CHƯƠNG
VII
THỨC-XOA-CA-LA-NI[1]
ĐiỀu
1[2]
[698a9]
Một thời, đức Phật ở vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà
nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo mặc niết-bàn-tăng,[3]
có lúc mặc thấp, có lúc mặc cao,[4] hoặc làm như vòi con
voi, hoặc như lá cây đa-la, hoặc có lúc xếp nhỏ lại. Các
cư sĩ thấy, cơ hiềm: «Sa-môn Thích tử này không biết xấu
hổ. Bên ngoài tự xưng là tôi biết chánh pháp. Như vậy có
gì là chánh pháp? Sao lại bận niết-bàn-tăng khi thì thấp,
khi thì cao, khi thì làm như vòi con voi, khi thì làm như lá cây
đa-la, khi thì xếp nhỏ lại, giống như quốc vương, trưởng
giả, Đại thần, cư sĩ; giống như những ngày tiết hội,
người trong phường chèo mặc y để làm trò?»
Các
tỳ-kheo nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh
đầu đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm trách nhóm
sáu tỳ-kheo: «Sao các thầy lại bận niết-bàn-tăng khi thì
thấp, khi thì cao, khi thì làm như vòi con voi, khi thì làm như
lá cây đa-la, khi thì xếp nhỏ lại?»
Các
tỳ-kheo đến chỗ đức Thế tôn, đảnh lễ dưới chân Phật,
rồi ngồi qua một bên, đem nhơn duyên này bạch đầy đủ
lên đức Thế tôn. Đức Thế tôn liền vì nhơn duyên này
tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:
«Việc
các ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải
pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy
thuận, làm ĐiỀU không nên làm. Sao các ông lại bận niết-bàn-tăng
khi thì thấp, khi thì cao, khi thì làm như vòi con voi, khi thì
làm như lá cây đa-la, khi thì xếp nhỏ lại?»
Dùng
vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo rồi đức
Phật bảo các tỳ-kheo:
«Những
kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ
phạm giới này ban đầu. Từ nay về sau, Ta vì các tỳ-kheo
kiết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp tồn
tại lâu dài.»
Muốn
nói giới nên nói như vầy:
Phải
bận niết-bàn-tăng cho tề chỉnh,[5] thức-xoa-ca-la-ni.[6]
Tỳ-kheo:
nghĩa như trên.
Trong
đó, bận không tề chỉnh, có nghĩa là khi bận thấp, khi bận
cao, hoặc làm như vòi con voi, hoặc làm như lá cây đa-la, hoặc
xếp nhỏ lại.
- Bận
thấp: cột dây lưng dưới rốn, cao là trên đầu gối.
- Vòi
con voi: phía trước thòng xuống một góc.
- Lá
cây đa-la: phía trước thòng xuống hai góc.
- Xếp
nhỏ lại: xếp nhỏ quấn quanh eo lưng nhăn nhó.
Tỳ-kheo
bận niết-bàn-tăng cao hay thấp hoặc làm như cái vòi con voi,
hoặc làm như lá cây đa-la, hoặc xếp nhỏ lại. Cố ý làm,
phạm đột-kiết-la cần phải sám.[7] Do cố ý làm cho nên
phạm phi oai nghi đột-kiết-la.[8] Nếu không cố ý làm thì
chỉ phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la.
Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm: hoặc có khi bệnh như vậy, trong rốn sanh ghẻ
nhọt nên phải mặc thấp, nơi ống chân có ghẻ nên phải
mặc cao, hoặc trong Tăng-già-lam, hoặc bên ngoài thôn xóm,
hoặc lúc làm việc, hoặc khi đi đường thì không phạm.
Người
không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng,
loạn tâm, thống não, bức bách.
ĐiỀu
2[9]
Một
thời, đức Phật ở vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà
nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo quấn y,[10] hoặc
quấn cao, hoặc quấn thấp, hay làm như vòi con voi, hoặc làm
như lá cây đa-la, hoặc xếp nhỏ lại. Các cư sĩ thấy, cơ
hiềm: «Sa-môn Thích tử này không biết xấu hổ. Bên ngoài
tự xưng là tôi biết chánh pháp. Như vậy có gì là chánh
pháp? Sao lại quấn y khi thì thấp, khi thì cao, khi thì làm
như vòi con voi, khi thì làm như lá cây đa-la, khi thì xếp nhỏ
lại, giống như Quốc vương, trưởng giả, Đại thần, cư
sĩ?»
Các
tỳ-kheo nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh
đầu đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm trách nhóm
sáu tỳ-kheo: «Sao các thầy quấn ba y khi cao, khi thấp, hoặc
làm như vòi con voi, hoặc làm như là cây đa-la, hoặc có khi
xếp nhỏ lại?»
Các
tỳ-kheo đến chỗ đức Thế tôn, đảnh lễ dưới chân Phật,
rồi ngồi qua một bên, đem nhơn duyên này bạch đầy đủ
lên đức Thế tôn. Đức Thế tôn liền vì nhơn duyên này
tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:
«Việc
các ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải
pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy
thuận, làm ĐiỀU không nên làm. Tại sao các ông quấn y khi
cao, khi thấp, hoặc làm như vòi con voi, hoặc làm như lá cây
đa-la, hay có lúc xếp nhỏ lại?»
Dùng
vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo rồi, đức
Phật bảo các tỳ-kheo:
«Những
kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ
phạm giới này ban đầu. Từ nay về sau, Ta vì các tỳ-kheo
kiết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp tồn
tại lâu dài.»
Muốn
nói giới nên nói như vầy:
Phải
quấn ba y cho tề chỉnh,[11] thức-xoa-ca-la-ni.
Tỳ-kheo:
nghĩa như trên.
Trong
đây, không tề chỉnh: có nghĩa là khi quấn cao, khi mặc thấp,
hoặc làm như vòi con voi, hoặc làm như lá cây đa-la, hoặc
có lúc xếp nhỏ lại.
Quấn
thấp: thòng xuống quá khủy tay, trống bên hông.
Quấn
cao: quấn cao quá ống chân.
Làm
như vòi con voi: thòng xuống một góc.
Như
là cây đa-la: bên trước thòng xuống hai góc, bên sau vén cao
lên.
Xếp
nhỏ lại: là xếp nhỏ làm thành viền của y.
Nếu
tỳ-kheo cố ý quấn cao, quấn thấp, làm thành vòi con voi,
làm thành là cây đa-la, hoặc có khi xếp nhỏ lại, cố ý
làm thì nên sám đột-kiết-la. Do cố ý làm nên phạm phi oai
nghi đột-kiết-la. Nếu không cố ý làm thì chỉ phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la.
Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm: hoặc bị bệnh như vậy, hoặc nơi vai, nơi cánh
tay có ghẻ phải mặc thấp, hay nơi ống chân có ghẻ nên
phải mặc cao, hoặc ở trong Tăng-già-lam, hay bên ngoài thôn
xóm, hoặc trên đường đi, hay lúc lao tác… thì không phạm.
