CHƯƠNG
VI
ĐỀ-XÁ-NI[1]
I.
NHẬN THỨC ĂN PHI THÂN LÝ NI NƠI TỤC GIA[2]
A.
DUYÊN KHỞI
[695c17]
Một thời, đức Phật ở vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà
nước Xá-vệ. Lúc bấy giờ lúa gạo kham hiếm, nhân dân đói
kém, người chết vô số, khất thực khó được.
Bấy
giờ, tỳ-kheo-ni Liên Hoa Sắc [3] đến giờ khất thực đắp
y bưng bát vào thành Xá-vệ khất thực. Ngày đầu nhận được
thức ăn, mang đến cho tỳ-kheo. Ngày thứ hai, ngày thứ ba
nhận được thức ăn, Liên Hoa sắc cũng mang đến cho tỳ-kheo.
Sau
đó một thời gian, tỳ-kheo-ni Liên Hoa Sắc mặc y bưng bát
vào thành Xá-vệ khất thực. Lúc ấy có một ông trưởng
giả đi xe cùng đoàn tuỳ tùng đến yết kiến Vua Ba-tư-nặc.
Đám tuỳ tùng xua đuổi người dẹp đường để đoàn xe
ông truởng giả đi. Tỳ-kheo-ni Liên Hoa Sắc tránh qua bên lề
đường, bị sụp chân vào chỗ bùn, té úp mặt xuống đất.
Ông trưởng giả thấy, động lòng thương liền dừng xe, bảo
người hầu cận ông xuống đỡ Liên Hoa Sắc đứng dậy và
dìu ra khỏi chỗ bùn. Ông trưởng giả hỏi:
«Dì
bị bệnh gì mà té ngã như thế?»
Liên
Hoa sắc trả lời:
«Tôi
không có bệnh hoạn gì cả, Chỉ vì đói nên như vậy.»
Ông
trưởng giả hỏi:
«Vì
sao mà đói, khất thực khó được hay chăng?»
Liên
hoa sắc trả lời:
«Khất
thực dễ được. Nhưng ngày thứ nhất tôi xin được, đem
về cho tỳ-kheo. Ngày thứ hai, thứ ba, thức ăn tôi xin được
cũng đem cho tỳ-kheo. Cho nên đói.»
[696a1]
Ông trưởng giả hiềm trách, nói:
«Sa-môn
Thích tử thọ nhận không biết đủ, không nhàm chán, không
biết hổ thẹn. Bên ngoài tự xưng tôi biết chánh pháp. Như
vậy có gì là chánh pháp? Nhận thức ăn của tỳ-kheo-ni không
biết chút nhường nhịn. Người cho tuy không nhàm chán nhưng
người nhận phải biết đủ chứ!»
Ông
trưởng giả liền dẫn tỳ-kheo-ni này về nhà. Cho tắm rửa.
Giặt y phục. Bảo người nấu cháo cho ăn. Cung cấp vật cần
dùng; rồi nói: «Từ nay về sau, cô cứ đến nhà tôi mà ăn.
Khỏi phải đi dâu. Nếu có nhận được thêm nơi nào khác,
thì tuỳ ý cho người.»
Các
tỳ-kheo nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh
đầu đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm trách những
tỳ-kheo kia rằng: «Sao các thầy nhận thức ăn nơi tỳ-kheo-ni?»
Các
tỳ-kheo đến chỗ đức Thế tôn, đảnh lễ dưới chân, rồi
ngồi qua một bên, đem nhơn duyên này bạch đầy đủ lên
đức Thế tôn. Đức Thế tôn dùng nhơn duyên này tập hợp
Tăng tỳ-kheo, quở trách các tỳ-kheo kia:
«Việc
các ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải
pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy
thuận, làm điều không nên làm. Tại sao các ông lại nhận
thức ăn từ tỳ-kheo-ni Liên Hoa Sắc kia mà không biết vừa
phải?»
Dùng
vô số phương tiện quở trách các tỳ-kheo kia rồi Phật bảo
các tỳ-kheo:
«Những
kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ
phạm giới này ban đầu. Từ nay về sau, Ta vì các tỳ-kheo
kiết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp tồn
tại lâu dài.»
