CHƯƠNG
III.
AN
CƯ
1.
Kết giới an cư
[830b7]1.
Phật ở tại vườn Cấp-cô-độc, rừng Kỳ-đà, nước Xá-vệ.
Bấy giơ, nhóm sáu tỳ-kheo trong ba mùa xuân, hạ và đông đều
du hành trong nhân gian. Gặp tháng mùa hạ, trời mưa, nước
lớn trôi mất y bát, tọa cụ, ống đựng kim, đạp chết
cỏ non. Các cư sĩ cơ hiềm: «Sa-môn Thích tử không biết
hổ thẹn, đạp chết cỏ non. Bên ngoài tự nói tôi biết
chánh pháp. Như vậy có gì gọi là chánh pháp? Trong ba mùa
xuân, hạ và đông du hành trong nhân gian. Mùa hạ trời mưa
nước lớn, trôi mất y bát, tọa cụ, ống đựng kim, đạp
chết cỏ non, đoạn mạng sống của các loài khác. Pháp của
các ngoại đạo còn an cư ba tháng, mà các Thích tử này trong
ba mùa xuân, hạ và đông đều du hành trong nhân gian, trời
mưa nước lớn trôi mất y bát, tọa cụ, ống đựng kim, đạp
chết cỏ non, đoạn mạng sống của các loài khác. Cho đến
như các loài chim, côn trùng, còn có hang tổ là trú xứ nghỉ
ngơi của chúng! Sa-môn Thích tử ba mùa xuân, hạ và đông,
du hành trong nhân gian, trời mưa nước lớn trôi mất y bát,
tọa cụ, ống đựng kim, đạp chết cỏ non, đoạn mạng sống
của các loài khác!»
Các
tỳ-kheo nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, biết hổ
thẹn, sống khổ hạnh, ưa học giới, quở trách nhóm sáu
tỳ-kheo: «Sao các thầy du hành trong nhân gian suốt cả ba mùa
xuân, hạ, đông? Mùa hạ, trời mưa, nước lớn trôi mất
y bát, tọa cụ, ống đựng kim, đạp chết cỏ non. Các cư
sĩ tin tưởng cây cỏ có mạng sống[1] đều cơ hiềm, ‘Các
Thầy có mắc tội hay chăng?’»
Các
tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ sát chân Phật
rồi ngồi qua một bên, đem nhơn duyên này bạch lên đức
Thế Tôn một cách đầy đủ. Đức Thế Tôn dùng nhơn duyên
này tập hợp Tăng tỳ-kheo, dùng vô số phương tiện quở
trách nhóm sáu tỳ-kheo:
«Các
ông làm đều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải tịnh
hạnh, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải hạnh tùy thuận,
làm việc không nên làm. Nhóm sáu tỳ-kheo, sao các ông du hành
trong nhân gian suốt cả ba mùa xuân, hạ, đông? Mùa hạ, trời
mưa, nước lớn trôi mất y bát, tọa cụ, ống đựng kim,
đạp chết cỏ non. Các cư sĩ tin tưởng cây cỏ có mạng
sống đều cơ hiềm, ‹Các Thầy có mắc tội hay chăng?›
»
Dùng
vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo rồi, bảo
các tỳ-kheo:
«Các
ông không được du hành nhân gian suốt cả ba mùa xuân, hạ,
đông. Từ nay về sau, cho phép các tỳ-kheo an cư ba tháng mùa
hạ, bạch với người chỗ mình đang sống rằng: ‹Tôi hạ
an cư nơi trú xứ này.› Hoặc thưa: ‹Trưởng lão một lòng
nghĩ đến cho. Tôi tỳ-kheo tên là... nương tựa nơi tụ lạc...
hay Tăng-già-lam... hoặc nơi phòng... an cư ba tháng trước của
mùa hạ. Phòng xá bị hư hỏng cần phải sửa chữa.› Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng thưa như vậy. Pháp an cư ba tháng
sau của mùa hạ cũng như vậy.»
2.
Các tỳ-kheo ở trong một trú xứ không có người để nương
tựa, không biết bạch với ai. Các tỳ-kheo nghi không biết
thành an cư hay không, liền bạch đức Thế Tôn. Đức Thế
Tôn dạy:
«Phát
khởi ý vì an cư liền thành an cư. Từ nay về sau, cho phép
các tỳ-kheo, nếu không có người để nương tựa thì tâm
niệm an cư.»
Tỳ-kheo
ở trong trú xứ muốn an cư mà không có người để nương
tựa, không bạch chỗ an cư, quên không tâm niệm an cư, nghi
không biết thành an cư hay không đến bạch Phật. Phật dạy:
«Nếu
vì an cư mà đến, liền thành an cư.»
3.
Các tỳ-kheo đến chỗ an cư, muốn an cư, vào trong cương giới,
tướng bình minh xuất hiện,[2] nghi không biết có thành an
cư hay không, liền đến bạch đức Thế Tôn. Phật dạy:
«Nếu
vì an cư mà đến liền thành an cư.»
Tỳ-kheo
ở chỗ an cư, muốn an cư, vào trong vườn của Tăng, tướng
bình minh xuất hiện, nghi không biết thành an cư hay không,
liền đến bạch đức Thế Tôn, đức Thế Tôn dạy:
«Nếu
vì an cư mà đến tức thành an cư.»
Tỳ-kheo
đến chỗ an cư, muốn an cư, một chân vào trong cương giới,
một chân ngoài cương giới, tướng bình minh xuất hiện, nghi
không biết thành an cư hay không, bèn bạch đức Thế Tôn.
Đức Thế Tôn dạy:
«Nếu
vì an cư mà đến liền thành an cư.»
Tỳ-kheo
đến chỗ an cư, muốn an cư, một chân vào trong vườn của
Tăng, một chân ngoài vườn của Tăng, tướng bình minh xuất
hiện, nghi không biết thành an cư hay không, liền bạch đức
Thế Tôn. Đức Thế Tôn dạy:
«Nếu
vì an cư mà đến liền thành an cư.»
[831a1]
Nếu an cư xong rồi, khách tỳ-kheo đến dời chỗ của cựu
tỳ-kheo. Đức Phật dạy:
«Không
được dời. Cũng không được đi.»
2.
Phân phòng xá
1.
Tại một trú xứ, các tỳ-kheo không xem kỹ phòng xá ngọa
cụ, liền nhận phải phòng không tốt, ngọa cụ xấu, nên
nổi sân, nói với cựu tỳ-kheo:
«Tâm
thầy không bình đẳng. Người nào thầy ưa thì thầy trao
cho phòng tốt, ngọa cụ tốt; người nào thầy không ưa, thầy
trao cho phòng xấu, ngoạ cụ xấu. Thầy không ưa tôi, nên
thầy trao cho tôi phòng xấu, ngọc cụ xấu!»
Các
tỳ-kheo đem nhơn duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế
Tôn. Đức Thế Tôn bảo các tỳ-kheo:
«Nếu
tỳ-kheo muốn an cư nơi trú xứ nào thì tự mình nên đến
trước xem coi phòng xá, ngọa cụ, sau đó mới nhận phòng.
Từ nay về sau cho phép phân phòng xá, phân ngọa cụ. Nên sai
người phân phòng xá, phân ngọa cụ bằng bạch nhị yết-ma.
»
Người
có năm pháp sau đây không nên sai phân chia phòng xá, ngọa
cụ: thiên vị, hay giận, nhát sợ, ngu si, không biết nên chia
hay không nên chia.
Người
có năm pháp sau đây nên sai phân chia phòng xá, ngọa cụ: không
thiên vị, không hay giận, không sợ, không si, biết nên chia
hay không nên chia.
Tăng
nên sai một vị có khả năng yết-ma, hoặc là bậc Thượng
tọa hay thứ tọa, tụng (thuộc) luật được hay không tụng
(thuộc) luật được, dựa theo sự việc trên tác bạch:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với
Tăng, Tăng chấp thuận sai tỳ-kheo tên... chia ngọa cụ, phòng
xá. Đây là lời tác bạch.
