CHƯƠNG
IV
BA-DẬT-ĐỀ
A -
THÔNG GIỚI[1]
Một
thời, đức Bà-già-bà ở trong vườn Ni-câu-luật, Thích-súy-sấu,
nước Ca-duy-la-vệ. Bấy giờ, đức Thế tôn dùng những nhơn
duyên này (như Tăng) tập hợp Tăng tỳ-kheo, bảo:
«Từ
nay về sau, Ta vì các tỳ-kheo-ni kiết giới gồm mười cú
nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.»
Muốn
nói giới nên nói như vầy:
ĐIỀU
1
Tỳ-kheo-ni
nào, cố ý nói dối, ba-dật-đề.*[2]
ĐIỀU
2
Tỳ-kheo-ni
nào, nói lời mạ nhục, ba-dật-đề.*[3]
ĐIỀU
3
Tỳ-kheo-ni
nào, nói lời hai lưỡi, (ly gián), ba-dật-đề.*[4]
ĐIỀU
4
Tỳ-kheo-ni
nào, ngủ đêm chung nhà với người nam, ba-dật-đề.*[5]
ĐIỀU
5
Tỳ-kheo-ni
nào, ngủ đêm chung nhà với người nữ chưa thọ đại giới,
quá ba đêm, ba-dật-đề.*[6]
ĐIỀU
6
Tỳ-kheo-ni
nào, cùng tụng pháp với người chưa thọ giới, ba-dật-đề.*[7]
ĐIỀU
7
Tỳ-kheo-ni
nào, biết người khác có tội thô ác, đem nói với người
chưa thọ đại giới, ba-dật-đề, trừ tăng yết-ma.*[8][9]
ĐIỀU
8
Tỳ-kheo-ni
nào, đối với người chưa thọ đại giới, mà tự nói rằng
chứng ngộ pháp thượng nhơn rằng: ‹tôi biết điều ấy,
tôi thấy điều ấy,› dù là sự thật, ba-dật-đề.*[10]
ĐIỀU
9
Tỳ-kheo-ni
nào, nói pháp cho người nam quá năm, sáu lời, ba-dật-đề.
Trừ có mặt người nữ có trí.*[11]
ĐIỀU
10
Tỳ-kheo-ni
nào, tự tay đào đất hay bảo người đào, ba-dật-đề.*[12]
ĐIỀU
11
Tỳ-kheo-ni
nào, phá hoại mầm sống cây cỏ, ba-dật-đề.*[13]
ĐIỀU
12
Tỳ-kheo-ni
nào, cố ý nói quanh và gây phiền vị khác, ba-dật-đề.*[14]
ĐIỀU
13
Tỳ-kheo-ni
nào, chê bai và nói xấu ‹tri sự Tăng› ba-dật-đề.*[15]
ĐIỀU
14
Tỳ-kheo-ni
nào, mang giường nằm, ghế ngồi, hoặc ngọa cụ, nệm ngồi
của Tăng bày ra giữa đất trống, hoặc sai người bày. khi
bỏ đi không tự mình dọn cất, không bảo người dọn cất,
ba-dật-đề.*[16]
ĐIỀU
15
Tỳ-kheo-ni
nào, ở trong Tăng phòng, tự mình hoặc bảo người, trải
ngọa cụ của Tăng để ngồi, hoặc nằm. khi đi không tự
mình dọn cất, ba-dật-đề.*[17]
ĐIỀU
16
Tỳ-kheo-ni
nào, đã biết đó là chỗ nghỉ của Tỳ-kheo-ni khác, mình
đến sau cố chen vào giữa trải ngọa cụ để ngủ nghỉ,
với ý nghĩ rằng: ‹người kia nếu hiềm chật thì sẽ tự
tránh đi chỗ khác.› hành động vì nhơn duyên ấy chứ không
gì khác, chẳng phải oai nghi, ba-dật-đề.*[18]
ĐIỀU
17
Tỳ-kheo-ni
nào, giận hờn, không ưa Tỳ-kheo-ni khác, tự mình lôi kéo
họ ra khỏi Tăng phòng, hay bảo người khác lôi ra, ba-dật-đề.*[19]
ĐIỀU
18
Tỳ-kheo-ni
nào, ở trên tầng gác, nằm hay ngồi trên giường, ghế bằng
chân ráp bị sút ra, ba-dật-đề.*[20][21]
ĐIỀU
19
Tỳ-kheo-ni
nào, biết nước có trùng, mà tự mình dùng hoặc bảo người
tưới lên bùn hoặc cỏ, ba-dật-đề.*[22]
ĐIỀU
20
Tỳ-kheo-ni
nào, làm phòng xá lớn, cánh cửa, khung cửa sổ, và các đồ
trang trí khác, chỉ bảo người lợp tranh, ngang bằng hai, ba
lớp. nếu quá, ba-dật-đề.*[23]
ĐIỀU
21
Tỳ-kheo-ni
nào, tại trú xứ chỉ cúng một bữa ăn, Tỳ-kheo-ni không
bệnh nên ăn một bữa, nếu thọ nhận quá, ba-dật-đề.*[24]
ĐIỀU
22
Tỳ-kheo-ni
nào, ăn riêng chúng, ba-dật-đề. Trừ các trường hợp khác
là khi bệnh, thời gian may y, thời gian thí y, khi đi đường,
khi đi thuyền, khi đại hội, khi sa-môn thí thực. Đó là các
trường hợp khác.*[25]
ĐIỀU
23
Tỳ-kheo-ni
nào, đến nhà đàn-việt, được ân cần cúng thức ăn, bánh,
bột. Tỳ-kheo-ni cần thì nhận hai ba bát, mang về trong chùa,
nên chia cho các Tỳ-kheo-ni khác cùng ăn. nếu Tỳ-kheo-ni không
bệnh, nhận quá ba bát đem về trong chùa, không chia cho các
Tỳ-kheo-ni khác ăn, ba-dật-đề.*[26]
ĐIỀU
24
Tỳ-kheo-ni
nào, ăn phi thời, ba-dật-đề.*[27]
ĐIỀU
25
Tỳ-kheo-ni
nào, ăn thức ăn thừa cách đêm, ba-dật-đề.*[28]
ĐIỀU
26
Tỳ-kheo-ni
nào, không thọ nhận thức ăn và thuốc mà đưa vào miệng,
ba-dật-đề. trừ nước và tăm.*[29]
ĐIỀU
27
Tỳ-kheo-ni
nào, trước đã nhận lời mời rồi, nhưng trước hay sau bữa
ăn đi đến nhà người khác mà không dặn lại tỳ-kheo-ni
khác, ba-dật-đề. Trừ trường hợp đặc biệt là khi bệnh,
thời gian may y, thời gian thí y. Đó là trường hợp đặc
biệt.*[30]
ĐIỀU
28
Tỳ-kheo-ni
nào, trong nhà ăn, có vật quý mà cố ngồi nán, ba-dật-đề.*[31]
ĐIỀU
29
Tỳ-kheo-ni
nào, trong nhà ăn, có vật quý mà cố ngồi nán, ba-dật-đề.*[32]
ĐIỀU
30
Tỳ-kheo-ni
nào, một mình ngồi với người nam tại chỗ trống, ba-dật-đề.*[33]
ĐIỀU
31
Tỳ-kheo-ni
nào, nói với tỳ-kheo-ni khác như vầy: ‹Đại tỷ, hãy cùng
tôi vào xóm làng, tôi sẽ cung cấp thức ăn cho cô.› Tỳ-kheo-ni
kia cuối cùng, không nhờ ai cung cấp cho tỳ-kheo-ni này, lại
nói như vầy: ‹Đại tỷ hãy đi chỗ khác, tôi không thích
nói chuyện hay ngồi cùng chỗ với cô. Tôi thích ngồi một
mình, nói chuyện một mình.› Chỉ với mục đích ấy chứ
không gì khác, là cố tình đuổi đi, ba-dật-đề.*[34]
ĐIỀU
32
Tỳ-kheo-ni
nào, được thỉnh cầu thọ nhận thuốc bốn tháng, tỳ-kheo-ni
không bệnh nên thọ. Nếu quá hạn mà nhận, ba-dật-đề.