Muốn
nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo
nào, vào thôn xóm, tự mình nhận thức ăn từ tỳ-kheo-ni để
ăn, tỳ-kheo ấy cần phải đối trước tỳ-kheo khác phát
lồ rằng:[4] ‹Đại đức, tôi phạm pháp đáng khiển trách,
làm điều không đáng làm. Nay đối trước Đại đức xin
phát lồ sám hối.› Đây là pháp hối quá.
Thế
tôn vì các tỳ-kheo kiết giới như vậy. Bấy giờ, các tỳ-kheo
nghi, không dám nhận thức ăn nơi tỳ-kheo-ni bà con. Đức Phật
dạy:
«Từ
nay về sau cho phép các tỳ-kheo được nhận thức ăn từ tỳ-kheo-ni
bà con.»
Các
tỳ-kheo bệnh lại có sự nghi, không dám nhận thức ăn từ
tỳ-kheo-ni không phải bà con. Đức Phật dạy:
«Từ
nay về sau cho phép tỳ-kheo bệnh được nhận thức ăn từ
tỳ-kheo-ni chẳng phải bà con.»
Bấy
giờ, các tỳ-kheo lại có sự nghi, nên khi tỳ-kheo-ni chẳng
phải bà con đem thức ăn để dưới đất, không dám nhận,
hoặc khiến người trao cho cũng không dám nhận, đức Phật
dạy:
«Từ
nay về sau, cho phép các tỳ-kheo được nhận thức ăn như
vậy.»
Từ
nay về sau nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo
nào, vào thôn xóm,[5] nếu không bệnh[6] mà tự tay nhận thức
ăn từ tỳ-kheo-ni không phải thân quyến mà ăn, tỳ-kheo ấy
cần phải đối trước tỳ-kheo khác[7] phát lồ rằng: ‹Đại
đức,[8] tôi phạm pháp đáng khiển trách, làm điều không
đáng làm. Nay đối trước Đại đức xin phát lồ sám hối.›
Đây là pháp hối quá.[9]
B.
GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo:
nghĩa như trên.
Bà
con và chẳng phải bà con: như trên đã giải.
Bệnh:
cũng như trên.
Thức
ăn: có hai loại như trên đã giải.
Tỳ-kheo
kia vào trong thôn xóm, đến tỳ-kheo-ni chẳng phải bà con,
nếu không có bệnh mà tự tay nhận thức ăn để ăn. Ăn như
vậy, mỗi miếng phạm một ba-la-đề đề-xá-ni.
Tỳ-kheo-ni,
đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la.
Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm: nhận thức ăn từ tỳ-kheo-ni bà con; hoặc có
bệnh; hay để dưới đất mà cho; hoặc khiến người trao;
hoặc cho trong Tăng-già-lam; hoặc cho ngoài thôn xóm; hay là
cho trong chùa ni. Trao như vậy, nhận để ăn thì không phạm.
Người
không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới, si cuồng,
loạn tâm, thống não, bức bách.
II.
THỌ THỰC DO NI CHỈ DẪN[10]
A.
DUYÊN KHỞI
Một
thời, đức Phật ở vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà
nước Xá-vệ, Khi ấy, có số đông tỳ-kheo và nhóm sáu tỳ-kheo
cùng ngồi ăn ở trong nhà bạch y.[11] Nhóm sáu tỳ-kheo-ni đòi
cơm canh cho nhóm sáu tỳ-kheo, nói rằng: «Đem canh nơi vị
này! Đem cơm nơi vị kia.» Còn thì bỏ qua các vị khác ở
trung gian mà chỉ đem thức ăn cho sáu tỳ-kheo này thôi.
Các
tỳ-kheo nghe, trong số đó có vị thiểu dục tri túc, sống
hạnh đầu đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm trách
nhóm sáu tỳ-kheo: «Sao các thầy lại ăn thức ăn do nhóm sáu
tỳ-kheo-ni yêu sách?»
Các
tỳ-kheo đến chỗ đức Thế tôn, đảnh lễ dưới chân Phật,
rồi ngồi qua một bên, đem nhơn duyên này bạch đầy đủ
lên đức Thế tôn. Đức Thế tôn liền vì nhơn duyên này
tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:
«Việc
các ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải
pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy
thuận, làm điều không nên làm. Tại sao các ông ăn thức
ăn do tỳ-kheo-ni yêu sách, trong khi các tỳ-kheo khác không được?»