«Đại
đức tăng xin lắng nghe! Tăng sai Tỳ-kheo... chia phòng xá, ngọa
cụ. Các trưởng lão nào chấp thuận Tăng sai Tỳ-kheo... chia
phòng xá, ngọa cụ thì im lặng. Vị nào không đồng thì xin
nói.
«Tăng
đã chấp thuận sai Tỳ-kheo... chia phòng xá, ngọa cụ rồi.
Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này được ghi nhận như
vậy.»
2.
Sai người phân chia phòng xá, ngọa cụ rồi, nên đếm số
tỳ-kheo, đếm số phòng xá, số ngọa cụ. Vị kia nên hỏi
bao nhiêu phòng có người ở, bao nhiêu phòng trống, bao nhiêu
phòng có ngọa cụ, bao nhiêu phòng không có ngọa cụ, bao nhiêu
phòng có chăn, bao nhiêu phòng không có chăn, bao nhiêu phòng
có lợi dưỡng, bao nhiêu phòng không có lợi dưỡng, bao nhiêu
phòng có đồ vật, bao nhiêu phòng không có vật dụng, bao
nhiêu phòng có đàn-việt thí y, bao nhiêu phòng không có đàn-việt
thí y, bao nhiêu phòng có phước nhiêu,[3] bao nhiêu phòng không
có phước nhiêu, ai là người kinh dinh phòng chủ,[4] nếu có
người kinh dinh thì nên hỏi, ‹Trưởng lão muốn trụ nơi
phòng nào? Không trụ nơi phòng nào?›[5] Vị kia biết rõ số
lượng phòng xá, ngọa cụ rồi, đến trước Thượng tọa
thưa:
«Đại
đức Thượng tọa! Phòng xá như vậy, ngọa cụ như vậy,
tùy ý Thượng tọa nhận lấy phòng xá nào? »
Trao
phòng cho Thượng tọa rồi, kế đến vị Thượng tọa thứ
hai, thứ ba, thứ tự cho đến vị hạ tọa cuối cùng. Nếu
có dư phòng hay ngọa cụ thì nên từ Thượng tọa phân lại.
Có dư nữa thì cũng từ Thượng tọa phân lại. Nếu có dư
nhiều thì nên để dành phần cho khách tỳ-kheo đến. Có khách
tỳ-kheo đến thì nên phân. Ác tỳ-kheo đến thì không nên
phân. Thiện tỳ-kheo đến thì nên phân. Nếu có dư thì để
dành. Trường hợp để dành phòng thì không được ngăn. Ai
ngăn sẽ như pháp trị.
Bấy
giờ, có tỳ-kheo nhận phải phòng hư mục, có ý nghĩ: «Phòng
này phải tu sửa, ta không nên nhận.» Các tỳ-kheo liền bạch
đức Thế Tôn, đức Thế Tôn dạy:
«Nên
nhận, rồi theo khả năng tu sửa lại.»
Bấy
giờ, các tỳ-kheo phân chia nhà hội của Tăng,[6] hoặc nhà
tắm nóng,[7] hoặc hạ đường,[8] hoặc nhà kinh hành, khách
tỳ-kheo đến không có phòng ở. Các tỳ-kheo đem nhơn duyên
này bạch đầy đủ lên đức Phật. Đức Phật dạy:
«Không
nên phân chia nhà hội của Tăng, hay nhà tắm nóng, hoặc hạ
đường, hoặc nhà kinh hành. Hoặc gác dưới là chỗ Tăng
tập hợp thì gác trên nên chia cho Tăng ở. Nếu gác trên là
chỗ Tăng tập hợp thì nhà gác dưới nên chia cho Tăng ở.»
3.
Các tỳ-kheo đi xem khắp phòng xá, thấy một cái hang nơi a-lan-nhã,
bèn nghĩ: «Ta sẽ an cư nơi hang này.» Sau đó lại có các
tỳ-kheo khác thấy cái hang a-lan-nhã này, cũng lại nghĩ: «Ta
nên an cư nơi đây.» Trong vòng mười sáu ngày đầu đã có
số đông tỳ-kheo cùng tập hợp ở nơi hang này, vì chật
hẹp nên sanh nhiều tật bệnh. Các tỳ-kheo bạch đức Thế
Tôn. Ngài dạy:
«Nếu
tỳ-kheo muốn an cư một chỗ như vậy, vị nào đến đó trước,
phải làm dấu, hoặc làm dấu bằng tay, hoặc vẽ vòng tròn,
hoặc tượng Ma-hê-đà-la,[9] hoặc hình lượn sóng, hoặc hình
dây nho, hoặc làm cái hoa, hoặc vẽ năm sắc, hoặc viết tên
mình... là muốn an cư nơi đây.»
Đức
Phật cho phép ai làm dấu báo hiệu như vậy trước thì người
đó ở. Tỳ-kheo trụ nơi đây, khi đi không xóa tên, hay dấu
hiệu; các tỳ-kheo khác thấy, đã có người chiếm trước
rồi nên không dám ở. Các tỳ-kheo đem việc này bạch Phật.
Đức Phật dạy:
«Không
nên không xoá tên hay dấu hiệu mà bỏ đi.»
3.
Phân ngọa cụ
1.
Bấy giờ nhân dân vùng biên quốc làm phản, Vua Ba-tư-nặc
đích thân cầm quân đến chinh phạt. Các tỳ-kheo đến vùng
biên quốc, nơi đó phòng xá chật hẹp, không đủ dung chứa.
Các tỳ-kheo nói như vầy: «Phải chi đức Phật dạy chúng
ta nên phân chia ngọa cụ.» Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức
Phật dạy:
«Cho
phép phân chia bằng giường nằm. Nếu không đủ thì chia đều
giường dây. Nếu vẫn không đủ thì chia đều chỗ ngồi.»
Tỳ-kheo
kia di chuyển giường cố định, chăn mền, ngọa cụ nơi phòng
này đến các phòng khác. Các tỳ-kheo đến bạch Phật. Đức
Phật dạy:
«Không
được di chuyển.»
Có
phòng nhiều ngọa cụ, có phòng ít ngọa cụ. Các tỳ-kheo
đem nhơn duyên này bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Cho
phép các tỳ-kheo nói với vị cựu trú, hoặc vị chủ phật-đồ,[10]
hoặc nhờ người tri sự. Trường hợp ba tháng an cư nhận
được phòng như vậy thì nên nói với các vị trên rồi,
sau đó mới di chuyển.»
Các
tỳ-kheo không hoàn ngọa cụ lại nơi phòng cũ, bỏ đi. Tỳ-kheo
đến sau, tưởng là ngọa cụ của phòng này bèn xử dụng.
Các tỳ-kheo đem nhơn duyên này đến bạch Phật. Đức Phật
dạy:
«Không
nên không hoàn ngọa cụ lại nơi phòng cũ mà bỏ đi. Phải
hoàn lại ngọa cụ cho phòng cũ trước khi đi. Không vậy,
sẽ như pháp trị.»
Bấy
giờ có phòng xá bị hư hoại. Các tỳ-kheo e sợ, vì đức
Phật không cho phép di chuyển ngọa cụ từ phòng này đến
phòng khác. Các tỳ-kheo đem nhơn duyên này bạch đức Phật.
Đức Phật dạy:
«Nếu
phòng xá bị hư hoại thì cho phép dời ngọa cụ phòng này
qua các phòng khác.»
Ngọa
cụ được dời mà không dùng nên bị trùng phá hư nát. Các
tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Nên
xử dụng ngọa cụ ấy.»
Khi
đức Phật cho phép xử dụng, có vị lại không dùng rửa
chân, không dùng lau chân, mà dùng làm áo lót thân. Các tỳ-kheo
đem nhơn duyên này bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Nên
dùng rửa chân, lau chân và không nên làm áo lót.»