Người
không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới, si cuồng,
loạn tâm, thống não, bức bách.
ĐiỀu
3[12]
Một
thời, đức Phật ở vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà
nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo vắt ngược ba y
mà đi vào nhà bạch y.[13] Các cư sĩ thấy, cơ hiềm: «Sa-môn
Thích tử này không biết tàm quý. Bên ngoài tự xưng là tôi
biết chánh pháp. Như thế có gì là chánh pháp? Tại sao vắt
ngược y đi vào nhà bạch y, giống như quốc vương, Đại
thần, trưởng giả, cư sĩ?»
Các
tỳ-kheo nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh
đầu đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, quở trách nhóm sáu
tỳ-kheo: «Sao các thầy vắt ngược y đi vào nhà bạch y?»
Các
tỳ-kheo đến chỗ đức Thế tôn, đảnh lễ dưới chân Phật,
rồi ngồi qua một bên, đem nhơn duyên này bạch đầy đủ
lên đức Thế tôn. Đức Thế tôn liền vì nhơn duyên này
tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:
«Việc
các ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải
pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy
thuận, làm ĐiỀU không nên làm. Tại sao các ông vắt ngược
y đi vào nhà bạch y?»
Dùng
vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo rồi, đức
Phật bảo các tỳ-kheo:
«Những
kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ
phạm giới này ban đầu. Từ nay về sau, Ta vì các tỳ-kheo
kiết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp tồn
tại lâu dài.»
Muốn
nói giới nên nói như vầy:
Không
vắt ngược y đi vào nhà bạch y, thức-xoa-ca-la-ni.[14]
Tỳ-kheo:
nghĩa như trên.
Nhà
bạch y: chỉ cho thôn xóm.
Vắt
ngược y: hoặc vắt ngược y hai bên tả và hữu lên trên
vai. Nếu tỳ-kheo cố ý vắt ngược y bên tả và bên hữu
lên trên vai đi vào nhà bạch y, cố ý làm nên sám đột-kiết-la.
Do vì cố ý làm nên phạm phi oai nghi đột-kiết-la. Nếu không
cố ý làm thì chỉ phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la.
Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm: hoặc có bệnh như vậy, hoặc bên hông có ghẻ,
hoặc ở trong Tăng-già-lam, hoặc ngoài thôn xóm, hoặc trên
đường đi, hay lúc làm việc thì không phạm.
Người
không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới, si cuồng,
loạn tâm, thống não, bức bách.
ĐiỀu
4
Không
vắt ngược y khi ngồi trong nhà bạch y, thức-xoa-ca-la-ni. (như
trên)[15]
ĐiỀu
5
Một
thời, đức Phật ở vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà
nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo lấy y quấn cổ
vào nhà bạch y, các cư sĩ thấy, cơ hiềm: «Sa-môn Thích tử
này không biết hổ thẹn mới lấy y quấn cổ đi vào nhà
bạch y, như quốc vương, Đại thần, trưởng giả, cư sĩ.»
Các
tỳ-kheo nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh
đầu đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm trách nhóm
sáu tỳ-kheo: «Sao các thầy quấn y nơi cổ vào nhà bạch y?»
Các
tỳ-kheo đến chỗ đức Thế tôn, đảnh lễ dưới chân Phật,
rồi ngồi qua một bên, đem nhơn duyên này bạch đầy đủ
lên đức Thế tôn. Đức Thế tôn liền vì nhơn duyên này
tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:
«Các
ông làm ĐiỀU sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp
sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tuỳ thuận,
làm việc không nên làm. Tại sao các ông lấy y quấn nơi cổ
vào nhà bạch y?»
Dùng
vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo rồi, đức
Phật bảo các tỳ-kheo:
«Những
kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ
phạm giới này ban đầu. Từ nay về sau, Ta vì các tỳ-kheo
kiết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp tồn
tại lâu dài.»
Muốn
nói giới nên nói như vầy:
Không
quấn y nơi cổ khi đi vào nhà bạch y, thức-xoa-ca-la-ni.
Tỳ-kheo:
nghĩa như trên.
Quấn
vào cổ: nắm hai chéo y quấn trên vai tả.
Cố
ý lấy y quấn vào cổ đi vào nhà bạch y, phạm tội nên sám
đột-kiết-la. Do cố ý làm nên phạm tội phi oai nghi đột-kiết-la.
Nếu không cố ý làm thì chỉ phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la.
Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm: hoặc là bị bệnh như vậy, có ghẻ trên vai,
hoặc ở trong Tăng-già-lam hay ngoài xóm làng, hoặc khi làm
việc hay lúc đi đường thì không phạm.
Người
không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới, si cuồng,
loạn tâm, thống não, bức bách.
ĐiỀu
6
Không
quấn y nơi cổ khi ngồi nhà bạch y, thức-xoa-ca-la-ni. (như
trên)
ĐiỀu
7[16]
Một
thời, đức Phật ở vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà
nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo lấy y trùm lên
đầu, vào nhà bạch y. Các cư sĩ thấy, cơ hiềm: «Sa-môn
Thích tử này không biết hổ thẹn. Bên ngoài tự xưng tôi
biết chánh pháp. Như vậy có gì gọi là chánh pháp? Tại sao
lấy y trùm đầu đi như kẻ trộm.»
Các
tỳ-kheo nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh
đầu đà, ưa học giới, biết tàm quý, hiềm trách nhóm sáu
tỳ-kheo: «Sao các thầy lấy y trùm lên đầu vào nhà bạch
y?»
Các
tỳ-kheo đến chỗ đức Thế tôn, đảnh lễ dưới chân, rồi
ngồi qua một bên đem nhơn duyên này bạch lên đức Thế tôn
một cách đầy đủ. Đức Thế tôn dùng nhơn duyên này tập
hợp các Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:
«Việc
các ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải
pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy
thuận, làm ĐiỀU không nên làm. Tại sao các ông lấy y trùm
lên đầu vào nhà bạch y?»
Dùng
vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo rồi, Phật
bảo các tỳ-kheo:
«Những
kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ
phạm giới này ban đầu. Từ nay về sau, Ta vì các tỳ-kheo
kiết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp tồn
tại lâu dài.»
Muốn
nói giới nên nói như vầy:
Không
trùm đầu khi đi vào nhà bạch y, thức-xoa-ca-la-ni.[17]
Tỳ-kheo:
nghĩa như trên.
Nhà
bạch y: là thôn xóm.
Trùm
đầu: hoặc lấy lá cây, [699a1] hay dùng vật xé thành mảnh,
hoặc dùng y trùm trên đầu đi vào nhà bạch y.
Cố
ý phạm nên sám đột-kiết-la. Do cố ý làm nên phạm phi oai
nghi đột-kiết-la. Nếu không cố ý làm thì chỉ phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la.
Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm: hoặc bị bệnh như vậy, hoặc bị lạnh trên
đầu, hoặc có ghẻ trên đầu, hay mạng nạn, phạm hạnh
nạn phải trùm đầu để chạy thì không phạm,
Người
không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng,
loạn tâm, thống não, bức bách.