Dùng
vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo rồi, đức
Phật bảo các tỳ-kheo:
«Những
kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ
phạm giới này ban đầu. Từ nay về sau, Ta vì các tỳ-kheo
kiết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp tồn
tại lâu dài.»
Muốn
nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo
nào, khi ăn trong nhà bạch y, trong đó có tỳ-kheo-ni, chỉ bảo
rằng: ‹Đem canh cho vị này, dâng cơm cho vi kia.› Tỳ-kheo
nên nói với tỳ-kheo-ni ấy rằng: ‹Này cô, hãy thôi đi!
Hãy để yên cho các tỳ-kheo ăn xong!› Nếu không có một
tỳ-kheo nào nói với tỳ-kheo-ni kia rằng: ‹Này cô, hãy thôi
đi! Hãy để yên cho các tỳ-kheo ăn xong!› Tỳ-kheo cần đối
trước tỳ-kheo khác mà phát lồ rằng: ‹Bạch Đại đức,
tôi phạm pháp đáng khiển trách, làm điều không đáng làm.
Nay tôi đối trước Đại đức xin phát lồ sám hối.› Đây
gọi là pháp hối quá.
B.
GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo:
nghĩa như trên.
Trong
nhà: nơi có nam nữ ở.
Thức
ăn: như trên đã nói.
Tỳ-kheo
kia thọ thực nơi nhà bạch y, trong đó có tỳ-kheo-ni chỉ
bảo rằng: «Đem canh cho vị này! Đem cơm cho vị kia.» Tỳ-kheo
kia nên nói: «Này cô, hãy thôi đi! Để yên cho các tỳ-kheo
ăn xong.» Nếu không có một tỳ-kheo nào nói như vậy: «Này
cô, hãy thôi đi! Để yên cho các tỳ-kheo ăn xong;» mỗi miếng
ăn phạm một ba-la-đề-đề-xá-ni.
Tỳ-kheo-ni,
đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la.
Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm: nếu có nói: «Này cô, hãy thôi đi! Để yên cho
các tỳ-kheo ăn xong.» Nếu tỳ-kheo-ni tự mình là đàn-việt
hoặc đàn-việt thiết trai nhờ tỳ-kheo-ni chiếu liệu; hoặc
không có tâm thiên lệch đối với các tỳ-kheo, như vậy thì
không phạm.
Người
không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới, si cuồng,
loạn tâm, thống não, bức bách.
III.
THỌ THỰC TỪ HỌC GIA[12]
A.
DUYÊN KHỞI
1.
ĐỆ TỬ KIẾN ĐẾ
Một
thời, đức Phật ở trong núi Kỳ-xà-quật tại thành La-duyệt.
Khi ấy, có gia đình cư sĩ, vợ chồng đều có lòng tin, làm
người đệ tử đức Phật. Thường pháp của người đệ
tử chư Phật đã kiến đế,[13] đối với các tỳ-kheo không
có cái gì tiếc nuối, kể cả thịt trong thân mình. Mỗi khi
các tỳ-kheo đến nhà thì luôn dùng thức ăn và các vật dụng
cúng dường. Cúng dường như vậy cho đến nỗi nghèo khổ,
cơm áo đều thiếu thốn. Những người hàng xóm đều nói
như vầy: «Gia đình kia trước đây rất giàu có, của cải
dư dật. Từ khi cúng dường sa-môn Thích tử đến nay, của
cải khô cạn, bần cùng đến thế. Như vậy việc cung kính
cúng dường chỉ đem lại sự nghèo khổ!»
Các
tỳ-kheo nghe biết, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống
hạnh đầu đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm trách
các tỳ-kheo: «Sao các thầy đến mãi nơi cư sĩ để nhận
thức ăn và đồ cúng dường, không biết đủ, đến nỗi
khiến cho của cải gia đình họ phải cạn kiệt như thế?»