Các
tỳ-kheo e ngại vì đức Phật dạy không được làm áo lót
nên không dám xúc phạm bằng tay chân. Các tỳ-kheo đem việc
này bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Từ
đầu gối trở lên, từ nách trở xuống không được lót
thân, chứ tay chân xúc chạm không sao.»
Bấy
giờ các đàn-việt bố thí áo lót cho các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo
cẩn thận không dám nhận, vì đức Phật không cho phép dùng
áo lót thân. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Đàn-việt
dâng cúng, cho phép tùy ý nhận.»
Có
vị sửa chữa phòng xá rồi, không đem ngọa cụ của phòng
này trả lại chỗ cũ. Các tỳ-kheo đem việc này [831a1] bạch
Phật. Đức Phật dạy:
«Sửa
chữa phòng xá rồi nên trả ngọa cụ trước đó di chuyển
đến phòng khác trở về lại chỗ cũ. Không vậy, sẽ như
pháp trị.»
Có
tỳ-kheo di chuyển ngọa cụ nơi chùa này đem đến các chùa
khác. Các tỳ-kheo đem việc này bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Không
được di chuyển ngọa cụ chùa này đem đến các chùa khác.»
Trường hợp vì sự khủng bố hoặc oan gia, hoặc nhân dân
phản loạn, hoặc quốc ấp bị phá hoại, nhân dân bị phá
tán, trú xứ cũng hư hoại; các tỳ-kheo e ngại vì đức Phật
không cho phép dời ngọa cụ cố định nơi chùa này đến
chùa khác. Các tỳ-kheo đem nhơn duyên này bạch Phật. Đức
Phật dạy:
«Nếu
có sự khủng bố, oan gia, hoặc quốc ấp phản loạn, nhân
dân phá tán, trú xứ cũng hư hoại, thì cho phép di chuyển
ngoạ cụ đến nới khác.»
Khi
dời ngọa cụ, các tỳ-kheo e ngại vì đức Phật dạy không
cho phép dùng ngọa cụ của Tăng lót thân nên không cất giữ
tốt. Các tỳ-kheo đem nhơn duyên này bạch Phật. Đức Phật
dạy:
«Tùy
nghi cất dấu và di chuyển. Nếu có các tỳ-kheo nào khác đến
hỏi mượn thì không nên trao cho, trừ trường hợp có thể
tin, sau này họ có thể trả lại thì nên đưa.»
Trường
hợp sau khi quốc ấp trở lại yên bình, nhân dân trở về
lại, nhà chùa phục hồi mà ngọa cụ không được trả lại.
Các tỳ-kheo đem việc này bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Nếu
quốc ấp trở lại yên bình, nhân dân trở về lại, nhà chùa
phục hồi, thì nên trả lại ngọa cụ cho chùa. Không trả,
sẽ như pháp trị.»
Bấy
giờ có trú xứ chúng Tăng bốn phương[11] nhận được nhiều
loại ngọa cụ bất định, giường dây, giường cây, loại
tốt, loại xấu, chăn mền, gối các loại dệt bằng lông,
các thứ trải trên đất, bình tắm, gậy, quạt. Các tỳ-kheo
không biết nên phân chia như thế nào, đem thưa hỏi đức
Phật. Phật dạy:
«Cho
phép trao cho các phòng không có ngọa cụ. Nếu còn dư thì
từ Thượng tọa chia xuống.»
4.
Tiền hậu an cư
Bấy
giờ Tôn giả Xá-lợi-phất với Mục-liên muốn cùng đức
Thế Tôn an cư. Ngày mười lăm, từ trú xứ đi, ngày mười
bảy mới đến nơi. Không biết nên thế nào,[12] liền bạch
các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đem nhơn duyên này bạch Phật. Đức
Phật dạy:
«Cho
phép hậu an cư.»
Có
hai cách an cư: tiền an cư và hậu an cư.[13]
Nếu
tiền an cư thì ở vào ba tháng trước, hậu an cư thì ở vào
ba tháng sau.
Các
vị tiền an cư tự tứ. Các vị hậu an cư không biết có
được phép tự tứ hay không. Các tỳ-kheo đem việc này bạch
Phật. Đức Phật dạy:
«Cho
phép thọ tự tứ nhưng phải ở cho đủ ngày.»
Người
tiền an cư tự tứ rồi tính tuổi. Các vị hậu an cư không
biết có được tính tuổi hay không. Các tỳ-kheo đem việc
này bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Không
nên chưa đủ ba tháng mà tính tuổi.»
Các
vị tiền an cư tự tứ xong đuổi các vị hậu an cư. Các
tỳ-kheo đem việc này bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Không
được xua đuổi. Cũng không nên đi.»
Các
vị tiền an cư tự tứ rồi phân chia các phẩm vật nhận
được trong mùa hạ. Các vị hậu an cư e ngại không dám nhận
vì Phật không cho phép họ chưa đủ ba tháng mà khất cầu
và nhận phẩm vật. Các tỳ-kheo đem việc này bạch Phật.
Đức Phật dạy:
«Cho
phép tỳ-kheo thọ. Nhưng số ngày còn thiếu, nên ở lại cho
đủ.»
Các
vị tiền an cư tự tứ rồi phân chia ngọa cụ. Các vị hậu
an cư e ngại không dám thọ vì ba tháng chưa đủ. Các tỳ-kheo
đem việc này bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Cho
phép thọ, xét theo chuẩn vị lai.»
5.
Trú xứ an cư
Bấy
giờ các tỳ-kheo an cư nơi chỗ đất trống, bị nắng gió
suốt ngày, hình thể đen đúa, da bị tróc, nứt nẻ, đến
chỗ đức Phật, đảnh lễ sát chân rồi ngồi lui qua một
bên. Thế Tôn biết mà vẫn cố hỏi:
«Tại
sao hình thể các ông bị đen đúa, da bị tróc, nứt nẻ, như
vậy?»
Các
tỳ-kheo bạch Phật:
«Vì
an cư nơi đất trống cho nên như vậy.»
Đức
Phật dạy:
«Không
nên an cư nơi đất trống. Từ nay về sau, cho phép các tỳ-kheo
an cư chỗ có che bên trên.»
Các
tỳ-kheo an cư trên cây. Từ trên cây đại tiểu tiện xuống.
Vị thọ thần nổi giận, chê trách và chờ tỳ-kheo sơ hở
sẽ đoạn mạng căn. Các tỳ-kheo đem việc này bạch Phật.
Đức Phật dạy:
«Từ
nay về sau, không cho phép tỳ-kheo an cư trên cây; cũng không
cho leo lên cây quá đầu người. Không được đại tiểu tiện
xung quanh làm cho bẩn nhúa.»[14]
Bấy
giờ các tỳ-kheo ở nước Câu-tát-la du hành trong nhân gian,
trên đường đi gặp phải thú dữ. Các tỳ-kheo leo lên cây
quá đầu người, e ngại lại leo xuống, vì nghĩ rằng: ‹Phật
không cho phép chúng ta leo lên cây cao quá đầu người,› nên
bị ác thú làm hại. Các tỳ-kheo đem việc này bạch Phật.
Đức Phật dạy:
«Từ
nay về sau, trường hợp vì mạng nạn, tịnh hạnh nạn, được
phép leo lên cây cao quá đầu người.»
Các
tỳ-kheo muốn lấy củi khô trên cây. Đức Phật cho phép làm
cái móc móc lấy, hay làm cái thang để lấy, hoặc dùng dây
cột kéo xuống để lấy. Sau đó các tỳ-kheo e ngại không
dám leo lên cây khô. Đức Phật dạy:
«Nếu
cả thân cây đều khô hết thì cho phép leo.»
Các
tỳ-kheo muốn an cư dưới bóng cây, bạch Phật, Phật dạy:
«Từ
nay về sau cho phép an cư dưới bóng cây, nếu cây ấy cao quá
đầu người và nhánh lá che đủ mát một chỗ ngồi.»
