
Phật và trổi kỹ nhạc cõi trời ca tụng tán thán Phật.
Vị trưởng giả đi theo sau đức Thế Tôn với ý nghĩ: «Âm
thanh này là từ dưới đất phát ra hay từ trên trời đưa
lại?» Trưởng giả ngửa nhìn lên hư không, từ xa thấy hoa
trời mạn-đà-la cho đến hoa phân-đà-lợi, và kỹ nhạc cõi
trời cũng từ trong hư không bèn nghĩ: «Âm thanh này không
phải từ dưới đất mà là từ trên không đưa lại.» Đức
Thế Tôn đến nhà ông trưởng giả, an tọa nơi chỗ ngồi.
Bấy
giờ, các ngoại đạo nghe việc này, liền nghĩ: Ông trưởng
giả này xưa nay thường cúng dường cho chúng ta, nay tại sao
lại thỉnh Phật và Tăng đến cúng dường? Chúng ta có thể
đến khiến cho ông ta không đủ chỗ và thức ăn để thết
đãi!» Nghĩ xong các ngoại đạo liền cùng quyến thuộc đến
nhà ông trưởng giả. Người giữ cửa thấy các ngoại đạo
cùng quyến thuộc đến, liền vào thưa với ông trưởng giả
rằng:
«Thưa
ông chủ, các ngoại đạo cùng quyến thuộc đến, cho vào
hay không?»
Ông
trưởng giả nói: «Đừng cho vào.»
Đức
Phật bảo ông trưởng giả:
«Nên
cho họ vào.»
Ông
trưởng giả bạch Phật:
«Ngoại
đạo đông người. Chỗ nơi chật hẹp, sợ không dung hết.»
Đức
Phật dạy:
«Cứ
mời vào, nhường nhau thì đủ.»
Ông
trưởng giả lại nói:
«Ngoại
đạo đông người, chỗ ngồi có hạn, thức ăn có hạn, chỉ
đủ cúng Phật và một ngàn hai trăm năm mươi vị Tăng, sợ
không đủ.»
Đức
Phật nói với ông trưởng giả:
«Cứ
mời vào. Nhường nhau thì thức ăn sẽ đủ.»
Đức
Thế Tôn dùng thần túc lực khiến cho mặt đất trở thành
bằng phẳng, rộng lớn. Nhìn về phương Đông, vô số trăm
ngàn toà cao tự nhiên xuất hiện. Phương Nam, Tây, Bắc cũng
lại như vậy. Bấy giờ, đức Thế Tôn cùng một ngàn hai
trăm năm mươi tỳ-kheo Tăng, cùng các ngoại đạo đều đủ
chỗ ngồi. Ông trưởng giả trưng bày các thức ăn ngon bổ
cúng dường đức Phật, tỳ-kheo Tăng và các ngoại đạo,
tất cả đều đầy đủ. Phật ăn xong, cất bát. Ông trưởng
giả lấy chiếc ghế thấp, ngồi trước đức Phật. Đức
Thế Tôn vì ông trưởng giả dùng vô số phương tiện nói
pháp, giáo hóa, khiến được hoan hỷ. Nói pháp xong, đức
Phật từ chỗ ngồi cáo lui.
Bấy
giờ các ngoại đạo cùng quyến thuộc đều đến chỗ Vua
Bình-sa, chắp tay trên đầu, nói:
«Cầu
nguyện cho Vua thường thắng.»
Rồi
tâu:
«Sa-môn
Cù-đàm tự nói là A-la-hán, chúng tôi cũng là A-la-hán. Sa-môn
Cù-đàm tự nói có thần thông, chúng tôi cũng có thần thông.
Sa-môn Cù-đàm tự xưng có đại trí tuệ, chúng tôi cũng có
đại trí tuệ. Nay chúng tôi muốn cùng Sa-môn Cù-đàm thi đua
về thần lực và pháp thượng nhơn xem thử ai hơn. Nếu Sa-môn
Cù Đam hiện một, chúng tôi sẽ hiện hai, cứ như vậy tùy
Sa-môn Cù-đàm hiện nhiều hay ít, thì chúng tôi sẽ hiện
gấp bội họ. Thưa đại vương, nay chúng tôi muốn cùng Sa-môn
Cù-đàm thi đua về hiện thần lực và pháp thượng nhơn.»
Bấy
giờ, Vua Bình-sa đến chỗ đức Phật, đầu diện kính lễ
sát chân rồi ngồi lui qua một bên, đem sự việc vừa rồi
bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn và thưa:
«Cúi
xin đức Thế Tôn cùng ngoại đạo thi đua về hiện thần
lực và pháp thượng nhơn.» Đức Thế Tôn nói với Vua rằng:
«Thôi,
đủ rồi! Như lai tự biết thời, Khi nào cần hiện thì sẽ
hiện. Hãy làm theo điều Vua muốn. Sáng mai Như Lai sẽ ra đi.»
Sáng
ngày, đức Thế Tôn cùng đại tỳ-kheo chúng từ thành Vương-xá
ra đi. Vua Bình-sa dùng năm trăm cổ xe chở các thức ăn ngon
bổ theo sau đức Thế Tôn. Các ngoại đạo nghe đức Thế
Tôn sáng sớm từ thành Vương-xá ra đi, liền nói:
«Sa-môn
Cù-đàm không có thể cùng chúng ta thi đua thần thông nên
đã ra đi.»
Vua
Bình-sa dùng năm trăm chiếc xe chở thức ăn ngon bổ là cho
chúng ta chứ không phải là cho Sa-môn Cù-đàm. Nay chúng ta
có thể đến chỗ mà Cù-đàm đi đến để nói với Cù-đàm
cùng chúng ta thi thố thần lực và pháp thượng nhơn.
Các
ngoại đạo liền đi theo sau đức Thế Tôn. Vua Bình-sa nghe
đức Phật cùng một ngàn hai trăm năm mươi tỳ-kheo sớm đã
từ thành Vương-xá ra đi, Vua cùng tám mươi bốn ngàn tùy
tùng cũng đi theo sau đức Thế Tôn. Phạm Thiên Vương, Thích
Đề-hoàn Nhơn, Tứ thiên vương, vô số chư thiên, trăm ngàn
đại chúng cũng tùy tùng đức Thế Tôn. Bấy giờ, đức Thế
Tôn đến thành Ưu-thiền. Vua thành Ưu-thiền tên là Ba-la-thù-đề.[16]
Các ngoại đạo nước Ma-kiệt, và các ngoại đạo thành Ưu-thiền,
đều cùng đến chỗ vua Ba-la-thù-đề, chắp tay lên đầu,
nói lời khen ngợi:
«Nguyện
Vua thường thắng.» Nguyện xong nói:
«Sa-môn
Cù-đàm tự xưng mình là A-la-hán, chúng tôi cũng là A-la-hán;
tự xưng có thần lực, chúng tôi cũng có thần lực; tự xưng
có đại trí tuệ, chúng tôi cũng có đại trí tuệ. Chúng
tôi ở trong thành Vương-xá yêu cầu Cù-đàm cùng chúng tôi
biểu diễn thần lực và pháp hơn người, mà Sa-môn Cù-đàm
không thể cùng chúng tôi thi thố thần lực và pháp hơn người.
