PHẦN
1 - TỨ PHẦN LUẬT - TĂNG SỰ
Việt
dịch quyển 1
Hiệu
chính và chú thích: Tỳ-kheo Thích Nguyên Chứng
CHƯƠNG
I
BA-LA-DI[1]
I.
BẤT TỊNH HẠNH
A.
DUYÊN KHỞI
1.
SỰ KIỆN TỲ-LAN-NHÃ
Một
thời, đức Phật cùng chúng đại tỳ-kheo gồm năm trăm vị,
du hóa đến thành Tô-la-bà,[2] tuần tự du hành đến Tỳ-lan-nhã
,[3] và đêm ấy ngủ dưới bóng cây na-lâu-la-tân-châu-man-đà-la.[4]
Bấy giờ bà-la-môn Tỳ-lan-nhã nghe Sa-môn Cù-đàm, họ Thích,
bỏ dòng họ Thích đi xuất gia tầm đạo, đã từ nước Tô-la-bà
dẫn chúng tỳ-kheo gồm năm trăm vị, tuần tự du hành đến
Tỳ-lan-nhã này, và nghỉ đêm dưới bóng cây na-lân-la-tân-châu-man-đà-la.
Sa-môn Cù-đàm này có danh xưng lớn như vầy: “Như Lai, Vô
sở trước, Đẳng chánh giác, Minh hạnh túc, Thiện Thệ, Thế
gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhơn
sư, Phật, Thế tôn. Ngài ở giữa các chúng Thiên, Ma, Phạm,
Sa-môn, Bà-la-môn công bố chánh pháp do tự thân chứng nghiệm
bằng thắng trí. Pháp ấy thiện xảo ở khoảng đầu, khoảng
giữa, khoảng cuối, có nghĩa và vị, phạm hạnh thanh tịnh,
tự nhiên được tu tập đầy đủ. Lành thay! Chúng ta được
chiêm ngưỡng con người Vô trước[5] như vậy. Nay ta nên đến
thăm hỏi Sa-môn Cù-đàm.»
Bấy
giờ, bà-la-môn Tỳ-lan-nhã liền đến chỗ đức Thế tôn.
Khi đến nơi, hỏi chào thăm viếng nhau rồi, ngồi qua một
bên.
Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện thuyết pháp, khai hóa, khiến
được hoan hỷ. Bà-la-môn sau khi nghe đức Phật nói pháp,
lòng sanh hoan hỷ, liền thưa:
«Cúi
xin đức Thế tôn thương xót chấp thuận thỉnh cầu của
con, cùng với chúng tỳ-kheo an cư ba tháng mùa mưa.»
Đức
Thế tôn và Tăng tỳ-kheo im lặng nhận lời. Bà-la-môn Tỳ-lan-nhã
biết đức Thế tôn đã im lặng nhận lời thỉnh của mình,
liền từ chỗ ngồi đứng dậy, nhiễu Phật rồi cáo lui.
Thế
tôn cùng chúng tỳ-kheo gồm năm trăm vị nhận lời an cư ba
tháng mùa mưa. Bấy giờ có người lái ngựa từ nước Ba-ly[6]
lùa năm trăm thớt ngựa đến Tỳ-lan-nhã và ở đây đóng
trại chín mươi ngày mùa hạ.
Thời
điểm này gặp lúc mất mùa, lúa gạo quý giá, nhân dân đói
khát, xương trắng ngổn ngang, khất thực khó được. Bà-la-môn
Tỳ-lan-nhã tuy thỉnh Như Lai và Tăng tỳ-kheo an cư ba tháng,
nhưng hoàn toàn không cúng dường, cung cấp những nhu cầu
cần thiết. Tại sao vậy? [569a1] Vì bị ám bởi Ma Ba-tuần.
Bấy
giờ, các tỳ-kheo ở Tỳ-lan-nhã khất thực không được,
nên phải đến khất thực nơi người lái ngựa kia. Lúc ấy,
người lái ngựa tự nghĩ: «Hiện nay mất mùa, lúa gạo khan
hiếm, nhân dân đói khát, khất thực khó được, xương trắng
ngổn ngang. Các tỳ-kheo kia khất thực không được nên đến
đây. Nay ta có nên dùng lúa mạch của ngựa mỗi ngày bố
thí cho tỳ-kheo năm thăng, Thế tôn một đấu hay chăng?» Nghĩ
như vậy rồi, mỗi ngày ông bố thí cho các tỳ-kheo năm thăng
lúa mạch của ngựa, Thế tôn một đấu.
Đức
Thế tôn nhận được phần lúa ngựa rồi, trao cho A-nan. A-nan
khiến người xay làm cơm khô để dâng Phật. Đức Phật dùng
cơm khô, còn các tỳ-kheo nấu chín rồi mới ăn. Do đó, giữa
đức Phật cùng các tỳ-kheo thức ăn có khác.
Lúc
bấy giờ, Tôn giả Đại Mục-liên đến chỗ đức Thế tôn,
đảnh lễ dưới chân Phật, lui ngồi một bên, thưa:
«Kính
bạch Đại đức, hiện nay lúa gạo khan hiếm, nhân dân đói
khát, khất thực khó được; thực phẩm của các tỳ-kheo
rất là thô xấu, nên tất cả đều bị gầy ốm. Nếu đức
Thế tôn cho phép, các tỳ-kheo có thần túc đến nước Uất-đơn-việt[7]
lấy thức ăn bằng gạo của loại lúa chín muộn tự nhiên,[8]
thì chúng con sẽ đi.»
Đức
Phật bảo Tôn giả Mục-liên:
«Các
vị tỳ-kheo có thần túc thì có thể đến đó để lấy thức
ăn bằng gạo lúa tự nhiên, còn các vị tỳ-kheo không có
thần túc thì thế nào?»
Tôn
giả Mục-liên thưa:
«Kính
bạch đức Thế tôn, các vị có thần túc thì họ tùy ý đến,
còn các vị không có thần túc thì con sẽ dùng sức thần
túc của con để giúp các vị đến đó.»[9]
Đức
Phật bảo Tôn giả Mục-liên:
«Thôi
đi, thôi đi, đừng nói vậy! Tại sao? Các ông là những con
người[10] đã chứng đắc thần túc thì có thể làm như vậy.
Còn các vị tỳ-kheo ở đời vị lai sẽ làm sao?»
2.
XÁ-LỢI-PHẤT THƯA HỎI
Lúc
bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất ở nơi nhàn tĩnh, nghĩ như
vầy: «Vị Đẳng chánh giác nào có phạm hạnh tu tập và
Phật pháp tồn tại lâu dài? Vị Đẳng chánh giác nào có
phạm hạnh tu tập và Phật pháp không tồn tại lâu dài?»
Rồi Tôn giả Xá-lợi-phất từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa
y phục, đến chỗ Thế tôn, đầu mặt đảnh lễ, ngồi qua
một bên. Một lát sau, rời chỗ ngồi, đứng dậy thưa:
«Kính
bạch đức Thế tôn, vừa rồi ở chỗ nhàn tĩnh, con nghĩ:
‹Vị Đẳng chánh giác nào có phạm hạnh tu tập và Phật
pháp tồn tại lâu dài? Vị Đẳng chánh giác nào có phạm
hạnh tu tập và Phật pháp không tồn tại lâu dài?› Cúi
xin đức Thế tôn khai thị cho con.»
Đức
Phật bảo Tôn giả Xá-lợi-phất:
«Đức
Phật Tỳ-bà-thi, đức Phật Thức-khí, đức Phật Câu-lưu-tôn,
đức Phật Ca-diếp, các vị Phật này có phạm hạnh tu tập
và Phật pháp tồn tại lâu dài. Pháp của Phật Tùy-diệp,
Phật Câu-na-hàm Mâu-ni, thì không tồn tại lâu dài.»
Tôn
giả Xá-lợi-phất bạch Phật:
«Do
nhơn duyên gì mà [569b1] Phật Tỳ-bà-thi,[11] đức Phật Thức,[12]
đức Phật Câu-lưu-tôn,[13] đức Phật Ca-diệp,[14] các vị
Phật này có phạm hạnh tu tập và Phật pháp tồn tại lâu
dài; Pháp của Phật Tùy-diệp,[15] Phật Câu-na-hàm Mâu-ni,[16]
thì không tồn tại lâu dài?»[17]
Đức
Phật bảo Tôn giả Xá-lợi-phất:
«Đức
Phật Câu-na-hàm Mâu-ni, đức Phật Tùy-diệp không công bố
pháp rộng rãi như: Khế kinh, Kỳ-dạ kinh, Thọ ký, Phương
đẳng kinh, Vị tằng hữu kinh, Thí dụ kinh, Ưu-bà-đề-xá
kinh.[18] Không vì người rộng nói Khế kinh, cho đến Ưu-bà-đề-xá
kinh, không kết giới cũng không thuyết giới, cho nên các đệ
tử mỏi mệt nhàm chán,[19] vì vậy cho nên pháp không tồn
tại dài lâu. Khi đức Thế tôn kia biết tâm các đệ tự
mỏi mệt nhàm chán thì chỉ dạy như vầy:[20] ‹Điều này
nên niệm; điều này không nên niệm. Điều này nên tư duy;
điều này không nên tư duy. Điều này nên đoạn; điều này
nên thành tựu và an trú.›
«Này
Xá-lợi-phất, xa xưa về trước, đức Phật Tùy-diệp cùng
với một ngàn tỳ-kheo sống trong rừng Kinh sợ .[21] Này Xá-lợi-phất,
nếu có người nào chưa lìa dục mà vào trong rừng kia, thì
lông trong người đều bị dựng ngược lên, cho nên gọi là
rừng Khủng úy.[22]
«Lại
nữa, này Xá-lợi-phất, đức Phật Câu-na-hàm Mâu-ni, đức
Phật Tùy-diệp Như lai, là bậc Chí chơn, Đẳng chánh giác,
quán trong tâm một ngàn vị tỳ-kheo mỏi mệt nhàm chán, thì
vì họ nói pháp: ‹Điều này nên niệm; điều này không nên
niệm. Điều này nên tư duy; điều này không nên tư duy. Điều
này nên đoạn; điều này nên thành tựu và an trú.›
«Này
Xá-lợi-phất, nên biết, lúc bấy giờ đức Phật kia và các
vị Thinh văn còn ở đời thì Phật pháp được truyền rộng
rãi. Nhưng sau khi đức Phật kia và các Thinh văn[23] diệt độ,
mọi người trong thế gian đời sau, đủ mọi thành phần,
đủ các dòng họ, đủ các gia tộc xuất gia. Đó là lý do
khiến cho Phật pháp mau diệt, không tồn tại lâu dài. Tại
sao vậy? Vì không được thâu nhiếp bằng kinh pháp.