Nhóm
sáu tỳ-kheo dùng sáp ong[15] trét lên trên cái bức màn rồi
ngồi trong đó an cư, nghĩ rằng: «Ban đêm chúng ta ngủ trong
đó. Sáng ngày đem dấu hết. Nếu có người thấy, họ sẽ
gọi chúng ta là người được thần thông.» Các tỳ-kheo đem
việc này bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Từ
nay về sau không cho phép dùng sáp ong trét lên trên màn rồi
an cư trong đó. Cũng không được vì ngụy trang thân thể mà
thay đổi oai nghi thường.»
Bấy
giơ, tỳ-kheo muốn an cư trong một cái nhà nhỏ, đến bạch
Phật. Phật dạy:
«Từ
nay về sau, cho phép các tỳ-kheo an cư trong cái nhà nhỏ, miễn
là đứng dậy không đụng đầu và đủ một chỗ ngồi, đủ
để che mưa.»
Các
tỳ-kheo muốn an cư trong hang núi, đến bạch Phật. Phật dạy:
«Từ
nay về sau, cho phép an cư trong hang núi, miễn nơi đó đứng
dậy không đụng đầu, đủ dung một chỗ ngồi, đủ để
che mưa.»
Các
tỳ-kheo muốn an cư trong hang núi tự nhiên, đến bạch Phật.
Phật dạy:
«Từ
nay về sau cho phép các tỳ-kheo an cư trong hang núi tự nhiên,
miễn là đứng dậy không đụng đầu, đủ một chỗ ngồi,
đủ để mưa.»
Các
tỳ-kheo muốn an cư trong hốc cây, đến bạch Phật. Phật
dạy:
«Từ
nay về sau cho phép các tỳ-kheo an cư trong hốc cây, miễn là
đứng dậy không đụng đầu, đủ một chỗ ngồi, đủ để
che mưa.»
Tỳ-kheo
muốn y nơi người chăn bò để an cư,[16] đến bạch Phật.
Phật dạy:
«Từ
nay về sau, cho phép y nơi người chăn bò để an cư. Trong khi
an cư tùy theo sự di chuyển của người chăn bò mà di chuyển
theo.»
Các
tỳ-kheo muốn nương nơi người ép dầu[17] để an cư, đến
bạch Phật. Phật dạy:
«Từ
nay về sau, cho phép nương nơi người ép dầu để an cư. Trong
khi an cư, tùy theo sự di chuyển của người ép dầu mà di
chuyển.»
Các
tỳ-kheo muốn an cư trên thuyền, đến bạch đức Phật. Đức
Phật dạy:
«Từ
nay về sau, cho phép các tỳ-kheo an cư trên thuyền. Trong khi
an cư, tùy theo sự di chuyển của thuyền mà di chuyển.»
Tỳ-kheo
muốn nương nơi người thợ đốn gỗ để an cư, đến bạch
Phật. Phật dạy:
«Từ
nay về sau cho phép các tỳ-kheo nương nơi người thợ đốn
gỗ để an cư. Trong khi an cư, tùy theo sự di chuyển của họ
mà di chuyển.»
Các
tỳ-kheo muốn nương nơi xóm làng để an cư, đến bạch Phật.
Đức Phật dạy:
«Từ
nay về sau, cho phép các tỳ-kheo nương nơi xóm làng để an
cư. Trong khi đang an cư, nếu xóm làng [833a1] chia làm hai phần,
tùy theo sự cung cấp những vật cần dùng, nơi nào đầy đủ
thì di chuyển theo nơi đó để an cư.»
6.
Xuất giới
Bấy
giờ có đàn-việt thưa thỉnh tỳ-kheo: «Con muốn cúng dường
vật thực và phòng xá.» Tỳ-kheo kia tự nghĩ: «Chỗ đó xa,
không thể trong ngày trở về kịp. Đức Phật chưa cho phép
nhơn duyên như vậy được đi.» Các tỳ-kheo đến bạch Phật.
Đức Phật dạy:
«Từ
nay về sau cho phép thọ pháp bảy ngày để ra đi. Nhưng không
nên chỉ vì vấn đề ăn uống mà thọ pháp bảy ngày để
ra đi, trừ khi có nhơn duyên khác. Nếu đi vì y bát, tọa cụ,
ống đựng kim cho đến thuốc men, mãn ngày thứ bảy nên trở
về.»
Bấy
giờ các tỳ-kheo thưa thỉnh các trưởng lão tỳ-kheo khác:
«Chúng tôi mắc tội tăng tàn, vì chúng tôi trị pháp phú
tàng, bổn nhật trị, ma-na-đỏa, xuất tội.» Các vị tự
nghĩ: «Nơi đó xa không thể về kịp trong ngày. Đức Phật
chưa cho phép có nhơn duyên như vậy được đi.» Các tỳ-kheo
đem nhơn duyên này bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Khi
có sự việc như vậy, cho phép thọ pháp bảy ngày để ra
đi. Đủ bảy ngày trở lại.»
Bấy
giờ, các tỳ-kheo-ni thưa thỉnh các trưởng lão tỳ-kheo: «Chúng
con mắc tội tăng tàn, xin vì chúng con tác pháp ma-na-đỏa,
xuất tội.» Các vị tự nghĩ: «Nơi đó xa không thể về
kịp trong ngày. Đức Phật chưa cho phép có nhơn duyên như
vậy được đi.» Các tỳ-kheo đem nhơn duyên này bạch Phật.
Đức Phật dạy:
«Từ
nay về sau, cho phép, có việc như vậy, thọ pháp bảy ngày
để ra đi. Đủ bảy ngày trở lại.»
Có
thức-xoa-ma-na thỉnh tỳ-kheo trưởng lão, thưa: «Chúng con
phạm giới. Cho chúng con sám hối, hoặc thọ giới lại. Hay
thọ đại giới.» Các vị tự nghĩ: «Nơi đó xa không thể
về kịp trong ngày. Đức Phật chưa cho phép có nhơn duyên
như vậy được đi.» Các tỳ-kheo đem nhơn duyên này bạch
Phật. Đức Phật dạy:
«Từ
nay về sau, cho phép, có việc như vậy, thọ pháp bảy ngày
để ra đi. Đủ bảy ngày trở lại.»
Các
sa-di mời trưởng lão tỳ-kheo đến để thọ giới. Các vị
tự nghĩ: «Nơi đó xa không thể về kịp trong ngày. Đức
Phật chưa cho phép có nhơn duyên như vậy được đi.» Các
tỳ-kheo đem nhơn duyên này bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Từ
nay về sau, cho phép, có việc như vậy, thọ pháp bảy ngày
để ra đi. Đủ bảy ngày trở lại.»
Có
sa-di-ni mời các Đại đức tỳ-kheo đến để thọ sáu pháp.
Các vị tự nghĩ: «Nơi đó xa không thể về kịp trong ngày.
Đức Phật chưa cho phép có nhơn duyên như vậy được đi.»
Các tỳ-kheo đem nhơn duyên này bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Từ
nay về sau, cho phép, có việc như vậy, thọ pháp bảy ngày
để ra đi. Đủ bảy ngày trở lại.»
Bấy
giờ có vị đại thần không có tín tâm, mời Đại đức
tỳ-kheo đến, «Tôi muốn gặp.» Tỳ-kheo nghĩ, «Nơi đó xa
không thể về kịp trong ngày. Đức Phật chưa cho phép có
nhơn duyên như vậy được đi.» Các tỳ-kheo đem nhơn duyên
này bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Từ
nay về sau, cho phép, có việc như vậy, thọ pháp bảy ngày
để ra đi. Nếu hữu ích, chứ không phải vô ích. Đủ bảy
ngày trở lại.»