Nay chúng tôi muốn cùng Cù-đàm thi thố thần lực và pháp
hơn người. Nếu Sa-môn Cù-đàm hiện một, thì chúng tôi sẽ
hiện hai. Cứ như vậy tùy Sa-môn Cù-đàm hiện nhiều hay ít,
thì chúng tôi đều hiện gấp bội.»
Vua
Ba-la-thù-đề liền đến chỗ đức Phật, đầu diện kính
lễ sát chân rồi đem nhơn duyên này bạch đầy đủ lên đức
Thế Tôn:
«Lành
thay! đức Thế Tôn có thể cùng các ngoại đạo hiện thần
lực và pháp hơn người?»
Đức
Thế Tôn nói với vua Ba-la-thù-đề:
«Thôi,
đủ rồi! Như lai [948a1] tự biết thời, Khi nào cần hiện
thì sẽ hiện. Hãy làm theo điều Vua muốn. Sáng mai Như Lai
sẽ ra đi.»
Sáng
ngày, đức Thế Tôn rời khỏi thành Ưu-thiền. Vua Ba-la-thù-đề
dùng năm trăm cổ xe chở các thức ăn ngon bổ theo sau đức
Thế Tôn. Các ngoại đạo nghe đức Thế Tôn ra đi, tuyên bố
rằng: «Sa-môn Cù-đàm không thể cùng chúng ta biểu diễn
thần lực và pháp hơn người nên mới bỏ đi. Vua dùng năm
trăm chiếc xe để chở thức ăn cho chúng ta chứ không phải
cho Cù-đàm. Chúng ta sẽ đến chỗ Cù-đàm định đến để
cùng Cù-đàm biểu diễn thần lực và pháp hơn người.» Họ
liền đi theo sau đức Thế Tôn.
Bấy
giờ, Vua Bình-sa nghe đức Thế Tôn đã đi, liền cùng tám
mươi bốn ngàn người, vua Ba-la-thù-đề cùng bảy mươi ngàn
người, Thích, Phạm, Tứ thiên vương, chư thiên, đại chúng
vô số trăm ngàn quyến thuộc vây quanh tùy tùng đức Thế
Tôn. Đức Thế Tôn đến an trú trong vườn Cù-sư-la, nước
Câu-thiểm-di. Bấy giờ, Ưu-đà-diên là Vua. Các ngoại đạo
nước Ma-kiệt, các ngoại đạo nước Ưu-thiền, và các ngoại
đạo Câu-thiểm-di cùng đến chỗ vua Ưu-đà-diên chắp tay
tới đầu khen rằng:
«Nguyện
Vua thường thắng.» Nguyện như vậy rồi nói:
«Sa-môn
Cù-đàm tự xưng là A-la-hán, chúng tôi cũng là A-la-hán; tự
xưng là có đại thần lực, chúng tôi cũng có thần lực;
tự xưng là có đại trí tuệ, chúng tôi cũng có đại trí
tuệ. Khi Cù-đàm ở nước Ma-kiệt, nước Ưu-thiền, chúng
tôi có yêu cầu cùng biểu diễn thần lực và pháp hơn người,
mà Sa-môn Cù-đàm không thể cùng chúng tôi biểu diễn thần
lực và pháp hơn người nên bỏ đi. Nay chúng tôi muốn cùng
Sa-môn Cù-đàm biểu diễn thần lực và pháp hơn người. Nếu
Sa-môn Cù-đàm hiện một, thì chúng tôi sẽ hiện hai, cứ
như vậy tùy theo Sa-môn Cù-đàm hiện nhiều ít thì chúng tôi
cũng hiện gấp bội.»
Vua
Ưu-đà-diên đến chỗ đức Thế Tôn, đầu diện kính lễ
sát chân rồi ngồi qua một bên, đem nhơn duyên trên bạch
đầy đủ lên đức Thế Tôn:
«Lành
thay! đức Thế Tôn, hãy cùng các ngoại đạo hiển hiện thần
lực và pháp hơn người.»
Đức
Thế Tôn nói với Vua:
«Thôi,
đủ rồi! Như lai tự biết thời. Khi nào cần hiện thì sẽ
hiện. Hãy làm theo điều Vua muốn. Sáng mai Như Lai sẽ ra đi.»
Sáng
sớm hôm sau đức Như lai ra đi. Bấy giờ, vua Ưu-đà-diên
cùng năm trăm chiếc xe chở các thức ăn ngon bổ theo sau đức
Thế Tôn. Các ngoại đạo nghe đức Thế Tôn đi liền nói:
«Sa-môn Cù-đàm không thể cùng chúng ta biểu diễn thần lực
và pháp hơn người nên mới bỏ đi. Vua Ưu-đà-diên chở thức
ăn ngon bổ trên năm mươi cổ xe là vì chúng ta chứ không
phải vì Cù-đàm. Nay chúng ta có thể đến chỗ mà Cù-đàm
sẽ đến để biểu diễn thần lực và pháp hơn người.»
Họ liền đi theo sau đức Như Lai.
Bấy
giờ, Vua Bình-sa cùng tám mươi bốn ngàn tùy tùng, vua Ưu-thiền
cùng bảy mươi ngàn tùy tùng, vua Ưu-đà-diên cùng sáu mươi
ngàn tùy tùng tiến bước sau đức Thế Tôn, Thích, Phạm,
Tứ thiên vương, vô số trăm ngàn chư thiên đại chúng tùy
tùng sau đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đến an trụ trong vườn
Ni-câu-luật, nước Ca-duy-la-vệ. Vua Phạm Thí nước Ca-duy-la-vệ
là em khác mẹ với đức Phật.[17] Các ngoại đạo nước
Ma-kiệt, các ngoại đạo nước Ưu-thiền, các ngoại đạo
nước Câu-thiểm-di, và các ngoại đạo nước Ca-duy-la-vệ
cùng đến chỗ vua Phạm Thí, chắp tay lên đầu, nguyện Vua
thường thắng, rồi bạch với vua Phạm Thí rằng:
«Sa-môn
Cù-đàm tự xưng là A-la-hán, chúng tôi cũng là A-la-hán; tự
xưng có đại thần lực, chúng tôi cũng có đại thần lực;
tự xưng có đại trí tuệ, chúng tôi cũng có đại trí tuệ.
Khi ở nước Ma-kiệt, nước Ưu-thiền, nước Câu-thiểm-di,
chúng tôi cùng Sa-môn Cù-đàm thi thố thần lực và pháp hơn
người. Sa-môn Cù-đàm không thể cùng chúng tôi thi thố thần
lực và pháp hơn người nên bỏ đi. Nay chúng tôi muốn cùng
Sa-môn Cù-đàm biểu hiện thần lực và pháp hơn người. Nếu
Sa-môn Cù-đàm biểu hiện một thì chúng tôi sẽ biểu hiện
hai. Cứ như thế tùy theo Sa-môn Cù-đàm biểu hiện nhiều
hay ít thì chúng tôi cũng sẽ biểu hiện gấp bội.»