«Này
Xá-lợi-phất, ví như các loại hoa rải trên mặt bàn, gió
thổi thì bay. Tại sao vậy? Vì không dùng sợi chỉ xâu nó
lại, cho nên như vậy.
«Này
Xá-lợi-phất, đức Phật kia và các chúng Thinh văn khi còn
ở đời thì Phật pháp lưu bố. Nhưng sau khi đức Phật kia
và chúng Thinh văn diệt độ, người trong thế gian, đủ mọi
thành phần, đủ các dòng họ, đủ các gia tộc xuất gia khiến
cho chánh pháp mau diệt, không tồn tại lâu dài. Tại sao? Vì
không được thâu nhiếp bằng kinh pháp.»
Lúc
bấy giờ, đức Thế tôn bảo Tôn giả Xá-lợi-phất:
«Đức
Phật Tỳ-Bà-thi, đức Phật Thức, đức Phật Câu-lưu-tôn,
đức Phật Ca-diếp vì các đệ tử rộng nói kinh pháp, từ
Khế kinh cho đến Ưu-bà-xá kinh, cũng kết giới, cũng thuyết
giới. Khi tâm chúng đệ tử [569c1] mỏi mệt nhàm chán, đức
Phật biết tâm của họ mỏi mệt nhàm chán, chỉ dạy như
vầy: ‹Điều này nên niệm; điều này không nên niệm. Điều
này nên tư duy; điều này không nên tư duy. Điều này nên
đoạn; điều này nên thành tựu và an trú.›
«Như
vậy, này Xá-lợi-phất, các đức Phật kia và chúng Thinh văn
khi còn ở đời thì Phật pháp lưu bố. Nếu các đức Phật
kia và chúng Thinh văn sau khi diệt độ; người trong thế gian
đời sau, đủ mọi thành phần, đủ các dòng họ, đủ các
gia tộc xuất gia, không khiến cho Phật pháp mau diệt. Tại
sao vậy? Vì được thâu nhiếp bằng kinh pháp.
«Này
Xá-lợi-phất, ví như các loại hoa rải trên mặt bàn được
xâu lại bằng sợi chỉ; tuy bị gió thổi nhưng không bị
phân tán. Tại sao vậy? Nhờ sợi chỉ khéo xâu giữ lại.
«Cũng
vậy, này Xá-lợi-phất, đức Phật kia cùng chúng Thinh văn
ở đời rộng nói Phật pháp, như trên.
«Này
Xá-lợi-phất, do nhân duyên này mà Phật pháp thời đức Phật
Tỳ-bà-thi, cho đến đức Phật Ca-diệp được tồn tại lâu
dài, và cũng do nhân duyên này mà Phật pháp thời đức Phật
Câu-na-hàm Mâu-ni, đức Phật Tùy-diếp không tồn tại lâu
dài.»
Lúc
bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất từ chỗ ngồi đứng dậy,
mặc y trống vai bên hữu, đầu gối hữu chấm đất, chấp
tay bạch Phật:
«Kính
bạch đức Thế tôn, nay chính là lúc. Cúi xin đức Đại Thánh
vì các tỳ-kheo kết giới, thuyết giới, khiến cho phạm hạnh
được tu tập, pháp được tồn tại lâu dài.»
Đức
Thế tôn bảo Tôn giả Xá-lợi-phất:
«Hãy
thôi![24] Như Lai tự biết thời. Này Xá-lợi-phất, vì sao
Như Lai chưa vì các tỳ-kheo kết giới? Vì trong chúng tỳ-kheo
chưa có ai phạm pháp hữu lậu. Nếu có người nào phạm pháp
hữu lậu, nhiên hậu Thế tôn mới vì các tỳ-kheo kết giới
để đoạn pháp hữu lậu kia. Này Xá-lợi-phất, khi tỳ-kheo
chưa được lợi dưỡng thì chắc chắn chưa sanh pháp hữu
lậu. Nếu tỳ-kheo được lợi dưỡng thì pháp hữu lậu liền
sanh. Nếu pháp hữu lậu đã sanh, Thế tôn mới vì các tỳ-kheo
kiết giới, vì muốn khiến cho họ đoạn pháp hữu lậu vậy.
«Này
Xá-lợi-phất, tỳ-kheo chưa sanh pháp hữu lậu chỉ vì chưa
có danh tiếng, chưa ai biết đến nhiều, chưa có tiếng đồn
nhiều, chưa có tài nghiệp nhiều. Nếu tỳ-kheo được danh
tiếng, cho đến nhiều tài nghiệp thì pháp hữu lậu liền
sanh. Nếu có pháp hữu lậu sanh, nhiên hậu Thế tôn sẽ vì
đệ tử kiết giới để đoạn pháp hữu lậu. Này Xá-lợi-phất,
hãy thôi! Như lai tự biết thời.»
3.
NHÂN DUYÊN TU-ĐỀ-NA: KẾT GIỚI LẦN THỨ NHẤT
Bấy
giờ Thế tôn ở tại Tỳ-xá-ly. Khi ấy, có Tu-đề-na Tử
ở thôn Ca-lan-đà .[25] Trong thôn này, ông là người có nhiều
tiền của, lắm đồ châu báu, với lòng tin kiên cố, xuất
gia hành đạo.
[570a1]
Vào lúc bấy giờ, lúa thóc khan hiếm, các tỳ-kheo khất thực
khó được. Tu-đề-na Tử tự nghĩ như vầy: «Hiện nay mất
mùa, các tỳ-kheo khất thực khó được. Ta nên hướng dẫn
các tỳ-kheo đến thôn Ca-lan-đà để khất thực. Các tỳ-kheo
sẽ nhân bởi ta mà được lợi dưỡng lớn để có thể tu
phạm hạnh. Cũng khiến cho dòng họ ta tích cực hành bố thí,
làm các phước đức.» Nghĩ như vậy rồi, Tu-đề-na Tử liền
dẫn các tỳ-kheo về thôn Ca-lan-đà.
Mẹ
của ông Tu-đề-na nghe con mình dẫn các tỳ-kheo về lại bổn
thôn, liền đến đón. Khi đến chỗ con, bà nói với con trai
của mình:
«Con
nên bỏ đạo, trở về làm người bạch y. Tại sao vậy? Vì
cha con đã qua đời, mẹ sống đơn độc, sợ gia tài sẽ rơi
vào cửa nhà quan. Của cải của cha con vốn đã nhiều, huống
là tài sản của tổ phụ để lại vô lượng. Thật là đáng
tiếc! Do vậy, nay con hãy bỏ đạo để trở về đời.»
Tu-đề-na
trả lời mẹ:
«Con
không thể bỏ đạo, để làm những việc phi pháp này. Hiện
tại con rất thích phạm hạnh, tu đạo vô thượng.»
Ba
lần người mẹ bảo như vậy, cũng ba lần người con thưa:
«Không
thể bỏ đạo để trở về thế tục được!»
Bà
mẹ liền bỏ ra về. Bà ta đến chỗ người con dâu, nói:
«Khi
nào nguyệt kỳ của con đến, tin cho mẹ biết.»
Người
dâu tự biết nguyệt kỳ sắp đến, nên đến thưa với mẹ
chồng:
«Thưa
đại gia, nguyệt kỳ của con sắp đến.»
Bà
mẹ chồng bảo:
«Con
nên dùng y phục và nữ trang của ngày cưới trang điểm thân
con rồi đến đây.»
Người
con dâu theo lời mẹ chồng dạy, liền tự trang điểm thân
mình; rồi cùng mẹ đến chỗ người chồng. Đến nơi, bà
mẹ chồng nói với con bà:
«Nay
đã đến lúc, con phải bỏ đạo về đời. Tại sao vậy?
Vì nếu con không bỏ đạo, tài vật của nhà ta sẽ bị thu
vào cửa nhà quan.»
Người
con thưa với mẹ:
«Con
không thể bỏ đạo!»
Sau
khi ba lần nói như vậy, bà nói với con trai:
«Hôm
nay hoa thủy của vợ con đã xuất. Con nên lưu lại đứa con
để dòng dõi của con không bị đứt.»
Người
con thưa:
«Việc
này rất dễ. Con có thể làm được.»
Lúc
bấy giờ, trước khi Phật chế giới, Ca-lan-đà Tử không
thấy được dục là ô uế, liền nắm tay người vợ cũ dẫn
vào trong vườn, nơi chỗ khuất vắng, ba lần làm việc bất
tịnh. Ngay khi ấy, trong vườn có con quỷ vừa mệnh chung liền
gá vào thai. Nương nơi thai đủ chín tháng, sanh ra một hài
nhi nam, dung mạo đoan chánh, có một không hai trên đời, được
đặt tên là Chủng Tử,[26] các căn đầy đủ. Theo thời gian,
Chủng Tử khôn lớn, cạo tóc, mặc cà sa, với lòng tin vững
chắc xuất gia học đạo, tinh cần không biếng nhác, đắc
quả A-la-hán, thần thông biến hóa, oai đức vô lượng, cho
nên có hiệu là Tôn giả Chủng Tử.[27]
Tu-đề-na
tập oai nghi của Sa-môn, không việc gì không biết, gặp việc
gì cũng làm được; [570b1] và cũng có thể dạy bảo người
khác.
Từ
khi Tu-đề-na làm việc bất tịnh rồi, về sau thường ôm
lòng sầu ưu. Các đồng học thấy vậy hỏi:
«Thầy
có điều gì sầu ưu phải chăng? Thầy tu phạm hạnh lâu,
oai nghi lễ tiết không việc gì không biết, tại sao sầu ưu?
Hay là không thích sống đời sống phạm hạnh nữa?»
Tu-đề-na
nói:
«Tôi
rất thích đời sống phạm hạnh. Nhưng gần đây, nơi chỗ
khuất vắng, tôi đã phạm ác hạnh; cùng vợ cũ[28] làm việc
bất tịnh, nên ưu sầu.»
Các
tỳ-kheo nói với Tu-đề-na:
«Tại
sao thầy lại làm việc xấu như vậy? Trong pháp thanh tịnh
của đức Như Lai, ở trong dục mà không dục, ở trong cấu
bẩn mà không cấu bẩn, hay đoạn trừ khát ái, phá bỏ hang
ổ, trừ các trói buộc, ái diệt tận chứng Niết-bàn. Tại
sao nay Thầy lại ở trong pháp thanh tịnh này cùng vợ cũ làm
bất tịnh hạnh?»
