ở
Việt Nam, truyền thống yêu nước, truyền thống chiến đấu
chống ngoại xâm, truyền thống đoàn kết trong tình làng nghĩa
nước... hợp thành trận tuyến tư tưởng tích cực, có tác
động đến quá trình tiến triển của nền tư tưởng Việt
Nam. Những võ khí tư tưởng của giai cấp thống trị (và
của bọn phong kiến xâm lược Tống, Nguyên, Minh, Thanh) chưa
bao giờ đập nát được bức trường thành của nhân dân,
chưa bao giờ bẻ gãy ý chí yêu nước, yêu tự do, độc lập.
Cuộc sống của con người Việt Nam vẫn tràn đầy lạc quan
trong đau thương:
“Mạc
vị xuân tàn hoa lạc tận,
Đình
tiền tạc dạ nhất chi mai”1
(Chớ
bảo xuân tàn hoa rụng hết,
Đêm
qua sân trước nở cành mai).
Thơ
của một nhà triết học phong kiến thời Lý, Mãn Giác thiền
sư (1051-1096), cũng toát ra phẩm chất lạc quan: phủ định
cái suy tàn của quá khứ, và khẳng định mầm nụ tươi lành
của tương lai.
Tượng
Phật A Di Đà (Amitabha Bouddha) ở chùa Phật Tích (Hà Bắc,
1057) nưh cùng với dân tộc Việt Nam sống mãi. Đây là pho
tượng Phật duy nhất (tạc bằng đá) mà thời Lý còn
truyền lại đến ngày nay. Những bước thăng trầm của đất
nước như lùi vào dĩ vãng. Điêu tàn, đổ nát còn đó đây.
Nhưng đất nước sẽ “đàng hoàng hơn”, sẽ “to đẹp
hơn”. Đó vẫn là chân lý. Có phải cha ông ta ngày xưa thờ
Phật A Di Đà với ý muốn khẳng định những chân lý của
tương lai?
“Từ
cõi trần này sang cõi cực lạc thế giới (Sukhâvati)... ở
đấy có đức Phật A Di Đà hiện đang thuyết pháp để giáo
hóa chúng sinh. Mà chúng sinh trong cõi ấy không có mọi sự
khổ đau, mà chỉ hưởng mọi sự sung sướng”2. Phật Thích
Ca Mầu Ni thuyết giáo như vậy. Thế lực phong kiến Việt
Nam thời Lý quả đã khéo ru ngủ quần chúng bằng hình tượng
đức Phật A Di Đà.
Song
mặt khác, hình tượng ấy lại chứa đựng một niềm tin
ở tương lai. Con người Việt Nam thời Lý đi vãng cảnh chùa
Phật Tích để ngưỡng mộ đức Phật A Di Đà ngự trong tòa
bảo tháp, để hướng niềm suy tưởng tới phép “định
tâm”, để tìm đến cõi “cực lạc thế giới”. Phật
ngồi đó, bất động, “định tâm”. “Tâm” tức là “Phật”,
mà “Phật” lại là “tâm”. Cái lối tu hành “tham thiền
nhập định” là khuôn mẫu dâng cuộc đời con người cho
đức Phật. Và ở thời Lý, nhận thức luận Phật giáo của
phái Thiền Tông3, về cơ bản, coi thường thể xác, đề cao
cái tâm, xóa đi cái cũ, hướng vào cái mới ở tương lai:
“Thân
như tường bích dĩ đồi thi,
Cử
thể thông thông thục bất di.
Nhược
đạt tâm không vô sắc tướng,
Sắc
không ẩn hiện nhiệm suy di”4.
(Thân
người chế như bức vách đổ nát
Trước
cái chết, ai cũng hấp tấp, ai cũng thương cảm
Song
nếu hiểu cái lẽ “cõi lòng là hư không, không có sắc
tướng”
Thì
đối với cái chết, không còn bi thương gì cả).