Vua
Phạm Thí đến chỗ đức Phật, đầu diện kính lễ sát chân
rồi ngồi qua một bên, bạch Phật rằng:
«Cúi
xin đức Thế Tôn biểu hiện thần lực và pháp hơn người.»
Đức
Phật nói với Vua:
«Thôi,
đủ rồi! Như lai tự biết thời, Khi nào cần hiện thì sẽ
hiện. Hãy làm theo điều Vua muốn. Sáng mai Như Lai sẽ ra đi
khỏi Ca-duy-la-vệ.»
Sáng
sớm hôm sau, đức Thế Tôn ra đi. Vua Phạm Thí liền dùng
năm trăm cổ xe chở các thức ăn đi theo đức Thế Tôn. Các
ngoại đạo nghe đức Thế Tôn ra đi, bèn nói: «Sa-môn Cù-đàm
không thể cùng chúng ta biểu hiện thần lực và pháp hơn
người nên mới bỏ chúng ta ra đi. Vua Phạm Thí chở năm trăm
chiếc xe thức ăn là vì chúng ta chứ không phải vì Sa-môn
Cù-đàm. Nay chúng ta nên đến chỗ Cù-đàm sẽ đến nói với
Cù-đàm cùng chúng ta biểu hiện thần lực và pháp hơn người.»
Các ngoại đạo liền cùng quyến thuộc đi theo sau đức Thế
Tôn.
Vua
Bình-sa nghe đức Phật đã đi liền cùng tám mươi bốn ngàn
tùy tùng, vua Ba-la-thù-đề cùng bảy mươi ngàn tùy tùng, vua
Ưu-đà-diên cùng sáu mươi ngàn tùy tùng, vua Phạm Thí cùng
năm trăm tùy tùng theo sau đức Thế Tôn, Thích, Phạm, Tứ
thiên vương cùng các quyến thuộc vô số trăm ngàn người
theo sau đức Thế Tôn.
Đức
Thế Tôn từ nước Ca-duy-la-vệ du hành nhơn gian đến an trụ
trong vườn Kỳ-hoàn nước Xá-vệ. Bấy giờ, vua nước Xá-vệ
là Ba-tư-nặc. Các ngoại đạo nước Ma-kiệt-đà, các ngoại
đạo nước Ưu-thiền, các ngoại đạo Câu-thiểm-di, các ngoại
đạo Ca-duy-la-vệ, và các ngoại đạo nước Xá-vệ cùng đến
chỗ vua Ba-tư-nặc chắp tay lên đầu, bạch rằng:
«Cầu
nguyện Vua thường thắng.» Cầu nguyện xong, nói:
«Sa-môn
Cù-đàm tự xưng là A-la-hán, chúng tôi cũng là A-la-hán; tự
xưng là có đại thần lực, chúng tôi cũng có đại thần
lực; tự xưng có đại trí tuệ, chúng tôi cũng có đại trí
tuệ. Khi Cù-đàm ở nước Ma-kiệt, thành Ưu-thiền, Câu-thiểm-di,
nước Ca-duy-la-vệ chúng tôi muốn cùng Cù-đàm biểu hiện
thần lực và pháp hơn người, mà Cù-đàm không thể cùng
chúng tôi biểu hiện thần lực và pháp hơn người nên bỏ
đi. Nay chúng tôi muốn cùng Sa-môn Cù-đàm biểu hiện thần
lực và pháp hơn người. Nếu Sa-môn Cù-đàm biểu hiện một
thì chúng tôi biểu hiện hai. Cứ như vậy tùy theo sự biểu
hiện nhiều hay ít của Sa-môn Cù-đàm mà chúng tôi biểu hiện
gấp bội.»
Vua
Ba-tư-nặc đến chỗ đức Thế Tôn, đầu diện kính lễ sát
chân rồi ngồi qua một bên, đem nhơn duyên trên bạch đầy
đủ với đức Thế Tôn:
«Lành
thay, đức Thế Tôn! Cúi xin ngài biểu hiện thần lực và
pháp hơn người.» Đức Phật bảo Vua:
«Thôi,
đủ rồi! Như Lai tự biết thời, Khi nào cần hiện thì sẽ
hiện. Vào tháng chạp, trong mười lăm ngày, từ mồng một
cho đến rằm, Như Lai sẽ hiện thần lực và pháp thượng
nhơn. Đại vương nếu muốn xem Như Lai hiện thần lực và
pháp thượng nhơn thì đến xem.»[18]
Bấy
giờ, tại nước Xá-vệ có một khu đất đặc biệt bằng
phẳng rộng rãi, đức Thế Tôn đến đó trải chỗ ngồi
an tọa.[19] Phạm thiên vương để trống vai bên hữu, đầu
gối bên hữu chấm đất, chắp tay bạch đức Thế Tôn:
«Con
sẽ trải một toà cao cho Thế Tôn.»
Đức
Phật bảo Phạm vương:
«Thôi,
được rồi. Như Lai tự biết thời.»
Trời
Đế Thích, Tứ thiên vương, Vua Bình-sa, vua Ba-la-thù-đề,
vua Ưu-đà-diên, vua Phạm Thí, vua Ba-tư-nặc, Mạt-lợi phu
nhân, trưởng giả Lê-sư-đạt-đa, Phú-la-na, tất cả đều
nói:
«Con
sẽ trải một toà cao cho Thế Tôn.»
Đức
Phật bảo:
«Thôi,
được rồi. Như Lai tự biết thời.»
Bấy
giờ, các cư sĩ có lòng tin đối với ngoại đạo, vì ngoại
đạo thiết lập trăm ngàn chỗ ngồi cao có giá trị. Những
người có lòng tin ưa, cung kính [949a1] cúng dường đức Thế
Tôn theo thứ tự, từ ngày một cho đến ngày thứ mười lăm.
Bấy
giờ đức Thế Tôn xoay mặt nhìn về phương Đông, tức thì
có vô số trăm ngàn chỗ toà cao tự nhiên xuất hiện. Phương
Nam, phương Tây, phương Bắc cũng lại như vậy. Ngay chính
giữa có tòa sư tử cao bằng bảy báu tự nhiên xuất hiện.
Như Lai an tọa trên đó. Bấy giờ các đại chúng đều an
tọa nơi chỗ ngồi. Theo thứ tự, vị đàn-việt cúng dường
ngày hôm ấy dâng cây dương chi lên đức Phật. Thế Tôn nhận
và xỉa răng xong, bỏ cây tăm phía sau lưng liền thành cây
đại thọ,[20] gốc nhánh cành lá sum suê. Đại chúng thấy
thần lực của đức Thế Tôn như vậy rất hoan hỷ, được
pháp vị tằng hữu, tâm yểm ly phát sanh. Đức Thế Tôn biết
đại chúng được pháp vị tằng hữu, sanh tâm yếm ly liền
vì họ dùng vô số phương tiện nói các pháp, khiến cho được
hoan hỷ. Bấy giờ, ngay trên chỗ ngồi, trăm ngàn người xa
lìa trần cấu, đặng con mắt pháp trong sạch. Đây là ngày
đầu đức Thế Tôn thị hiện thần lực biến hóa.