Có
vị đại thần có tín tâm, mời Đại đức tỳ-kheo, «Tôi
muốn gặp.» Tỳ-kheo nghĩ, «Nơi đó xa không thể về kịp
trong ngày. Đức Phật chưa cho phép có nhơn duyên như vậy
được đi.» Các tỳ-kheo đem nhơn duyên này bạch Phật. Đức
Phật dạy:
«Từ
nay về sau, cho phép, có việc như vậy, thọ pháp bảy ngày
để ra đi. Vì người ưu-bà-tắc có tín tâm này hoặc bệnh
hay có các việc lo buồn, hoặc vì lợi dưỡng. Đủ bảy ngày
nên trở về lại.»
Bấy
giờ, có cha mẹ không có tín tâm mời Đại đức Tỳ-kheo,
«Tôi muốn gặp.» Tỳ-kheo nghĩ, «Nơi đó xa không thể về
kịp trong ngày. Đức Phật chưa cho phép có nhơn duyên như
vậy được đi.» Các tỳ-kheo đem nhơn duyên này bạch Phật.
Đức Phật dạy:
«Từ
nay về sau, cho phép, có việc như vậy, thọ pháp bảy ngày
để ra đi. Vì để giáo hoá khiến cho người không có tín
tâm kia sanh tín tâm; có ác giới khiến cho trì giới; có xan
tham khiến cho họ bố thí; vô trí khiến cho có trí. Đủ bảy
ngày trở về lại.»
Có
trường hợp cha mẹ có tín tâm sai người đến thỉnh Đại
đức tỳ-kheo, «Tôi muốn gặp.» Tỳ-kheo nghĩ, «Nơi đó xa
không thể về kịp trong ngày. Đức Phật chưa cho phép có
nhơn duyên như vậy được đi.» Các tỳ-kheo đem nhơn duyên
này bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Từ
nay về sau, cho phép, có việc như vậy, thọ pháp bảy ngày
để ra đi. Nếu Vì cha mẹ có tín tâm bị bệnh hoặc có các
việc lo buồn, hoặc có việc lợi ích. Đủ bảy ngày trở
lại.»
Trường
hợp có bà mẹ thỉnh Đại đức tỳ-kheo, «Tôi muốn gặp.»
Tỳ-kheo nghĩ, «Nơi đó xa không thể về kịp trong ngày. Đức
Phật chưa cho phép có nhơn duyên như vậy được đi.» Các
tỳ-kheo đem nhơn duyên này bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Từ
nay về sau, cho phép, có việc như vậy, thọ pháp bảy ngày
để ra đi. Đủ bảy ngày nên trở lại.»
Trường
hợp có người cha thỉnh tỳ-kheo cũng như vậy; anh em, chị
em các thân lý tri thức cũng như vậy.[18]
Trường
hợp có tỳ-kheo tụng sáu mươi thứ kinh,[19] như kinh «Phạm
động,»[20] vì tìm cầu người đồng tụng nên muốn du hành
trong nhân gian. Tỳ-kheo nghĩ, «Nơi đó xa không thể về kịp
trong ngày. Đức Phật chưa cho phép có nhơn duyên như vậy
được đi.» Các tỳ-kheo đem nhơn duyên này bạch Phật. Đức
Phật dạy:
«Từ
nay về sau, cho phép, có việc như vậy, thọ pháp bảy ngày
để ra đi. Đủ bảy ngày nên trở lại.»
Bấy
giờ, có tỳ-kheo tri sự có công việc cần đến trong rừng
cây[21] một thời gian, tự nghĩ rằng: «Nơi đó xa không thể
về kịp trong ngày. Đức Phật chưa cho phép có nhơn duyên
như vậy được đi.» Các tỳ-kheo đem nhơn duyên này bạch
Phật. Đức Phật dạy:
«Từ
nay về sau, cho phép, có việc như vậy, thọ pháp bảy ngày
để ra đi. Đủ bảy ngày nên trở lại.»
Bấy
giờ nhân dân vùng biển quốc nổi loạn, Vua Ba-tư-nặc tự
cầm quân đến để chinh phạt. Nhà Vua cúng dường Phật và
chúng Tăng y, chăn mền, thức ăn và vật dụng cần dùng. Vị
đại thần không có tín tâm bèn đoạt, không trao cho các tỳ-kheo.
Các tỳ-kheo muốn đến báo cho nhà Vua biết nhưng lại nghĩ:
«Nơi đó xa không thể về kịp trong ngày. Đức Phật chưa
cho phép có nhơn duyên như vậy được đi.» Các tỳ-kheo đem
nhơn duyên này bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Từ
nay về sau, cho phép, có việc như vậy, thọ pháp bảy ngày
để ra đi. Đủ bảy ngày nên trở lại.»
Bấy
giờ, Vua Ba-tư-nặc tự cầm quân chinh phạt số nhân dân nổi
loạn nơi biên giới, vị đại thần không có tín tâm, với
ác tâm đố kị, muốn đào một con kênh thông qua Kỳ-hoàn.[22]
Tỳ-kheo muốn đến báo cáo với nhà Vua nhưng lại nghĩ: «Nơi
đó xa không thể về kịp trong ngày. Đức Phật chưa cho phép
có nhơn duyên như vậy được đi.» Các tỳ-kheo đem nhơn duyên
này bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Từ
nay về sau, cho phép, có việc như vậy, thọ pháp bảy ngày
để ra đi. Đủ bảy ngày nên trở lại.»
Lúc
bấy giờ có đàn-việt sai người đến thỉnh Đại đức
tỳ-kheo đến để cúng dường thức ăn và phòng xá, tỳ-kheo
tự nghĩ: «Nơi đó xa không thể về kịp trong ngày. Đức
Phật chưa cho phép có nhơn duyên như vậy được đi.» Các
tỳ-kheo đem nhơn duyên này bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Từ
nay về sau, cho phép, có việc như vậy, cho phép thọ pháp quá
bảy ngày, hoặc mười lăm ngày, hay một tháng, bằng pháp
bạch nhị yết-ma để đi.»
Chúng
Tăng sai một vị có khả năng tác yết-ma, hoặc Thượng tọa,
thứ tọa, tụng luật được hay không tụng luật được mà
có thể tác pháp yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với
Tăng, Tăng chấp thuận cho tỳ-kheo tên là... thọ pháp quá
bảy ngày, hoặc mười lăm ngày, hay một tháng, để ra ngoài
giới vì công việc như vậy, như vậy... Xong việc sẽ trở
về trong giới để an cư. Đây là lời tác bạch.
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên là... thọ pháp quá bảy
ngày, hay mười lăm ngày, hoặc một tháng, ra ngoài giới vì
công việc như vậy... Xong việc sẽ trở về trong giới để
an cư. Các trưởng lão nào đồng ý Tăng cho phép tỳ-kheo tên
là... thọ pháp quá bảy ngày, hoặc mười lăm ngày, hay một
tháng, thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.
«Tăng
đã đồng ý cho tỳ-kheo tên là... thọ pháp quá bảy ngày,
hoặc mười lăm ngày, hay một tháng, để ra ngoài giới làm
công việc như vậy. Xong việc sẽ trở về đây an cư [834a1]
rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc này được ghi nhận
như vậy.»
Tỳ-kheo
khiến người tin cậy thỉnh tỳ-kheo, thọ yết-ma quá bảy
ngày cũng như vậy. Tỳ-kheo-ni thỉnh tỳ-kheo, thọ yết-ma
cũng như vậy. Sa-di thỉnh tỳ-kheo, thọ giới cũng như vậy.
Sa-di-ni thỉnh tỳ-kheo, thọ yết-ma quá bảy ngày cũng như
vậy. Đại thần bất tín thỉnh tỳ-kheo, thọ pháp yết-ma
quá bảy ngày cũng như vậy. Đại thần có lòng tin, yết-ma
cũng như vậy. Cha mẹ không tin, cha mẹ tin, anh em, chị em,
các thân lý tri thức, tỳ-kheo tụng sáu mươi loại kinh, tỳ-kheo
kinh dinh, đại thần không tín tâm đoạt vật cúng dường,
đào kênh xuyên qua,[23] cũng như vậy. Tất cả pháp thọ yết-ma
quá bảy ngày đều đồng như trên.