ĐiỀu
8
Không
trùm đầu khi vào nhà bạch y mà ngồi, thức-xoa-ca-la-ni. (như
trên)[18]
ĐiỀu
9
Một
thời, đức Phật ở vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà
nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo nhún nhảy[19] đi
vào nhà bạch y. Các cư sĩ thấy, cơ hiềm: «Sa-môn Thích tử
này không biết hổ thẹn. Thọ nhận không biết nhàm chán.
Bên ngoài tự xưng là tôi biết chánh pháp. Như vậy có gì
là chánh pháp? Nhún nhảy đi vào nhà như con chim sẻ?»
Các
tỳ-kheo nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh
đầu đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm trách nhóm
sáu tỳ-kheo: «Sao các thầy nhún nhảy nhảy vào nhà bạch
y?»
Các
tỳ-kheo đến chỗ đức Thế tôn, đảnh lễ dưới chân Phật,
rồi ngồi qua một bên, đem nhơn duyên này bạch đầy đủ
lên đức Thế tôn. Đức Thế tôn liền vì nhơn duyên này
tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:
«Việc
các ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải
pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy
thuận, làm ĐiỀU không nên làm. Sao các ông lại nhún nhảy
nhảy vào nhà bạch y?»
Dùng
vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo rồi, đức
Phật bảo các tỳ-kheo:
«Những
kẻ ngu si này,[700a1] là nơi trồng nhiều giống hữu lậu,
là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay về sau, Ta vì các
tỳ-kheo kiết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh
pháp tồn tại lâu dài.»
Muốn
nói giới nên nói như vầy:
Không
nhảy nhót[20] khi đi vào nhà bạch y, thức-xoa-ca-la-ni.
Tỳ-kheo:
nghĩa như trên.
Nhà
bạch y: cũng như trên.
Nhảy
nhót đi: hai chân nhảy.
Tỳ-kheo
cố ý nhảy nhót đi vào nhà bạch y, phạm đột-kiết-la cần
phải sám. Do bởi cố ý làm nên phạm phi oai nghi đột-kiết-la.
Nếu không cố ý làm thì chỉ phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la.
Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm: hoặc mắc bệnh như vậy; hoặc bị người đánh;
hoặc có giặc, hoặc có ác thú, hoặc bị chông gai, hoặc
lội qua rảnh, qua hầm, qua chỗ bùn lầy phải nhảy đi; thảy
đều không phạm.
Người
không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới, si cuồng,
loạn tâm, thống não, bức bách.
ĐiỀu
10
Không
nhảy nhót vào nhà bạch y ngồi, thức-xoa-ca-la-ni. (như trên)
ĐiỀu
11
Một
thời, đức Phật ở vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có cư sĩ thỉnh chúng Tăng sáng ngày
mai về nhà thọ thực. Đêm ấy cư sĩ chuẩn bị đầy đủ
thức ăn ngon bổ. Sáng sớm đến báo giờ đã đến.
Bấy
giờ các tỳ-kheo đắp y bưng bát đến nhà cư sĩ, an tọa
nơi chỗ ngồi. Nhóm sáu tỳ-kheo ngồi chồm hỗm tại nhà
bạch y. Tỳ-kheo ngồi gần dùng tay đụng vào người, nhóm
sáu tỳ-kheo té ngữa lộ hình. Các cư sĩ thấy, cơ hiềm:
«Sa-môn Thích tử này không biết hổ thẹn. Thọ nhận không
biết nhàm chán. Bên ngoài tự xưng là tôi biết chánh pháp.
Như vậy có gì là chánh pháp? Ngồi chồm hỗm trong nhà giống
như bà-la-môn lõa hình.»
Các
tỳ-kheo nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh
đầu đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm trách nhóm
sáu tỳ-kheo: «Sao các thầy lại ngồi chồm hỗm trong nhà
bạch y?»
Các
tỳ-kheo đến chỗ đức Thế tôn, đảnh lễ dưới chân Phật,
rồi ngồi qua một bên, đem nhơn duyên này bạch đầy đủ
lên đức Thế tôn. Đức Thế tôn liền vì nhơn duyên này
tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:
«Việc
các ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải
pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy
thuận, làm ĐiỀU không nên làm. Tại sao các ông ngồi chồm
hỗm trong nhà bạch y?»
Dùng
vô số phương tiện quở trách rồi, đức Phật bảo các tỳ-kheo:
«Những
kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ
phạm giới này ban đầu. Từ nay về sau, Ta vì các tỳ-kheo
kiết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp tồn
tại lâu dài.»
Muốn
nói giới nên nói như vầy:
Không
ngồi chồm hỗm trong nhà bạch y, thức-xoa-ca-la-ni.[21]
Tỳ-kheo:
nghĩa như trên.
Nhà
bạch y: cũng như trên.
Ngồi
chồm hỗm: ở trên đất hay ở trên giường mà mông không
chạm đất.
Tỳ-kheo
cố ý ngồi chồm hỗm trong nhà bạch y, phạm đột-kiết-la
cần phải sám. Do bởi cố ý làm nên phạm phi oai nghi đột-kiết-la.
Nếu không cố ý làm thì chỉ phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la.
Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm: hoặc có bệnh như vậy; hoặc bên mông có ghẻ;
hoặc có đưa vật gì, hoặc lễ bái, sám hối, hoặc thọ
giáo giới; thảy đều không phạm.
Người
không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng,
loạn tâm, thống não, bức bách.
ĐiỀu
12[22]
Một
thời, đức Phật ở vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà
nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo chống nạnh tay
đi vào nhà bạch y. Các cư sĩ thấy, cơ hiềm: «Sa-môn Thích
tử này không biết hổ thẹn. Thọ nhận không biết nhàm chán.
Bên ngoài tự xưng là tôi biết chánh pháp. Như vậy có gì
là chánh pháp? Vênh váo đắc chí giống như người đời mới
cưới vợ!›
Các
tỳ-kheo nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh
đầu đà, ưa học giới, biết tàm quý, hiềm trách nhóm sáu
tỳ-kheo: ‹Sao các thầy chống nạnh tay đi vào nhà bạch y?›
Các
tỳ-kheo đến chỗ đức Thế tôn, đảnh lễ dưới chân, rồi
ngồi qua một bên, đem nhơn duyên này bạch lên đức Thế
tôn một cách đầy đủ. Đức Thế tôn dùng nhơn duyên này
tập hợp các Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:
«Việc
các ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải
pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy
thuận, làm ĐiỀU không nên làm. Tại sao các ông chống nạnh
tay đi vào nhà bạch y?»
Lúc
bấy giờ đức Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách
rồi, bảo các tỳ-kheo:
«Những
kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ
phạm giới này ban đầu. Từ nay về sau, Ta vì các tỳ-kheo
kiết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp tồn
tại lâu dài.»
Muốn
nói giới nên nói như vầy:
Không
chống nạnh khi đi vào nhà bạch y, thức-xoa-ca-la-ni.
Tỳ-kheo:
nghĩa như trên.