Rõ
ràng là phẩm giá con người – dù cho phẩm giá ấy đượm
tinh thần Phật giáo – vẫn được đề cao. Và con người,
muốn có phẩm giá cao, phải hành hương đến đất Phật,
đến cõi “cực lạc thế giới”, đến chùa. Vậy thì nội
dung của hình tượng đức Phật A Di Đà là niềm vui sướng
loại trừ khổ đau, là siêu lực của lòng nhân từ bác ái.
Đó là một nội dung tổng hợp. Nội dung ấy được diễn
tả bằng một ngôn ngữ điêu khắc đặc biệt. ở Phật Tích,
tượng Phật A Di Đà được tạc bằng đá xanh, coa 1,84m. Bố
cục dựa hẳn vào nội dung “tâm định”. Phật ngồi bất
động, áo cà sa chảy mềm trên tấm thân, mặt hơi cúi xuống,
đôi tay thuôn thả buông và kết lại bằng hai bàn tay để
trước bụng. Có một khuôn mẫu sẵn cho lối tạc tượng
Phật A Di Đà trong nghệ thuật tạo tượng Phật ở Trung Quốc,
ở ấn Độ. Khuôn mẫu ấy hiện rõ ở tỷ lệ giữa mặt
và toàn thân, giữa cái miệng và đôi mắt, giữa đôi tai
và chiếc5.
Song,
pho tượng A Di Đà chùa Phật Tích có những sắc thái riêng
của Việt Nam. Thân hình toát lên cái đẹp hoàn toàn nữ tính.
Khuôn mặt thanh khiết, với vầng trán đều đặn, với đôi
lông mày mảnh và cong, với đôi mắt mơ màng hơi cúi
nhìn. Mũi thẳng. Miệng nhỏ thoảng một nụ cười kín đáo.
Với đôi má bầu bĩnh, với cổ cao thon ba ngấn, khuôn mặt
đức Phật A Di Đà thật đẹp, thật đôn hậu. Nội dung “tâm
định” của đức Phật hòa với vẻ duyên dáng, đoan trang
của phái nữ. Thân bất động – chứa đựng ý niệm “thân
định” – của đức A Di Dà lại ánh lên cái vẻ đẹp tỏa
ra từ đôi vai đều đặn, từ đôi tay mềm mại của người
trinh nữ. Và chiếc áo cà sa – một chi tiết khá nổi bật
của pho tượng - được trải mềm lên tấm thân óng ả ấy.
Nhịp điệu của những đường con gợi lên chất lụa mỏng,
chất lụa lung linh như khẽ lay động. Và, qua nội dung “tâm
định”, qua ngoại hình “thân định” được diễn tả
thật khéo léo ấy, bản nhạc “thiền định” trầm hùng
– vốn là nội hàm tổng hợp của pho tượng – bỗng vút
ra ngoài, tràn đầykhông gian. Bản nhạc ấy hòa vào lòng người,
cùng với nhịp điệu nhẹ nhàng, bay bổng của tòa sen, sóng
nước và những con rồng...
Nước
Đại Việt thời Lý đã lấy “nghề nông làm gốc”6 thì
người Đại Việt luôn luôn cầu mong cho “mưa nắng
hợp thời, cac vì sao đi thuận độ số”2. Con rồng là hình
tượng tổng hợp những nếp suy nghĩ chắc hẳn lâu đời,
nhưng trước kia e còn tản mạn của người Việt về nguồn
gốc tổ tiên, về nguồn mưa và gió, về nguồn sức mạnh
hộ trì cho quốc gia, cho muôn người muôn vật.
Tượng
A Di Đà chùa Phật Tích được tôn vẻ cao quý bởi một bệ
tượng tòa sen chạm hình rồng và sóng nước (bệ cao 0,85m),
Những đôi rồng “lưỡng hợp” trên mỗi cánh sen. Những
con rồng vờn trên bệ tượng và nô đùa trên sóng nước.