Ngày
thứ hai, cây kia trổ hoa, sắc hương đầy đủ. Hoa của cây
rơi xuống khắp nơi. Đại chúng gom lại cho đến đầu gối.
Tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di và cả đại chúng
đều ngửi được mùi hương của hoa này. Đại chúng thấy
thần lực biến hóa của Thế Tôn như vậy đều rất hoan
hỷ, được pháp vị tằng hữu, tâm yểm ly phát sanh. Đức
Thế Tôn biết đại chúng được pháp vị tằng hữu, tâm
yểm ly phát sanh, liền vì họ dùng vô số phương tiện nói
các bài pháp khiến họ được hoan hỷ. Bấy giờ, trên chỗ
ngồi, vô số trăm ngàn người xa trần cấu, đặng con mắt
pháp trong sạch. Đây là ngày thứ hai đức Thế Tôn thị hiện
thần lực biến hóa.
Ngày
thứ ba, trái của cây chín và tiết ra mùi thơm. Trái của
cây không đợi rung, tự rơi xuống đất mà không bị hư.
Tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di và đại chúng đều
cùng thọ thực. Dân chúng thấy thần lực biến hóa của đức
Thế Tôn như vậy rất hoan hỷ, được pháp vị tằng hữu,
tâm yểm ly phát sanh. Đức Thế Tôn quán sát biết đại chúng
được pháp vị tằng hữu, tâm yểm ly phát sanh, liền vì
họ nói pháp, cho đến đạt được con mắt pháp trong sạch
như trên. Đây là ngày thứ ba đức Thế Tôn thị hiện thần
lực biến hóa.
Bấy
giờ có đàn-việt theo thứ tự cúng dường, vào ngày thứ
tư dâng nước cho đức Thế Tôn. Thế Tôn lấy một vốc nước
đổ xuống chỗ đất phía trước. Do thần lực của Phật,
liền thành một cái ao lớn. Nước trong sạch không có bợn
nhơ. Người uống trừ được bệnh. Có các tạp hoa ưu-bát-la,
bát-đầu-ma, câu-mâu-đầu, phân-đà-lợi; các loài chim khác
lạ: chim le le, nhạn, uyên ương, các loài ba ba, rùa, cá trạnh,
các loài thủy tộc làm vật trang nghiêm cho cái ao lớn ấy.
Đại chúng thấy thần lực biến hóa của đức Thế Tôn như
vậy rất hoan hỷ, được pháp vị tằng hữu, tâm yểm ly
phát sanh. Đức Thế Tôn quán sát biết đại chúng được
pháp vị tằng hữu, tâm yểm ly phát sanh, liền vì họ nói
pháp, cho đến được con mắt pháp trong sạch như trên. Đây
là ngày thứ tư đức Như Lai thị hiện biến hóa như vậy.
Đến
ngày thứ năm, bốn phía của cái ao đều chảy ra một con
sông. Dòng nước chảy thẳng không uốn cong, yên lặng không
có sóng. Các loại hoa kỳ lạ đều trang nghiêm cho các con
sông. Dòng nước của bốn con sông tạo thành tiếng pháp,
tất cả các hành đều là vô thường, khổ, không, tất cả
các pháp đều vô ngã, Niết bàn tịch tĩnh. Đại chúng thấy
thần lực biến hóa của đức Thế Tôn như vậy rất hoan
hỷ, được pháp vị tằng hữu, tâm yểm ly phát sanh. Đức
Thế Tôn quan sát biết đại chúng nhận được pháp vị tằng
hữu, tâm yểm ly phát sanh, liền vì họ nói pháp, cho đến
đạt được con mắt pháp trong sạch, như trên. Đây là ngày
thứ năm đức Thế Tôn thị hiện biến hóa thần lực.
Ngày
thứ sáu, đức Thế Tôn hóa đại chúng đều như nhau không
có sự sai khác. Đại chúng thấy đức Thế Tôn dùng thần
lực biến hóa như vậy đều rất hoan hỷ, được pháp vị
tằng hữu, tâm yểm ly phát sanh. Đức Thế Tôn quan sát biết
đại chúng được pháp vị tằng hữu, tâm yểm ly phát sanh
liền vì họ nói pháp, cho đến đạt được con mắt pháp
trong sạch như trên. Đây là ngày thứ sáu đức Thế Tôn thị
hiện biến hóa như vậy.
Ngày
thứ bảy đức Thế Tôn ở trên không trung vì đại chúng
nói pháp, chỉ nghe tiếng nói của đức Như Lai mà không thấy
hình Như Lai. Đại chúng thấy thần lực biến hóa của đức
Thế Tôn như vậy rất hoan hỷ, thấy được những việc chưa
từng có, tâm yểm ly phát sanh. Đức Thế Tôn quán sát biết
đại chúng coi việc đó là chưa từng có, tâm yểm ly phát
sanh, liền vì họ nói pháp cho đến đạt được con mắt pháp
trong sạch như trên.
Ngày
thứ tám, các cư sĩ tin theo ngoại đạo sai người thưa với
các ngoại đạo: «Các ngài có biết chăng, Sa-môn Cù-đàm
đã hiện thần lực, nay đã tám ngày, sao các Ngài không đến?»
Thật
sự họ muốn đến mà không đến được. Đức Thế Tôn bảo
các tỳ-kheo:
«Giả
sử dùng sợi dây da thật bền chắn buộc thân của Bất-lan
Ca-diếp vào con bò cho nó kéo, khiến dây đứt, cả thân thể
rã; nếu không bỏ kiến giải của mình mà cố chấp luận
nghị, thì không thể đến chỗ ta được. Cho đến Ni-kiền
Tử v.v... cũng như vậy.»
Bấy
giờ, Phạm Thiên vương bảo Thiên đế Thích rằng:
«Các
ngoại đạo tự nói họ bằng với đức Thế Tôn, mà nay họ
không thể đến để cùng đức Thế Tôn giác đấu thần lực
được. Chúng ta hãy phá các cao toà kia.»
Thiên
đế Thích bảo Tứ thiên vương:
«Các
ngoại đạo tự nói họ bằng với đức Thế Tôn, mà nay họ
không thể đến để cùng đức Thế Tôn giác đấu thần lực
được. Chúng ta hãy phá các cao toà kia.»
Tứ
Thiên vương liền gọi thần gió, thần làm mây, thần làm
mưa, thần sấm sét đến bảo rằng:
«Các
ngoại đạo tự nói họ bằng với đức Thế Tôn, mà nay họ
không thể đến để cùng đức Thế Tôn giác đấu thần lực
được. Chúng ta hãy phá các cao toà kia, khiến cho tiêu tan,
không còn dấu vết gì nữa.»
Bấy
giờ, thần gió v.v... nghe Tứ Thiên vương dạy như vậy rồi,
liền phá các cao toà của ngoại đạo khiến không còn bất
cứ dấu vết nào. Bấy giờ các ngoại đạo bị mưa to gió
lớn thổi ướt dầm dề, liền trốn vào trong hang động,
cây cỏ rừng rú.