Lúc
bấy giờ, các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế tôn, cúi đầu
lễ dưới chân, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này
trình bày đầy đủ lên đức Thế tôn. Lúc ấy đức Thế
tôn do nhơn duyên này mà tập hợp các tỳ-kheo.
Đức
Thế tôn có khi biết mà vẫn hỏi, có khi biết mà không hỏi;
đôi khi đúng lúc thì hỏi, đôi khi đúng lúc mà không hỏi;
hợp nghĩa[29]. Bấy giờ đức Thế tôn biết đúng thời, hợp
nghĩa, cho nên hỏi Tu-đề-na:
«Thật
sự ông có cùng vợ cũ làm hạnh bất tịnh hay không?»
«Đúng
như vậy, bạch Thế tôn. Con đã phạm bất tịnh hạnh.»
Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách:
«Việc
ông làm là sai, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn,
chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận. Ông
đã làm điều chẳng nên làm.
«Tu-đề-na,
tại sao ở trong pháp thanh tịnh này, (như trên, cho đến) ái
diệt tận chứng Niết-bàn, lại cùng vợ cũ làm hạnh bất
tịnh?»
Đức
phật bảo các tỳ-kheo:
«Thà
để nam căn vào trong miệng con rắn độc, không nên để vào
nữ căn. Tại sao vậy? Vì duyên này không đọa nơi đường
ác, còn nếu phạm vào người nữ thì thân hoại mạng chung
đọa vào ba đường ác. Tại sao vậy? Ta đã dùng vô số phương
tiện nói pháp đoạn dục, đoạn dục tưởng, diệt dục niệm,
trừ tan sức nóng của dục, vượt ra khỏi sự kết buộc
của ái. Ta đã dùng vô số phương tiện nói, dục như lửa,
dục như bó đuốc cỏ khô trong tay, cũng như trái cây, lại
như vật tạm mượn, cũng như xương khô, như cục thịt, như
cảnh mộng, như mũi dao nhọn được dẫm lên, như đồ gốm
mới làm đựng nước để dưới nắng sáng giữa ngày, như
đầu con rắn độc, như con dao xoay vòng, như trên cọc nhọn,
như ngọn lao bén đâm.[30] Dục rất là nhớp nhúa, rất là
xấu ác, là điều mà Phật quở trách.
«Tu-đề-na,
ngươi ở trong giáo pháp thanh tịnh của Ta, (như trên, cho đến)
ái diệt tận chứng Niết-bàn, lại cùng vợ cũ làm hạnh
bất tịnh.»
[570c01]
Đức Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách, rồi bảo
các tỳ-kheo:
«Tu-đề-na
là người ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là
kẻ phạm giới đầu tiên. Từ nay về sau, Ta vì các tỳ-kheo
kiết giới, nhắm đến mười cú nghĩa :[31] 1. Nhiếp thủ
đối với Tăng. 2. Khiến cho Tăng hoan hỷ. 3. Khiến cho Tăng
an lạc. 4. Khiến cho người chưa tín thì có tín. 5. Người
đã có tín khiến tăng tưởng. 6. Để điều phục người
chưa được điều phục. 7. Người có tàm quý được an lạc.
8. Đoạn hữu lậu hiện tại. 9. Đoạn hữu lậu đời vị
lai. 10. Chánh pháp được tồn tại lâu dài .[32]
«Muốn
thuyết giới, nên thuyết như vầy:
Tỳ-kheo
nào, phạm bất tịnh hạnh, làm pháp dâm dục, tỳ-kheo ấy
là kẻ ba-la-di, không được sống chung.»
Đức
Thế tôn đã kết giới như vậy cho các tỳ-kheo.
4.
NHÂN DUYÊN BẠT-XÀ TỬ: KẾT GIỚI LẦN THỨ HAI
Bấy
giờ, tỳ-kheo Bạt-xà Tử[33] sầu ưu không muốn sống tịnh
hạnh, trở về nhà cùng với vợ cũ hành bất tịnh hạnh.
Sau đó suy nghĩ, «Đức Thế tôn vì các tỳ-kheo kiết giới:
‹Tỳ-kheo nào, phạm bất tịnh hạnh, hành pháp dâm dục,
tỳ-kheo ấy là kẻ ba-la-di, không được sống chung.› Song
ta vì sầu ưu, không muốn sống tịnh hạnh, trở về nhà cùng
vợ cũ làm bất tịnh hạnh. Như vậy ta có phạm ba-la-di không?
Ta sẽ làm như thế nào đây?» Bèn nói với các đồng học:
«Thưa
Trưởng lão, đức Thế tôn vì các tỳ-kheo kiết giới: ‹Tỳ-kheo
nào, phạm bất tịnh hạnh, làm pháp dâm dục, Tỳ-kheo ấy
là kẻ ba-la-di, không được sống chung.› Song tôi vì sầu
ưu, không muốn sống tịnh hạnh, trở về nhà cùng vợ cũ
hành bất tịnh hạnh. Như vậy tôi có phạm ba-la-di không?
Tôi sẽ làm như thế nào đây? Lành thay, Trưởng lão vì tôi
đem việc này bạch lên đức Phật. Tùy theo đức Phật dạy
như thế nào, tôi sẽ phụng hành như thế ấy.»
Lúc
bấy giờ, các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế tôn, đảnh lễ
dưới chân, rồi ngồi qua một bên, đem nhơn duyên này bạch
đầy đủ lên đức Thế tôn. Lúc bấy giờ đức Thế tôn
vì nhơn duyên này tập hợp các Tăng tỳ-kheo. Ngài dùng vô
số phương tiện quở trách tỳ-kheo Bạt-xà Tử:
«Việc
ông làm là sai, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn,
chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận. Ông
đã làm điều chẳng nên làm.
«Thế
nào, người ngu si, không thích tịnh hạnh, trở về nhà cùng
vợ cũ làm bất tịnh hạnh? Vừa mới để vào là ba-la-di.
Ông là người ngu si, phạm ba-la-di, không được sống chung.
Cho nên, này các tỳ-kheo, nếu có ai không thích tịnh hạnh,
cho phép xả giới về nhà. Sau đó, muốn xuất gia lại, ở
trong Phật pháp tu tịnh hạnh, nên độ cho xuất gia, thọ đại
giới. Từ nay về sau [571a01] nên thuyết giới như vầy:
«Tỳ-kheo
nào, cùng với tỳ-kheo đồng giới, không xả giới, giới
sút kém không tự phát lồ,[34] phạm bất tịnh hạnh, làm
pháp dâm dục, tỳ-kheo ấy là kẻ ba-la-di, không được sống
chung.»
Thế
tôn vì các tỳ-kheo kiết giới như vậy.
5.
NHÂN DUYÊN VƯỢN CÁI: KẾT GIỚI LẦN THỨ BA
Tỳ-kheo
khất thực[35] sống ở trong rừng.
Trong
khu rừng này, trước đó có một con vượn cái[36] đã ở.
Tỳ-kheo khất thực này mỗi khi vào thôn khất thực, rồi
trở về lại rừng, ăn xong, mang thức ăn còn dư cho con vượn
cái này ăn. Cứ như vậy, dần dần thuần phục được nó.
Nó đi theo sau tỳ-kheo, thậm chí dùng tay bắt, nó vẫn không
chạy. Tỳ-kheo này liền bắt con vượn cái này, cùng làm bất
tịnh hạnh.
Bấy
giờ, có một số đông tỳ-kheo đi xem xét các trú xứ,[37]
tuần tự đến khu rừng này. Lúc ấy, con vượn cái ở trước
mặt các tỳ-kheo, xoay lưng lại, bày tỏ dấu hiệu hành dâm.
Các tỳ-kheo suy nghĩ: «Con vượn cái này ở trước mặt chúng
ta, xoay lưng lại, bày tỏ dấu hiệu hành dâm, đâu không cùng
với tỳ-kheo khác làm bất tịnh hạnh hay chăng?» Các tỳ-kheo
cùng bảo nhau ẩn mình nơi chỗ vắng để rình xem.
Tỳ-kheo
khất thực kia trở lại khu rừng, ăn xong, dùng thức ăn dư
cho con vượn. Con vượn ăn rồi, cùng làm bất tịnh hạnh.
Các tỳ-kheo thấy vậy, liền đến nói với tỳ-kheo khất
thực ấy rằng:
«Đức
Như Lai há không chế cấm tỳ-kheo không được làm bất tịnh
hạnh hay chăng?»
Vị
tỳ-kheo kia bảo:
«Đức
Như Lai cấm chế nam phạm với phụ nữ chứ không chế cấm
với súc sanh.»
Các
tỳ-kheo nghe nói lời như vậy rồi, đến chỗ đức Phật,
đảnh lễ, đem nhơn duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế
tôn. Đức Thế tôn vì nhơn duyên này liền tập hợp Tăng
tỳ-kheo, dùng vô số phương tiện quở trách vị tỳ-kheo khất
thực kia:
«Tỳ-kheo,
sao lại cùng với vượn cái làm bất tịnh hạnh? Vừa để
vào liền phạm ba-la-di. Nay muốn thuyết giới, nên thuyết
như vầy:
B.
GIỚI VĂN
Tỳ-kheo
nào, cùng với tỳ-kheo đồng giới, không hoàn giới, giới
sút kém, không tự phát lồ, cho đến cùng với loài súc sanh,
phạm bất tịnh hạnh; Tỳ-kheo ấy là kẻ ba-la-di, không được
sống chung.
C.
THÍCH NGHĨA
Tỳ-kheo
nào: gồm có tỳ-kheo danh tự, tỳ-kheo tương tợ, tỳ-kheo
tự xưng, tỳ-kheo thiện lai, tỳ-kheo khất cầu,[38] tỳ-kheo
mặc y cát tiệt,[39] tỳ-kheo phá kiết sử, tỳ-kheo thọ đại
giới do bạch tứ yết-ma như pháp thành tựu hợp cách.[40]
Trong số các tỳ-kheo này, tỳ-kheo ở đây đề cập đến
là tỳ-kheo thọ đại giới bạch tứ yết-ma như pháp thành
tựu hợp cách. Trụ trong pháp tỳ-kheo đó gọi là tỳ-kheo.
Cùng
với tỳ-kheo:[41] ở đây chỉ các tỳ-kheo khác thọ đại
giới bạch tứ yết-ma [571b01] như pháp thành tựu hợp cách,
trụ trong pháp tỳ-kheo. Đó là nghĩa ‹cùng với tỳ-kheo.›
Thế
nào gọi là đồng giới?[42] Đối với giới mà Ta (Phật)
đã kết cho các đệ tử, thà chết chứ không phạm. Trong
đây, cùng với các tỳ-kheo khác duy nhất giới, đồng nhất
giới, bình đẳng giới; đó gọi là đồng giới.