ở đây, trong tổng thể tượng và bệ tượng, dường như
canưg lên thế đối lập giữa cái bất động của Phật và
cái di động của nước, của rồng trên sóng nước. Vận
dụng của thiên nhiên (nước) và vận động của tinh thần
con người, kể cả tiềm thức về giống nòi (rồng) là những
vận động thường xuyên nâng giá trị của yếu tố tư tưởng
mới (Phật giáo). Đức Phật A Di Đà không thể tồn tại
như là một biểu tượng lớn trong ý thức tôn giáo và xã
hội của người Đại Việt, nếu thiếu vận động của những
yếu tố thuộc tồn tại khách quan (như nước) và những yếu
tố thuộc tồn tại chủ quan, dưới dạng các hình tượng
sản sinh từ nếp tư duy cổ truyền của người Việt (như
rồng). Thực tính Việt Nam của pho tượng A Di Đà chùa Phật
Tích như được tinh thần Việt Nam nâng lên tòa sen, trên sóng
nước.
Qua
nghiên cứu, chúng ta còn biết rằng pho tượng A Di Đà chùa
Phật Tích được đặt ở tầng dưới của một ngôi bảo
tháp xây bằng đá và gạch, cao 13 tầng (hơn 30m). Theo quan
không chỉ là nơi thời Lý, bảo tháp không chỉ là nơi thờ
Phật. Bảo tháp còn là nơi cầu mưa, cầu nắng, cầu cho “trăm
thóc giống dồi dào”, cho “nền xã tắc vững bền trong
ức tuổi”, cho “dân chúng giàu có, cõi đời yên ổn thanh
tân, văn hóa cùng một nghi thức...”7.
Trong
một hệ tư duy còn nhiều hơi hướng “nguyên thủy” trong
chừng mực còn chấp nhận mối thông quan giữa con người
với thiên nhiên -, pho tượng A Di Đà ở Phật Tích đã cố
vượt lên để phản ánh kỳ được nội dung cơ bản của
tư tưởng Phật giáo: nội dung hướng con người vào “lòng
thiện”, hướng cái “tâm” vào “cõi hư vô” ở “cực
lạc thế giới”. Đồng thời, chính cũng hệ tư duy ấy đã
khiến cho ngoại hình pho tượng lại chịu sự chi phối của
nội dung “cõi đời, một cõi đời cần “yên ổn thanh tân”,
chịu sự chi phối của lòng đau thiết đối với một “nền
xã tắc”, một nền xã tắc cần “vững bền trong ức tuổi”.
Thành
công của tập thể nghệ sĩ điêu khắc thời Lý chính là
ở chỗ diễn tả được nội dung của tư tưởng thời đại.
Cốt lõi của tư tưởng ấy là Phật pháp. Song, cốt lõi đó
lại bị chi phối bởi các khía cạnh khác nhau của hệ tư
tưởng cổ truyền Việt Nam: ý thức về cuộc sống (cõi đời),
về quốc gia (nền xã tắc), về đất (trăm thóc giống dồi
dào), về nước, về nền văn hóa dân tộc (chung một nghi
thức), và về dân. Pho tượng Phật A Di Đà chùa Phật Tích
thắm đượm những ý thức ấy. Và cái đẹp của nó toát
ra trong sự thống nhất của những yếu tố đối lập: tư
thế bất động của Phật, nhịp chuyển động của các biểu
tượng nói lên ý thức cổ truyền về tổ tiên (rồng), về
đất nước (nước) và dòng năng động ngầm chảy trong cơ
thể nhân tính (nữ tính) của Phật.
Tượng
đẹp ở hình khối và đường nét. Hình khối được sắp
xếp đều đặn theo tuyến vút thẳng từ dưới lên trên.
Bệ bát giác gắn bó với tòa sen hình bầu dục, để rồi
tỏa lên trên đỉnh đầu của pho tượng. Tuyến vút lên của
toàn bộ pho tượng đã ăn nhập với chiều cao của ngôi tháp
tứ diện ngày xưa, và chính sự thống nhất ấy lại tạo
ra một tác động lớn đến những con người đi lễ, gây
cho họ khái niệm về cõi “cực lạc thế giới”.
Tượng
Phật chùa Quỳnh Lâm, tượng Phật ở tháp Báo Thiên, Tháp
Sùng Thiện Diên Linh, tháp Vạn Phong Thành Thiện và hàng nghìn
pho tượng Phật khác tạc ra ở thời Lý, nay không còn. Phật
A Di Đà chùa Phật Tích xứng đáng là một báu vật của lịch
sử điêu khắc Việt Nam.