Nhà
bạch y: như đã nói ở trên.
Chống
nạnh: lấy tay chống lên hông thành góc vuông.
Nếu
tỳ-kheo cố ý chống nạnh đi vào nhà bạch y, phạm đột-kiết-la
cần phải sám. Do bởi cố ý làm nên phạm phi oai nghi đột-kiết-la.
Nếu không cố ý làm thì chỉ phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo
ni, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la.
Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm: hoặc có bệnh như vậy; hay dưới hông có sanh
ghẻ; hoặc ở trong Tăng-già-lam hay ngoài xóm làng; hoặc lúc
làm việc, hay trên đường đi; thảy đều không phạm.
Người
không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng,
loạn tâm, thống não, bức bách.
ĐiỀu
13
Không
chống nạnh khi ngồi trong nhà bạch y, thức-xoa-ca-la-ni.
Tay
chống lên hông, khuỷ tay thành góc vuông, khi ngồi trong nhà
bạch y, trở ngại người ngồi kế, cũng như vậy.
ĐiỀu
14[23]
Một
thời, đức Phật ở vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà
nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo đi lắc lư [24]
khi vào nhà bạch y. Các cư sĩ thấy, cơ hiềm nói: «Sa-môn
Thích tử này không biết hổ thẹn. Thọ nhận không biết
nhàm chán. Bên ngoài tự xưng là tôi biết chánh pháp. Như
vậy có gì là chánh pháp? đi lắc lư khi vào nhà bạch y, giống
như Quốc vương, Đại thần!»
Các
tỳ-kheo nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh
đầu đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm trách nhóm
sáu tỳ-kheo: «Tại sao các thầy lắc lư thân mình đi vào
nhà bạch y?»
Các
tỳ-kheo đến chỗ đức Thế tôn, đảnh lễ dưới chân, rồi
ngồi qua một bên, đem nhơn duyên này bạch đầy đủ lên
đức Thế tôn. Đức Thế tôn dùng nhơn duyên này tập hợp
Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:
«Việc
các ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải
pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy
thuận, làm ĐiỀU không nên làm. Tại sao các ông đi lắc lư
khi vào nhà bạch y?»
Lúc
bấy giờ đức Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách
rồi, bảo các tỳ-kheo:
«Những
kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ
phạm giới này ban đầu. Từ nay về sau, Ta vì các tỳ-kheo
kiết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp tồn
tại lâu dài.»
Muốn
nói giới nên nói như vầy:
Không
lắc lư thân mình khi vào nhà bạch y, thức-xoa-ca-la-ni.
Tỳ-kheo:
nghĩa như trên.
Nhà
bạch y: cũng nghĩa như trên.
Đi
lắc lư: thân nghiêng bên tả, bên hữu khi rảo bước.
Nếu
tỳ-kheo cố làm cho thân lắc lư, nghiêng bên tả bên hữu,
rảo bước vào nhà bạch y, phạm [701a1] đột-kiết-la cần
phải sám. Do bởi cố tâm làm nên phạm phi oai nghi đột-kiết-la.
Nếu không cố tâm làm thì chỉ phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la.
Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm: hoặc vì bị chứng bệnh như vậy; hoặc bị người
đánh phải nghiêng mình để tránh; hoặc voi dữ đến; hoặc
bị giặc, sư tử, ác thú tấn công, hoặc gặp người vác
gai. Những trường hợp như vậy phải nghiêng mình để tránh.
Hoặc lội qua hầm, qua mương, qua vũng bùn, cần nghiêng thân
để lướt qua. Hoặc khi mặc y, xoay nghiêng mình để nhìn
xem y có tề chỉnh không, có cao thấp không, có như cái vòi
con voi không, có như lá cây đa-la không, có xếp nhỏ lại
hay không. Vì vậy mà phải xoay mình để xem. Thảy đều không
phạm.
Người
không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới, si cuồng,
loạn tâm, thống não, bức bách.
ĐiỀu
15
Không
lắc lư thân mình khi ngồi trong nhà bạch y, thức-xoa-ca-la-ni.
(như trên)
ĐiỀu
16 [25]
Một
thời, đức Phật ở vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà
nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo vung cánh tay[26]
khi đi vào nhà bạch y. Các cư sĩ thấy, cơ hiềm nói: «Sa-môn
Thích tử này không biết hổ thẹn. Thọ nhận không biết
nhàm chán. Bên ngoài tự xưng là tôi biết chánh pháp. Như
vậy có gì là chánh pháp? Đi đánh đòng xa khi vào nhà bạch
y giống như quốc vương, Đại thần, trưởng giả.»
Các
tỳ-kheo nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh
đầu đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm trách nhóm
sáu tỳ-kheo: «Sao các thầy đi đánh đòng xa khi vào nhà bạch
y?»
Quở
trách rồi, tỳ-kheo đến chỗ đức Thế tôn, đảnh lễ dưới
chân, rồi ngồi qua một bên, đem nhơn duyên này bạch đầy
đủ lên đức Thế tôn. Đức Thế tôn dùng nhơn duyên này
tập hợp các Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:
«Việc
các ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải
pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy
thuận, làm ĐiỀU không nên làm. Tại sao các ông khoác tay
khi đi vào nhà bạch y?»
Lúc
bấy giờ, đức Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách
rồi, bảo các tỳ-kheo:
«Những
kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ
phạm giới này ban đầu. Từ nay về sau, Ta vì các tỳ-kheo
kiết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp tồn
tại lâu dài.»
Muốn
nói giới nên nói như vầy:
Không
vung cánh tay khi đi vào nhà bạch y, thức-xoa-ca-la-ni.
Tỳ-kheo:
nghĩa như trên.
Vung
cánh tay: thòng cánh tay đưa ra trước bước đi.
Nếu
tỳ-kheo cố đánh đòng xa đi vào nhà bạch y, phạm đột-kiết-la
cần phải sám. Do bởi cố ý làm nên phạm phi oai nghi đột-kiết-la.
Nếu không cố tâm thì chỉ phạm đột-Kiết-La mà thôi.
Tỳ-kheo-ni,
đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la.
Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm: hoặc bị chứng bệnh nào đó; hoặc bị người
đánh đưa tay chận lại; hoặc gặp voi dữ đến, hoặc sư
tử, ác thú, trộm cướp, người vác gai chạy lại nên phải
đưa tay chận lại. Hoặc lội qua sông, nhảy qua hầm nước,
vũng bùn, hoặc bạn cùng đi không kịp, lấy tay ngoắt kêu.
Thảy đều không phạm.
Người
không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng,
loạn tâm, thống não, bức bách.
ĐiỀu
17
...ngồi.
(cũng như trên)
ĐiỀu
18 [27]
Một
thời, đức Phật ở vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà
nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo không khéo che kín
thân đi vào nhà bạch y. Các cư sĩ thấy cơ hiềm nói: «Sa-môn
Thích tử này không biết hổ thẹn. Thọ nhận không biết
nhàm chán. Bên ngoài tự xưng là tôi biết chánh pháp. Như
vậy có gì là chánh pháp? Mặc y phục không khéo che kín thân
đi vào nhà bạch y, giống như bà-la-môn.»