Thế
nào gọi là không xả giới? Xả giới khi đang điên cuồng;
xả giới trước người điên cuồng; xả giới khi đau đớn;
xả giới trước người đau đớn; xả giới khi điếc; xả
giới khi câm; xả giới khi câm điếc; xả giới trước người
câm; xả giới trước người điếc; xả giới trước người
câm điếc. Người trung quốc xả giới trước người biên
địa; người biên địa xả giới trước người trung quốc.
Chỗ không tĩnh, tưởng là tĩnh mà xả giới. Tĩnh tưởng
là không tĩnh mà xả giới. Giỡn cười xả giới. Trước
trời, rồng, dạ xoa, ngạ quỷ, người ngủ, người chết,
người không biết gì, không tự nói hoặc nói mà người nghe
không hiểu..., các trường hợp như vậy không gọi là xả
giới.
Thế
nào gọi là xả giới? Nếu tỳ-kheo không thích tu phạm hạnh,
muốn được trở về nhà, nhàm chán pháp tỳ-kheo, thường
ôm lòng hổ thẹn ,[43] tham thú vui tại gia, tham muốn pháp
ưu-bà-tắc, hoặc chỉ niệm tưởng pháp sa-di,[44] hoặc ưa
pháp ngoại đạo, ưa pháp đệ tử ngoại đạo,[45] ưa pháp
phi sa-môn, phi Thích tử, bèn nói lên lời nói như vầy: «Tôi
xả Phật, xả Pháp, xả tỳ-kheo Tăng, xả Hòa-thượng, xả
đồng Hòa-thượng, xả A-xà-lê, xả đồng A-xà-lê, xả các
phạm hạnh,[46] xả giới, xả luật, xả học sự, nhận pháp
ở nhà. Tôi làm tịnh nhơn. Tôi làm ưu-bà-tắc. Tôi làm sa-di.
Tôi làm ngoại đạo. Tôi làm đệ tử ngoại đạo. Tôi làm
phi Sa-môn, phi Thích chủng tử.»
Hoặc
lại nói như vầy: «Thôi, không cần Phật. Phật đối với
tôi đâu có ích gì. Tôi lìa bỏ chỗ Phật.» Cho đến đối
với học sự cũng nói như vậy. Hoặc lại nói những lời
nói khác hủy báng Phật, Pháp và Tăng cho đến học sự; khen
ngợi gia nghiệp, cho đến phi Sa-môn, phi Thích tử. Bằng lời
nói như vậy một cách rõ ràng để nói thì gọi là xả giới.
Giới
sút kém :[47] hoặc có giới sút kém mà không xả giới, hoặc
có giới sút kém mà xả giới.
Tại
sao gọi là giới sút kém mà không xả giới? Nếu tỳ-kheo
sầu ưu, không thích phạm hạnh, muốn được về nhà, nhàm
chán pháp tỳ-kheo, ôm lòng xấu hổ, ý muốn ở nhà, cho đến
ưa muốn làm pháp phi Sa-môn, phi Thích tử, bèn nói như vầy:
«Tôi nghĩ đến cha mẹ, anh em, chị em, vợ con, xóm làng, thành
ấp, [571c01] ruộng vườn, ao hồ. Tôi muốn xả Phật, Pháp,
Tăng, cho đến học sự.» Liền muốn thọ trì gia nghiệp,
cho đến, phi Sa-môn, phi Thích tử. Như vậy gọi là giới sút
kém mà không xả giới.
Thế
nào gọi là giới sút kém mà xả giới? Nếu khởi tư duy như
vầy: ‹Tôi muốn xả giới.› Rồi xả giới. Như vậy gọi
là giới sút kém mà xả giới.
Bất
tịnh hạnh:[48] là pháp dâm dục.
Cho
đến cùng với súc sanh là chỉ đối tượng có thể hành
dâm.
Thế
nào là ba-la-di ?[49] Ví như cái đầu của con người đã bị
chặt thì không thể mọc trở lại. Tỳ-kheo cũng như vậy,
người phạm pháp này không còn thành tỳ-kheo nữa, cho nên
gọi là ba-la-di.
Thế
nào gọi là không được sống chung?[50] Có hai trường hợp
gọi là được sống chung: đồng một yết-ma, đồng một
thuyết giới. Không được cùng chung làm hai việc này cho nên
gọi không được sống chung.
D.
PHẠM TƯỚNG
Có
ba trường hợp hành bất tịnh hạnh thành ba-la-di: loài người,
phi nhơn, súc sanh.
Lại
có năm loại hành bất tịnh hạnh phạm ba-la-di: thuộc loài
người là phụ nữ, đồng nữ, có hai hình,[51] huỳnh môn,[52]
người nam. Nơi năm đối tượng này hành bất tịnh hạnh
phạm ba-la-di.
Đối
với ba loại giống cái hành bất tịnh hạnh, thành ba-la-di.
Những gì là ba? Người nữ, phi nhân[53] nữ, súc sanh cái.
Đối với ba đối tượng này hành bất tịnh hạnh, thành
ba-la-di. Ba loại đồng nữ, ba loại nhị hình, ba loại bất
năng nam, ba loại người nam; đối với những loại này hành
bất tịnh hạnh, thành ba-la-di. Cũng như vậy, phạm ba nơi
của người phụ nữ, thành ba-la-di. Ba nơi là, đường đại
tiện, đường tiểu tiện và miệng. Cũng vậy, ba nơi của
loài phi nhân cái, súc sanh giống cái, đồng nữ loài người,
đồng nữ loài phi nhơn, súc sanh mới lớn, người nhị hình,
phi nhân nhị hình, súc sanh nhị hình.
Hành
bất tịnh hạnh ở hai nơi của người huỳnh môn, thành ba-la-di.
Hai nơi là đường đại tiện và miệng. Phi nhân huỳnh môn,
súc sanh huỳnh môn cũng vậy. Ở hai nơi loại bất năng nam,
súc sanh đực cũng như vậy.
Tỳ-kheo
với tâm dâm, hướng đến nơi đường đại tiện, đường
tiểu tiện và miệng của người phụ nữ; vừa vào thì phạm;
không vào không phạm. Hai bên có vật cách; hoặc bên có vật
cách, bên kia không; hoặc bên kia không có vật cách, bên này
có; hoặc cả hai bên đều không có vật cách; thảy đều
thành ba-la-di.
Nếu
tỳ-kheo với ý dâm, hướng đến ba nơi của hạng phi nhân
nữ, súc sanh cái, đồng nữ người, đồng nữ phi nhân, súc
sanh nhị hình cũng như vậy. Hay hướng đến hai nơi của người
huỳnh môn, phi nhân huỳnh môn, súc sanh huỳnh môn; người
nam, phi nhân nam; súc sanh đực lại cũng như vậy.
Nếu
tỳ-kheo với ý dâm hướng đến đường đại tiện, đường
tiểu tiện và miệng của người phụ nữ đang ngủ hoặc
chết mà chưa hư hoại hay phần nhiều hư hoại, vừa để
vào liền phạm, không vào thì không phạm. Có vật ngăn cách
hay không vật ngăn cách cũng vậy... cho đến, người nam cũng
như vậy.
Nếu
tỳ-kheo bị oan gia áp bức đưa đến chỗ người phụ nữ,
cưỡng đem nam căn đặt vào trong ba nơi. Khi mới để vào
có cảm giác thích thú, khi vào rồi, khi ra cũng như vậy, phạm
ba-la-di. Khi mới vào, và khi vào rồi có cảm giác thích thú,
nhưng khi ra thì không, vẫn phạm ba-la-di. Khi mới vào, khi vào
rồi không cảm thấy thích thú, nhưng khi ra có cảm thọ lạc,
cũng phạm ba-la-di. Khi vào thọ lạc, khi vào rồi và khi ra
không thọ lạc cũng mắc tội ba-la-di. Khi mới vào không thọ
lạc, khi vào rồi và khi ra có thọ lạc, mắc tội ba-la-di.
Khi mới vào và khi vào rồi không thọ lạc, khi ra thọ lạc,
mắc tội ba-la-di. Có vật ngăn cách, không vật ngăn cách cũng
như vậy... từ giống cái chẳng phải người cho đến người
nam cũng như vậy.
Nếu
tỳ-kheo bị oan gia áp bức đưa đến chỗ người phụ nữ
đang ngủ, hoặc là thây chết chưa hoại, hay phần lớn chưa
hoại... mà có cảm giác thọ lạc cũng như vậy. Có vật cách
hay không vật cách cũng như vậy. Từ giống cái phi nhân cho
đến người nam cũng như vậy.
Nếu
oan gia cưỡng nắm nam căn của tỳ-kheo đặt vào trong đường
đại tiện để làm việc bất tịnh, khi đặt vào có cảm
giác thọ lạc, mắc tội ba-la-di. Khi vào rồi thọ lạc, khi
ra thọ lạc cũng như trên đã nói, cho đến có vật cách hay
không vật cách cũng như vậy.
Từ
đạo vào đạo; từ đạo vào phi đạo;[54] từ phi đạo vào
đạo. Hoặc vào có chừng mức, hoặc vào hết; hoặc nói hoặc
không nói. Nếu, với tâm dâm, cho đến chỉ vào như sợi lông,
đều phạm ba-la-di. Phương tiện mà không vào, phạm thâu-lan-giá.[55]
Nếu
tỳ-kheo phương tiện muốn tìm cầu làm bất tịnh hạnh, thành
thì phạm ba-la-di, không thành thì phạm thâu-lan-giá.
Nếu
tỳ-kheo dạy tỳ-kheo làm bất tịnh hạnh; tỳ-kheo kia làm
theo lời dạy (thì tỳ-kheo dạy) phạm thâu-lan-giá; (tỳ-kheo
kia) không làm theo lời dạy (thì tỳ-kheo dạy) mắc đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni dạy tỳ-kheo, làm phạm thâu-lan-giá, không làm thì
mắc đột-kiết-la. Trừ tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, các chúng khác
dạy nhau làm hạnh bất tịnh, làm hay không làm đều mắc
đột-kiết-la.
Nếu
tử thi phân nửa bị hư hoại mà làm bất tịnh hạnh, khi
để vào liền phạm thâu-lan-giá. Nếu phần lớn bị hư hoại,
hay bị hoại hết thì phạm thâu-lan-giá. Nơi kẽ hở của
xương làm hạnh bất tịnh, phạm thâu-lan-giá. Đào đất làm
thành lỗ, hoặc nơi miệng bình, phạm thâu-lan-giá. Tưởng
là đạo hay nghi như vậy, tất cả đều phạm thâu-lan-giá.