Có
ngoại đạo loã hình, ngoại đạo Tư-ni,[21] Ba-lê Tử Ba-tư-bà-xà-già,[22]
lấy một cục đá lớn buộc vào cổ, tự trầm mình xuống
hố sâu. Đại chúng thấy thần lực biến hóa của đức Thế
Tôn đều rất vui mừng, đắc pháp vị tằng hữu, tâm yểm
ly phát sanh. Đức Thế Tôn liền vì họ nói pháp, cho đến
đạt được con mắt pháp trong sạch như truớc. Đây là ngày
thứ tám đức Thế Tôn thị hiện biến hóa như vậy.
Ngày
thứ chín đức Thế Tôn ở trên đảnh Tu-di vì đại chúng
nói pháp mà chỉ nghe tiếng chứ không thấy hình. Đại chúng
thấy sự biến hóa của đức Thế Tôn như vậy rất hoan hỷ,
đắc pháp vị tằng hữu, tâm yểm ly của họ phát sanh. Đức
Thế Tôn liền vì họ nói pháp, cho đến đạt được con mắt
pháp trong sạch như trên. Đây là ngày thứ chín đức Thế
Tôn thị hiện biến hóa.
Ngày
thứ mười đức Thế Tôn nói pháp ở trên cõi Phạm thiên,
đại chúng chỉ nghe tiếng nói mà không thấy hình. Đại chúng
thấy đức Thế Tôn biến hóa như vậy đều rất hoan hỷ,
đắc pháp vị tằng hữu, tâm yểm ly phát sanh. Đức Thế
Tôn vì họ nói pháp, cho đến đạt được con mắt pháp trong
sạch, như trên. Đây là ngày thứ mười đức Thế Tôn thị
hiện biến hóa.
Ngày
thứ mười một, đức Thế Tôn ở trong đại chúng thị hiện
thần túc biến hóa[23] một thân thành nhiều thân, nhiều thân
thành một thân, lúc thì ở sát bên, lúc thì ở xa không thấy,
hoặc tuy chướng ngại do tường đá ngăn che ở gần núi,
nhưng thân Phật xuyên qua không có gì trở ngại; du hành nơi
không trung như con chim liệng quanh; ra vào nơi đất như nước;
đi trên sóng nước như đi trên đất liền; thân tuôn ra khói
lửa bốc cháy như đống lửa lớn; tay sờ măt trời, mặt
trăng; thân cao cho đến Phạm Thiên.[24] Đại chúng thấy đức
Thế Tôn biến hóa như vậy [950a1] rất hoan hỷ, đạt được
pháp chưa từng có, tâm yểm ly phát sanh. Đức Thế Tôn liền
vì họ nói pháp, cho đến đạt được con mắt pháp trong sạch
như trên. Đây là ngày thứ mười một đức Thế Tôn thị
hiện thần túc biến hóa như vậy.
Ngày
thứ mười hai, đức Thế Tôn ở trong đại chúng tâm niệm
nói pháp:[25] nên nghĩ như thế này, không nên nghĩ như thế
này; nên tư duy thế này, không nên tư duy như thế này; nên
đoạn cái này, nên tu hành pháp môn này. Đại chúng thấy
đức Thế Tôn dùng thần túc biến hóa như vậy, rất vui mừng,
đạt được những việc chưa từng có, phát sanh tâm yểm
ly. Đức Thế Tôn liền vì họ nói pháp, cho đến đạt được
con mắt pháp trong sạch như trên. Đây là ngày thứ mười
hai đức Phật thị hiện thần túc biến hóa như vậy.
Ngày
thứ mười ba, đức Thế Tôn vì đại chúng nói pháp giáo
thọ. Ngài dạy:[26] «Tất cả đang bị bốc cháy. Cái gì mà
nói là tất cả đang bị bốc cháy? Mắt đang bị bốc cháy.
Sắc đang bị bốc cháy. Thức của mắt đang bị bốc cháy.
Xúc của mắt đang bị bốc cháy. Các cảm thọ khổ, lạc,
phi khổ phi lạc phát sinh do nhân duyên xúc của mắt, đang
bị bốc cháy. Bị bốc cháy bởi cái gì? Bởi lửa dục, lửa
nhuế, lửa si. Sao gọi là đang bốc cháy? Đang bốc cháy vì
sanh, già, bệnh, chết, sầu ưu, khổ não đều đang bốc cháy.
Ta nói đây là chỗ sanh ra khổ. Cho đến ý cũng vậy. Tất
cả đều đang bốc cháy.»
Đại
chúng nghe đức Thế Tôn nói pháp giáo hóa như vậy đều rất
hoan hỷ, cho là việc chưa từng có. Đức Phật liền vì họ
nói pháp cho đến đạt được con mắt pháp trong sạch, như
trên. Đây là ngày thứ mười ba đức Như Lai biến hóa như
vậy.
Ngày
thứ mười bốn, theo thứ tự, người đàn-việt cúng dường,
rút một đóa hoa dâng lên đức Thế Tôn. Thế Tôn ngửi xong,
ném vào hư không. Do thần lực của đức Phật liền biến
thành một vạn bốn ngàn lầu các đài hoa. Trong những lầu
các đài hoa này, tất cả đều có tòa Phật ngồi, hai bên
đức Phật có Thiên đế Thích và Phạm thiên vương chắp
tay kính lễ, nói kệ:
Kính
lễ đấng Nhân vương[27]
Bậc
đại nhơn vô thượng.
Tất
cả không thể biết
Thế
Tôn trú thiền nào.
Đại
chúng thấy thần lực đức Thế Tôn biến hóa như vậy đều
rất vui mừng, được pháp chưa từng có. Đức Thế Tôn liền
vì họ nói pháp, cho đến đạt được con mắt pháp trong sạch
như trên.
Bấy
giờ Vua Bình-sa nước Ma-kiệt, theo thứ tự, ngày thứ mười
lăm thiết lễ cúng dường. Trong đêm, sửa soạn các thức
ăn. Sáng ngày, dùng các thức ăn ngon bổ cúng dường đức
Phật và chúng Tăng. Vua Ba-la-thù-đề, Ưu-đà-diên, Phạm Thí,
Ba-tư-nặc, Mạt-lợi phu nhơn, trưởng giả Lê-sư-đạt-đa,
Phú-lan-na, tất cả đại chúng đều cúng dường đầy đủ.
Phật ăn xong, cất bát, xả bát. Vua Bình-sa lấy một chiếc
ghế thấp ngồi trước đức Phật. Khi đức Thế Tôn buông
bàn chân ra không ngồi kiết-già nữa, chân vừa đụng nơi
bàn thì quả đất sáu lần rung động với mười tám hiện
tượng rung động. Dưới bàn chân của đức Thế Tôn có luân
tướng xuất hiện. Dấu bánh xe nghìn căm dưới bàn chân của
Thế Tôn hiện lên, ánh sáng chiếu soi, từ bánh xe tỏa ra
ánh sáng khắp ba ngàn đại thiên quốc độ.
6.