Sau
thời hưng thịnh của Nho giáo hồi thế kỷ XV, đến các thế
kỷ XVI – XVII – XVIII, đạo Phật lại trở về với nghệ
thuật điêu khắc. Trong các chùa thời Mạc, thời Lê trung
hưng, thời Lê mạt, tượng Phật trở nên đa dạng hơn. Ngoài
các bệ tương tam bảo, tượng Di Đà tam tôn, tượng Phật
Thích Ca (lúc mới sinh, lúc thành đạo, lúc còn tu luyện ở
núi Tuyết v.v...), tượng Phật Di Lặc... các chùa còn thờ
tượng Phật bà Quan Âm nghìn mắt nghìn tay.
Thế
kỷ XVI để lại cho lịch sử điêu khắc một pho tượng Phật
bà Quan Âm nghìn mắt nghìn tay ở chùa Hạ (Vĩnh Phú)8. Đó
là một pho tượng bằng gỗ mít, cao 3,20m (cả bệ). Quan Thế
Âm bồ tát (Avalokitésvara Boudhisativa) là vị đại bồ tát
giàu lòng từ bi, hay cứu khổ cứu nạn cho chúng sinh. Người
cùng với Đại Thế Chí bồ tát (Mahasthanaprâta Bouhisattva)
giúp Phật A Di Đà (Amitabha Bouddha) cứu độ chúng sinh
lên “cõi cực lạc thế giới”. Trong các ngôi chùa thời
Lê, nếu thấy có ba bộ ấy, thì đó là bộ Di Đà tam tôn.
Theo kinh Phật, thuyết A Di Đà, thì Quan Thế Âm bồ tát có
tài biến hóa thành diệu sắc. Nghìn mắt nghìn tay là một
trong những diệu sắc ấy.
Vào
thời Lê - Mạc (thế kỷ XVI), khi nội bộ giai cấp thống
trị phong kiến tranh giành quyền vị, thì quần chúng lao động
điêu đứng vì chiến tranh phong kiến, vì sưu cao thuế nặng.
Con người Việt Nam thời đó đã gửi cái “tâm” của mình
cho đức Phật Quan Âm. Hình tượng Phật bà có nghìn mắt
(để thấu hết mọi khổ cực của chúng sinh), có nghìn tay
(để mang lại nghìn điều lành cho chúng sinh) là một hình
tượng huyền thoại. Hình tượng ấy thể hiện ước mơ của
quần chúng lao động. Tượng Phật bà mang nội dung huyền
thoại và phản ánh ước mơ, cho nên kết cấu tạo hình được
phát triển theo tuyến biểu tượng. Nghệ nhân có thể tạc
8 tay (tối thiểu), 16 tay, hay 32 tay (như tượng Phật bà thời
sau). Có pho tượng gần 1000 tay (Tượng Phật bà Quan Âm ở
chùa Bút Tháp, Hà Bắc, tạc xong năm 1656), thậm chí hơn 1000
tay (tượng Phật bà Quan Âm ở chùa Tam Sơn, Hà Bắc, tạc
cuối thế kỷ XVIII). Nhưng dù ít hay nhiều tay, pho tượng
vẫn toát lên bản chất “đại từ đại bi” của đức
Phật, của một sức “linh cảm” luôn luôn “tầm thanh cứu
khổ” cho chúng sinh. Bao giờ Phật cũng ngự trên tòa sen đặt
lên đầu loài quỷ dữ. Mỗi bàn tay bấm một “độn quyết”,
nhằm phán xét một điều dữ hoặc tầm cứu một điều lành.
ý đồ ấy được diễn tả bằng những cách khác nhau ở
các giai đoạn lịch sử khác nhau.
Trở
lại pho tượng Phật bà Quan Âm ở chùa Hạ (thế kỷ XVI),
chúng ta thấy rõ lối biểu hiện hình tượng thật giản đơn.
Phật bà ngồi “thân định, hai tay chắp trước ngực (hai
bàn tay chính, thuộc “nhân thể”), khuôn mặt bầu bầu còn
vướng nhiều nét trần tục. Nếu không có những cánh tay
phụ, thì phẩm chất “người” của pho tượng rất rõ ràng.