Các
tỳ-kheo đến [697a1] chỗ đức Thế tôn, đảnh lễ dưới
chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhơn duyên này bạch
đầy đủ lên đức Thế tôn. Đức Thế tôn liền vì nhơn
duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách các tỳ-kheo:
«Việc
các ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải
pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy
thuận, làm điều không nên làm. Sao các ông lại đến mãi
nơi nhà cư sĩ để nhận thức ăn cúng dường, đến nỗi
khiến gia đình họ nghèo túng như vậy?»
2.
YẾT-MA HỌC GIA
Dùng
vô số phương tiện quở trách các Tỳ-kheo rồi, đức Phật
bảo các Tỳ-kheo:
«Từ
nay về sau cho phép Tăng tác pháp học gia cho gia đình kia, bằng
pháp bạch nhị yết-ma. Tác pháp như vầy: Trong chúng nên sai
một vị có khả năng tác pháp yết-ma, như trên mà tác bạch
như vầy:
«Đại
đức tăng xin lắng nghe. Trong thành La-duyệt này có một gia
đình cư sĩ, cả vợ lẫn chồng đều đắc tịnh tín, làm
đệ tử của Phật. Gia tài họ bị cạn kiệt. Nếu thời
gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, nay Tăng tác
pháp yết-ma học gia, các tỳ-kheo không được đến gia đình
kia nhận thức ăn mà ăn. Đây là lời tác bạch.
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe. Trong thành La-duyệt này có một gia
đình cư sĩ, cả vợ lẫn chồng đều đắc tịnh tín, làm
đệ tử của Phật. Gia tài họ bị khô kiệt. Nay Tăng trao
cho pháp yết-ma học gia, các tỳ-kheo không được đến nhà
đó để nhận thức ăn mà ăn. Các trưởng lão nào đồng
ý Tăng trao cho cư sĩ kia pháp yết-ma học gia thì im lặng.
Vị nào không chấp thuận xin nói.
«Tăng
đã chấp thuận trao cho cư sĩ kia pháp yết-ma học gia rồi,
Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này được ghi nhận như
vậy.»
«Từ
nay về sau, Ta vì các tỳ-kheo kiết giới, gồm mười cú nghĩa,cho
đến câu chánh pháp tồn tại lâu dài.»
Muốn
nói giới nên nói như vầy.
Tỳ-kheo
nào, đã biết là nhà học gia, Tăng đã cho pháp yết-ma học
gia rồi, mà đến nhà ấy nhận thức ăn để ăn, phải đối
trước các tỳ-kheo khác phát lồ rằng: ‹Thưa Đại đức,
tôi phạm pháp đáng khiển trách, nay đối trước Đại đức
xin phát lồ sám hối.› Đây là pháp hối quá.
Thế
tôn vì các tỳ-kheo kiết giới như vậy. Trong đó có tỳ-kheo
trước có nhận sự thỉnh của gia đình, có sự nghi không
dám đến. Đức Phật dạy:
«Có
thỉnh trước thì cho phép đến.»
Bấy
giờ, có tỳ-kheo bệnh không dám nhận thức ăn của học gia,
đức Phật dạy:
«Từ
nay về sau cho phép các tỳ-kheo bệnh được nhận thức ăn
nơi học gia để ăn.»
Khi
ấy các tỳ-kheo thấy người cho thức ăn để thức ăn xuống
đất mà cho, nghi không dám nhận. Hoặc khiến người mang cho;
cũng không dám nhận. Đức Phật dạy:
«Cho
phép nhận.»
Từ
nay về sau nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo
nào, nếu trước đó đã tác yết-ma học gia, đối với học
gia đó, không có sự thỉnh trước, không bệnh, tự tay nhận
thức ăn và ăn. Tỳ-kheo ấy cần đối trước tỳ-kheo khác
phát lồ rằng: ‹Tôi phạm pháp đáng khiển trách, làm điều
không đáng làm. Nay tôi đối trước Đại đức, xin phát lồ
sám hối.› Đây là pháp hối quá.
B.
GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo:
nghĩa như trên.
Học
gia :[14] là Tăng trao cho pháp bạch nhị yết-ma.
Nhà
cư sĩ: như trên đã nói.
Bệnh:
cũng đã nói ở trên.