Thiên bức luân
Vua
Ma-kiệt thấy dấu bánh xe dưới chân đức Thế Tôn như vậy
liền từ chỗ ngồi đứng dậy để trống vai bên hữu, chân
bên hữu chấm đất, bạch đức Thế Tôn:
«Kính
bạch đức Thế Tôn, trước kia làm phước đức gì mà dưới
bàn chân có tướng bánh xe ngàn căm hoa, có ánh sáng chiếu
soi khắp ba ngàn đại thiên quốc độ như vậy?»
Đức
Phật bảo Vua Bình-sa:
Xa
xưa về đời quá khứ, có Vua tên là Lợi Ích Chúng Sanh, làm
vua cõi Diêm-phù-đề. Bấy giờ, quốc độ Diêm-phù-đề phong
phú, nhơn dân no ấm khoái lạc. Có tám mươi bốn ngàn thành
ấp, xóm làng có năm mươi lăm ức cơ sở. Vua Lợi Ích chúng
Sanh ngự tại thành tên là Huệ quang, đông tây mười hai do-diên,
nam bắc bảy do diên. Thành kia rộng lớn, nhân dân no ấm,
của cải dồi dào, trang sức khoái lạc. Đệ nhất phu nhân
tự là Huệ Sự, không có con. Vì để cầu con, Phu nhơn kính
lễ các loại trời thần, thần sông, thần ao, trời Mãn thiện,
trời Bảo thiện, thần Mặt trời, thần Mặt trăng, Đế Thích,
Phạm Thiên vương, thần đất, nước, gió, lửa, thần Ma-hê-thủ-la
thiên tử, thần vườn, thần rừng, thần đường sá, thần
quỷ tử mẫu, các thần của xóm làng. Cúng dường khắp nơi
để cầu nguyện cho có con. Sau đó một thời gian, Đệ nhất
phu nhơn có thai. Người nữ này khi mang thai có ba món trí tuệ:
biết người nam có dục ý, biết được khi có thai, biết
từ đâu mà có được thọ thai. Khi ấy phu nhơn liền đến
chỗ Vua thưa:
«Vua
biết chăng, nay thiếp đã có thai.»
Vua
nói:
«Tốt
lắm!»
Vua
liền cung cấp cho Phu nhơn thêm đồ ăn thức uống, y phục,
thuốc men, ngọa cụ thuộc loại tối thượng, tất cả các
thứ cần dùng đều gia tăng gấp bội. Mười tháng trôi qua,
phu nhơn sanh một bé trai, tướng mạo xinh đẹp. Ngày hài nhi
chào đời, cũng là ngày tám mươi bốn ngàn thành có tám mươi
bốn ngàn mỏ quý tự nhiên xuất hiện. Nơi mỏ bạc thì cây
bằng bạc xuất hiện, gốc nhánh cành lá đều bằng bạch
ngân. Chỗ nào mỏ vàng thì cây bằng vàng xuất hiện, gốc
nhánh cành lá đều bằng vàng. Chỗ nào mỏ lưu ly, pha lê,
xích, chơn châu, mã não, xa cừ cũng đều như vậy.
Bấy
giờ theo pháp luật của nước, trẻ nít mới sanh hoặc cha
mẹ đặt tên, hoặc sa-môn, bà-la-môn đặt tên. Vua Lợi ích
Chúng Sanh nghĩ: Khỏi phải nhờ sa-môn, bà-la-môn đặt tên.
Mẹ của hài nhi này tên là Huệ Sự. Nay ta nên đặt tên cho
hài nhi là Huệ Đăng. Vua đặt tên hài nhi là Huệ Đăng.
Bấy
giờ, Vua giao hài nhi cho bốn bà mẹ chăm nuôi. Một bà lo về
thân thể, bà thứ hai lo về tắm giặt, bà thứ ba lo về bú
sữa, bà thứ bốn lo về vui chơi. Bà lo về thân thể là lo
việc chăm nom hình vóc tất cả các việc. Bà lo về tắm giặt
thì lo tắm hài nhi và giặt y phục cho hài nhi. Bà lo về việc
bú sữa thì lo về việc bứ sữa, sú cơm. Bà lo về việc
vui chơi thì Vương tử nếu ở chỗ voi, ngựa, xe cộ du hý
hay hoa hương bảo vật, các loại vui chơi phải phục vụ đầy
đủ, cầm cây lộng khổng tước đi sau, giúp vui cho Vương
tử, khiến cho được khoái lạc. Đức Thế Tôn nói kệ:
Tất
cả phải tiêu vong,
Ở
cao, rồi phải rụng.
Đã
sanh tất phải chết;
Có
mạng đều vô thường.
Chúng
sanh chìm cõi Hữu,
Tất
cả đều hữu vi.
Tất
cả các thế gian,
Nào
ai không già chết.
Đây
lẽ thường ở đời:
Sanh,
sanh, đều phải chết.
Tùy
theo nghiệp đã tạo,
Tội
phước có quả báo.
Ác
nghiệp đọa địa ngục,
Thiện
nghiệp sanh lên trời.
Cao
hành sanh thiện đạo,
Đặng
vô lậu Niết bàn.
Khi
vua Lợi Ích Chúng Sanh mạng chung, Vương tử tám, chín tuổi.
Bà mẹ cho học các kỹ nghệ, thư họa, toán số, hý tiếu,
ca vũ, kỹ nhạc, cỡi voi, ngựa, xe cộ, bắn cung một cách
dũng kiện, và mau chóng. Đối với tất cả các kỹ nghệ,
Vương tử đều tinh thông lão luyện. Đến tuổi mười bốn,
mười lăm, quần thần đến chỗ Vương tử thưa:
«Vương
tử có biết chăng, Vua đã mệnh chung. Nay Vương tử nên đăng
vương vị, làm vua, thi hành giáo lệnh.»
Vương
tử trả lời:
«Nay
tôi không thể làm vua và thi hành giáo lệnh của vua được.
Tại sao vậy? Đời trước tôi đã từng làm vua sáu năm. Do
nhơn duyên ấy mà tôi đã phải đọa vào địa ngục sáu ngàn
năm. Cho nên nay tôi không thể làm vua, và thi hành giáo lệnh
của vua được.»
Quần
thần nói:
«Có
phương tiện nào để Vương tử có thể làm vua, thi hành giáo
lệnh của vua hay không?»
Vương
tử trả lời:
«Có.»
Quần
thần hỏi, [951a1] phương tiện đó là gì? Vương tử nói:
«Nếu
có thể nói với kẻ nam người nữ trong cõi Diêm-phù-đề
này phụng hành thập thiện không sát sanh, cho đến không tà
kiến, thì tôi có thể làm vua.»
Quần
thần nghe Vương tử dạy như vậy rồi, liền sai sứ công
bố rao truyền khắp bốn phương như sau: «Nhân dân biết chăng?