Các
tỳ-kheo nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh
đầu đà, ưa học giới, biết tàm quý, hiềm trách nhóm sáu
tỳ-kheo: «Sao các thầy không khéo che kín thân đi vào nhà
bạch y?»
Các
tỳ-kheo đến chỗ đức Thế tôn, đảnh lễ dưới chân, rồi
ngồi qua một bên, đem nhơn duyên này bạch đầy đủ lên
đức Thế tôn. Đức Thế tôn dùng nhơn duyên này tập hợp
các Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:
«Việc
các ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải
pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy
thuận, làm ĐiỀU không nên làm. Tại sao các ông mặc y không
khéo che thân, đi vào nhà bạch y?»
Lúc
bấy giờ đức Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách
rồi, bảo các tỳ-kheo:
«Những
kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ
phạm giới này ban đầu. Từ nay về sau, Ta vì các tỳ-kheo
kiết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp tồn
tại lâu dài.»
Muốn
nói giới nên nói như vầy:
Phải
che kín thân thể khi đi vào nhà bạch y, thức-xoa-ca-la-ni.
Tỳ-kheo:
nghĩa như trên.
Nhà
bạch y: tức xóm làng.
Không
khéo che kín thân: là trống trước trống sau.
Nếu
tỳ-kheo cố tâm không khéo che thân, đi vào nhà bạch y, phạm
đột-kiết-la cần phải sám. Do bởi cố tâm làm nên phạm
phi oai nghi đột-kiết-la. Nếu cố tâm làm thì chỉ phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la.
Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm: hoặc mắc bệnh như vậy; hoặc bị trói hay bị
gió thổi bay y lìa thân thì không phạm.
Người
không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới, si cuồng,
loạn tâm, thống não, bức bách.
ĐiỀu
19
...ngồi,
(cũng như trên).
ĐiỀu
20[28]
Một
thời, đức Phật ở vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà
nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo liếc ngó hai bên
khi đi vào nhà bạch y, các cư sĩ thấy, cơ hiềm nói: «Sa-môn
Thích tử này không biết hổ thẹn. Thọ nhận không biết
nhàm chán. Bên ngoài tự xưng là tôi biết chánh pháp. Như
vậy có gì là chánh pháp? Như kẻ trộm rình người, liếc
ngó hai bên khi đi vào nhà bạch y.»
Các
tỳ-kheo nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh
đầu đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm trách nhóm
sáu tỳ-kheo: «Sao các thầy liếc ngó hai bên khi đi vào nhà
bạch y?»
Các
tỳ-kheo đến chỗ đức Thế tôn, đảnh lễ dưới chân, rồi
ngồi qua một bên, đem nhơn duyên này bạch lên đức Thế
tôn một cách đầy đủ. Đức Thế tôn dùng nhơn duyên này
tập hợp các Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:
«Việc
các ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải
pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy
thuận, làm ĐiỀU không nên làm. Tại sao các ông liếc ngó
hai bên khi đi vào nhà bạch y?»
Lúc
bấy giờ đức Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách
rồi, bảo các tỳ-kheo:
«Những
kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ
phạm giới này ban đầu. Từ nay về sau, Ta vì các tỳ-kheo
kiết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp tồn
tại lâu dài.»
Muốn
nói giới nên nói như vầy:
Không
liếc ngó hai bên khi đi vào nhà bạch y, thức-xoa-ca-la-ni.
Tỳ-kheo:
nghĩa như trên.
Nhà
bạch y: nơi xóm làng.
Liếc
ngó hai bên: nhìn quanh nhìn quất.
Nếu
tỳ-kheo cố ý liếc ngó hai bên, đi vào nhà bạch y phạm đột-kiết-la
cần phải sám. Do bởi cố ý làm nên phạm phi oai nghi đột-kiết-la.
Nếu không cố ý, phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, Sa-di ni, đột-kiết-la.
Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm: hoặc bị bệnh như vậy; hay vì ngước mặt xem
thời tiết; hoặc mạng nạn, phạm hạnh [702a1] nạn phải
ngó mọi hướng để tìm cách thoát thân; thảy đều không
phạm.
Người
không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới, si cuồng,
loạn tâm, thống não, bức bách.
ĐiỀu
21
...ngồi,
(cũng như trên).
ĐiỀu
22[29]
Một
thời, đức Phật ở vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà
nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo lớn tiếng kêu
réo, khi đi vào nhà bạch y. Các cư sĩ nghe thấy cơ hiềm nói:
«Sa-môn Thích tử này không biết hổ thẹn. Thọ nhận không
biết nhàm chán. Bên ngoài tự xưng là tôi biết chánh pháp.
Như vậy có gì là chánh pháp? Kêu la lớn tiếng giống như
chúng bà-la-môn!»
Các
tỳ-kheo nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh
đầu đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm trách nhóm
sáu tỳ-kheo: «Sao các thầy kêu la lớn tiếng khi vào nhà bạch
y?»
Các
tỳ-kheo đến chỗ đức Thế tôn, đảnh lễ dưới chân, rồi
ngồi qua một bên, đem nhơn duyên này bạch đầy đủ lên
đức Thế tôn. đức Thế tôn dùng nhơn duyên này tập hợp
các Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:
«Việc
các ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải
pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy
thuận, làm ĐiỀU không nên làm. Tại sao các ông lớn tiếng
cao giọng khi vào nhà bạch y?»
Lúc
bấy, giờ đức Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách
rồi, bảo các tỳ-kheo:
«Những
kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ
phạm giới này ban đầu. Từ nay về sau, Ta vì các tỳ-kheo
kiết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp tồn
tại lâu dài.»
Muốn
nói giới nên nói như vầy:
Phải
yên lặng[30] khi đi vào nhà bạch y, thức-xoa-ca-la-ni.
Tỳ-kheo:
nghĩa như trên.
Trong
đây, không yên lặng, là lớn tiếng cao giọng. Hoặc dặn
dò, hoặc lớn tiếng thí thực. Nếu tỳ-kheo cố ý cao tiếng
lớn giọng, phạm đột-kiết-la cần phải sám. Do bởi cố
ý làm nên phạm phi oai nghi đột-kiết-la. Nếu không cố ý
làm, phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la.
Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm: hoặc mắc phải chứng bệnh như vậy; hoặc điếc
không nghe tiếng nói phải lớn tiếng kêu, hoặc cao tiếng
dặn dò, hoặc cao tiếng thí thực, hoặc mạng nạn, phạm
hạnh nạn, cao giọng để tẩu thoát thì không phạm.
Người
không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng,
loạn tâm, thống não, bức bách.
ĐiỀU
23
...
ngồi, (cũng như trên).