trừ trường hợp thỉnh thường xuyên, thỉnh tiếp tục, thỉnh
chia phần, thỉnh suốt đời.*[35]
ĐIỀU
33
Tỳ-kheo-ni
nào, đi xem quân trận, ba-dật-đề. Trừ có nhơn duyên hợp
thời.*[36]
ĐIỀU
34
Tỳ-kheo-ni
nào, có nhân duyên được phép đến trong quân trại, ngủ
lại hai, ba đêm. nếu quá, ba-dật-đề.*[37]
ĐIỀU
35
Tỳ-kheo-ni
nào, ngủ trong quân trại hai, ba đêm, hoặc khi xem quân đội
diễn tập, hoặc xem thế lực quân đội, quân voi, quân ngựa,
ba-dật-đề.*[38]
ĐIỀU
36
Tỳ-kheo-ni
nào, uống rượu, ba-dật-đề.*[39]
ĐIỀU
37
Tỳ-kheo-ni
nào, đùa giỡn trong nước, ba-dật-đề.*[40]
ĐIỀU
38
Tỳ-kheo-ni
nào, dùng ngón tay thọc lét tỳ-kheo-ni khác, ba-dật-đề.*[41]
ĐIỀU
39
Tỳ-kheo-ni
nào, không nhận lời can gián, ba-dật-đề.*[42]
ĐIỀU
40
Tỳ-kheo-ni
nào, dọa nạt tỳ-kheo-ni khác, ba-dật-đề.*[43]
ĐIỀU
41
Tỳ-kheo-ni
mỗi nửa tháng tắm một lần, tỳ-kheo-ni không bệnh nên thọ
trì. Nếu quá, ba-dật-đề. Trừ trường hợp đặc biệt là
thời gian nóng, khi bệnh, khi làm việc, khi gió lớn và mưa,
khi đi xa về. Đó là trường hợp đặc biệt.*[44]
ĐIỀU
42
Tỳ-kheo-ni
nào, không bệnh mà cố ý nhóm lửa nơi đất trống để sưởi
ấm, hoặc bảo người nhóm, ba-dật-đề. Trừ trường hợp
đặc biệt.*[45]
ĐIỀU
43
Tỳ-kheo-ni
nào, dấu y bát, tọa cụ, ống đựng kim của tỳ-kheo-ni khác;
tự mình dấu, hoặc bảo người dấu, dù chỉ giỡn chơi,
ba-dật-đề.* [46] [47]
ĐIỀU
44
Tỳ-kheo-ni
nào, đã tịnh thí y cho tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, thức-xoa-ma-na,
sa-di, sa-di-ni, về sau không hỏi chủ mà lấy lại dùng, ba-dật-đề.*
[48]
ĐIỀU
45
Tỳ-kheo-ni
nào, nhận được y mới nên dùng một trong ba màu xanh, đen,
mực để làm cho hoại sắc. Nếu tỳ-kheo nhận được y mới
không dùng ba màu hoặc xanh, hoặc đen, hoặc mực để làm
cho hoại sắc mà mặc nguyên y mới, ba-dật-đề.*[49]
ĐIỀU
46
Tỳ-kheo-ni
nào, cố ý giết chết mạng sống loài vật, ba-dật-đề.*[50]
ĐIỀU
47
Tỳ-kheo-ni
nào, biết nước có trùng mà vẫn uống, ba-dật-đề.*[51]
ĐIỀU
48
Tỳ-kheo-ni
nào, cố ý khuấy rầy tỳ-kheo-ni khác, dù chỉ trong chốc
lát khiến cho họ không vui, ba-dật-đề.*[52]
ĐIỀU
49
Tỳ-kheo-ni
nào, biết tỳ-kheo-ni khác phạm thô tội mà che dấu, ba-dật-đề.*[53]
ĐIỀU
50
Tỳ-kheo-ni
nào, biết việc tranh cãi đã như pháp sám hối rồi, sau đó
lại khơi dậy, ba-dật-đề.*[54]
ĐIỀU
51
Tỳ-kheo-ni
nào, biết là giặc cướp mà làm bạn cùng đi một đường,
dù chỉ trong khoảng một xóm, ba-dật-đề.*[55]
ĐIỀU
52
Tỳ-kheo-ni
nào nói như vầy: ‹Tôi biết theo pháp Phật dạy, sự hành
dâm dục không phải là pháp chướng đạo.› Các tỳ-kheo-ni
kia nên can gián tỳ-kheo-ni này rằng: ‹Đại tỷ, chớ nói
như vậy, đừng xuyên tạc đức Thế tôn, xuyên tạc đức
Thế tôn là không tốt, đức Thế tôn không nói như vậy!