ở đây, tính biểu tượng chỉ tập trung ở 40 cánh tay phụ.
Đôi tay thứ nhất đặt vào lòng, ngón tay trỏ đang bấm vào
ngón tay cái. Mười chín đôi tay khác tỏa ra hai bên, trong
lòng mỗi bàn tay có một bảo vật: gương, bình nước cam
lồ, ngọc trai, mô hình tháp v.v... Trên 40 cánh tay phụ là
làm tăng nội dung Phật giáo của pho tượng. Đồng thời,
hình ảnh những cánh tay nhiệm mầu ấy tác động trực tiếp
đến tình cảm của người ngưỡng mộ.
“Thấu
cái lẽ thân là vô nghĩa, thì cái tâm mới là thực nghĩa”9.
Đôi tay chính chắp trước ngực thâu tóm toàn bộ thể đồng
nhất của “thân” – “tâm”. Đôi tay phụ đặt trong lòng
tượng trưng cho việc thuyết pháp. Mười chín đôi tay còn
lại là biểu tượng thể hiện những “diệu tướng” của
đức Phật bà Quan Âm (đúng hơn là của Quan Thế Âm bồ tát:
Avalokitésvara Boudhisattva). Nhưng, nét dị dạng của “thân”
– nghĩa là sự sản sinh ra thêm 20 đôi tay – không có nghĩa
gì, vì nét dị dạng ấy phụ thuộc vào bản thể “tâm định”
của Đức Phật, mà bản thể đó lại được diễn tả qua
tư thế “thiền định” của Người, với đôi tay chính
thu hút toàn bộ cái “tâm” vào cõi lòng với một khuôn
mặt từ bi.
Một
mặt quỷ nhô lên khỏi sóng nước, hai tay đỡ tòa sen. Đội
tòa sen còn có một đôi rồng. Quỷ và rồng – những yếu
tố dị giáo - đều trở thành bệ đỡ cho đức Phật. Trên
đài sen chỉ có Kim Đồng, Ngọc Nữ theo hầu. Đó là hai tượng
nhỏ cũng được tạc theo lối biểu trưng.
Đọc
qua vài dòng kinh Phật, chúng ta biết rằng Quan Thế Âm bồ
tát là con trai vua Vô Trách Niệm, mà vua Vô Trách Niệm lại
chính là đức Phật A Di Đà ở “cực lạc thế giới”10.
Còn nếu tin vào lời Đạo Tuyên luật sư thời Nguyên (Trung
Quốc), thì Phật bà Quan Âm chính là nàng công chúa thứ ba,
tên là Diệu Thiện, con vua Hoa Nghiêm và hoàng hậu Bảo ứng11.
Dựa
trên những bản kinh ấy, ở Trung Quốc lưu hành tích truyện
kể rằng Phật bà Quan Âm chính là nàng Ba, con vua Sở Trang
Vương. ở Việt Nam, truyền thuyết về Phật Bà Quan Âm có
cốt lõi tương tự, song, về chi tiết, đã khác. Vẫn là nàng
Ba, nhưng nàng Ba là con vua nào? Không rõ. Nàng rời kinh đô,
vào động Hương Tích12 tu luyện Phật pháp. Khi nàng qua bến
Đục, quỹ dữ hiện lên thành anh lái đò để trêu ghẹo
nàng. Nàng hóa phép biến anh lái đò hiện nguyên hình quỷ
dữ đội tòa sen. Phật bà ngự trị trên tòa sen ấy mà vào
động Hương Tích. Hình tượng quỷ dữ đội tòa sen là một
hình tượng phù trợ, một hình tượng bổ sung cho tổng thể
pho tượng Phật bà Quan Âm. Hình tượng ấy chính là điểm
sáng tạo trong nghệ thuật tạo tượng Phật bà ở Việt Nam.
Cho
mãi tới đầu thế kỷ XX, nghệ nhân Việt Nam vẫn giữ truyền
thống tạo tượng Phật bà Quan Âm. Nhưng, đỉnh cao của loại
tượng này phải là pho tượng chùa Bút Tháp (Hà Bắc, 1656).