ĐiỀU
24[31]
Một
thời, đức Phật ở vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà
nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo cười giỡn khi
đi vào nhà bạch y. Các cư sĩ thấy, cơ hiềm nói: «Sa-môn
Thích tử này không biết hổ thẹn. Thọ nhận không biết
nhàm chán. Bên ngoài tự xưng là tôi biết chánh pháp. Như
vậy có gì là chánh pháp? Vừa đi, vừa cười giỡn khi vào
nhà bạch y, giống như con khỉ đột!»
Các
tỳ-kheo nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh
đầu đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm trách nhóm
sáu tỳ-kheo: «Tại sao các Thầy vừa đi vừa cười giỡn
khi vào nhà bạch y?»
Các
tỳ-kheo đến chỗ đức Thế tôn, đảnh lễ dưới chân, rồi
ngồi qua một bên, đem nhơn duyên này bạch đầy đủ lên
đức Thế tôn, Đức Thế tôn dùng nhơn duyên này tập hợp
các Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:
«Việc
các ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải
pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy
thuận, làm ĐiỀU không nên làm. Tại sao các ông vừa đi vừa
cười giỡn khi vào nhà bạch y?»
Lúc
bấy giờ đức Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách
rồi, bảo các tỳ-kheo:
«Những
kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ
phạm giới này ban đầu. Từ nay về sau, Ta vì các tỳ-kheo
kiết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp tồn
tại lâu dài.»
Muốn
nói giới nên nói như vầy:
Không
được cười giỡn khi vào nhà bạch y, thức-xoa-ca-la-ni.
Tỳ-kheo:
nghĩa như trên.
Cười
cợt: cười để lộ răng.
Nếu
tỳ-kheo cố ý cười cợt khi đi vào nhà bạch y thì phạm
nên sám đột-kiết-la. Do bởi cố ý làm nên phạm oai nghi
đột-kiết-la. Nếu không cố ý làm thì phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-Kiết-la.
Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm: hoặc mắc phải chứng bệnh như vậy; hoặc môi
bị đau không phủ được răng; hoặc nghĩ đến pháp, hoan
hỷ mà cười; thảy đều không phạm.
Người
không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới, si cuồng,
loạn tâm, thống não, bức bách.
ĐiỀU
25
...
ngồi, (cũng như trên).
ĐiỀU
26[32]
Một
thời, đức Phật ở vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có cư sĩ mời chúng Tăng sáng mai
thọ thực. Đêm ấy, cư sĩ chuẩn bị đủ các thức ăn ngon
bổ, sáng ngày đến thỉnh chúng tăng thọ thực.
Đến
giờ, các tỳ-kheo mặc y bưng bát đến nhà cư sĩ, an tọa
nơi chỗ ngồi. Chính tay cư sĩ sớt thức ăn đến chư Tăng.
Nhóm sáu tỳ-kheo không chú ý khi nhận thức ăn, nên cơm canh
bị rơi rớt. Cư sĩ thấy vậy, cùng nhau bàn nói: «Sa-môn
Thích tử này không biết hổ thẹn. Thọ nhận không biết
nhàm chán. Bên ngoài tự xưng là tôi biết chánh pháp. Như
vậy có gì là chánh pháp? Sao lại không chú ý khi nhận thức
ăn, nhận nhiều với tâm tham, như thời đói kém!»
Các
tỳ-kheo nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh
đầu đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm trách nhóm
sáu tỳ-kheo: «Tại sao các thầy không để ý khi nhận thức
ăn?»
Các
tỳ-kheo đến chỗ đức Thế tôn, đảnh lễ dưới chân, rồi
ngồi qua một bên, đem nhơn duyên này bạch đầy đủ lên
đức Thế tôn. Đức Thế tôn dùng nhơn duyên này tập hợp
các Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:
«Việc
các ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải
pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy
thuận, làm ĐiỀU không nên làm. Tại sao các ông không chú
ý khi nhận thức ăn, để cơm canh bị rơi rớt?»
Lúc
bấy giờ đức Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách
rồi, bảo các tỳ-kheo:
«Những
kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ
phạm giới này ban đầu. Từ nay về sau, Ta vì các tỳ-kheo
kiết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp tồn
tại lâu dài.»
Muốn
nói giới nên nói như vầy:
Phải
dụng ý khi nhận thức ăn, thức-xoa-ca-la-ni.
Tỳ-kheo:
nghĩa như trên.
Tỳ-kheo
kia không dụng ý nhận thức ăn, để thức ăn bị rơi rớt,
nếu cố tâm không để ý khi nhận thức ăn, phạm đột-kiết-la
cần phải sám. Do bởi cố tâm làm nên phạm phi oai nghi đột-kiết-la.
Nếu không cố tâm thì phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la.
Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm: hoặc mắc phải chứng bệnh như vậy; hoặc bát
nhỏ nên khi nhận ăn rơi rớt; hoặc rớt trên bàn; thảy đều
không phạm.
Người
không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng,
loạn tâm, thống não, bức bách.
ĐiỀU
27[33]
Một
thời, đức Phật ở vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có cư sĩ mời chúng Tăng sáng ngày
thọ thực. Trong đêm chuẩn bị các thức ăn đầy đủ, sáng
sớm đến thỉnh chúng Tăng đi thọ thực.
Đến
giờ, các tỳ-kheo đắp y, bưng bát đến nhà cư sĩ, an tọa
nơi chỗ ngồi. Chính tay cư sĩ sớt cơm canh đến chư Tăng.
Nhóm sáu tỳ-kheo nhận thức ăn đầy tràn cả bát, làm đổ
cơm canh. Cư sĩ thấy, cơ hiềm nói: «Sa-môn Thích tử này
không biết hổ thẹn. Thọ nhận không biết nhàm chán. Bên
ngoài tự xưng là tôi biết chánh pháp. Như vậy có gì là
chánh pháp? Nhận [703a1] thức ăn đầy tràn cả bát, giống
như những người đói ham nhiều.»
Các
tỳ-kheo nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh
đầu đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm trách nhóm
sáu tỳ-kheo: «Sao các thầy nhận thức ăn đầy tràn cả bát,
làm đổ cơm canh?»
Các
tỳ-kheo đến chỗ đức Thế tôn, đảnh lễ dưới chân, rồi
ngồi qua một bên, đem nhơn duyên này bạch đầy đủ lên
đức Thế tôn. Đức Thế tôn dùng nhơn duyên này tập hợp
các Tăng tỳ-kheo, quở rách nhóm sáu tỳ-kheo:
«Việc
các ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải
pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy
thuận, làm ĐiỀU không nên làm. Tại sao các ông nhận thức
ăn đầy tràn cả bát, làm đổ cơm canh?»
Lúc
bấy giờ đức Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách
rồi, bảo các tỳ-kheo:
«Những
kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ
phạm giới này ban đầu. Từ nay về sau, Ta vì các tỳ-kheo
kiết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp tồn
tại lâu dài.»
Muốn
nói giới nên nói như vầy:
Thọ
nhận thức ăn vừa ngang bát, thức-xoa-ca-la-ni.
Tỳ-kheo:
nghĩa như trên.
Không
ngang bằng bình bát: có nghĩa là đầy tràn.