Vua Lợi Ích Chúng Sanh đã mệnh chung. Vương tử Huệ Đăng
theo thứ tự là phải làm Vua. Nhưng Vương tử nói, Ta không
làm vua. Cho đến khi nào kẻ nam người nữ trong Diêm-phù-đề
đều phụng hành thập thiện không sát sanh, cho đến không
tà kiến, khi ấy ta sẽ làm vua.» Quốc dân nghe công bố như
vậy, tất cả đều tu hành thập thiện không sát sanh, cho
đến không tà kiến. Quần thần liền đến chỗ vương tử
Huệ Đăng thưa:
«Vương
tử biết chăng? Kẻ nam người nữ trong Diêm-phù-đề này
họ đều tự nói rằng: sẽ phụng hành thập thiện không
sát sanh, cho đến không tà kiến. Nay Vương tử có thể đăng
Vương vị thi hành giáo lệnh của Vua.» Vương tử nói:
«Lấy
lụa đem đến đây!»
Quần
thần liền đem lụa bạch tốt nhất đến. Vương tử tự
quấn trên đảnh và tuyên bố:
«Thời
gian như vậy, có vị quốc chủ như vậy, có tốt đẹp không?»
Quần
thần trả lời:
«Rất
tốt.»
Khi
ấy quần thần tâu với Vua rằng:
«Khi
Vua mới sanh, có tám mươi bốn ngàn mỏ quý tự nhiên xuất
hiện. Nay hãy đem nhập vào vào kho của Vua.»
Vua
nói:
«Cần
gì phải nhập vào kho. Hãy đem đến đầu các ngã tư mà bố
thí cho sa-môn, bà-la-môn, người nghèo thiếu, cô đơn, già
cả. Họ cần gì đều bố thí cho một cách đầy đủ.»
Các
đại thần nghe vua Huệ Đăng dạy như vậy rồi, liền ngay
nơi tám mươi bốn ngàn thành, chỗ nào có mỏ quý, đều lấy
mang đến các đầu ngã tư trong các cửa thành, sự bố thí
cho sa-môn, bà-la-môn, người nghèo khổ, cô đơn, già nua. Họ
cần chi đều bố thí cho đầy đủ.
Bấy
giờ, Thiên đế Thích có ý nghĩ, Vua Huệ Đăng ngay nơi tám
mươi bốn ngàn thành, chỗ nào có mỏ quý, đều lấy mang
đến các đầu ngã tư trong các cửa thành, sự bố thí cho
sa-môn, bà-la-môn, người nghèo khổ, cô đơn, già nua. Họ
cần gì đều bố thí cho đầy đủ. Có thể việc làm này
sẽ chiếm đoạt ngôi vị của ta. Nhưng nay ta có thể đến
thử xem vua Huệ Đăng vì Vô thượng đạo làm việc bố thí
có thối chuyển hay không?» Thiên đế Thích liền hóa làm
một người đàn ông, nói với mọi người rằng: «Vua Huệ
Đăng dạy chúng ta phụng hành thập ác, sát sanh cho đến tà
kiến.» Bấy giờ, các đại thần liền đến chỗ vua thưa:
«Sự
thật vua có dạy quốc dân phụng hành thập ác, sát sanh cho
đến tà kiến hay không?»
Vua
trả lời:
«Không!
Tại sao vậy? Trước đây ta đã nói, ta không làm vua nếu
quốc dân không phụng hành thập thiện, không sát sanh, cho
đến không tà kiến. Do đó nay ta đã làm vua thì ta đâu có
nói những lời như vậy. Nay các khanh cần trang nghiêm xa giá,
ta muốn tự mình đi giáo hóa quốc dân.»[28]
Bấy
giờ, Thiên đế Thích nghĩ: «Ta không nên để Vua đi bằng
chiếc xe thường của thế gian.» Bèn thắng cỗ xe voi trời.
Voi trời có sáu ngà. Ngà nào cũng vậm vỡ. Xe để ngay bên
ngoài cửa. Vua Huệ Đăng thấy xa giá bằng voi như vậy, hỏi
các đại thần rằng:
«Voi
này của ai?»
Các
đại thần thưa:
«Không
biết là voi của ai. Đây chắc là loại voi của Vua, chứ chẳng
phải là người thường có được. Vua có thể xử dụng.»
Vua
liền xử dụng.
Vua
bảo:
«Hãy
đi chỉ cho ta người nào nói: Ta dạy nhân dân phụng hành
thập ác.» Người kia liền chỉ Vua. Vua liền hỏi:
«Vua
Huệ Đăng có dạy ngươi hành thập ác không?»
Người
ấy trả lời:
«Có.»
Vua
lại hỏi:
«Có
phương tiện nào để ngươi hành thập thiện không?»
Người
kia nói:
«Có.»
Vua
hỏi:
«Đó
là gì?»
Người
kia nói:
«Nếu
có ai đã thành tựu Bồ-tát, cho tôi được ăn sống ngưới
ấy, ăn thịt, uống máu người ấy; tôi mới hành thập thiện.»
Bấy
giờ, Vua Huệ Đăng khởi ý nghĩ:
«Từ
đời vô thỉ đến nay, ta đã trải qua các cái khổ luân chuyển
trong năm đường; hoặc bị chặt tay, chặt chân, xẻo mũi
tai, móc mắt, chặt đầu, rốt cuộc nào có lợi ích gì?»
Nghĩ
như vậy xong, vua liền lấy dao bén tự xẻo thịt nơi đùi
vế mình, dùng đồ đựng máu đưa cho người kia và nói:
«Này
nam tử, ngươi hãy ăn thịt và uống máu này, rồi phụng hành
thập thiện.»
Người
đàn ông kia không kham nổi oai đức của Vua Huệ Đăng, nên
liền biến mất, bỗng nhiên Thiên đế Thích đứng trước
mặt, hỏi Vua:
«Nay
Vua bố thí vì một thiên hạ, hay vì hai, ba bốn thiên hạ?
Vì Mặt Trời, Mặt Trăng, Thiên đế Thích, Ma vương, Phạm
vương hay chăng?» Vua trả lời:
«Tôi
bố thí không vì một thiên hạ, hay hai, ba, bốn thiên hạ,
cho đến Ma, Phạm vương. Tôi làm việc bố thí với ý nghĩ
như vầy: Muốn cầu Vô thượng chánh chơn Nhất thiết trí,
độ người chưa độ, giải thoát người chưa giải thoát,
người chưa được Niết-bàn khiến được Niết-bàn, độ
sanh, lão, bệnh, tử, ưu bi, khổ não. Vì tất cả như vậy.»
Bấy
giờ, Thiên đế Thích liền nghĩ: «Nay ta để vua Huệ Đăng
phải chết vì vết thương này thì thật không thích đáng.»
Thiên đế Thích liền dùng nước cam lồ của trời nhiểu
vào nơi vết thương. Vết thương liền bình phục lại như
cũ.
Đức
Phật bảo các tỳ-kheo:
«Vua
Lợi Ích Chúng Sinh đâu phải ai khác, mà là Phụ vương Bạch
Tịnh vậy. Đệ nhất phu nhân, nay là mẹ Ma-da. Vua Huệ Đăng,
chính là thân Ta đây. Đời trước, Ta đã giáo hóa vô số
kẻ nam người nữ nơi cõi Diêm-phù-đề này phụng hành thập
thiện, không sát sanh, cho đến không tà kiến. Do nhân duyên
như vậy, cho nên dưới bàn chân của ta có dấu bánh xe nghìn
căm, ánh sáng chiếu soi ba ngàn đại thiên quốc độ.»