Đức Thế tôn dùng vô số phương tiện nói rằng dâm dục
là pháp chướng đạo, phạm dâm là pháp chướng đạo.›
Khi được các tỳ-kheo-ni kia can gián, mà Tỳ-kheo-ni này kiên
trì không bỏ. Các tỳ-kheo-ni nên can gián ba lần cho bỏ việc
ấy. Nếu đến ba lần can gián, bỏ thì tốt, không bỏ, ba-dật-đề.*[56]
ĐIỀU
53
Tỳ-kheo-ni
nào, biết người nói như vậy mà chưa được tác pháp (giải)
tà kiến như thế không bỏ, lại cung cấp các nhu yếu, cùng
một yết-ma, cùng một chỗ ở, ba-dật-đề.*[57]
ĐIỀU
54
Tỳ-kheo-ni
nào, biết sa-di-ni nói như vầy: ‹Tôi biết theo pháp Phật
dạy, sự hành dâm dục không phải là pháp chướng đạo.›
Các tỳ-kheo-ni kia can gián sa-di-ni này rằng: ‹Ngươi chớ
nói như vậy, đừng xuyên tạc đức Thế tôn, xuyên tạc đức
Thế tôn là không tốt. Đức Thế tôn không nói như vậy.›
Này sa-di-ni, đức Thế tôn dùng vô số phương tiện nói rằng:
‹Dâm dục là pháp chướng đạo, phạm dâm dục là pháp chướng
đạo.› Khi được các tỳ-kheo-ni kia can gián, sa-di-ni này
kiên trì không bỏ, các tỳ-kheo-ni kia nên can gián ba lần cho
bỏ việc này. Cho đến ba lần can gián, bỏ thì tốt, không
bỏ thì các tỳ-kheo-ni kia nên nói với sa-di-ni này rằng: ‹Từ
nay về sau cô không phải là đệ tử của Phật, không được
đi theo các tỳ-kheo-ni khác. Như các sa-di-ni khác, được phép
cùng với tỳ-kheo-ni ngủ hai đêm, nhưng nay ngươi không có
sự kiện ấy, ngươi hãy đi ra khỏi chỗ này, không được
sống ở đây nữa!› Nếu tỳ-kheo-ni biết sa-di-ni đã bị
đuổi như vậy, mà đem về nuôi, cùng chung ngủ nghỉ, ba-dật-đề.*[58]
ĐIỀU
55
Tỳ-kheo-ni
nào, khi được can gián như pháp, lại nói rằng: ‹Nay tôi
không học điều giới này, cho đến khi nào tôi nạn vấn
người trì giới có trí tuệ, ba-dật-đề. Nếu vì sự hiểu
biết thì nên nạn vấn.*[59]
ĐIỀU
56
Tỳ-kheo-ni
nào, khi tụng giới nói như vầy: ‹Đại tỷ, tụng những
giới vụn vặt này có ích lợi gì? Khi tụng các giới này
chỉ khiến cho người tu phiền muộn, xấu hổ, hoài nghi.›
vì khinh chê giới, ba-dật-đề.*[60]
ĐIỀU
57
Tỳ-kheo-ni
nào, khi nghe tụng giới, nói như vầy: ‹Đại tỷ, nay tôi
mới biết giới này rút từ giới kinh, mỗi nửa tháng tụng
một lần.› Các tỳ-kheo-ni khác biết tỳ-kheo-ni này đã từng
ngồi dự tụng giới, hoặc hai, hoặc ba lần, huống nữa là
nhiều lần. Tỳ-kheo-ni này không phải do vì không biết, không
hiểu, mà hỏi tội. Nếu có phạm tội, nên như pháp xử trị,
rồi cộng thêm tội không biết pháp, bảo rằng: ‹Đại tỷ,
thật không lợi ích gì cho cô, không có sở đắc tốt đẹp
nào cho cô, vì trong khi tụng giới cô không dụng tâm, không
nhất niệm, không lắng nghe pháp. Vị ấy là kẻ vô tri, ba-dật-đề.*[61]
ĐIỀU
58
Tỳ-kheo-ni
nào, sau khi đã cùng chung yết-ma rồi, sau đó lại nói như
vầy: ‹Các tỳ-kheo-ni theo chỗ quen biết riêng, lấy vật
của chúng Tăng cho,› ba-dật-đề.*[62]
ĐIỀU
59
Tỳ-kheo-ni
nào, khi Tăng đoán sự chưa xong, không giữ dục mà đứng
dậy đi ra, ba-dật-đề.*[63]
ĐIỀU
60
Tỳ-kheo-ni
nào, đã giữ dục rồi, sau đó tỏ sự bất bình, ba-dật-đề.*[64]
ĐIỀU
61
Tỳ-kheo-ni
nào, sau khi nghe những lời tranh cãi của các tỳ-kheo-ni, đem
đến nói cho người kia, ba-dật-đề.*[65]
ĐIỀU
62
Tỳ-kheo-ni
nào, vì giận hờn không hoan hỷ, đánh tỳ-kheo-ni khác, ba-dật-đề.*[66]
ĐIỀU
63
Tỳ-kheo-ni
nào, vì giận hờn không hoan hỷ, dùng tay tát tỳ-kheo khác,
ba-dật-đề.*[67]
ĐIỀU
64
Tỳ-kheo-ni
nào, vì giận hờn không hoan hỷ vu khống (tỳ-kheo-ni khác)
bằng pháp tăng-già-bà-thi-sa không căn cứ, ba-dật-đề.*[68]
ĐIỀU
65
Tỳ-kheo-ni
nào, khi nhà vua dòng sát-đế-lợi thủy nghiêu đầu (quán
đảnh) chưa ra khỏi cung, vật báu chưa thu cất mà vào cung
vua, bước qua khỏi ngạch cửa, ba-dật-đề.*[69]
ĐIỀU
66
Tỳ-kheo-ni
nào, tự mình cầm lấy vật báu, hay đồ trang sức bằng vật
báu, hoặc bảo người khác cằm nắm, ba-dật-đề. Trừ trong
tăng-già-lam, hay nơi ký túc (nghỉ đêm). Nếu ở trong tăng-già-lam
hoặc nơi ký túc (nghỉ đêm) mà tự mình cầm nắm hay bảo
người cầm vật báu, hay đồ trang sức bằng vật báu nên
nghĩ như vầy: ‹Nếu người chủ nhận ra sẽ hoàn lại,›
vì nhơn duyên như vậy chứ không chi khác.*[70]
ĐIỀU
67
Tỳ-kheo-ni
nào, vào xóm làng phi thời mà không báo cho tỳ-kheo-ni khác,
ba-dật-đề.*[71]
ĐIỀU
68
Tỳ-kheo-ni
nào, làm giường dây, giường gỗ, chân chỉ nên cao bằng
tám ngón tay của Như lai, đã trừ lỗ mộng, để ráp trở
lên. Nếu quá, ba-dật-đề, phải hớt bỏ.*[72]
ĐIỀU
69
Tỳ-kheo-ni
nào, dùng bông đâu-la miên độn làm giường dây, giường
cây, ngọa cụ, tọa cụ, ba-dật-đề.*[73]
B -
BẤT CỘNG GIỚI
ĐIỀU
70[74]
A.
DUYÊN KHỞI
Một
thời, đức Ba-già-bà ở trên giảng đường Cao các, bên sông
Di hầu, tại Tỳ-xá-ly. Bấy giờ, tại một vùng đất nọ
có khu vườn trồng tỏi. Tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà đi ngang
qua vườn tỏi không xa. Người chủ vườn hỏi:
«A-di,
cần tỏi không?»
Cô
nói:
«Cần.»
Người
chủ vườn liền đem tỏi cho cô. Nhận được tỏi, về sau
thường xuyên, cô ni cũng lại đi cách vườn tỏi không xa.
Mỗi lần thấy người chủ vườn đều hỏi:
«A-di
lại cần tỏi nữa phải không?»
Cô
nói:
«Cần.
Có tỏi tôi ăn được cơm.»
Chủ
vườn đem tỏi cúng dường và ra lệnh cho người giữ vườn
rằng, «Từ nay, hằng ngày cấp cho tỳ-kheo-ni mỗi vị năm
củ tỏi.»
Sau
đó người chủ vườn để người giữ vườn ở nhà, còn
mình thì đem tỏi vào Tỳ-xá-ly bán.
Bấy
giờ, tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà về đến trong Tăng-già-lam
nói với các tỳ-kheo-ni rằng:
«Các
cô biết không, nơi vườn tỏi tại chỗ nọ có đàn-việt
tên nọ hằng ngày cấp cho tỳ-kheo-ni mỗi người năm củ
tỏi. Các cô có thể đến đó nhận.»
Bấy
giờ, Thâu-la-nan-đà dẫn sa-di-ni, thức-xoa-ma-na, đến nơi
vườn tỏi, hỏi người giữ vườn:
«Chủ
vườn ở đâu?»
Người
giữ vườn trả lời:
«Chủ
vườn chở tỏi vào Tỳ-xá-ly để bán. Các cô hỏi có chuyện
gì?»
Thâu-la-nan-đà
nói:
«Chủ
vườn hứa cung cấp cho tỳ-kheo-ni hằng ngày mỗi vị năm
củ tỏi. Nay chúng tôi đến nhận.»