Nếu
tỳ-kheo cố ý nhận thức ăn không ngang bằng bình bát, phạm
đột-kiết-la cần phải sám. Do bởi cố ý nên phạm phi oai
nghi đột-kiết-la. Nếu không cố ý làm, phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la.
Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm: ban đầu chưa chế giới, si cuồng loạn tâm, thống
não, bức bách; hay có bệnh, hoặc bát nhỏ, hoặc thức ăn
rơi trên bàn.
Người
không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng,
loạn tâm, thống não, bức bách.
ĐiỀU
28[34]
Một
thời, đức Phật ở vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có cư sĩ thỉnh chúng Tăng sáng ngày
thọ thực. Trong đêm sắm sửa đầy đủ các thức ăn, sáng
sớm đến báo chư Tăng giờ thọ thực.
Đến
giờ, các tỳ-kheo mặc y bưng bát đến nhà cư sĩ, an tọa
nơi chỗ ngồi. Chính tay của cư sĩ sớt thức ăn đến chư
Tăng. Nhóm sáu tỳ-kheo nhận cơm quá nhiều, không còn chỗ
để chứa canh, cư sĩ thấy vậy, cơ hiềm nói: «Sa-môn Thích
tử này không biết hổ thẹn. Thọ nhận không biết nhàm chán.
Bên ngoài tự xưng là tôi biết chánh pháp. Như vậy có gì
là chánh pháp? Nhận thức ăn quá nhiều không còn chỗ để
nhận canh, giống như người đói khát tham ăn!»
Các
tỳ-kheo nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh
đầu đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm trách nhóm
sáu tỳ-kheo: «Sao các thầy nhận cơm quá nhiều, không còn
chỗ để nhận canh?»
Các
tỳ-kheo đến chỗ đức Thế tôn, đảnh lễ dưới chân, rồi
ngồi qua một bên, đem nhơn duyên này bạch đầy đủ lên
đức Thế tôn. Đức Thế tôn dùng nhơn duyên này tập hợp
Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo.
«Việc
các ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải
pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy
thuận, làm ĐiỀU không nên làm. Tại sao các ông nhận cơm
quá nhiều đến nỗi không còn chỗ để chứa canh?»
Lúc
bấy giờ, đức Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách
rồi, bảo các tỳ-kheo:
«Những
kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ
phạm giới này ban đầu. Từ nay về sau, Ta vì các tỳ-kheo
kiết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp tồn
tại lâu dài.»
Muốn
nói giới nên nói như vầy:
Thọ
nhận canh vừa ngang bát,[35] thức-xoa-ca-la-ni.
Tỳ-kheo:
nghĩa như trên.
Tỳ-kheo
cố ý nhận canh không ngang bằng với bình bát, phạm đột-kiết-la
cần phải sám. Do bởi cố ý làm nên phạm phi oai nghi đột-kiết-la.
Nếu không cố ý, phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la.
Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm: hoặc vì có chứng bệnh như vậy, hoặc là cái
bát nhỏ nên đổ thức ăn trên bàn, hoặc thọ ngang bằng
với bát thì không phạm.
Người
không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng,
loạn tâm, thống não, bức bách.
ĐiỀU
29[36]
Một
thời, đức Phật ở vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có cư sĩ mời chúng Tăng thọ thực
vào sáng ngày mai. Trong đêm chuẩn bị các thức ăn ngon bổ,
sáng sớm đến báo chư tăng giờ thọ thực.
Đến
giờ, các tỳ-kheo mặc y, bưng bát đến nhà cư sĩ, an tọa
nơi chỗ ngồi. Chính tay cư sĩ sớt thức ăn, cơm và canh đến
chư Tăng. Khi cư sĩ sớt cơm xong, vào trong nhà bưng canh. Canh
bưng đến thì có tỳ-kheo đã ăn hết cơm.
Cư
sĩ hỏi:
«Cơm
đâu rồi?»
Tỳ-kheo
trả lời:
«Tôi
ăn hết rồi.»
Cư
sĩ sớt canh rồi, lại vào nhà bưng cơm. Cơm bưng ra thì canh
đã ăn hết.
Cư
sĩ hỏi:
«Canh
đâu rồi?»
Tỳ-kheo
trả lời:
«Tôi
ăn hết rồi.»
Cư
sĩ bèn cơ hiềm, nói: «Sa-môn Thích tử này không biết hổ
thẹn. Thọ nhận không biết nhàm chán. Bên ngoài tự xưng
là tôi biết chánh pháp. Như vậy có gì là chánh pháp? Cơm
đến, canh chưa đến; đã ăn hết cơm. Canh đến, cơm chưa
hết đã ăn hết canh. Giống như người đói khát!»
Các
tỳ-kheo nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh
đầu đà, ưa học giới, biết tàm quý, hiềm trách nhóm sáu
tỳ-kheo: «Sao các thầy nhận thức ăn, canh chưa đến cơm
đã ăn hết; canh đến cơm chưa đến, canh đã ăn hết?»
Các
tỳ-kheo đến chỗ đức Phật, đảnh lễ dưới chân, rồi
ngồi qua một bên, đem nhơn duyên này bạch lên đức Thế
tôn một cách đầy đủ. Đức Thế tôn dùng nhơn duyên này
tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:
«Việc
các ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải
pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy
thuận, làm ĐiỀU không nên làm. Tại sao các ông nhận cơm,
canh chưa đến cơm ăn đã hết; canh đến, cơm chưa đến,
canh đã ăn hết?»
Lúc
bấy giờ đức Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách
rồi, bảo các tỳ-kheo:
«Những
kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ
phạm giới này ban đầu. Từ nay về sau, Ta vì các tỳ-kheo
kiết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp tồn
tại lâu dài.»
Muốn
nói giới nên nói như vầy:
Ăn
cơm và canh đồng đều, thức-xoa-ca-la-ni.
Tỳ-kheo:
nghĩa như trên.
Không
bằng nhau có nghĩa là cơm đến, canh chưa đến, cơm đã hết.
Canh đến, cơm chưa đến, canh đã hết. Tỳ-kheo cố ý ăn
cơm canh không đều nhau, phạm đột-kiết-la cần phải sám.
Do bởi cố ý làm nên phạm phi oai nghi đột-kiết-la. Nếu
không cố ý làm thì phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, Sa-di ni. đột-kiết-la.
Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm: hoặc mắc phải chứng bệnh như vậy; hoặc lúc
cần cơm không cần canh, hay là cần canh không cần cơm. Hoặc
gần quá giữa ngày, hoặc mạng nạn, phạm hạnh nạn cần
ăn mau. Thảy đều không phạm.
Người
không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng,
loạn tâm, thống não, bức bách.
ĐiỀU
30[37]
Một
thời, đức Phật ở vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có cư sĩ mời chúng Tăng sáng ngày
mai thọ thực. Trong đêm sửa soạn đầy đủ các thức ăn
ngon bổ, sáng sớm đến báo chư Tăng giờ thọ thực.