7.
Phá hạ
Thế
Tôn ở tại nước Câu-thiểm-di. Có đại thần dũng kiện,
đánh giặc giỏi, đến chỗ đức Phật với lòng tin xuất
gia làm đạo. Bấy giờ, Vua Ưu-điền bảo rằng:
«Tại
sao ông không bỏ đạo, để cùng vợ ông tạo ra nhà cửa,
ruộng vườn, của cải, vật báu?»
Tỳ-kheo
tự nghĩ:
«An
cư tại đây có thể nguy hiểm cho tịnh hạnh của ta.»
Tỳ-kheo
đến bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Nếu
có nạn sự như vậy thì nên bỏ đi.»
Bấy
giờ, có tỳ-kheo đang an cư tại một trú xứ nọ, có đàn
bà chưa chồng đến cám dỗ tỳ-kheo, nói rằng: «Sao thầy
không thôi tu? Tôi sẽ làm vợ thầy.» Tỳ-kheo tự nghĩ: «An
cư tại đây có thể nguy hiểm cho tịnh hạnh của ta.»
Tỳ-kheo
đến bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Nếu
có nạn sự như vậy thì nên bỏ đi.»
Tỳ-kheo
an cư tại một trú xứ nọ, có dâm nữ đến cám dỗ tỳ-kheo,
nói rằng: «Sao thầy không thôi tu? Tôi sẽ làm vợ thầy.
Hoặc tôi gả con gái cho thầy.»
Tỳ-kheo
tự nghĩ:
«An
cư tại đây có thể nguy hiểm cho tịnh hạnh của ta.»
Tỳ-kheo
đến bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Nếu
có nạn sự như vậy thì nên bỏ đi.»
Bấy
giờ, có tỳ-kheo đang an cư tại trú xứ, có huỳnh môn vì
tham ái tỳ-kheo nên đến kêu gọi tỳ-kheo cùng làm chuyên
bất tịnh hạnh. Tỳ-kheo tự nghĩ: «An cư tại đây có thể
nguy hiểm cho tịnh hạnh của ta.» Tỳ-kheo đến bạch Phật.
Đức Phật dạy:
«Nếu
có nạn sự như vậy thì nên bỏ đi.»
Có
tỳ-kheo đang an cư tại trú xứ, quỷ thần nói với tỳ-kheo:
«Nơi đây có kho tàng chôn dấu.» Tỳ-kheo tự nghĩ: «An cư
tại đây có thể nguy hiểm cho tính mạng của ta.» Tỳ-kheo
đến bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Nếu
có nạn sự như vậy thì nên bỏ đi.»
Bấy
giờ, có tỳ-kheo đang an cư nơi trú xứ, quỷ thần muốn đoạn
mạng sống tỳ-kheo nên rình chờ sơ hở. Tỳ-kheo tự nghĩ:
«An cư tại đây có thể nguy hiểm cho tính mạng của ta.»
Tỳ-kheo đến bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Nếu
có nạn sự như vậy thì nên bỏ đi.»
Có
tỳ-kheo đang an cư nơi trú xứ, có bọn giặc muốn đoạn
mạng sống tỳ-kheo nên rình, chờ cơ hội thuận tiện. Tỳ-kheo
tự nghĩ: «An cư tại đây có thể nguy hiểm cho tính mạng
của ta.» Tỳ-kheo đến bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Nếu
có nạn sự như vậy thì nên bỏ đi.»
Có
tỳ-kheo an cư nơi trú xứ, rắn độc hung dữ, rình cơ hội
thuận tiện sẽ đoạn mạng sống. Tỳ-kheo tự nghĩ: «An cư
tại đây có thể nguy hiểm cho tính mạng của ta.» Tỳ-kheo
đến bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Nếu
có nạn sự như vậy thì nên bỏ đi. »
Có
tỳ-kheo an cư nơi trú, các thú dữ hung dữ, rình cơ hội thuận
tiện để đoạn mạng căn. Tỳ-kheo tự nghĩ: «An cư tại
đây có thể nguy hiểm cho tính mạng của ta.» Tỳ-kheo đến
bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Nếu
có nạn sự như vậy thì nên bỏ đi. »
Có
tỳ-kheo an cư nơi trú xứ không được như ý đối với vấn
đề ăn uống, thuốc men không đủ, người giúp việc không
như ý. Vị kia tự nghĩ: «Ta nên làm thế nào đây?» Tỳ-kheo
liền bạch các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch Phật. Đức
Phật dạy:
«Nếu
tỳ-kheo an cư chỗ mà ăn uống không được như ý, thuốc
men không có dùng, người giúp việc không theo ý muốn, thì
nên bỏ đi.»
Tỳ-kheo
an cư nơi trú xứ, chỗ đi kinh hành có nhiều loại trùng độc.
Tỳ-kheo kia có tập quán kinh hành; vì kinh hành thì cơ thể
khỏe mạnh, không kinh hành thì không bình an. Tỳ-kheo kia tự
nghĩ: ‹Sống ở đây sẽ tai hại cho mạng căn.› Nghĩ xong
đến bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Nếu
có việc nạn sự như vậy thì nên bỏ đi.»
Bấy
giờ có tỳ-kheo an cư nơi trú xứ, thấy có tỳ-kheo đang tạo
phương tiện phá Tăng vị kia nghĩ: «Phá Tăng là việc làm
rất xấu ác. Ta không nên dự vào việc này. Ta nên làm thế
nào đây ?» Vị ấy liền bạch các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đem
việc này bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Nếu
tỳ-kheo an cư nơi trú xứ, thấy có tỳ-kheo đang vận động
phương tiện phá Tăng; vị kia nghĩ: ‹Tăng vỡ là việc rất
nghiêm trọng, rất xấu ác. Ta không nên dự vào việc phá
tăng.› Tỳ-kheo kia nên vì việc này mà bỏ đi.»
Có
tỳ-kheo an cư nơi trú xứ, thấy có tỳ-kheo-ni đang tạo phương
tiện phá Tăng, vị kia nghĩ: ‹Phá Tăng là việc làm rất
xấu ác. Ta không nên dự vào việc này.› Vị kia liền vì
việc này mà bỏ đi.
Có
tỳ-kheo đã an cư nơi trú xứ rồi, nghe có tỳ-kheo đang vận
động phương tiện phá Tăng. Vị kia nghĩ: ‹Tăng vỡ là việc
rất nghiêm trọng, rất xấu ác. Ta chớ nên dự vào việc
này.› Vị kia liền vì việc này mà bỏ đi.
Có
tỳ-kheo đã an cư nơi trú xứ rồi, nghe có tỳ-kheo-ni đang
vận động phương tiện phá Tăng. Vị kia nghĩ: ‹Tăng vỡ
là việc rất nghiêm trọng, rất xấu ác. Ta không nên dự
vào việc này.› Vị kia liền vì việc này bỏ đi.
Bấy
giờ, có tỳ-kheo an cư nơi trú xứ, nghe tỳ-kheo kia muốn phương
tiện phá Tăng. Vị kia nghĩ: ‹Nếu ta đến can gián, la rầy,
chắc họ sẽ nghe lời ta mà đình chỉ việc phá Tăng.› Vị
kia lại nghĩ: ‹Nếu ta tự đến, có thể họ không nghe lời
ta chấm dứt việc phá Tăng. Ta có thân hữu có thể chấm
dứt việc phá Tăng kia. Nếu ta nói, chắc họ sẽ vì lời
nói của ta mà chấm dứt việc phá Tăng kia. Vậy ta nên như
thế nào đây?› Vị ấy liền nói với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo
đến bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Nếu
tỳ-kheo an cư nơi trú xứ, nghe có tỳ-kheo muốn phương tiện
phá Tăng, tỳ-kheo nghĩ: ‹Nếu ta đến can gián, la rầy, chắc
họ sẽ nghe lời ta mà đình chỉ việc phá Tăng.› Vị kia
lại nghĩ: ‹Nếu ta tự đến, có thể họ không nghe lời
ta chấm dứt việc phá Tăng. Ta có thân hữu có thể chấm
dứt việc phá Tăng kia. Nếu ta nói, chắc họ sẽ vì lời
nói của ta mà chấm dứt việc phá Tăng kia.› Ngay lúc đó,
vị kia vì việc này ra đi.