Người
giữ vườn nói:
«Chờ
chủ vườn về chứ tôi không dám tự quyền. Tôi chỉ coi
ngó mà thôi.»
Tỳ-kheo-ni
nói:
«Chủ
vườn thì cúng mà tôi tớ không chịu đưa.»
Thâu-la-nan-đà
liền bảo sa-di-ni nhổ tỏi, kiểm số và phân phối: đây
là phần của Thượng tọa, đây là phần của thứ tọa, đây
là phần của Hòa thượng A-xà-lê, đây là phần của đồng
Hòa thượng đồng A-xà-lê, đây là phần của bà con quen biết,
đây là phần ăn ngày nay, đây là phần ăn ngày mai, đây là
phần ngày mốt. Tức thời, vườn tỏi bị nhổ sạch. Chủ
vườn khi về thấy vườn tỏi hết, hỏi người giữ vườn:
«Tỏi
đâu hết?»
Người
giữ vườn báo cáo:
«Trước
đây do chủ sùng đạo nên hằng ngày cung cấp cho tỳ-kheo-ni
mỗi người năm củ tỏi. Vừa rồi có sa-di-ni, thức-xoa-ma-na
đến hỏi tôi: ‹Hôm nay chủ vườn có ở nhà không?› Tôi
nói, ‹Chủ vườn vào Tỳ-xá-ly bán tỏi. Các cô hỏi có
việc gì?› Các cô ni nói: ‹Chủ vườn hứa hằng ngày cấp
cho tỳ-kheo-ni mỗi vị năm củ tỏi, nay chúng tôi đến nhận.›
Tôi nói: ‹Chờ chủ về. Tôi chỉ biết coi ngó thôi chứ
không trọn quyền.› Tỳ-kheo-ni nói: ‹Chủ vườn cho, đầy
tớ không chịu đưa.› Các cô nói như vậy rồi bảo sa-di-ni
nhổ tỏi, đếm và phân phối: Đây là phần của Thượng
tọa, đây là phần của thứ tọa, Đây là phần của Hòa
thượng, đây là phần của A-xà-lê, đây là phần của đồng
Hòa thượng, đây là phần của đồng A-xà-lê, đây là phần
của bà con quen biết, đây là phần ăn ngày nay, đây là phần
ăn ngày mai, đây là phần ăn ngày mốt. Tất cả đều có
phần ăn, cho nên vườn tỏi bị nhổ hết.»
Người
chủ vườn liền cơ hiềm, nói:
«Tỳ-kheo-ni
này không có tàm quý. Thọ nhận không nhàm chán, không biết
đủ. Bên ngoài tự xưng tôi biết chánh pháp. Như vậy có
gì là chánh pháp? Dầu đàn-việt có cho, còn phải biết đủ,
huống là không có chủ ở nhà, mà nhổ hết tỏi của người
ta!»
Các
tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh
đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, hiềm trách tỳ-kheo-ni
Thâu-la-nan-đà: «Sao các cô nhổ hết tỏi của người ta ăn
và mang đi hết không để lại một củ nào?»
Các
tỳ-kheo-ni đến bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến
bạch lên đức Thế tôn. Đức Thế tôn vì nhơn duyên này
tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà:
«Việc
cô làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp
sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận,
làm điều không nên làm. Không có chủ, sao lại nhổ hết
tỏi của người ta?»
Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách rồi kể cho các
tỳ-kheo nghe:
«Xưa
kia, có một bà-la-môn 120 tuổi, hình thể ốm gầy. Vợ của
người bà-la-môn này xinh đẹp không ai sánh kịp, sanh nhiều
con trai con gái. Người bà-la-môn này luyến ái vợ và các
con, không bao giờ muốn xả ly. Do sự luyến ái cao độ này
nên khi mạng chung sanh trong loài chim nhạn, lông trên mình đều
toàn bằng vàng. Do nhơn duyên tu phước đời trước nên tự
biết túc mạng của mình, bèn suy nghĩ: «Bằng mọi phương
tiện ta phải giúp đỡ sự sống cho những đứa con của ta,
để chúng nó khỏi nghèo khổ.» Hằng ngày con chim nhạn bay
đến nhà cũ của mình, cho rơi xuống một chiếc lông bằng
vàng rồi bay đi, những đứa con lượm được lông chim bằng
vàng lại suy nghĩ: «Do nhân duyên nào mà con nhạn chúa này
hằng ngày bay đến làm rơi xuống một cái lông bằng vàng
cho ta rồi bay đi? Chúng ta hãy chờ khi nó đến, rình bắt,
nhổ hết lông vàng của nó.» Rồi chúng bắt và lấy lông
vàng. Nhổ lấy rồi, nó mọc lại bằng lông trắng. Đức
Phật bảo các tỳ-kheo:
«Người
Bà-la-môn thuở ấy, sau khi chết đầu thai thành con nhạn,
đâu phải ai khác, mà là người chủ vườn. Người vợ xinh
đẹp của ông ta sanh nhiều con tức là Tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà.
Con trai con gái của vợ chồng người bà-la-môn chính là thức-xoa-ma-na,
sa-di-ni... ấy vậy. Do bởi tham ái nên khiến cho lông chim bằng
vàng hết, lông trắng sanh. Nay lại do tham ái nên nhổ hết
tỏi, phải bần cùng.»
Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà
rồi bảo các tỳ-kheo:
«Tỳ-kheo-ni
này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là người đầu
tiên phạm giới này. Từ nay về sau, Ta vì các tỳ-kheo-ni kiết
giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.»
Muốn
nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni
nào ăn tỏi, ba-dật-đề.
B.
GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo-ni:
nghĩa như trên.
Tỳ-kheo-ni
nào, ăn tỏi sống, tỏi chín, tỏi vụn, mỗi miếng phạm
một ba-dật-đề.
Tỳ-kheo,
đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi
là phạm.
Sự
không phạm: hoặc mắc chứng bệnh thế nào đó phải dùng
bánh gói tỏi mà ăn để chữa; hoặc các thứ thuốc khác
trị không hết phải dùng tỏi để trị; hay dùng tỏi để
trị bệnh ghẻ nhọt; thảy đều không phạm.
Người
không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng,
loạn tâm, thống não, bức bách.
ĐIỀU
71[75]
A.
DUYÊN KHỞI
Một
thời, đức Bà-già-bà ở nước Xá-vệ. Bấy giờ, tỳ-kheo-ni
Thâu-la-nan-đà cạo lông ba chỗ, đến nhà đàn-việt, an tọa
nơi chỗ ngồi, trước người phụ nữ, không tự khéo che
thân, hình thể bị lộ. Phụ nữ thấy, rồi nói:
«Sư
cô cùng chúng tôi tắm.»
Cô
ni từ chối. Phụ nữ cung cấp thức ăn rồi lại mời cô
ni tắm. Cô ni vẫn chối từ không cùng tắm. Bấy giờ, các
phụ nữ bèn cưỡng bức cổi y. Thấy cô ni cạo lông, liền
nói:
«Này
sư cô, người đời vì vấn đề dâm dục mà cạo lông; chứ
sư cô cạo lông để làm gì?»
Thâu-la-nan-đà
nói:
«Từ
khi tôi ở thế tục đã quen làm việc này chứ chẳng phải
mới bây giờ.»