Nếu
nơi đạo mà khởi ý tưởng là đạo, phạm ba-la-di. Nếu nghi
là đạo, phạm ba-la-di. Nếu nơi đạo mà tưởng phi đạo,
phạm ba-la-di. Phi đạo mà tưởng là đạo, phạm thâu-lan-giá.
Phi đạo mà nghi, phạm thâu-lan-giá.
Tỳ-kheo-ni
ba-la-di. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni mắc đột-kiết-la diệt
tẫn. Đó là phạm.[56]
Sự
không phạm: khi ngủ không hay biết, không thọ lạc, hoàn toàn
không có ý dâm thì không phạm.
Người
không phạm: phạm đầu tiên khi chưa chế giới, si cuồng,
loạn tâm, thống não, bức bách. bức bách thì không phạm.[57]
II.
BẤT DỮ THỦ
A.
DUYÊN KHỞI
Một
thời, đức Thế tôn du hóa nơi thành La-duyệt, trong núi Kỳ-xà-quật.[58]
Bấy giờ trong thành La-duyệt có tỳ-kheo tự là Đàn-ni-ca,[59]
con người thợ đồ gốm, lưu trú trong một thảo am nơi chỗ
khuất vắng.[60] Sau khi vị tỳ-kheo kia vào trong thôn khất
thực, có người lấy củi, phá thảo am của tỳ-kheo đem về
làm củi. Tỳ-kheo kia khất thực xong trở về thấy thảo am
không còn, bèn khởi ý nghĩ: «Ta đã sống một mình nơi khuất
vắng; tự mình lấy cỏ cây làm am để ở. Khi vào thôn khất
thực, người lấy củi phá am thất của ta đem đi. Bản thân
ta có tay nghề; ta có thể trộn bùn đất làm thành căn nhà
toàn bằng gạch[61].»
Tỳ-kheo
kia nghĩ xong, liền trộn bùn đất làm thành căn nhà toàn bằng
gạch; rồi lấy củi và phân bò mà nung, căn nhà có màu sắc
đỏ tươi như lửa.
Lúc
bấy giờ, đức Thế tôn từ trên núi Kỳ-xà-quật đi xuống.
Từ xa trông thấy cái nhà màu đỏ như lửa rồi, Ngài biết
mà cố hỏi các tỳ-kheo:
«Cái
gì màu đỏ vậy?»
Các
tỳ-kheo bạch Phật:
«Kính
bạch đức Thế tôn, có một tỳ-kheo tên là Đàn-ni-ca, con
người thợ đồ gốm. Tỳ-kheo ấy một mình ở nơi khuất
vắng, làm một cái thất bằng cỏ để ở. Khi đi khất thực,
bị những người lấy củi phá cái thất mang đi. Vị tỳ-kheo
ấy khi về, thấy thất của mình bị phá liền nghĩ: ‹Ta
có tay nghề, ta có thể làm một cái thất toàn bằng gạch.›
Nghĩ như vậy rồi liền làm. Cái nhà sắc đỏ đó là của
tỳ-kheo Đàn-ni-ca.»
Lúc
bấy giờ, đức Thế tôn dùng vô số phương tiện để quở
trách vị tỳ-kheo kia:
«Việc
ngươi làm sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp
sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận,
làm điều không nên làm. Tại sao, tỳ-kheo Đàn-ni-ca, con người
thợ gốm, tự mình làm thất, tập trung với nhiều số lượng
củi, phân bò v.v... rồi nung. Ta thường dùng vô số phương
tiện nói đến lòng từ mẫn đối với chúng sanh. Tại sao
người ngu si này tự mình trộn bùn đất làm thất, dồn chứa
gai củi và phân bò để nung? Từ nay về sau, các ông không
được làm thất toàn bằng gạch có màu đỏ như lửa như
thế.[62] Nếu làm, phạm đột-kiết-la.»
Lúc
bấy giờ đức Thế tôn ra lệnh cho các tỳ-kheo:
«Các
ông tập hợp lại, cùng nhau nhanh chóng đến chỗ thất của
Đàn-ni-ca mà phá bỏ đi.»[63]
Các
tỳ-kheo vâng lời Phật dạy, đến đập phá cái thất đó.
Đàn-ni-ca thấy các tỳ-kheo đập phá cái thất của mình bèn
hỏi:
«Tôi
có lỗi gì mà đập phá thất của tôi ?»
Các
tỳ-kheo trả lời:
«Thầy
không có lỗi. Chúng tôi cũng không ghét Thầy. Song chúng tôi
vừa nhận lời dạy của đức Thế tôn, nên đến đây phá
thất của Thầy.»
Tỳ-kheo
Đàn-ni-ca nói:
«Nếu
đức Thế tôn đã dạy, các Thầy cứ tùy nghi.»
Lúc
bấy giờ Bình-sa, Vua nước Ma-kiệt[64] có người giữ cây
gỗ nhà nước,[65] cùng với tỳ-kheo Đàn-ni-ca là bạn thân
từ thời còn nhỏ, nên tỳ-kheo Đàn-ni-ca đến chỗ người
giữ cây gỗ ấy nói rằng:
«Ông
bạn có biết chăng, Vua Bình Sa cho tôi cây gỗ. Nay tôi cần
gỗ, ông bạn có thể cho tôi nhận được không ?»
Người
giữ gỗ nói:
«Nếu
nhà Vua đã cho, thì loại tốt hay loại xấu, cần nhiều hay
ít, cứ tùy ý lấy.»
Loại
cây gỗ thiết yếu của nhà Vua[66] để dành, bị tỳ-kheo
Đàn-ni-ca chặt mang đi.
Khi
ấy có một vị Đại thần tổng giám sát các sự việc của
thành,[67] đến chỗ chứa gỗ, thấy những cây gỗ thiết
yếu, mà nhà Vua lưu trữ, bị chặt lung tung, liền hỏi người
giữ gỗ rằng:
«Những
cây gỗ thiết yếu này nhà Vua lưu trữ ở đây, ai chặt mang
đi ?»
Người
giữ gỗ nói:
«Tỳ-kheo
Đàn-ni-ca đến nơi tôi và nói, ‹Nhà Vua cho tôi gỗ. Nay tôi
cần, có thể lấy được không?› Tôi trả lời: ‹Nhà Vua
cho thì Thầy cứ lấy.› Tỳ-kheo liền vào vựa chứa cây
lưu trữ chặt mang đi.»
Khi
Đại thần nghe nói như vậy rồi, liền phiền trách nhà Vua
rằng: ‹Tại sao đem loại gỗ thiết yếu này cho tỳ-kheo?
Trong khi còn có những thứ gỗ khác có thể cho được không
cho, mà khiến tỳ-kheo này chặt đứt gỗ thiết yếu mang đi!›
Rồi vị Đại thần đến chỗ nhà Vua tâu:
«Tâu
Đại vương, số cây gỗ thiết yếu được lưu trữ, tại
sao nay lại cho tỳ-kheo chặt mang đi? Còn có nhiều thứ gỗ
khác có thể cho được, sao lại phá hoại loại gỗ quí đó?»
Nhà
Vua bảo rằng:
«Ta
hoàn toàn không nhớ đã đem gỗ cho ai. Nếu Đại thần có
nhớ thì nhắc lại cho ta.»
Khi
ấy vị Đại thần liền cho đi bắt người giữ cây gỗ đến
chỗ nhà Vua. Người giữ cây gỗ từ xa thấy tỳ-kheo Đàn-ni-ca,
liền kêu nói:
«Đại
đức, vì Thầy lấy gỗ mà tôi bị bắt. Đại đức hãy vì
tôi, đi đến đó để giải quyết. Xin thương xót tôi.»
Tỳ-kheo
trả lời:
«Ông
cứ đến đó. Tôi cũng đi ngay đây.»
Sau
đó tỳ-kheo Đàn-ni-ca đến chỗ nhà Vua, đứng im lặng trước
mặt Vua.
Nhà
Vua liền hỏi:
«Đại
đức, có thật là tôi cho Thầy gỗ hay không?»
Tỳ-kheo
đáp:
«Sự
thật nhà Vua có cho tôi gỗ.»
Nhà
Vua nói:
«Tôi
không nhớ là có cho người gỗ. Thầy hãy nhắc lại để
tôi nhớ.»
Tỳ-kheo
báo rằng:
«Đại
vương còn nhớ chăng? Khi mới đăng vị, từ miệng nhà Vua
nói ra rằng, ‹Trong thời tôi còn trị nước, [573a1] trong
phạm vi quốc giới, có các Sa-môn, Bà-la-môn nào biết tàm
quý, ưa học giới, cho thì lấy, không cho không lấy; cho thì
dùng, không cho không dùng. Kể từ hôm nay, các Sa-môn, Bà-la-môn
được phép tùy ý dùng cỏ cây và nước. Không được không
cho mà dùng. Từ nay về sau cho phép Sa-môn, Bà-la-môn tùy ý
dùng cỏ cây và nước.›»
Nhà
Vua nói:
«Này
Đại đức, khi tôi mới đăng vị, thật sự có nói như vậy.
Đại đức, tôi nói đối với vật vô chủ chứ không nói
đối với vật có chủ. Tội của Đại đức đáng chết.»
Nhà
Vua lại tự nghĩ: «Ta là Vua Quán đỉnh, dòng Sát-lợi,[68]
đâu có thể chỉ vì một ít gỗ mà đoạn mạng người xuất
gia. Điều ấy không nên.»
Bấy
giờ, nhà Vua dùng vô số phương tiện quở trách tỳ-kheo rồi
ra lệnh các thần thuộc, phóng thích tỳ-kheo. Các thần thuộc
y lệnh Vua, phóng thích tỳ-kheo.
Sau
đó các thần thuộc này lớn tiếng bình luận, bất bình,
rằng, ‹Nhà Vua nghĩ sao? Tội đáng chết như vậy mà chỉ
khiển trách rồi thả.›
Lúc
ấy, trong thành La-duyệt có các cư sĩ không tin ưa Phật pháp,
họ đều chỉ trích rằng, «Sa-môn Thích tử không có tàm
quý, không biết sợ là gì, nên lấy vật không cho. Bên ngoài
tự nói ta biết chánh pháp. Như vậy làm gì có chánh pháp!
Gỗ của nhà Vua còn lấy, huống là của người khác? Chúng
ta từ nay về sau đừng gần gũi với sa-môn Thích tử, lễ
bái hỏi chào, cúng dường cung kính. Đừng cho vào thôn ta,
cũng đừng cho nghỉ ngơi.»