Tỳ-kheo
nào, học gia như vậy, trước đó Tăng đã trao cho pháp yết-ma
cho họ rồi mà tỳ-kheo không được thỉnh trước lại không
bệnh. Đối với trong nhà học gia như vậy mà nhận thức
ăn để ăn, thì mỗi miếng ăn phạm Ba-la-đề-xá-ni.
Tỳ-kheo-ni,
đôt-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó
gọi là phạm.
Sự
không phạm: nếu đã được thỉnh trước; hoặc có bệnh;
hoặc để xuống đất mà cho; hoặc nhận từ nơi người khác;
hoặc học gia sau khi dâng cúng tài sản vẫn còn nhiều. Thảy
đều thì không phạm.
3.
GIẢI YẾT-MA HỌC GIA
Học
gia kia, tài sản có lại dồi dào, đến trong Tăng xin giải
yết-ma Học gia. Các Tỳ-kheo bạch Phật. đức Phật dạy:
«Nếu
tài sản của học gia có lại dồi dào, họ đến giữa Tăng,
xin giải pháp yết-ma học gia thì Tăng nên tác pháp bạch nhị
yết-ma, giải cho họ. Trong chúng nên sai một người có khả
năng tác pháp yết-ma, như trên mà tác bạch như vầy:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe. Trong thành La-duyệt này có một gia
đình cư sĩ, cả vợ lẫn chồng đều đắc tịnh tín, làm
đệ tử Phật, ưa thích cúng dường nên của cải bị khánh
kiệt. Trước đây Tăng đã cho pháp yết-ma học gia. Nay của
cải có lại dồi dào, họ đến trước Tăng cầu xin giải
yết-ma học gia. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng,
Tăng chấp thuận, nay Tăng giải pháp yết-ma học gia. Đây
là lời tác bạch.
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe. Trong thành La-duyệt này có một gia
đình cư sĩ, cả vợ lẫn chồng đều đắc tịnh tín, làm
đệ tử Phật, ưa thích cúng dường nên của cải bị khánh
kiệt. Trước đây Tăng đã cho pháp yết-ma học gia. Nay của
cải có lại dồi dào, họ đến trước Tăng cầu xin giải
yết-ma học gia. Các trưởng lão nào đồng ý Tăng vì cư sĩ
kia giải pháp yết-ma học gia thì im lặng. Vị nào không đồng
ý xin nói.
«Tăng
đã chấp thuận vì cư sĩ kia giải pháp yết-ma học gia rồi.
Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này được ghi nhận như
vậy.»
Khi
ấy các tỳ-kheo đều nghi không dám nhận thức ăn từ cư
sĩ đã được giải yết-ma học gia, bạch Phật. Đức Phật
dạy:
«Từ
nay về sau cho phép các tỳ-kheo được nhận thức ăn nơi nhà
đó. Nhận như vậy không phạm.»
Người
không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới, si cuồng,
loạn tâm, thống não, bức bách.
IV.
THỌ THỰC NGOÀI TRÚ XỨ A-LAN-NHÃ[15]
A.
DUYÊN KHỞI
Một
thời, đức Phật ở trong vườn Ni-câu-loại, Ca-duy-la-vệ,
Thích-suý-sấu. Các phụ nữ trong thành Xá-di[16] và các phụ
nữ Câu-lê[17] cùng nhau mang thức ăn đến trong Tăng-già-lam,
cúng dường.
Bấy
giờ bọn giặc[18] biết được, chận đường nhiễu hại.[19]
Các tỳ-kheo nghe, đến bạch đức Thế tôn. Đức Thế tôn
dạy.
«Từ
nay về sau, các tỳ-kheo nên nói với các phụ nữ, ‹Đừng
đi ra. Đường có bọn giặc cướp khủng bố.› Nếu họ
đã ra ngoài thành thì nên nói: ‹Đừng đến Tăng-già-lam
vì dọc đường có giặc khủng bố.› Từ nay về sau Ta vì
các tỳ-kheo kiết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu
chánh pháp tồn tại lâu dài.»
Muốn
nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo
nào, sống tại a-lan-nhã, chỗ ở đáng nghi ngờ, có sợ hãi,
không nhận thức ăn bên ngoài tăng-già-lam, mà chỉ bên trong
tăng-già-lam nhận thức ăn để ăn,[20] cần đối trước tỳ-kheo
khác mà phát lồ rằng: ‹Đại đức, tôi phạm pháp đáng
khiển trách, nay tôi đối trước Đại đức xin phát lồ sám
hối.› Đây là pháp hối quá.