Các
phụ nữ cư sĩ cơ hiềm, nói:
«Tỳ-kheo-ni
này, không biết tàm quý, quen làm bất tịnh hạnh. Bên ngoài
tự xưng tôi biết chánh pháp. Như vậy có gì là chánh pháp?
Sao lại cạo lông ba chỗ như dâm nữ, tặc nữ?»
Các
tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh
đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, hiềm trách Thâu-la-nan-đà:
«Sao lại cạo lông ba chỗ?»
Các
tỳ-kheo-ni đến bạch các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch
lên đức Thế tôn. Đức Thế tôn dùng nhơn duyên này tập
hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách Thâu-la-nan-đà:
«Việc
cô làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp
sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận,
làm điều không nên làm. Thâu-la-nan-đà, tại sao lại cạo
lông ba chỗ?»
Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà
rồi, bảo các tỳ-kheo:
«Tỳ-kheo-ni
Thâu-la-nan-đà là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là người
đầu tiên phạm giới này. Từ nay về sau, Ta vì các tỳ-kheo-ni
kiết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu
trụ.»
Muốn
nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni
nào, cạo lông ba chỗ,[76] ba-dật-đề.
B.
GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo-ni:
nghĩa như trên.
Lông
ba chỗ: chỗ đại, tiểu tiện và dưới nách.
Tỳ-kheo-ni
nào cạo lông ba chỗ, mỗi lần động dao là phạm ba-dật-đề.
Nếu nhổ bằng nhíp hay đốt, tất cả đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo,
thâu-lan-giá. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó
gọi là phạm.
Sự
không phạm: hoặc mắc phải chứng bệnh thế nào đó; hay
bị ghẻ cần cạo để thoa thuốc; hoặc bị cường lực bắt
buộc; thảy đều không phạm.
Người
không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng,
loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU
72[77]
A.
DUYÊN KHỞI
Một
thời, đức Bà-già-bà ở trong vườn Ni-câu-luật, Ca-duy-la-vệ,
Thích-súy-sấu. Bấy giờ, tỳ-kheo-ni Ma-ha Ba-xà-ba-đề [78]
đến chỗ đức Thế tôn, đầu diện đảnh lễ sát chân Ngài
rồi đứng qua một bên, bạch Phật:
«Thế
tôn, thân người nữ hôi hám, bất tịnh.»
Thưa
như vậy rồi, lễ sát chân Phật, nhiễu ba vòng và cáo lui.
Lúc
bấy giờ đức Thế tôn dùng nhơn duyên này tập hợp Tăng
tỳ-kheo, bảo các tỳ-kheo:
«Từ
nay về sau ta cho phép các tỳ-kheo-ni dùng nước tác tịnh.»[79]
Thâu-la-nan-đà
nghe đức Phật cho phép tác tịnh rồi liền dùng nước để
tác tịnh. Khi tác tịnh, dục tâm khởi, đưa ngón tay vào sâu
bên trong thủy đạo, bị móng tay làm tổn thương, máu chảy
ra, làm bẩn y và ngọa cụ. Các tỳ-kheo-ni thấy, hỏi rằng:
«Cô
bị bệnh khổ gì vậy?»
Thâu-la-nan-đà
nói rõ nhơn duyên.
Các
tỳ-kheo-ni nghe, trong số đó có vị thiểu dục tri túc, sống
hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, hiềm trách tỳ-kheo-ni
Thâu-la-nan-đà: «Tại sao khi cô dùng nước tác tịnh lại
đưa ngón tay vào sâu theo đường thủy đạo, khiến cho móng
tay làm thương tổn chảy máu, làm bẩn y và ngọa cụ?»
Các
tỳ-kheo-ni đến bạch các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch
lên đức Phật. Đức Phật dùng nhơn duyên này tập hợp Tăng
tỳ-kheo, quở trách tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà:
«Việc
cô làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp
sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận,
làm điều không nên làm. Tại sao khi dùng nước tác tịnh,
cô lại khởi dục tâm, đưa ngón tay vào sâu bên trong, khiến
cho móng tay gây thương tổn, chảy máu ra làm bẩn y và ngọa
cụ?»
Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách Thâu-la-nan-đà
rồi bảo các tỳ-kheo:
«Thâu-la-nan-đà
này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là người đầu
tiên phạm giới này. Từ nay về sau, Ta vì các tỳ-kheo-ni kiết
giới gồm mười cú nghĩa cho đến câu chánh pháp cửu trụ.»
Muốn
nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni
nào, dùng nước tác tịnh, nên sử dụng hai ngón tay, mỗi
ngón một đốt, nếu quá, ba-dật-đề.
B.
GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo-ni:
nghĩa như trên.
Tác
tịnh: dùng nước rửa bên trong âm hộ.
Tỳ-kheo-ni
dùng nước rửa bên trong nên dùng hai ngón tay, mỗi ngón một
đốt, nếu quá ba-dật-đề.
Thức-xoa-ma-na,
sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm: Chỉ sử dụng hai ngón tay, mỗi ngón một đốt
hay dưới một đốt; hoặc có bệnh thế nào đó; hay bên trong
có cỏ, có trùng cần kéo ra ngoài; thảy đều không phạm.
Người
không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng,
loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU
73[80]
A.
DUYÊN KHỞI
Một
thời, đức Bà-già-bà ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng
cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo-ni
dục tâm hừng hẫy, nhan sắc tiều tụy, thân thể gầy còm.
Khi họ vào trong vương cung của vua Ba-tư-nặc, các phụ nữ
trong cung thấy vậy hỏi:
«A-di
có bệnh hoạn gì?»
Lục
quần ni nói:
«Tôi
không có bệnh hoạn, chỉ vì bệnh sắc.»
Phụ
nữ hỏi tiếp:
«Bệnh
sắc nào?»
Cô
ni nói:
«Dục
tâm của tôi hừng hẫy.»
Các
phụ nữ nói:
«Chúng
tôi ở trong cung, lúc nào cũng có đàn ông. Khi không có đàn
ông, thì dùng hồ giao [81] làm nam căn, để vào trong nữ căn,
vừa được thích ý, lại không phải là hành dâm. Các cô
có thể làm như vậy, vừa được thích ý, không phạm hành
dâm.»
Khi
ấy hai trong nhóm sáu tỳ-kheo-ni làm nam căn như vậy, cùng
làm việc dâm dục. Tỳ-kheo-ni khác thấy, tưởng là cùng đàn
ông hành dâm. Khi đứng dậy mới biết chẳng phải đàm ông.
Các
tỳ-kheo-ni nghe biết, trong số đó có vị thiểu dục tri túc,
sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm
trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni: «Sao các cô lại dùng hồ giao làm
nam căn để cùng nhau hành dâm?»
Các
tỳ-kheo-ni đến bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến
bạch lên đức Phật. Đức Phật dùng nhơn duyên nầy tập
hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni:
«Việc
các cô làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp
sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận,
làm điều không nên làm. Nhóm sáu tỳ-kheo-ni, sao lại dùng
hồ giao làm nam căn để cùng nhau hành dâm?»
Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni
rồi bảo các tỳ-kheo:
«Nhóm
sáu tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là
những người đầu tiên phạm giới này. Từ nay về sau, Ta
vì các tỳ-kheo-ni kiết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến
câu chánh pháp cửu trụ.»
Muốn
nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni
nào, dùng hồ giao làm nam căn, ba-dật-đề.
B.
GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo-ni:
nghĩa như trên.