Bấy
giờ có các tỳ-kheo nghe chuyện ấy. Trong số đó có những
kẻ thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, biết tàm quý,
ưa học giới, hiềm trách Đàn-ni-ca: «Sao lại ăn trộm cây
gỗ của Vua Bình-sa.»
Các
tỳ-kheo đến chỗ đức Phật, đảnh lễ dưới chân Phật,
rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ
lên đức Thế tôn. Đức Thế tôn vì nhơn duyên này tập hợp
Tăng tỳ-kheo; tuy biết vẫn cố hỏi tỳ-kheo Đàn-ni-ca:
«Có
thật ngươi lấy gỗ mà nhà Vua không cho?»
Đàn-ni-ca
thưa:
«Bạch
Thế tôn, thực sự đúng như vậy.»
Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách tỳ-kheo Đàn-ni-ca:
«Việc
ngươi làm sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp
Sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải pháp tùy thuận,
làm đều không nên làm. Này, Đàn-ni-ca, sao lại lấy gỗ mà
nhà Vua không cho? Ta dùng vô số phương tiện khen ngợi sự
lấy những gì đã được cho. Nay ngươi sao lại lấy gỗ mà
nhà Vua không cho?»
Khi
ấy có một tỳ-kheo tên là Ca-lâu , vốn là Đại thần của
nhà Vua,[69] rành về thế pháp, ngồi trong chúng, cách đức
Thế tôn không xa. Đức Thế tôn biết mà vẫn hỏi tỳ-kheo
Ca-lâu:
«Theo
pháp luật của nhà Vua, không cho mà lấy, vật trị giá bao
nhiêu phải tội chết?»[70]
Tỳ-kheo
Ca-lâu bạch Phật:
«Nếu
lấy năm tiền[71] hay vật trị giá năm tiền sẽ bị tội
chết.»
«Tỳ-kheo
Đàn-ni-ca, sao lại lấy gỗ mà nhà Vua không cho?»
Lúc
bấy giờ, đức Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách
tỳ-kheo Đàn-ni-ca, rồi bảo các tỳ-kheo:
«Tỳ-kheo
Đàn-ni-ca là kẻ ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu,
là người đầu tiên phạm giới. Từ nay về sau Ta vì các
tỳ-kheo kiết giới, tập mười cú nghĩa,... cho đến để
chánh pháp tồn tại lâu dài.»
Muốn
thuyết giới nên thuyết như vầy:
B.
GIỚI VĂN
Tỳ-kheo
nào, nơi thôn xóm hay chỗ trống vắng, với tâm trộm cắp,
lấy vật không được cho. Tùy theo vật không được cho mà
lấy, hoặc bị Vua hay Đại thần của Vua bắt, hoặc giết,
hoặc trói, hoặc đuổi ra khỏi nước, rằng ‹Ngươi là giặc,
ngươi ngu si, ngươi không biết gì.› Tỳ-kheo ấy là kẻ ba-la-di,
không được sống chung.[72]
C.
THÍCH NGHĨA
Tỳ-kheo:
Nghĩa như trên.
Thôn
: có bốn loại, 1. Chung quanh đều có tường xây thấp. 2.
Chung quanh có hàng rào. 3. Có rào và tường nhưng không giáp
vòng. 4. Chung quanh đều có nhà.[73]
Chỗ
trống vắng:[74] khoảng đất trống không và vắng vẻ ở
ngoài thôn.
Vật
không được cho: vật mà người khác không vất bỏ.[75]
Trộm
cắp: lấy với tâm trộm cắp.[76]
Tùy
theo vật không được cho mà lấy: là năm tiền hay trị giá
năm tiền.[77]
Vua:
là người tự tại, không lệ thuộc ai.
Đại
thần: Chỉ chung cho các vị Đại thần trợ giúp nhà Vua.
Ba-la-di
không được sống chung: như trên đã nói.
D.
PHẠM TƯỚNG
Có
ba trường hợp lấy vật không được cho phạm ba-la-di: tự
tay lấy, giám sát sự lấy, khiến người lấy.
Lại
có ba trường hợp lấy vật không được cho phạm ba-la-di:
lấy vật với ý tưởng không phải của mình, lấy vật với
ý chẳng phải tạm dùng, lấy vật không được đồng ý.
Lại
có ba loại[78] lấy: lấy vật của người, tưởng vật của
người, dời khỏi nguyên vị trí.
Lại
có ba loại lấy: lấy vật có chủ, tưởng là có chủ, di
chuyển khỏi nguyên vị trí.
Lại
có ba loại lấy: lấy vật có người khác giám hộ, tưởng
có người khác giám hộ, dời khỏi nguyên vị trí.
Lại
có bốn loại lấy vật không cho thành ba-la-di:[79] tự tay mình
lấy, giám sát sự lấy, sai người lấy, dời khỏi nguyên
vị trí.
Lại
có bốn loại lấy thành ba-la-di: lấy vật với ý tưởng chẳng
phải của mình, không phải lấy tạm, không được đồng
ý mà lấy, và dời khỏi nguyên vị trí.
Lại
có bốn loại lấy: lấy vật của người, tưởng vật của
người, trọng vật,[80] dời khỏi nguyên vị trí.
Lại
có bốn loại lấy: có chủ, tưởng là có chủ, trọng vật,
dời khỏi nguyên vị trí.
Lại
có bốn loại lấy: người khác giám hộ, tưởng có người
khác giám hộ, trọng vật, dời khỏi nguyên vị trí.
Lại
có năm loại không cho mà lấy thành ba-la-di: tự tay mình lấy,
giám sát người khác lấy, khiến người khác lấy, trọng
vật, dời khỏi nguyên vị trí.
Lại
có năm loại: lấy vật với ý tưởng chẳng phải của mình,
không có ý tạm lấy, chẳng phải đồng ý mà lấy, trọng
vật, dời khỏi nguyên vị trí.
Lại
có năm loại lấy: lấy vật của người, tưởng là vật của
người, trọng vật, với tâm trộm, và dời khỏi nguyên vị
trí.
Lại
có năm loại: có chủ, tưởng có chủ, trọng vật, với tâm
trộm, dời khỏi nguyên vị trí.
Lại
có năm loại lấy: vật có người khác giám hộ, trọng vật,
với tâm trộm cắp, dời khỏi nguyên vị trí.
Lại
có sáu loại không cho mà lấy thành ba-la-di: tự tay mình lấy,
giám sát người lấy, sai người lấy, trọng vật, với tâm
trộm cắp, và dời khỏi chỗ cũ. Chẳng phải vật của mình,
tưởng là chẳng phải vật của mình, có sáu loại như vậy.
Đó gọi là sáu loại lấy trộm phạm tội ba-la-di.
Vị
trí :[81] vị trí trong lòng đất, vị trí trên đất, vị trí
trên cộ, vị trí trong gánh, vị trí trong hư không, vị trí
trên cây, vị trí thôn, vị trí a-lan-nhã, vị trí ruộng, vị
trí xứ sở, vị trí ghe thuyền, vị trí nước. Hoặc lén
qua ải mà không đóng thuế. Hoặc lấy vật của người khác
ký thác. Hoặc lấy nước; lấy tăm, trái cây, thảo mộc,
chúng sanh không chân, hai chân, bốn chân, nhiều chân, sản
nghiệp chung. Hoặc cùng hẹn,[82] hoặc rình chờ,[83] hoặc
canh giữ,[84] hoặc chặn lối đường hiểm. Như vậy gọi
là vị trí.[85]
Vị
trí trong lòng đất :[86] các kho tàng chôn dưới đất chưa
ai phát hiện, như bảy báu gồm vàng, bạc, lưu ly, chơn châu,
bích ngọc, xa cừ, mã não; các thứ vàng ròng,[87] vật báu
làm bằng vàng, áo, chăn; hoặc lại có những nhu yếu phẩm
khác có chủ và được chôn trong lòng đất. Những vật này
có giá trị năm tiền hoặc quá năm tiền, nếu lấy với tâm
trộm cắp; lấy bằng cách lôi kéo đi chỗ khác, hoặc chôn
dấu đi, hoặc di chuyển khỏi nguyên vị trí; vật vừa rời
khỏi nguyên vị trí, thành ba-la-di. Nếu phương tiện muốn
nhắc lên, nhưng không nhắc nổi, phạm thâu-lan-giá.
Vị
trí trên đất :[88] các thứ không chôn dưới đất như bảy
báu gồm vàng, bạc, v.v… cho đến, áo, chăn; hoặc những
nhu yếu phẩm khác có chủ và ở trên mặt đất. Những vật
này có giá trị năm tiền hoặc quá năm tiền, nếu lấy với
tâm trộm cắp; lấy bằng cách lôi kéo đi chỗ khác, hoặc
chôn dấu đi, hoặc di chuyển khỏi nguyên vị trí. Vật vừa
rời khỏi nguyên vị trí, thành ba-la-di. Nếu phương tiện
muốn nhắc lên, nhưng không nhắc nổi, phạm thâu-lan-giá.
Vị
trí trên cộ :[89] cộ có bốn loại, cộ voi, cộ ngựa, cộ
xe, cộ đi bộ. Hoặc lại có các phương tiện chuyên chở
khác đều gọi là cộ. Các thứ trên cộ như bảy báu gồm
vàng, bạc, v.v… cho đến, áo, chăn; hoặc những nhu yếu phẩm
khác có chủ. Những vật này có giá trị năm tiền hoặc quá
năm tiền, nếu lấy với tâm trộm cắp; lấy bằng cách lôi
kéo đi chỗ khác, hoặc chôn dấu đi, hoặc di chuyển khỏi
nguyên vị trí; vật vừa rời khỏi nguyên vị trí, thành ba-la-di.
Nếu phương tiện muốn nhắc lên, [574a1] nhưng không nhắc,
phạm thâu-lan-giá. Hoặc dẫn xe cộ từ đường chính đến
đường chính, từ đường chính đến đường phụ, từ đường
phụ đến đường chính, từ trong hầm lên trên bờ hầm,
từ trên bờ hầm đến trong hầm, như vậy lấy cộ rời khỏi
nguyên vị trí. Vừa rời khỏi nguyên vị trí, phạm ba-la-di.
Nếu phương tiện muốn lấy mà không lấy, phạm tội thâu-lan-giá.