Thế
tôn vì các tỳ-kheo kiết giới như vậy. Bấy giờ, các đàn-việt
biết trước là có sự khủng bố mà cố mang thức ăn đến.
Các tỳ-kheo nghi không dám nhận để ăn. Đức Phật dạy:
«Từ
nay về sau cho phép các tỳ-kheo được nhận thức ăn như vậy.»
Khi
ấy, các tỳ-kheo bệnh cũng nghi không dám nhận thức ăn như
vậy. Đức Phật bảo:
«Từ
nay cho phép các tỳ-kheo bệnh được nhận thức ăn như vậy.»
Bấy
giờ, có thí chủ cúng dường bằng cách đem thức ăn để
dưới đất, hoặc bảo người trao, các tỳ-kheo nghi không
dám nhận. Đức Phật dạy:
«Từ
nay cho phép các tỳ-kheo được nhận thức ăn như vậy.»
Từ
nay trở đi nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo
nào, sống nơi a-lan-nhã, xa xôi hẻo lánh, chỗ đáng nghi, có
sợ hãi. Tỳ-kheo sống tại trú xứ a-lan-nhã như vậy, trước
không nói cho đàn-việt biết,[21] không thọ nhận thức ăn
bên ngoài Tăng-già-lam. Trái lại, không bệnh mà ở bên trong
Tăng-già-lam, tự tay nhận thức ăn để ăn, tỳ-kheo ấy cần
phải đến đối trước tỳ-kheo khác mà phát lồ rằng: ‹Đại
đức, tôi phạm pháp đáng khiển trách. Nay tôi đối trước
Đại đức xin phát lồ sám hối.› Đây là pháp hối quá.
B.
GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo:
nghĩa như trên.
Chỗ
a-lan-nhã: là nơi cách thôn năm trăm cung. Cung là cách đo của
nước Giá-ma-la.
Nghi
có sự khủng bố: là nghi có giặc trộm cướp, khủng bố.
Bệnh:
như trên đã nói.
Nếu
tỳ-kheo a-lan-nhã ở chỗ xa vắng như vậy, trước không nói
với đàn-việt, không nhận thức ăn ngoài Tăng-già-lam mà
nhận trong Tăng-già-lam, không bệnh, tự tay nhận lấy thức
ăn để ăn; mỗi miếng ăn phạm ba-la-đề-đề-xá-ni.
Tỳ-kheo-ni,
đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la.
Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm: trước có nói với đàn-việt; hoặc có bệnh;
hoặc để dưới đất mà trao; hoặc bảo người trao; hoặc
khi đến thọ giáo sắc, lúc thính pháp, tỳ-kheo tự có thức
ăn riêng nay trao cho; thảy đều không phạm.
Người
không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng,
loạn tâm, thống não, bức bách.
[1]
Tức Ba-la-đề đề-xá-ni 波羅提舍尼. Trong giới văn, dịch
là hối quá 悔過. Ngũ phần 10 (T22n1421, tr.71c06): hối quá
pháp 悔過法. Tăng kỳ 21 (T22n1425, tr.396b16): Đề-xá-ni 提舍尼.
Thập tụng 19 (T23n1435, tr.131a05): Ba-la-đề-xá-ni pháp 波羅提舍尼法.
Căn bản 49 (T23n1442, tr.897a18): Ba-la-để đề-xá-ni pháp 波羅底提舍尼法.
Pali, Vin.iv. 175: cattāro pāṭidesanīyā.
[2]
Tăng kỳ: Đề-xá-ni 2
[3]
Liên Hoa Sắc 蓮華色. Xem Ch. iv ni-tát-kỳ 4 & cht.36
[4]
Nguyên Hán: hướng dư tỳ-kheo thuyết 向餘比丘說. Ngũ phần:
ưng hướng chư tỳ-kheo hối quá 應向諸比丘悔過. Tăng kỳ:
ưng dư tỳ-kheo biên hối quá 應餘比丘邊悔過. Thập tụng:
ưng hướng dư tỳ-kheo thuyết thị tội 應向餘比丘說是罪.