Tiếp đến là pho tượng ở chùa Tam Sơn (Hà Bắc, cuối thế
kỷ XVII), pho tượng ở chùa Bối Khê (Hà Tây, đầu thế kỷ
XVIII). Tượng Phật bà Quan Âm chùa Hạ có giá trị riêng của
một thác bản cổ nhất thuộc loại tượng Phật bà trong
nền điêu khắc tượng Phật ở Việt Nam, đồng thời nó
còn chứa đựng nhiều phẩm chất nghệ thuật: bố cục rõ
ràng hình khối và đường chạm giản đơn.
Vào
thời Lê mạt, trong cuộc đấu tranh giữa thế lực phong kiến
suy tàn và quần chúng lao động, những tư tưởng dân chủ
ngày càng phát triển, khuynh hướng nhân văn trong hệ tư tưởng
thời đại nảy sinh. Cốt lõi của các chiều hướng tiến
bộ trong hệ tư tưởng thế kỷ XVIII là tính chiến đấu
của nhân dân. Trong nghệ thuật tạo hình tượng Phật thời
này, khuynh hướng nhân văn khá rõ. Khuynh hướng ấy được
thể hiện qua nội dung “nhân thể” trong các pho tượng Phậ
Tuyết Sơn.
Tuyết
Sơn (Cautama) chính là thái tử Tất Đại La (Siddharia), con vua
Tịnh Phạm (Suddhodana) ở nước Ca Tỳ La Vệ (Kapilavastu). Thái
tử bỏ nhà đi tu, về sau thành Phật Thích Ca (Cakyamuni). Thời
kỳ tu khổ hạnh 6 năm ở núi Tuyết (Gaya) là thời kỳ đấu
tranh khốc liệt trong nội tâm của một con người muốn vượt
lên bản ngã, muốn thành Phật. Đó là cuộc đấu tranh chống
lại sức cám dỗ của vật chất (thái tử chỉ ăn mỗi ngày
một hạt kê và một hạt vừng, và cứ thế kéo dài trong
6 năm). Đó là cuộc đấu tranh để giành lấy sức mạnh thiêng
liêng của chân lý bất sinh bất diệt, giành lấy “đạo”
của “tâm”. Đó là cuộc đấu tranh giữa tinh thần và vật
chất. Đó là thời kỳ tu khổ hạnh (dhuta) của Phật Thích
Ca.
Tại
chùa Bút Tháp (Hà Bắc) còn một pho tượng Phật Tuyết Sơn
(thế kỷ XVII). ở pho tượng này, bản chất Phật đã chiến
thắng sức cám dỗ của vật chất. Cơ thể gày còm khiến
chúng sinh nghĩ đến sáu năm tu khổ hạnh của Phật. Song,
dáng ngồi “tâm định” của Tuyết Sơn, vầng trán, đôi
mắt... đã thuộc bản thể Phật rồi. Trái lại, khi chiêm
ngưỡng Tuyết Sơn (cuối thế kỷ XVIII) ở chùa Tây Phương
(Hà Tây), chúng ta thấy cuộc đấu tranh giữa tinh thần và
vật chất như còn tiếp diễn trong pho tượng. Dáng ngồi của
nhà hiền triết, vầng trán chứa đựng biết bao suy nghĩ,
đôi mắt trầm tư. Cái khổ hạnh của một con người đã
trải qua những năm tháng chống lại sức cám dỗ của vật
chất như hẳn lên tấm thân gầy khô, trên làn da teo lại,
trên bộ ngực bày đủ các xương sườn. Đà vươn lên của
sức mạnh tinh thần in sâu vào khuôn mặt, trong cái nhìn trầm
lắng, trong bộ não mẫn cán. Cái dáng ngồi hiền nhân ấy
khẳng định bản thể con người, một con người đang vận
động các tuyến đấu tranh nội tâm, mong đạt đến chân
lý của cuộc đời (không nhất thiết phải là chân lý của
Phật pháp).