Đại
chúng thấy đức Thế Tôn có thần lực biến hóa như vậy,
đều rất vui mừng, được pháp chưa từng có, tâm yểm ly
phát sanh. Đức Thế Tôn quán sát đại chúng đều hoan hỷ,
tâm yểm ly phát sanh, nên dùng vô số phương tiện nói pháp,
khiến cho trăm ngàn người, ngay nơi chỗ ngồi xa trần cấu,
đạt được con mắt pháp trong sạch. Đây là ngày thứ mười
lăm đức Thế Tôn biến hóa.
7.
Các loại bát cấm
Thế
Tôn ở tại thành Vương xá. Bấy giờ Vua Bình-sa cho phép các
tỳ-kheo tự do ra vào trong cung. Vua đặt người nơi chỗ khuất
để nghe các tỳ-kheo có nói gì thì bẩm báo lại. Nơi cung
các kia dùng gỗ thi-xa-bà[29] quý giá làm cây trụ. Các tỳ-kheo
thấy, nói:
«Gỗ
quý giá này thay vì dùng làm cây trụ, nếu dùng làm bình bát
cho tỳ-kheo thì hay biết mấy.»
Cung
nhơn ở chỗ khuất nghe như vậy, liền đến tâu với vua.
Vua liền ra lệnh thay cây trụ mới, lấy gỗ ấy làm bình
bát, đem cho các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo không dám nhận, nói:
«Đức Phật chưa cho phép chúng tôi nhận bình bát bằng gỗ
thi-xa-bà.» Các tỳ-kheo bạch Phật. Phật dạy:
«Không
được [952a1] chứa bình bát bằng gỗ. Đây là pháp của ngoại
đạo. Nếu chứa, sẽ như pháp trị.
Vua
Bình-sa dùng bình bát bằng đá, dâng cúng các tỳ-kheo. Các
tỳ-kheo không nhận và nói:
«Đức
Phật chưa cho phép chúng tôi dùng bính bát bằng đá.»
Các
tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Không
được dùng loại bát này. Đây là bát theo pháp của Như Lai.
Nếu dùng thì phạm thâu-lan-giá.»
Vua
Bình-sa làm bát bằng vàng cúng cho tỳ-kheo. Tỳ-kheo không nhận
và nói:
«Đức
Thế Tôn chưa cho chúng tôi xử dụng bát bằng vàng.»
Các
vị ấy bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Tỳ-kheo
không nên cất chứa bát bằng vàng. Đây là pháp của bạch
y. Nếu cất chứa sẽ như pháp trị.»
Vua
Bình-sa lại làm bình bát bằng bạc, bằng lưu ly, bằng vật
báu, bằng tạp bảo để cúng cho các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo
không nhận và nói:
«Đức
Phật chưa cho chúng tôi chứa cất các loại bình bát như vậy.»
Các
tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Không
nên chứa các loại bát đó. Đây là pháp của bạch y. Nếu
chứa sẽ trị phạt như pháp.»
Thế
Tôn ở tại nước Bà-già-đề. Tỳ-kheo người Bạt-xà ở
Tỳ-xá-ly[30] dùng chiếc bình bát bằng vàng. Đức Phật dạy:
«Không
được dùng.»
Có
vị lại dùng bát bằng bạc, bằng lưu ly, bằng vật báu,
bằng tạp bảo. Đức Phật dạy:
«Không
được dùng.»
Đức
Phật quở:
«Các
ông là những người ngu si, tránh dùng cái Ta chế cấm lại
dùng các thứ khác. Từ nay về sau, tất cả các loại bát
làm bằng vật báu không nên dùng. Nếu dùng sẽ như pháp trị.»
Thế
Tôn ở tại Tỳ-xá-ly. Các Lê-xa[31] nhận được chiếc bát
ma-ni rất có giá trị, dùng bột hương chiên đàn đựng đầy
bát, đem dâng cúng đức Thế Tôn thưa:
«Bạch
Đại đức, xin Ngài từ mẫn nhận chiếc bát ma-ni này.»
Đức
Phật nói với các Lê-xa:
«Ta
không dùng chiếc bát này.»
Lê-xa
lại bạch:
«Cúi
xin Ngài từ mẫn nhận bột hương chiên đàn.»
Đức
Thế Tôn thọ nhận.
Các
Lê-xa nghĩ: «Nên đem chiếc bát này cúng cho ai?» Có người
nói nên cho Bất-lan Ca-diếp. Có người nói nên cho Mạt-khư-la
Cù-xá-la, A-di-đầu Sí-xá-khâm-bà-la. Có người nói nên cho
Ba-hưu Ca-chiên-diên. Có người nói nên cho San-nhã Tỳ-la-tra
Tử. Có người nói nên cho Ni-kiền Na-da Tử.[32] Có người
nói nên cho Tát-giá Ni-kiền Tử.[33] Vị kia liền đem bát cho
Tát-giá Ni-kiền Tử.
Bấy
giờ, Tát-giá Ni-kiền Tử nghe, các Lê-xa Tỳ-xá-ly đem các
bát ma-ni rất quí giá này cúng cho Sa-môn Cù-đàm không nhận,
sau đó mới đem cúng cho mình, do lòng kiêu mạn, cống cao,
tật đố, giận dữ không vui, không tự kềm chế nên thốt
lên lời hung dữ:
«Giả
sử các ngươi cắt lưỡi của các Lê-xa đựng đầy bát,
rồi sẽ nhận.»
Các
Lê-xa nghĩ:
«Tát-giá
Ni-kiền Tử muốn làm tổn hại đến dòng họ chúng ta.»
Họ
dùng một cục đá đánh chết. Tát-giá muốn tự liệu lý
để rút lại lời nói dữ trước đó, nhưng các Lê-xa không
chịu nghe, vẫn đánh chết. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức
Phật dạy:
«Nếu
được lời, thì sự việc được cởi mở.»
Đức
Phật dạy:
«Có
năm pháp khiến cho lời nói có thể tự nêu rõ lý, không bị
chê trách, khiến cho người kia hoan hỷ, sau khỏi hối hận.
Năm pháp ấy là gì? Nói điều thiện chứ không nói điều
bất thiện. Nói như pháp chứ không nói điều không như pháp.
Nói lời êm dịu chứ không nói lời không êm dịu. Nói lời
chân thật chứ không nói điều hư dối. Nói điều lợi ích
chứ không nói điều không lợi ích. Có năm pháp này thì khiến
cho lời nói có thể tự nêu rõ lý, không bị chê trách, khiến
cho người kia hoan hỷ, sau khỏi hối hận.»
Phật
liền nói kệ:
Ai
nói thiện thì thắng;
Nói
pháp không phi pháp;
Ái
ngữ; chơn thật ngữ;
Lợi
ích không tổn hại.
Đối
với người khéo nói
Khiến
mình không nhiệt não,
Không
xâm phạm người khác.
Như
vậy là khéo nói.
Khéo
nói với ái ngữ