Đến
giờ, các tỳ-kheo đắp y bưng bát đến nhà cư sĩ, an tọa
nơi chỗ ngồi. Tự tay cư sĩ sớt thức ăn đến chư Tăng.
Nhóm sáu tỳ-kheo không theo thứ tự lấy thức ăn để ăn.[38]
Các cư sĩ thấy cơ hiềm: «Sa-môn Thích tử này không biết
hổ thẹn. Thọ nhận không biết nhàm chán. Bên ngoài tự xưng
là tôi biết chánh pháp. Như vậy có gì là chánh pháp? Không
theo thứ tự nhận thức ăn để ăn; ăn giống như heo, chó;
ăn giống như lừa, bò, chim, quạ.»
Các
tỳ-kheo nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh
đầu đà, [704a1] ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm trách
nhóm sáu tỳ-kheo: ‹Sao các thầy không theo thứ tự lấy thức
ăn để ăn?›
Các
tỳ-kheo đến chỗ đức Thế tôn, đảnh lễ dưới chân, rồi
ngồi qua một bên, đem nhơn duyên này bạch lên đức Thế
tôn một cách đầy đủ. Đức Thế tôn dùng nhơn duyên này
tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:
«Việc
các ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải
pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy
thuận, làm ĐiỀU không nên làm. Tại sao các ông không theo
thứ tự để lấy thức ăn?»
Lúc
bấy giờ đức Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách
rồi, bảo các tỳ-kheo:
«Những
kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ
phạm giới này ban đầu. Từ nay về sau, Ta vì các tỳ-kheo
kiết giới, gồm mười cú nghĩa,cho đến câu chánh pháp tồn
tại lâu dài.»
Muốn
nói giới nên nói như vầy:
Theo
thứ tự mà ăn,[39] thức-xoa-ca-la-ni.
Tỳ-kheo:
nghĩa như trên.
Không
theo thứ tự có nghĩa là trong bát chỗ nào cũng moi để lấy
thức ăn. Tỳ-kheo kia cố ý làm, không theo thứ tự lấy thức
ăn để ăn, phạm đột-kiết-la cần phải sám. Do bởi cố
ý làm nên phạm phi oai nghi đột-kiết-la. Nếu không cố ý
làm, phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di ni. đột-kiết-la.
Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm: hoặc mắc phải chứng bệnh như vậy, hoặc sợ
nóng nên moi lấy chỗ nguội để ăn, hoặc sắp quá giữa
trưa, hoặc mạng nạn, phạm hạnh nạn nên cần ăn vội; thảy
đều không phạm.
Người
không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng,
loạn tâm, thống não, bức bách.
ĐiỀU
31[40]
Một
thời, đức Phật ở vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có cư sĩ thỉnh chúng Tăng sáng ngày
mai cúng dường các thức ăn ngon. Trong đêm chuẩn bị đầy
đủ, sáng sớm đến mời chư Tăng đi thọ thực.
Đến
giờ, các tỳ-kheo đắp y mang bát đến nhà cư sĩ, an tọa
nơi chỗ ngồi. Chính tay cư sĩ sớt thức ăn đến chư Tăng.
Nhóm sáu tỳ-kheo nhận thức ăn bằng cách moi trống giữa
bình bát. Cư sĩ thấy cơ hiềm nói: «Sa-môn Thích tử này
không biết hổ thẹn. Thọ nhận không biết nhàm chán. Bên
ngoài tự xưng là tôi biết chánh pháp. Như vậy có gì là
chánh pháp? Nhận thức ăn giống như bò, lừa, lạc đà, heo,
chó, chim quạ không khác!»
Các
tỳ-kheo nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh
đầu đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm trách nhóm
sáu tỳ-kheo: «Sao các Thầy lại moi trống giữa bát để ăn?»
Các
tỳ-kheo đến chỗ đức Thế tôn, đảnh lễ dưới chân, rồi
ngồi qua một bên, đem nhơn duyên này bạch lên đức Phật
một cách đầy đủ. Đức Thế tôn dùng nhơn duyên này tập
hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:
«Việc
các ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải
pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy
thuận, làm ĐiỀU không nên làm. Tại sao các ông thọ thực
lại moi một lỗ trống giữa bát để ăn?»
Lúc
bấy giờ, đức Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách
rồi, bảo các tỳ-kheo:
«Những
kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ
phạm giới này ban đầu. Từ nay về sau, Ta vì các tỳ-kheo
kiết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp tồn
tại lâu dài.»
Muốn
nói giới nên nói như vầy:
Không
nên moi giữa bát[41] mà ăn, thức-xoa-ca-la-ni.
Tỳ-kheo:
nghĩa như trên.
Moi
giữa bát mà ăn: nghĩa là để chừa xung quanh mà khoét chính
giữa bát xuống tới đáy.
Tỳ-kheo
kia cố ý moi giữa bát để ăn, phạm đột-kiết-la cần phải
sám. Do bởi cố ý làm nên phạm phi oai nghi đột-kiết-la.
Nếu không cố ý, phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la.
Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm: hoặc mắc phải chứng bệnh như vậy, hoặc sợ
nóng nên moi chính giữa cho nguội, hoặc quá giữa trưa, hoặc
mạng nạn, phạm hạnh nạn, cần ăn gấp nên khoét giữa để
ăn thì không phạm.
Người
không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới, si cuồng,
loạn tâm, thống não, bức bách.
ĐiỀU
32[42]
Một
thời, đức Phật ở vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có cư sĩ mời chúng Tăng sáng ngày
mai cúng dường các thức ăn tốt. Trong đêm sửa soạn đủ
rồi, sáng sớm đến thỉnh chư Tăng thọ thực.
Đến
giờ, các tỳ-kheo mặc y bưng bát tới nhà cư sĩ, an tọa nơi
chỗ ngồi. Chính tay cư sĩ sớt thức ăn ngon đến chư Tăng.
Nhóm sáu tỳ-kheo tự mình yêu sách thức ăn như kẻ đói khát.
Cư sĩ thấy, cơ hiềm nói: «Sa-môn Thích tử này không biết
hổ thẹn. Thọ nhận không biết nhàm chán. Bên ngoài tự xưng
là tôi biết chánh pháp. Như vậy có gì là chánh pháp?»
Các
tỳ-kheo nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh
đầu đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm trách nhóm
sáu tỳ-kheo: «Sao các Thầy yêu sách thức ăn cho mình?»
Các
tỳ-kheo đến chỗ đức Thế tôn, đảnh lễ dưới chân, rồi
ngồi qua một bên, đem nhơn duyên này bạch đầy đủ lên
đức Thế tôn, Đức Thế tôn dùng nhơn duyên này tập hợp
Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:
«Việc
các ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải
pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy
thuận, làm ĐiỀU không nên làm. Tại sao các ông yêu sách
thức ăn cho mình?»
Lúc
bấy giờ đức Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách
rồi, bảo các tỳ-kheo:
«Những
kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ
phạm giới này ban đầu. Từ nay về sau, Ta vì các tỳ-kheo
kiết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp tồn
tại lâu dài.»
Muốn
nói giới nên nói như vầy:
Không