Vận
động đi lên của phong trào nông dân thế kỷ XVIII rõ ràng
đã tác động trực tiếp đến triết lý tạo tượng ở cuối
thế kỷ này. Mượn một quãng đời của đức Phật – một
quãng đời còn vướng nhiều trầm luân - để diễn tả sức
mạnh tinh thần của con người, diễn tả chiến thắng của
tinh thần ấy trước những khó khăn vật chất do cuộc sống
đầy dẫy thối nát ở thế kỷ XVIII mang lại, đó là nội
dung chính của hình tượng Tuyết Sơn chùa Tây Phương. ở
đây, lần đầu tiên trong nghệ thuật tạo tượng Phật ở
Việt Nam, một mối mâu thuẫn gay gắt đang diễn ra giữa “thân”
và “tâm”.
Thời
trước, Viên Chiếu thiền sư (998-1090) mượn ý Phật mà cho
rằng cái “thân” không có gì đáng kể, còn cái “tâm”
là vĩnh cửu, bởi vậy nên hình tượng Phật A Di Đà thuở
ấy (Lý) cứ sừng sững như một khối thống nhất “thân
– tâm”. Còn ở Tuyết Sơn của thế kỷ XVIII tại chùa Tây
Phương , cái “thân” tràn đầy chất “người” và cái
“tâm” là tầm “tư tưởng” của con người. Trong bản
thể con người ấy, đang diễn ra cuộc đấu tranh nội tại
để bảo vệ chân lý cuộc đời, bảo vệ nhân phẩm, chống
lại sức cám dỗ vật chất. Người xem không hướng dòng
suy nghĩ đến cái “tâm” thuần túy siêu thực của Phật
pháp. Ngay phút đầu tiên, trong trái tim họ nhói lên một nỗi
đau, nỗi đau nhân loại:
“Đây
vị xương trần chân với tay
Có
chi thiêu đốt tấm thân gầy
Trầm
ngâm đau khổ sâu vòng mắt
Tự
bấy ngồi y cho tới nay”13.
Đau
cho cái “thân” héo mòn, đau cho một kiếp người. Tấm thân
Tuyết Sơn chùa Tây Phương đã tỏ ra có một bản chất “nhân
thể” rất có ý nghĩa. Và sự tồn tại của tấm thân ấy
– dù gầy mòn – là điểm tựa cho sự tồn tại của cái
“tâm”, cái “nhân tâm”, hay nói khác đi, là tư tưởng,
là đạo lý làm người.
Trong
pho tượng Tuyết Sơn chùa Tây Phương, cái “thân” không
bị phủ định, mà còn được tạo ra bằng sức mạnh của
các tuyến vận động: tuyến ngang của những chiếc xương
sườn, tuyến thẳng đứng của các chân co lên, tuyến thẳng
góc với các xương sườn, tức tuyến của cánh tay đặt trên
đầu gối. Và đó chính là tấm thân của một con người,
một con người có nghĩa, bởi vì trí tuệ của con người
ấy đang vận động theo hướng thực thể của tư duy, chứ
không phải là trí tuệ siêu linh của đức Phật. ở đây,
tìm bản thể Việt Nam trong pho tượng Tuyết Sơn là tìm ở
chỗ đồng hóa được những nét siêu linh cuả tư tưởng
Phật giáo với bản chất thực thể của trí tuệ con người,
con người biết đau bằng nỗi đau của đồng loại, con người
biết nghĩ về một cuộc sống trầm luân. Mà cuộc sống ấy
lại là hiện thực khách quan thời Lê mạt, cái thời “bể
dâu”, “trông thấy mà đau đớn lòng”.
Trong
nền điêu khắc cổ Việt Nam, chúng ta còn bắt gặp nhiều
loại tượng Phật khác. Tượng Phật Thích Ca mới sinh (Cửu
Long), tượng Phật Thích Ca thành đạo (tạc theo hai tư thế:
đứng và ngồi), tượng Phật Thích Ca thuyết pháp, tượng
Phật Thích Ca nhập Niết Bàn, tượng Phật Di Lặc, tượng
Tam Bảo, tượng Phật Quan Âm tọa sơn, tượng Phật Quan Âm
tọa sơn, tượng Phật Quan Âm tống tử (Quan Âm Thị Kính)
v.v... Tuy nhiên tính chất phổ biến của các loại tượng
ấy trong các ngôi chùa Việt Nam không tăng trọng lượng cho
phẩm chất dân tộc của nghệ thuật điêu khắc. Nội dung
Phật giáo của các loại tượng này được thể hiện bằng
những khuôn mẫu cố định. Chúng quá nghiêm trang, kém tính
chất sáng tạo, nói chung không đặc sắc lắm14.