Vị
trí gánh : vật đội trên đầu, vật vác trên vai, vật cõng
sau lưng, hay ôm trước ngực; hoặc lại có các vật khuân
vác khác. Trên những gánh này có các vật như bảy báu gồm
vàng, bạc, v.v… cho đến, áo, chăn; hoặc những nhu yếu phẩm
khác có chủ. Những vật này có giá trị năm tiền hoặc quá
năm tiền, nếu lấy với tâm trộm cắp; lấy bằng cách lôi
kéo đi chỗ khác, hoặc chôn dấu đi, hoặc di chuyển khỏi
nguyên vị trí. Vật vừa rời khỏi nguyên vị trí, thành ba-la-di.
Nếu phương tiện muốn nhắc lên, nhưng không nhắc, phạm
thâu-lan-giá. Hoặc mang gánh từ đường chính đến đường
chính, từ đường chính đến đường phụ, từ đường phụ
đến đường chính, từ trong hầm lên trên bờ hầm, từ trên
bờ hầm đến trong hầm. Như vậy với tâm trộm mà mang khỏi
chỗ cũ; vừa rời khỏi vị trí của vật, thành ba-la-di. Nếu
phương tiện muốn lấy mà không lấy mắc tội thâu-lan-giá.
Vị
trí trống không :[90] những vật mà gió thổi bay như lông,
kiếp-bối, câu-giá-la, sai-la-ba-ni, sô ma, gai, bông, bát-đam-lam-bà,
đầu-đầu-la, chim nhạn, chim hạc, chim khổng tước, chim anh
võ, chim bồ câu. Lại có vật hữu dụng khác, có chủ. Những
vật này có giá trị năm tiền hoặc quá năm tiền, nếu lấy
với tâm trộm cắp; lấy bằng cách lôi kéo đi chỗ khác,
hoặc chôn dấu đi, hoặc di chuyển khỏi nguyên vị trí. Vật
vừa rời khỏi nguyên vị trí thành ba-la-di. Nếu phương tiện
muốn nhắc lên, nhưng mà không nhắc nỗi, phạm thâu-lan-giá.
Vị
trí bên trên : [91] vật được nhấc lên để trên cây, trên
tường, trên rào, trên vực, trên cọc bằng ngà voi,[92] trên
giá móc áo, trên võng, trên giường cây, trên nệm lớn nhỏ,
trên gối, trên chiếu trải trên đất. Trên những thứ này
mà có vàng, bạc, v.v... cho đến, áo, chăn; hoặc những nhu
yếu phẩm khác có chủ. Những vật này có giá trị năm tiền
hoặc quá năm tiền, nếu lấy với tâm trộm cắp; lấy bằng
cách lôi kéo đi chỗ khác, hoặc chôn dấu đi, hoặc di chuyển
khỏi nguyên vị trí. Vật vừa rời khỏi nguyên vị trí thành
ba-la-di. Nếu phương tiện muốn nhắc lên, nhưng mà không nhắc
nổi, phạm thâu-lan-giá.
Vị
trí thôn : Có bốn loại thôn xóm như trên đã nói.[93] Trong
thôn xóm này, có vàng, bạc, v.v… cho đến, áo, chăn; hoặc
những nhu yếu phẩm khác có chủ. Những vật này có giá trị
năm tiền hoặc quá năm tiền, nếu lấy với tâm trộm cắp;
lấy bằng cách lôi kéo đi chỗ khác, hoặc chôn dấu đi, hoặc
di chuyển khỏi nguyên vị trí. Vật vừa rời khỏi nguyên
vị trí thành ba-la-di. Nếu phương tiện muốn nhắc lên, nhưng
mà không nhắc nổi, phạm thâu-lan-giá. Dùng máy móc công kích,
phá hoại thôn xóm; hoặc cho nước ngập, hoặc dựa vào cường
lực của người quen thân, hoặc dùng lời lẽ biện bác mê
hoặc lừa dối mà lấy; vừa lấy được, thành ba-la-di; phương
tiện muốn lấy mà không lấy được, mắc tội thâu-lan-giá.
Vị
trí a-lan-nhã : vùng đất trống ở ngoài thôn mà có chủ.
Nơi chỗ đất trống nầy mà có vàng, bạc, v.v… cho đến,
áo, chăn; hoặc những nhu yếu phẩm khác có chủ. Những vật
này có giá trị năm tiền hoặc quá năm tiền, nếu lấy với
tâm trộm cắp; lấy bằng cách lôi kéo đi chỗ khác, hoặc
chôn dấu đi, hoặc di chuyển khỏi nguyên vị trí. Vật vừa
rời khỏi nguyên vị trí, thành ba-la-di. Nếu phương tiện
muốn nhắc lên, nhưng không nhắc, phạm thâu-lan-giá. Hoặc
bằng phương tiện phá hoại vùng đất trống của người
khác, hoặc cho nước ngập, hoặc dựa vào cường lực của
người quen thân, hoặc dùng lời lẽ biện luận mê hoặc lừa
dối để lấy. Vừa lấy được, thành ba-la-di. Phương tiện
muốn lấy mà không lấy được, mắc tội thâu-lan-giá.
Vị
trí ruộng : ruộng trồng lúa dé, ruộng trồng lúa mạch, ruộng
trồng mía. Hoặc lại có các loại ruộng khác mà nơi đó
có vàng, bạc, v.v… cho đến, áo, chăn; hoặc những nhu yếu
phẩm khác có chủ. Những vật này có giá trị năm tiền hoặc
quá năm tiền, nếu lấy với tâm trộm cắp; lấy bằng cách
lôi kéo đi chỗ khác, hoặc chôn dấu đi, hoặc di chuyển khỏi
nguyên vị trí. Vật vừa rời khỏi nguyên vị trí, thành ba-la-di.
Nếu dùng phương tiện phá hoại ruộng của người hoặc cho
nước ngập, hoặc dựa vào cường lực của người quen thân,
hoặc dùng lời lẽ biện luận mê hoặc lừa dối để lấy.
Vừa lấy được, thành ba-la-di. Phương tiện muốn lấy mà
không lấy được, mắc tội thâu-lan-giá.
Xứ
sở :[94] hoặc là khu vực của nhà, hoặc khu vực chợ quán,
hoặc là vườn cây, hoặc là vườn rau, hoặc ao hồ, hoặc
sân trước, hoặc sau nhà, hoặc là những nơi khác mà ở đó
có vàng, bạc, v.v… cho đến, áo, chăn; hoặc những nhu yếu
phẩm khác có chủ. Những vật này có giá trị năm tiền hoặc
quá năm tiền, nếu lấy với tâm trộm cắp; lấy bằng cách
lôi kéo đi chỗ khác, hoặc chôn dấu đi, hoặc di chuyển khỏi
nguyên vị trí. Vật vừa rời khỏi nguyên vị trí, thành ba-la-di.
Nếu dùng phương tiện phá hoại xứ sở của người, hoặc
cho nước ngập, hoặc dựa vào cường lực của người quen
thân, hoặc dùng lời lẽ biện luận mê hoặc lừa dối để
lấy. Vừa lấy được, thành ba-la-di. Phương tiện muốn lấy
mà không lấy được, mắc tội thâu-lan-giá.
Vị
trí ghe thuyền : thuyền nhỏ, thuyền lớn, thuyền bầu,[95]
thuyền độc mộc,[96] thuyền bành, thuyền buồm, thuyền hình
con rùa, thuyền hình con ba ba, thuyền bằng da, thuyền bằng
phao nổi, thuyền bằng trái cây,[97] thuyền treo,[98] thuyền
cánh bè; hoặc những loại thuyền khác mà nơi đó có vàng,
bạc, v.v… cho đến, áo, chăn; hoặc những nhu yếu phẩm khác
có chủ. Những vật này có giá trị năm tiền hoặc quá năm
tiền, nếu lấy với tâm trộm cắp; lấy bằng cách lôi kéo
đi chỗ khác, hoặc chôn dấu đi, hoặc di chuyển khỏi nguyên
vị trí. Vật vừa rời khỏi nguyên vị trí, thành ba-la-di.
Phương tiện muốn lấy mà không lấy được, mắc tội thâu-lan-giá.
Hoặc từ bờ này đến bờ kia, từ bờ kia đến bờ này;
hoặc ngược dòng, hoặc xuôi dòng; hoặc cho chìm dưới đáy
nước, hoặc dời lên trên bờ; hoặc cởi (thuyền) rồi dời
đi chỗ khác, thành ba-la-di. Phương tiện muốn lấy mà không
được, mắc tội Thâu-lan-giá.
Vị
trí nước : kho tàng chứa vàng bạc bảy báu và các thứ áo
chăn chìm dưới đáy nước, hoặc con rái cá, hoặc cá, hoặc
ba ba, hoặc cá sấu,[99] hoặc hoa ưu-bát-la, hoa bát-đầu-ma,
hoa câu-vật-đầu, hoa phân-đà-lợi,[100] và các vật khác
ở trong nước, có chủ. Những vật này có giá trị năm tiền
hoặc quá năm tiền, nếu lấy với tâm trộm cắp; lấy bằng
cách lôi kéo đi chỗ khác, hoặc chôn dấu đi, hoặc di chuyển
khỏi nguyên vị trí. Vật vừa rời khỏi nguyên vị trí, thành
ba-la-di. Phương tiện muốn lấy mà không lấy được, mắc
tội thâu-lan-giá. Nếu dùng phương tiện phá hoại chỗ nước
của người... cho đến, mắc tội thâu-lan-giá, như trên đã
nói.
Không
đóng thuế :[101] theo pháp luật, tỳ-kheo không phải đóng
thuế. Nếu vật của bạch y cần phải đóng thuế mà tỳ-kheo
với tâm ăn trộm mang hộ cho người khác qua khỏi chỗ đóng
thuế, hoặc ném ra ngoài cửa ải, vật trị giá năm tiền
hay trên năm tiền, hoặc chôn dấu, di chuyển, hoặc dùng lời
lẽ biện luận mê hoặc lừa dối, hoặc dùng chú thuật để
đưa qua... cho đến, phương tiện, thì phạm thâu-lan-giá, như
trên.
Lấy
vật ký thác của người: vật của người gởi mang đi mà
đem tâm trộm cắp, trị giá năm tiền hay trên năm tiền; từ
trên đầu dời xuống vai, từ trên vai dời lên đầu;[102]
từ bên vai hữu dời qua bên vai tả, từ bên vai tả dời qua
bên vai hữu; từ nơi tay tả dời qua tay hữu, từ tay hữu
dời qua tay tả; hoặc ôm trong lòng, hoặc để nơi đất mà
dời khỏi nguyên vị trí. Vừa dời khỏi vị trí cũ, thành
ba-la-di. Phương tiện... thâu-lan-giá.