Có
tỳ-kheo an cư nơi trú xứ, nghe kia có tỳ-kheo-ni đang vận
động phương tiện phá Tăng, tỳ-kheo nghĩ: ‹Nếu ta đến
can gián, la rầy, chắc họ sẽ nghe lời ta mà đình chỉ việc
phá Tăng.› Vị kia lại nghĩ: ‹Nếu ta tự đến, có thể
họ không nghe lời ta chấm dứt việc phá Tăng. Ta có thân
hữu có thể chấm dứt việc phá Tăng kia. Nếu ta nói, chắc
họ sẽ vì lời nói của ta mà chấm dứt việc phá Tăng kia.›
Vị kia liền vì việc này ra đi.
«Có
tỳ-kheo trong khi an cư nghe Tăng kia bị vỡ liền nghĩ: ‹Nếu
ta đến can gián, la rầy, chắc họ sẽ nghe lời ta mà đình
chỉ việc phá Tăng.› Vị kia lại nghĩ: ‹Nếu ta tự đến,
có thể họ không nghe lời ta chấm dứt việc phá Tăng. Ta
có thân hữu có thể chấm dứt việc phá Tăng kia. [835a1] Nếu
ta nói, chắc họ sẽ vì lời nói của ta mà chấm dứt việc
phá Tăng kia.› Vị kia liền vì việc này ra đi.
Có
tỳ-kheo trong khi an cư nghe tỳ-kheo-ni Tăng kia bị vỡ, nghĩ:
‹Nếu ta đến can gián, la rầy, chắc họ sẽ nghe lời ta
mà đình chỉ việc phá Tăng.› Vị kia lại nghĩ: ‹Nếu ta
tự đến, có thể họ không nghe lời ta chấm dứt việc phá
Tăng. Ta có thân hữu có thể chấm dứt việc phá Tăng kia.
Nếu ta nói, chắc họ sẽ vì lời nói của ta mà chấm dứt
việc phá Tăng kia.› Vị kia liền vì việc này ra đi.»
Bấy
giờ có tỳ-kheo thọ pháp bảy ngày ra ngoài cương giới mẹ
giữ lại, mặc dù với ý muốn về mà vẫn không kịp. Vị
ấy nghĩ: «Như vầy ta có bị mất hạ hay không?» Vị ấy
liền bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức
Phật dạy:
«Không
mất tuổi hạ.»
Đối
với cha mẹ,[24] anh em, chị em, vợ cũ, hoặc người trước
kia tư thông, hoặc nạn dạ xoa quỷ thần cũng như vậy.
Có
tỳ-kheo thọ pháp bảy ngày ra ngoài cương giới bị đường
bộ, đường nước không thông, hoặc bị nạn giặc cướp,
hổ lang, sư tử, bèn nghĩ: «Ta có bị mất tuổi hạ hay không?»
Vị ấy liền bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật.
Đức Phật dạy:
«Không
mất tuổi hạ.»
8.
Ước định an cư
Phật
ở vườn Cù-sư-la, tại nước Câu-thiểm-di. Bấy giờ Vua
Ưu-đà-diên là bạn thân quen của Bạt-nan-đà Thích tử, mời
Bạt-nan-đà hạ an cư. Bạt-nan-đà đã kết an cư nơi nước
Câu-thiểm-di. Nghe trú xứ khác nhận được nhiều lợi dưỡng,
nhiều y vật, liền đến nơi trú xứ đó một thời gian ngắn
rồi trở lại Câu-thiểm-di. Vua Ưu-đà-diên nghe rồi cơ hiềm
nói:
«Bạt-nan-đà
Thích tử đã nhận lời mời an cư của tôi nơi đây. Sao nghe
trú xứ khác nhận được nhiều lợi dưỡng, nhiều y vật,
liền đến nơi trú xứ kia ở; rồi lại trở về nơi đây?»
Các
tỳ-kheo nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống khổ
hạnh biết hổ thẹn, ưa học giới, quở trách Bạt-nan-đà
Thích tử: «Sao thầy hạ an cư nơi kia, nghe trú xứ khác nhận
được nhiều lợi dưỡng, y vật, lại đến đó ở một thời
gian ngắn; rồi trở về nơi đây?» Vị ấy đến chỗ đức
Phật, đảnh lễ sát chân, ngồi qua một bên, đem nhơn duyên
này bạch lên đức Phật đầy đủ. Đức Thế Tôn dùng nhơn
duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, dùng vô số phương tiện
quở trách Bạt-nan-đà:
«Ông
là người không biết gì, chẳng phải oai nghi, chẳng phải
tịnh hạnh, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải hạnh tùy
thuận, làm việc không nên làm. Này Bạt-nan-đà, sao ông hạ
an cư nơi Câu-thiểm-di; nghe trú xứ khác nhận được nhiều
lợi dưỡng, nhiều y vật, đến đó ở; rồi lại trở về
Câu-thiểm-di?»
Quở
trách rồi, Phật bảo các tỳ-kheo:
«Nếu
tỳ-kheo nào thọ tiền an cư nơi trú xứ này, nghe nơi trú
xứ khác nhận được nhiều lợi dưỡng, liền đến nơi kia;
tỳ-kheo đó không được nhận tuổi hạ của tiền an cư.
Vì trái với điều bạch trước kia, mắc tội.
«Tỳ-kheo
nào nhận lời mời của người tiền an cư nơi đây, mà đến
ngoài giới bố-tát xong rồi đi đến chỗ khác,[25] tỳ-kheo
này phá tiền an cư, trái với điều tác bạch trước, mắc
tội.
«Tỳ-kheo
nào nhận người thỉnh tiền an cư, mà ở ngoài giới bố-tát
rồi mới đến chỗ thỉnh; trong ngày liền bỏ đi, tỳ-kheo
đó phá tiền an cư, trái với điều tác bạch trước, mắc
tội.
«Tỳ-kheo
nào nhận lời mời tiền an cư của người, mà bố-tát ngoài
giới rồi mới đến chỗ thỉnh, nhận phòng xá, ngọa cụ;
không có duyên sự gì lại bỏ đi,[26] vị đó phá tiền an
cư, trái với điều tác bạch trước, mắc tội.
«Tỳ-kheo
nào nhận lời tiền an cư của người, mà bố-tát ngoài giới
rồi mới đến trú xứ, thọ pháp bảy ngày ra ngoài giới
với ý muốn trở lại; quá bảy ngày, tỳ-kheo đó phá tiền
an cư, trái với điều tác bạch trước, mắc tội.
«Tỳ-kheo
nào nhận lời mời tiền an cư của người, mà bố-tát ở
ngoài giới, bố-tát rồi mới đến trú xứ, thọ pháp bảy
ngày ra ngoài giới, đủ bảy ngày trở về, tỳ-kheo đó thành
tiền an cư, không trái với lời bạch trước, không tội.
«Tỳ-kheo
nào nhận lời mời tiền an cư của người, mà bố-tát ở
ngoài giới, bố-tát rồi lại đến trú xứ, hạn sau cùng,[27]
thọ pháp bảy ngày ra ngoài giới, tỳ-kheo kia trở lại hay
không trở lại trú xứ cũng thành tiền an cư, không trái với
lời bạch trước, không tội.
«Tỳ-kheo
nào nhận lời mời tiền an cư của người, mà đến trong
giới bố-tát[28] rồi mới đến trú xứ,[29] trong ngày lại
bỏ đi, tỳ-kheo kia phá tiền an cư, trái với lời bạch trước,
mắc tội.