Làm
nam căn: dùng các vật để làm như hồ giao, cơm nhão, bột,
sáp ong.
Tỳ-kheo-ni
nào dùng các vật này làm nam căn để vào nữ căn, tất cả
đều phạm ba-dật-đề. Nếu không cọ xát vào nữ căn, phạm
đột-kiết-la.
Thức-xoa-ma-na,
sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm: hoặc mắc phải căn bệnh thế nào đó, phải
dùng cục thuốc hình tròn hay viên thuốc đặt vào để chữa;
hoặc y ngăn chận nguyệt thủy; hoặc bị cưỡng lực bắt
ép làm; thảy đều không phạm.
Người
không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng,
loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU
74[82]
A.
DUYÊN KHỞI
Một
thời, đức Bà-già-bà ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng
cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo-ni
vì dục tâm hừng hẫy, nhan sắc tiều tụy, hình thể ốm
gầy. Vào trong cung của vua Ba-tư-nặc, các phụ nữ trong cung
thấy vậy hỏi:
«A-di
bệnh gì?»
Chư
ni nói:
«Chỉ
vì không thoả mãn.»
Các
phụ nữ hỏi:
«Không
thoả mãn cái gì?»
Chư
ni nói:
«Dục
tâm của chúng tôi hừng hực»
Các
phụ nữ nói:
«Chúng
tôi ở trong cung, thường có đàn ông. Lúc không có đàn ông
thì dùng hồ giao tạp vật làm nam căn để vào nữ căn, vừa
thõa mãn được lòng dâm, mà không gọi là hành dâm. Sao chư
tôn không làm như vậy?»
Các
Tỳ-kheo-ni trả lời:
«Này
các chị, đức Thế tôn chế giới không được làm như vậy.»
Các
phụ nữ lại nói:
«Này
các cô, chúng tôi ở trong cung khi có đàn ông thì thôi; lúc
không có đàn ông thì cùng nhau vỗ, vừa được khoái lạc
mà không gọi là hành dâm. Các cô làm sao không làm như vậy?»
Bấy
giờ, hai trong nhóm sáu tỳ-kheo-ni cùng nhau vỗ. Các tỳ-kheo-ni
khác thấy, tưởng là cùng đàn ông hành dâm. Lúc đứng dậy
mới biết không phải đàn ông.
Các
tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh
đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, hiềm trách nhóm sáu
tỳ-kheo-ni: «Sao các cô cùng nhau vỗ.»
Các
tỳ-kheo-ni đến bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến
bạch lên đức Phật. Đức Phật dùng nhơn duyên này tập
hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni:
«Việc
các cô làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp
sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận,
làm điều không nên làm. Tại sao các cô cùng nhau vỗ.»
Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni
rồi bảo các tỳ-kheo:
«Những
tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những
người đầu tiên phạm giới này. Từ nay về sau, Ta vì các
tỳ-kheo-ni kiết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh
pháp cửu trụ.»
Muốn
nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni
nào, cùng vỗ cho nhau, ba-dật-đề.
B.
GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo-ni:
nghĩa như trên.
Vỗ:
lấy bàn tay hay gót chân đập vào, hoặc nữ căn với nữ
căn vỗ nhau.
Tỳ-kheo-ni
cùng vỗ với nhau, người vỗ phạm đột-kiết-la, người
thọ nhận vỗ phạm ba-dật-đề. Nếu hai nữ căn cùng nhau
vỗ, cả hai đều phạm ba-dật-đề.
Tỳ-kheo,
đột-kiết-la, thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la.
Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm: Hoặc mắc phải chứng bệnh thế nào đó, hoặc
tới lui, đi đứng, hoặc quét đất vướng phải chứ không
cố tâm, hay khi tắm rửa đụng phải thì không phạm,
Người
không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng,
loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU
75[83]
A.
DUYÊN KHỞI
Một
thời đức Ba-già-bà ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây
Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, có một trưởng giả
cùng vợ xuất gia làm đạo. Đến giờ, ông vào thôn khất
thực, được thức ăn rồi, đem đến trong Tăng-già-lam của
ni ngồi ăn. Người vợ cũ, hiện là tỳ-kheo-ni, đem nước
đến, đứng phía trước lấy quạt quạt. Tỳ-kheo bảo rằng:
«Đứng
tránh ra một chút, chứ tôi mắc cở với người ta. Đừng
đứng trước mặt tôi!»
Tỳ-kheo-ni
nói:
«Đại
đức, sao lại mắc cở với tôi?»
Vị
tỳ-kheo lại nói:
«Sao
không tránh mau ra? Tôi mắc cở với tỳ-kheo-ni.»
Tỳ-kheo-ni
nói:
«Tôi
đứng trước mặt, nói mắc cở. Vậy trước kia làm việc
như vậy sao không mắc cở?»
Bà
vợ là tỳ-kheo-ni nói xong nổi giận, lấy cán quạt đánh,
lấy nước rót trên đầu tỳ-kheo, rồi bỏ đi vào phòng.
Các
tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh
đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, hiềm trách [739a1]
tỳ-kheo-ni này: «Sao cô lại sân si đánh tỳ-kheo?»
Các
tỳ-kheo-ni đến bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến
bạch lên đức Phật. Đức Phật dùng nhơn duyên này tập
hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách tỳ-kheo-ni này:
«Việc
cô làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp
sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận,
làm điều không nên làm. Tỳ-kheo-ni sao lại đánh tỳ-kheo?»
Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách tỳ-kheo-ni này
rồi, bảo các tỳ-kheo:
«Tỳ-kheo-ni
này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là người đầu
tiên phạm giới này. Từ nay về sau, Ta vì các tỳ-kheo-ni kiết
giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.»
Muốn
nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni
nào, khi tỳ-kheo ăn, cung cấp nước, dùng quạt quạt,[84] ba-dật-đề.
Thế
tôn vì các tỳ-kheo-ni kiết giới như vậy. Có các tỳ-kheo-ni
nghi không dám chăm sóc tỳ-kheo bệnh, không có người cung
cấp nước, cũng không dám hỏi. Đức Phật dạy:
«Cho
phép các tỳ-kheo-ni nuôi các tỳ-kheo bệnh, không ai cung cấp
nước được phép hỏi.»
Từ
nay về sau nên kiết giới như vầy:
Tỳ-kheo-ni
nào, tỳ-kheo không bệnh, khi ăn cung cấp nước, đứng trước
mặt dùng quạt quạt, ba-dật-đề.
B.
GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo-ni:
nghĩa như trên.
Tỳ-kheo-ni
nào, tỳ-kheo không bệnh đang ăn, cung cấp nước, đứng trước
mặt, dùng quạt quạt, phạm ba-dật-đề.
Tỳ-kheo
đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la.
Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm: chăm sóc tỳ-kheo bệnh, không ai cung cấp nước,
hỏi, không phạm.
Người
không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng,
loạn tâm, thống não, bức bách.
ĐIỀU
76[85]
A.
DUYÊN KHỞI
Một
thời, đức Bà-già-bà ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng
cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo-ni
đi xin lúa sống,[86] mè, gạo, đậu lớn, đậu nhỏ, đại
mạch, tiểu mạch sống. Các cư sĩ thấy, cơ hiềm nói: «Các
tỳ-kheo-ni này khất cầu không nhàm chán, không biết xấu
hổ. Bên ngoài tự xưng là tôi biết chánh pháp. Như vậy thì
có gì là chánh pháp? Sao lại xin các loại ngũ cốc sống như
dâm nữ, tặc nữ?»