Nước:
các loại nước thơm, hoặc nước thuốc, được đựng trong
các đồ đựng nước như lu, vại lớn nhỏ, hoặc các loại
dụng cụ chứa nước khác, có giá trị năm tiền hoặc hơn
năm tiền, nếu lấy với tâm trộm cắp; lấy bằng cách lôi
kéo đi chỗ khác, hoặc chôn dấu đi, hoặc di chuyển khỏi
nguyên vị trí; vật vừa rời khỏi nguyên vị trí thành ba-la-di.
Phương tiện muốn lấy mà không lấy được mắc tội thâu-lan-giá.
Tăm:[103]
hoặc một hoặc hai, hoặc nhiều cây, hoặc một nắm, một
bó, một ôm, một gánh; hoặc có ướp hương, hoặc có thoa
thuốc, có giá trị năm tiền hoặc hơn năm tiền, nếu lấy
với tâm trộm cắp; lấy bằng cách lôi kéo đi chỗ khác,
hoặc chôn dấu đi, hoặc di chuyển khỏi nguyên vị trí. Vật
vừa rời khỏi nguyên vị trí, thành ba-la-di. Phương tiện
muốn lấy mà không lấy được, mắc tội thâu-lan-giá.
Vườn:
tất cả cỏ cây rừng rú hoa quả có chủ, có giá trị năm
tiền hoặc hơn năm tiền, nếu lấy với tâm trộm cắp; lấy
bằng cách lôi kéo đi chỗ khác, hoặc chôn dấu đi, hoặc
di chuyển khỏi nguyên vị trí. Vật vừa rời khỏi nguyên
vị trí, thành ba-la-di. Phương tiện muốn lấy mà không lấy
được, mắc tội thâu-lan-giá.
Chúng
sanh không chân: như rắn, cá, và tất cả các loài chúng sanh
không có chân khác có chủ, có giá trị năm tiền hoặc hơn
năm tiền, nếu lấy với tâm trộm cắp; lấy bằng cách lôi
kéo đi chỗ khác, hoặc chôn dấu đi, hoặc di chuyển khỏi
nguyên vị trí. Vật vừa rời khỏi nguyên vị trí, thành ba-la-di.
Phương tiện muốn lấy mà không lấy được, mắc tội thâu-lan-giá.
Chúng
sanh hai chân: loài người, loài phi nhơn, chim và các loại chúng
sanh hai chân, có chủ, có giá trị năm tiền hoặc hơn năm
tiền, nếu lấy với tâm trộm cắp; lấy bằng cách lôi kéo
đi chỗ khác, hoặc chôn dấu đi, hoặc di chuyển khỏi nguyên
vị trí. Vật vừa rời khỏi nguyên vị trí, thành ba-la-di.
Phương tiện muốn lấy mà không lấy được, mắc tội thâu-lan-giá.
Chúng
sanh bốn chân : [575a1] như voi, ngựa, bò, lạc đà, lừa, nai,
dê và các loại chúng sanh bốn chân, có chủ, có giá trị
năm tiền hoặc hơn năm tiền, nếu lấy với tâm trộm cắp;
lấy bằng cách lôi kéo đi chỗ khác, hoặc chôn dấu đi, hoặc
di chuyển khỏi nguyên vị trí. Vật vừa rời khỏi nguyên
vị trí, thành ba-la-di. Phương tiện muốn lấy mà không lấy
được, mắc tội thâu-lan-giá.
Chúng
sanh nhiều chân : như ong, uất-châu-long-già,[104] hoặc rết,[105]
hay chúng sanh nhiều chân khác, có chủ, có giá trị năm tiền
hoặc hơn năm tiền, nếu lấy với tâm trộm cắp, phạm ba-la-di.
Phương tiện muốn lấy mà không lấy được, mắc tội thâu-lan-giá.
Sản
nghiệp chung:[106] tài vật kiếm được do sự nghiệp chung
cần phải chia chung, có giá trị năm tiền hoặc hơn năm tiền,
nếu lấy với tâm trộm cắp, phạm ba-la-di. Phương tiện muốn
lấy mà không lấy được, mắc tội thâu-lan-giá.
Cùng
hẹn:[107] cùng với người khác giao ước, lúc nào đó đi,
lúc nào đó đến; hoặc đục vách lấy của, hoặc giữa đường
cướp lấy, hoặc đốt cháy; từ đó được tài vật chung.
Những vật ấy có giá trị năm tiền hoặc hơn năm tiền,
nếu lấy với tâm trộm cắp, phạm ba-la-di. Phương tiện muốn
lấy mà không lấy được, mắc tội thâu-lan-giá.
Dò
xét: «Tôi sẽ đến quan sát thôn kia; hoặc thành ấp, chỗ
thuyền đò, hang núi, hoặc chỗ dân cư, chỗ chợ quán, nơi
làm việc.» Những tài vật thu được từ những nơi đó thành
của chung, có giá trị năm tiền hoặc hơn năm tiền, nếu
lấy với tâm trộm cắp, phạm ba-la-di. Phương tiện muốn
lấy mà không lấy được, mắc tội thâu-lan-giá.
Canh
giữ: «Tôi sẽ canh giữ tài vật kiếm được từ bên ngoài.
Những vật kiếm được chia chung.» Những vật ấy có giá
trị năm tiền hoặc hơn năm tiền, nếu lấy với tâm trộm
cắp, phạm ba-la-di. Phương tiện muốn lấy mà không lấy được
mắc tội thâu-lan-giá.
Canh
đường: «Tôi sẽ canh gác nơi đường. Nếu có quân của
nhà Vua đến, quân của giặc đến, quân của trưởng giả
đến sẽ báo cho nhau biết. Tài vật kiếm được sẽ chia
chung.» Những vật ấy có giá trị năm tiền hoặc hơn năm
tiền, nếu lấy với tâm trộm cắp, phạm ba-la-di. Phương
tiện muốn lấy mà không lấy được mắc tội thâu-lan-giá.
Nếu
phương tiện tìm cầu hơn năm tiền, được hơn năm tiền,
thành ba-la-di. Nếu phương tiện tìm cầu hơn năm tiền mà
được năm tiền, thành ba-la-di. Nếu phương tiện tìm cầu
hơn năm tiền được dưới năm tiền, thâu-lan-giá. Nếu phương
tiện tìm cầu hơn năm tiền mà không được, thâu-lan-giá.
Nếu phương tiện tìm cầu năm tiền mà được hơn năm tiền,
thành ba-la-di. Phương tiện tìm cầu năm tiền mà được dưới
năm tiền, thành thâu-lan-giá. Phương tiện tìm cầu năm tiền
mà không được, thành thâu-lan-giá. Phương tiện tìm cầu
dưới năm tiền, được hơn năm tiền, thành ba-la-di. Phương
tiện tìm cầu năm tiền mà được, thành ba-la-di. Phương tiện
tìm cầu dưới năm tiền, được dưới năm tiền, thành thâu-lan-giá.
Phương tiện tìm cầu dưới năm tiền mà không được, đột-kiết-la.
Sai
người phương tiện tìm cầu năm tiền, được hơn năm tiền,
cả hai đều phạm ba-la-di. Phương tiện sai người tìm cầu
hơn năm tiền, được năm tiền, cả hai đều phạm ba-la-di.
Phương tiện sai người tìm cầu năm tiền, được dưới năm
tiền cả hai đều phạm thâu-lan-giá. Phương tiện sai người
tìm cầu hơn năm tiền mà không được, cả hai đều phạm
thâu-lan-giá. Phương tiện sai người tìm cầu năm tiền, được
hơn năm tiền, cả hai đều phạm ba-la-di. Phương tiện sai
người tìm cầu năm tiền, mà được năm tiền, cả hai đều
phạm ba-la-di. Phương tiện sai người tìm cầu năm tiền, mà
không được dưới năm tiền, cả hai đều phạm thâu-lan-giá.
Phương tiện sai người tìm cầu năm tiền, mà không được,
cả hai đều phạm thâu-lan-giá. Phương tiện sai người tìm
cầu dưới năm tiền mà hơn năm tiền, người lấy phạm ba-la-di;
người dạy phạm thâu-lan-giá. Phương tiện sai người tìm
cầu dưới năm tiền, được năm tiền; người lấy phạm
ba-la-di; người dạy phạm thâu-lan-giá. Phương tiện sai người
tìm cầu dưới năm tiền, được dưới năm tiền, cả hai
đều phạm thâu-lan-giá. Phương tiện sai người tìm cầu dưới
năm tiền mà không được, cả hai đều phạm đột-kiết-la.
Phương tiện sai người tìm cầu năm tiền hoặc hơn năm tiền;
nhưng người được dạy lấy vật khác; người lấy phạm
ba-la-di, người dạy phạm thâu-lan-giá. Phương tiện sai người
tìm cầu năm tiền, hoặc hơn năm tiền; nhưng người nhận
lời dạy lại lấy vật ở chỗ khác, người lấy phạm ba-la-di,
người dạy phạm thâu-lan-giá. Phương tiện sai người tìm
cầu năm tiền hoặc hơn năm tiền; người nhận lời dạy
là người bị sai chứ không có tâm trộm cắp, lấy được
năm tiền hoặc hơn năm tiền, người dạy phạm ba-la-di, kẻ
bị sai không phạm. Nếu sai người lấy vật,[108] người nhận
lời dạy hiểu là dạy lấy trộm; nếu lấy được trị giá
năm tiền hoặc hơn năm tiền, người nhận lời dạy phạm
ba-la-di, người dạy không phạm.
Có
chủ, biết rõ là có chủ, không cho mà lấy, trị giá năm
tiền hay hơn năm tiền, phạm ba-la-di. Nghi là có chủ, lấy
năm tiền hoặc hơn năm tiền, phạm thâu-lan-giá. Không chủ,
tưởng có chủ, lấy năm tiền hoặc hơn năm tiền phạm thâu-lan-giá.
Không chủ tưởng có chủ, lấy năm tiền hoặc hơn năm tiền
phạm thâu-lan-giá. Nghi là vật không chủ, lấy năm tiền hoặc
hơn năm tiền, phạm thâu-lan-giá. Lấy vật có chủ, tưởng
vật có chủ, dưới năm tiền, phạm đột-kiết-la. Không chủ
tưởng là có chủ lấy dưới năm tiền phạm đột-kiết-la.
Nghi là vật không chủ lấy dưới năm tiền phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
ba-la-di. Thức-xoa-ma-na, sa-di, Sa-di-ni: đột-kiết-la, tẫn xuất.
Đó là phạm.
Sự
không phạm: lấy với ý tưởng được cho, tưởng là của
mình, với ý tưởng là đồ vất bỏ, với ý tưởng tạm
lấy, với ý tưởng là thân hữu... tất cả những trường
hợp trên không phạm.
Người