«Tỳ-kheo
nào nhận lời mời tiền an cư của người, mà đến trong
giới bố-tát, bố-tát rồi đến trú xứ nhận phòng xá, ngọa
cụ, không lí do gì mà bỏ đi, tỳ-kheo kia phá tiền an cư,
trái với lời bạch trước, mắc tội.
«Tỳ-kheo
nào nhận lời mời tiền an cư của người, mà đến trong
giới bố-tát, bố-tát rồi đến trú xứ (khác), nhận pháp
bảy ngày ra ngoài giới,[30] với ý muốn trở lại nhưng không
kịp bảy ngày, tỳ-kheo này phá tiền an cư, trái với lời
bạch trước, mắc tội.
«Tỳ-kheo
nào nhận lời mời tiền an cư của người, lại đến bố-tát
trong giới rồi đến trú xứ (khác), thọ pháp bảy ngày ra
ngoài giới, bảy ngày trở về kịp, tỳ-kheo kia không phá
tiền an cư, không trái với lời bạch trước, không tội.
«Tỳ-kheo
nào nhận lời mời tiền an cư của người, mà bố-tát trong
giới rồi mới đến trú xứ (khác), hạn cuối cùng, thọ
pháp bảy ngày ra ngoài giới, trở lại hay không trở lại
trú xứ vẫn không phá an cư, không trái với lời bạch trước,
không tội. Hậu an cư cũng vậy.»
Bấy
giờ có tỳ-kheo nhận lời mời tiền an cư của người, sau
đó thấy có mạng nạn hoặc tịnh hạnh nạn, vị kia ý nghĩ,
«Ta nên làm thế nào đây?» Vị ấy liền báo cáo các tỳ-kheo.
Các tỳ-kheo đến bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Nếu
tỳ-kheo ở nơi trú xứ hoặc thọ tiền an cư, hậu an cư mà
thấy có mạng nạn, tịnh hạnh nạn, tỳ-kheo kia tự đến
hoặc sai người tin cậy đến tin cho đàn-việt biết, yêu
cầu dời chỗ. Nếu họ đồng ý thì tốt. Bằng không, vẫn
cứ phải bỏ đi.»
[1]
Pali (Vin. i. 137), ekindriyaṃ jīvaṃ, loài có sự sống với
một căn; chỉ một căn duy nhất là mạng căn.
[2]
Bình minh của ngày 16, tháng tiền an cư.
[3]
Phước nhiêu 福饒. Không rõ vật gì. Xem cht. 1 ch. xviii phần
iv.
[4]
Chỉ tỳ-kheo giám sự, quản lý phòng ốc của tinh xá.
[5]
Tỳ-kheo giám sự được ưu tiên tự chọn phòng. Xem phần
iv, ch. i «Phòng xá», mục 16 «Tỳ-kheo tri sự.»
[6]
Tăng tập xứ 僧集處; có lẽ tương đương Pali: upaṭṭhānasālā,
phòng họp của Tăng, đồng thời là nhà của thị giả, hay
cúng dường thất.
[7]
Ôn thất 溫室; nhà tắm nóng. Cũng chỉ chung nhà tắm.
[8]
Hạ đường 夏堂; nhà mùa mưa (?). Có lẽ tương đương Pali:
vaccakuṭi, nhà cầu, nhưng bản Hán đọc là vassa-kuṭi, nhà
mùa Hạ.
[9]
Ma-hê-đà-la摩醯陀羅. Skt. Mahīdhara (?): trì địa (một biệt
hiệu của Viṣnu).
[10]
Phật-đồ chủ 佛圖主. Tức tháp chủ.
[11]
Tứ phươngTăng 四方僧, hay chiêu-đề Tăng, phân biệt với
Tăng thường trú.
[12]
Vì trễ hạn nhập an cư một ngày.
[13]
Cf. Mahāvagga iii, Vin. i. 137: dvemā vassūpanāyikā, purimikā pacchimikā,
«có hai hạn khởi đầu mùa mưa: hạn đầu và hạn sau. Mùa
hạ, theo lịch Ấn độ, có bốn tháng. Tiền kỳ hạ bắt
đau từ ngày trăng tròn tháng Āsāḷhī (tháng 6-7, DL). Hậu
kỳ hạ, ngày trăng tròn một tháng sau đó.
[14]
Xem Phần i, Ch. vii. Chúng học, điều 94.
[15]
Lạp mật 蠟蜜.
[16]
Mục ngưu giả 牧牛者. Pali: vaja, chuồng bò (hay nhà của người
chăn bò).
[17]
Áp du nhân 壓油人(?) Xem Vin. i. 152: sattha, thương đoàn. Phật
cho phép y thương đoàn mà an cư; và di chuyển theo thương đoàn.
Ngũ phần: y cổ khách (lái buôn) an cư.
[18]
Cf. Mahāvagga iii (Vin.i. 139): có bảy hạng người, khi có việc
cần và họ yêu cầu, tỳ-kheo được đi trong vòng bảy ngay:
tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, ưu-bà-tắc,
ưu-bà-di.
[19]
Thập tụng 24 (T23n1435 tr.174b18) liệt kê 17 kinh.
[20]
Trường A-hàm 1, kinh số 21; cf. Pali, Dīgha-kāya 1. Brahmajāla.
[21]
Cf. Vin. i. 148: Chùa bị hư. Có cư sĩ cung cấp cho Tăng một
số vật liệu đã đốn ở trong rừng. Tỳ-kheo vào rừng để
vận chuyển về.
[22]
Xem Phần I, Ch. v. ba-dật-đề, điều 49 (mục Duyên khởi).
[23]
Như các nhân duyên thọ pháp bảy ngày kể trên.
[24]
Cf. Vin. i. 148: Xuất giới 7 ngày vì người đời dù họ tin
Phật hay không: mẹ, cha, anh em, chị em, thân tộc (nātāka)
và bạn cũ (bhikkhugatika).
[25]
Tham chiếu Pali (Vin. i. 154): tỳ-kheo ấy đang đi đến trú xứ
(tiền an cư) này, bèn bố-tát ngoài giới, rồi ngày hôm sau
đi đến trú xứ khác (cũng để nhận tiền an cư tại đây).
Tại trú xứ này, tỳ-kheo nhận phòng xá, v.v. rồi đi trong
ngày, hay ở lại đó vài ngày, hay sau đó đi cho công việc
thời hạn bảy ngày xuất giới nhưng đi quá: tất cả đều
phá tiền an cư. Nếu đi không quá bảy ngày, không phá tiền
an cư. Điều luật liên hệ tỳ-kheo kết an cư tại hai trú
xứ. Tỳ-kheo an cư tại trú xứ nào, bố-tát tại trú xứ
đó. Xem thêm Ngũ phần 19 (tr. 130b): Thọ thỉnh tiền an cư.
Đã bố-tát. Sau qua trú xứ khác. Phá tiền an cư, đột-kiết-la.
Xem thêm Thập tụng 24 (tr. 177c): tại trú xứ thỉnh tiền an
cư mà tỳ-kheo chưa qua bố-tát, chưa nhận phân phòng xá, nếu
xuất giới, chỗ đó không thành tiền an cư.
[26]
Cf. Pali, ibid., … bố-tát ngoài giới rồi, đến trú xứ khác,
(tại đó) nhận…, không có sự việc gì mà bỏ đi, qua hai
hoặc ba ngày: phá tiền an cư.
[27]
Mạt hậu 末後, hạn của mùa an cư, còn không quá bảy ngày.
Pali, ibid., pavāranāya sakaraṇīyo, trước ngày tự tứ, có
công việc.
[28]
Bố-tát tại trú xứ an cư. Thành tiền an cư tại đây.
[29]
Đến trú xứ khác.
[30]
Nhận tại trú xứ tiền an cư.