Các
tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh
đầu-đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm trách nhóm
sáu tỳ-kheo-ni: «Tại sao các cô xin các loại ngũ cốc sống
như vậy?»
Các
tỳ-kheo-ni đến bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến
bạch lên đức Thế tôn. Đức Thế tôn dùng nhơn duyên này
tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni:
«Việc
các cô làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp
sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận,
làm điều không nên làm. Sao các cô lại xin các loại ngũ
cốc sống?»
Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni
rồi bảo các tỳ-kheo:
«Nhóm
sáu tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là
những người đầu tiên phạm giới này. Từ nay về sau, Ta
vì các tỳ-kheo-ni kiết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến
câu chánh pháp cửu trụ.»
Muốn
nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni
nào, xin[87] ngũ cốc sống, ba-dật-đề.
B.
GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo-ni:
nghĩa như trên.
Tỳ-kheo-ni
nào xin lúa sống cho đến đại, tiểu mạch, tất cả đều
phạm ba-dật-đề.
Tỳ-kheo,
đột-kiết-la, thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la.
Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm: đến xin nơi người bà con, hay người xuất gia;
mình vì người, người vì mình xin; hoặc không xin mà được;
thảy đều không phạm.
Người
không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng,
loạn tâm, thống não, bức bách.
ĐIỀU
77[88]
A.
DUYÊN KHỞI
Một
thời, đức Bà-già-bà ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng
cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ, cách tịnh xá của tỳ-kheo-ni
không xa có một vùng cỏ kết lũ [89] tươi tốt, các cư sĩ
thường đến đó ngồi nằm, vui chơi, ca hát, múa nhảy, hoặc
có lúc than vãn. Những âm thanh này làm loạn động các tỳ-kheo-ni
tọa thiền nên các tỳ-kheo-ni bực mình.
Sau
khi cư sĩ đi, các cô dùng đồ bẩn như nước tiểu, phẩn,
đem đổ lên trên cỏ. Sau đó, các cư sĩ trở lại nơi ấy
để vui đùa thì bị làm bẩn cả người và y phục do bởi
đồ bất tịnh, và vùng cỏ cũng bị chết khô dần. Do việc
làm ấy, các cư sĩ đều cơ hiềm, nói: «Các tỳ-kheo-ni này
thọ nhận không biết xấu hổ. Bên ngoài tự xưng là tôi
biết chánh pháp. Như vậy có gì là chánh pháp? Vùng cỏ tươi
tốt nơi chúng ta thường đến ca múa vui chơi, các cô dùng
đồ bất tịnh, đại tiểu tiện đổ trên đó làm làm bẩn
cả người và y phục chúng ta, và vũng cỏ cũng bị hư hoại.»
Các
tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh
đầu-đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, quở trách các tỳ-kheo-ni:
«Chỗ các cư sĩ đến vui chơi, sao các cô đem đồ bất tịnh
đại tiểu tiện đổ lên trên cỏ làm cho thân và y của họ
bị làm bẩn mà cỏ cũng bị khô héo, hư hoại?»
Các
tỳ-kheo-ni đến bạch các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch
lên đức Thế tôn. Đức Thế tôn dùng nhơn duyên này tập
hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách các tỳ-kheo-ni này:
«Việc
các cô làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp
sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận,
làm điều không nên làm. Tỳ-kheo-ni sao lại đem vật bất
tịnh như đại tiểu tiện đổ trên chỗ các cư sĩ thường
đến vui đùa, làm cho họ bị làm bẩn cả thân và y phục?»
Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách các tỳ-kheo-ni
này rồi, bảo các tỳ-kheo:
«Các
tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những
người đầu tiên phạm giới này. Từ nay về sau, Ta vì các
tỳ-kheo-ni kiết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh
pháp cửu trụ.»
Muốn
nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni
nào, đại tiểu tiện[90] trên cỏ tươi, ba-dật-đề.
B.
GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo-ni:
nghĩa như trên
Tỳ-kheo-ni
đại tiểu tiện trên cỏ xanh tươi, phạm ba-dật-đề.
Tỳ-kheo,
đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la.
Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm: hoặc mắc phải chứng bệnh thế nào đó; hoặc
đại tiểu tiện nơi chỗ không có cỏ rồi nước chảy đến
chỗ có cỏ; hoặc gió thổi, hoặc chim ngậm bay rớt trên
cỏ; thảy đều không phạm.
Người
không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng,
loạn tâm, thống não, bức bách.
ĐIỀU
78[91]
A.
DUYÊN KHỞI
Một
thời, đức Bà-già-bà ở trong núi Kỳ-xà-quật, La-duyệt-kỳ.
Bấy giờ, có một nhóm sáu tỳ-kheo-ni ban đêm đại tiểu
tiện trong bô, sáng sớm đổ ra bên ngoài tường mà không
xem trước. Cũng vào lúc đó có vị đại thần không tin ưa
Tam bảo, sáng sớm cởi xe đi chầu vua Bình-sa, đi ngang qua
bên ngoài tường của tinh xá tỳ-kheo-ni, thì bị đồ bất
tịnh đổ trên đầu, làm bẩn cả y phục. Vị đại thần
ấy nói:
«Tôi
sẽ đến quan đoán sự thưa kiện việc này!»[92]
Bấy
giờ, có vị bà-la-môn chí tín biết xem tướng, hỏi:
«Đại
thần muốn đi đâu?»
Đại
thần nói:
«Tỳ-kheo-ni
dùng đồ đại tiện bất tịnh đổ làm ô nhục người tôi.
Tôi muốn đến quan đoán sự thưa kiện việc này.»
Vị
tri-tướng bà-la-môn, can nói:
«Thôi,
đừng nên đến kiện thưa làm gì. Lắm khi không được kiện
mà lại mắc tội nữa.»[93]
Vị
Đại thần nghe theo lời can, không kiện, trở về. Vị bà-la-môn
xem tướng kia liền đến tịnh xá tỳ-kheo-ni, hỏi:
«Tỳ-kheo-ni
nào ban đêm đại tiểu tiện trong bô, sáng ngày đổ bên ngoài
tường mà không xem trước như thế?»
Chư
ni trả lời:
«Chúng
tôi không biết. Nhưng tại sao [740a1] ông lại hỏi như vậy?»
Vị
bà-la-môn nói rõ nhân duyên, và nói tiếp:
«Tôi
đã can không cho đại thần đó thưa kiện. Vậy, từ nay các
cô không nên đổ như vậy nữa.»
Chư
ni tìm hiểu xem ai làm việc ấy. Liền biết một cô trong nhóm
sáu tỳ-kheo-ni đã đổ như vậy. Các tỳ-kheo-ni quở trách
nhóm sáu tỳ-kheo-ni: «Sao cô lại đem đồ đựng đại tiểu
tiện vào cuối đêm, sáng ra đổ bên ngoài tường mà không
xem trước?»
Các
tỳ-kheo-ni đến bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến
bạch lên đức Thế tôn. Đức Thế tôn dùng nhơn duyên này
tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni:
«Việc
cô làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp
sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận,
làm điều không nên làm. Nhóm sáu tỳ-kheo-ni, sao lại đem
đồ đựng đại tiểu tiện cuối đêm đem đổ bên ngoài
tường mà không xem trước?»
Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni
rồi bảo các tỳ-kheo:
«Nhóm
sáu tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là
những người ban đầu phạm giới này. Từ nay về sau, Ta vì
tỳ-kheo-ni kiết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh
pháp cửu trụ.»
Muốn
nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni
nào, sau đêm đại tiểu tiện trong bô,[94] sáng ngày đem đổ
bên ngoài tường mà không xem trước,[95] ba-dật-đề.
B.
GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo-ni:
nghĩa như trên.
Tỳ-kheo-ni
kia ban đêm đại tiểu tiện trong bô, sáng ngày phải xem ngoài
tường thành trước, sau đó mới đổ. Sau khi thức dậy, phải
búng ngón tay hay tằng hắng. Nếu tỳ-kheo-ni cuối đêm, đại
tiểu tiện trong bô, sáng ngày không xem trước bên ngoài tường
mà đổ, ba-dật-đề. Nếu ban đêm không khảy móng tay hay
không tằng hắng mà đổ, đột-kiết-la.
Tỳ-kheo,
đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la.
Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm: ban đêm đại tiểu tiện trong bô, sáng ngày xem
ngoài thành rồi mới đổ; hoặc ban đêm thì búng ngón tay
hay tằng hắng; hoặc trước có gạch đá, gốc cây, có gai,
nơi đổ các đồ bất tịnh; hoặc có nước sâu, bờ sông,
hay đống rác thì đổ, không phạm.
Người
không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng,
loạn tâm, thống não, bức bách.
ĐIỀU
79[96]
A.
DUYÊN KHỞI
Một
thời, đức Bà-già-bà ở trong núi Kỳ-xà-quật, tại La-duyệt-kỳ.
Bấy giờ, nhân dân trong nước có tiết hội, kỹ nhạc vui
đùa. Nhóm sáu tỳ-kheo-ni đến xem coi, các cư sĩ thấy, cơ
hiềm: «Các tỳ-kheo-ni này không biết xấu hổ. Bên ngoài
tự xưng tôi biết chánh pháp, mà cùng nhau xem coi các trò vui
đùa như dâm nữ, tặc nữ không khác. Như vậy có gì là chánh
pháp?»
Các
tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc sống hạnh
đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý hiềm trách nhóm sáu
tỳ-kheo-ni: «Sao các cô cùng nhau đến xem nghe các trò vui đùa?»
Các
tỳ-kheo-ni đến bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến
bạch lên đức Thế tôn. Đức Thế tôn dùng nhơn duyên này
tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni:
«Việc
các cô làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp
sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận,
làm điều không nên làm. Sao các cô lại đi xem nghe các trò
vui đùa?»
Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni
rồi bảo các tỳ-kheo:
«Nhóm
sáu tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là
những người đầu tiên phạm giới này. Từ nay về sau, Ta
vì các tỳ-kheo-ni kiết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến
câu chánh pháp cửu trụ.»
Muốn
nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni
nào, đi xem nghe kỹ nhạc,[97] ba-dật-đề.
B.
GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo-ni:
nghĩa như trên.
Xem
nghe: thưởng thức các trò vui đùa.
Tỳ-kheo-ni
từ đường chính đến đường chính, từ đường chính đến
đường phụ, từ đường phụ đến đường chính; từ chỗ
cao đến chỗ thấp, từ chỗ thấp đến chỗ cao để xem nghe
kỹ nhạc; nhìn thấy thì phạm ba-dật-đề; không thấy, phạm
đột-kiết-la.
Khởi
ý muốn đi mà không đi, hoặc hẹn đi rồi nửa chừng trở
lại, thảy đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo,
đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la.
Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm: hoặc có sự khải thỉnh; hoặc được kêu; hoặc
trên lộ trình phải qua ở một bên; hoặc chỗ tạm nghĩ đêm,
hay bị cường lực dẫn đi, hoặc bị trói dẫn đi, hoặc
mạng nạn, phạm hạnh nạn; thảy đều không phạm.
Người
không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng,
loạn tâm, thống não, bức bách.
ĐIỀU
80[98]
A.
DUYÊN KHỞI
Một
thời, đức Bà-già-bà ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng
cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo-ni
vào trong xóm, nơi chỗ vắng đứng cùng nam tử nói chuyện.
Các cư sĩ thấy cơ hiềm: «Tỳ-kheo-ni này không biết hổ
thẹn, phạm bất tịnh hạnh. Bên ngoài tự xưng tôi biết
chánh pháp, mà vào trong xóm cùng đứng với nam tử nơi chỗ
vắng nói chuyện, không khác dâm nữ, tặc nữ. Như vậy có
gì là chánh pháp?»
Các
tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc sống hạnh
đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, hiềm trách nhóm sáu
tỳ-kheo-ni: «Sao các cô vào trong xóm, nơi chỗ vắng cùng đứng
với nam tử nói chuyện?»
Các
tỳ-kheo-ni đến bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến
bạch lên đức Thế tôn. Thế tôn dùng nhơn duyên này tập
hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni:
«Việc
các cô làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp
sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận,
làm điều không nên làm. Sao các cô vào trong xóm cùng nam tử
đứng nơi chỗ vắng nói chuyện?»
Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni
rồi bảo các tỳ-kheo:
«Nhóm
sáu tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là
những người đầu tiên phạm giới này. Từ nay về sau, Ta
vì các tỳ-kheo-ni kiết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến
câu chánh pháp cửu trụ.»
Muốn
nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni
nào, vào bên trong xóm[99] cùng người nam đứng chỗ vắng
nói chuyện, ba-dật-đề.[100]
B.
GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo-ni:
nghĩa như trên.
Xóm:
nơi có nhà bạch y.
Chỗ
vắng: chỗ không thấy, không nghe.
Chỗ
không thấy: do khói, mây, bụi, sương, bóng tối.
Chỗ
không nghe: ngoài tầm nghe được tiếng nói với giọng bình
thường.
Tỳ-kheo-ni
vào bên trong xóm, cùng nam tử đứng nơi chỗ vắng nói chuyện,
ba-dật-đề. Nếu có đồng bạn mù mà không điếc, đột-kiết-la;
điếc mà không mù, cũng đột-kiết-la. Đứng mà không nói,
cũng phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo,
đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la.
Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm: có hai tỳ-kheo-ni làm bạn; có người quen biết
làm bạn, có nhiều người nữ cùng đứng, không mù, không
điếc, hoặc đi chứ không đứng, hoặc bệnh bị xỉu, hoặc
bị cường lực bắt, hoặc bị trói dẫn đi, hoặc mạng nạn,
phạm hạnh nạn; thảy đều không phạm.
Người
không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng,
loạn tâm, thống não, bức bách.
ĐIỀU
81[101]
A.
DUYÊN KHỞI
Một
thời, đức Bà-già-bà ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng
cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo-ni
cùng người nam vào chỗ khuất vắng. Các cư sĩ thấy cơ hiềm:
‹Tỳ-kheo-ni này không biết hổ thẹn, phạm bất tịnh hạnh,
bên ngoài tự xưng tôi biết chánh pháp. Như vậy có gì là
chánh pháp? Sao tỳ-kheo-ni lại cùng người nam vào chỗ khuất
vắng, như dâm nữ, tặc nữ không khác!›