Căn bản: nghệ chư bí-xô sở các biệt cáo ngôn 詣諸苾芻所各別告言.
Pali: paṭīdesetabbaṃ tena bhikkhunā.
[5]
Căn bản: ư thôn lộ trung 於村路中, «ở đường trong thôn
xóm.» Ngũ phần: «tại các con đường…» Tăng kỳ: «trong
nhà bạch y…» Pali: antaragharaṃ paviṭṭhāya, «sau khi đã
đi vào nhà trong;» và giải: nhà (gharam) ở đây cũng chỉ
luôn đường xe đi, đường hẻm, đường chữ thập…»
[6]
Pali, hatthato, từ tay (của tỳ-kheo-ni) thay vì để xuống đất
mà nhận»; không nói đến yêu tố «trừ bịnh.»
[7]
Ngũ phần, Căn bản: «trước các tỳ-kheo khác.»
[8]
Tăng kỳ: Trưởng lão 長老. Ngũ phần: Chư Đại đức
諸大德. Pali: āvuso, từ hô khởi, số nhiều. Vì sám hối
trước nhiều tỳ-kheo, chứ không phải một như ba-dật-đề.
[9]
Tức Ba-la-đề-đề-xá-ni pháp 波羅提提舍尼法, dịch
là Hối quá pháp 悔過法 Pali: pāṭidesanīya dhamma (Skt. pratideśanīya
dharma). Tăng kỳ (T22n1425, tr.396c25): «Ba-la-đề-đề-xá-ni,
vì tội này hướng đến người (tỳ-kheo) mà phát lồ, không
che dấu.»
[10]
Tăng kỳ: đề-xá-ni 3.
[11]
Ngũ phần, Thập tụng: có thí chủ thỉnh thực hai bộ tăng.
[12]
Tăng kỳ: đề-xá-ni 4.
[13]
Kiến đế 見諦 : đã thấy bốn Thánh đế, chứng đắc Tu-đà-hoàn.
Ngũ phần: Trưởng giả Cù-sư-la 瞿師羅 tin ưa Phật pháp,
thấy pháp, đắc quả. Tăng kỳ: Đại thần Tỳ-xà bố thí
thái quá, gia sản khánh tận. Tăng tác yết-ma học gia. Thập
tụng: tượng sư Thủ-la, thấy Bốn đế, đắc Sơ đạo. Căn
bản: trưởng giả Sư Tử, đắc Sơ quả.
[14]
Học gia 學家. Thập tụng: chỉ gia đình đã đắc Sơ quả.
Pali: sekkhasammatāni kulāni, những gia đình đã được xác nhận
là hữu học; giải thích: đó là gia đình tăng trưởng với
tín, nhưng tổn giảm với tài sản.
[15]
Tăng kỳ: đề-xá-ni 1.
[16]
Xá-di thành trung chư phụ nữ 舍夷城中諸婦女. Xá-di, chỉ
các Thích nữ (Xem Tứ phần đoạn sau, phần ba, Ch. xiv, T22,
tr. 922c8). Ngũ phần, Thập tụng: chư Thích phụ nữ 諸釋婦女.
Căn bản: Thích ca nữ 釋迦女. Pali: Sākiyāniyo.
[17]
Câu-lê chư nữ nhân 俱梨諸女人. Không rõ. Ngũ phần: chư
nô 諸奴. Pali: sākiyadāsakā, những người nô lệ của họ
Thích.
[18]
Pali: tena kho pana samayena sākiyadāsakā avaruddhā honti, vào lúc
đó, các nô lệ của dòng họ Sakka nổi loạn. Ngũ phần: các
nô lệ của dòng họ Thích đón đường các Thích nữ để
cướp.
[19]
Pali: Các tỳ-kheo biết có giặc chặn đường, nhưng không
báo cho các phụ nữ họ Thích biết để đừng đi.
[20]
Vì bọn cướp ẩn núp trong phạm vi Tăng-già-lam nên tỳ-kheo
phải ra khỏi phạm vi ấy mà nhận thức ăn.
[21]
Pali: pubbe appaṭíaṃviditaṃ, không báo cho biết trước (rằng
trong phạm vi Tăng già lam có giặc cướp).