Dễ
dàng nhận ra những giáo điều tạo tượng theo mẫu mực Trung
Quốc trên các loại tượng Phật Thích CA thành đạo (đứng
hay ngồi), Phật Thích Ca thuyết pháp. Và cũng dễ nhận ra
sự tương đồng giữa tượng Phật Thích Ca nhập Niết Bàn
(tư thế nằm) ở các chùa Việt Nam và những pho tượng thờ
tại các chùa lớn ở Lào, Thái Lan, Miến Điện v.v...
Đạo
Phật thuộc loại tôn giáo quốc tế. Nghệ thuật tạo tượng
Phật ở các nước châu á rõ ràng có những yếu tố cơ bản
giống nhau. Tuy nhiên, trên bước đường hòa đồng với những
sắc thái tinh thần riêng của dân tộc, triết lý Phật giáo
ở nước ta lại mang những yếu tố đặc thù, mà văn học
thời Lý – Trần và các thời sau đã phản ánh. Nghệ thuật
tạo tượng Phật ở Việt Nam cũng phát triển theo hướng
khẳng định những nguyên tắc chung của điêu khắc Phật
giáo. Song, qua bàn tay các nghệ nhân xưa, những hình tượng
Phật trong các chùa Việt Nam lại chứa đựng một số sắc
thái riêng.
Sự
kết hợp tài tình triết lý Phật giáo với những quan niệm
cổ truyền về “đất”, “nước”, “con người” v.v...
để quy nội dung tư tưởng chính cho hình tượng đức Phật
A Di Đà ở chùa Phật Tích (Hà Bắc), là một sáng tạo lớn
của tập thể nghệ nhân điêu khắc thời Lý. Những yếu
tố huyền thoại trong hình tượng Phật bà Quan Âm ở chùa
Hạ (thế kỷ XVI), chùa Bút Tháp (1656), chùa Bối Khế (thế
kỷ XVIII), không xoa dịu nỗi lòng sầu khổ của nhân dân
Việt Nam hồi ba thế kỷ ấy, song tổng thể hình tượng của
Người vẫn là hình tượng một đấng “thế tôn” tượng
trưng cho ước mơ của bao người lao khổ: ước mơ hướng
tới điều “thiện” và tiêu diệt những điều “ác”.
Vả chăng, các pho tượng Phật bà Quan Âm lại chứa chan huyền
hoặc, khiến cho tư tưởng của con người Việt Nam ở các
thế kỷ XVI – XVII – XVIII dù tích cực vẫn chịu bay
bổng theo những ước mơ?
Song
cũng tại các đình chùa Việt Nam thời bấy giờ, người nghệ
nhân đã đưa vào nghệ thuật trang trí một luồng gió mới,
bằng cách diễn tả và khẳng định cuộc sống thật của
con người Việt Nam ở làng xã, diễn tả một cuộc sống
hợp quần, vui vẻ, nhưng không thiếu nỗi khổ cực nhọc
đắng cay: cảnh dựng nhà, cày ruộng, đấu vật, đua thuyền,
chọi gà, chọi trâu, vui chơi, chè chén... Cảnh lam lũ của
những người mẹ bên đàn con thơ, cảnh quan quân cướp bóc,
cảnh đa thê... Hình như có sự tương phản giữa hai dòng
trong nghệ thuật điêu khắc thời này. Phải chăng trận tuyến
đấu tranh giai cấp mà một bên là thế lực phong kiến, và
bên kia là quần chúng lao động, đã quy định sự phân hóa
của nền điêu khắc Việt Nam thời ấy? Những đề tài sinh
hoạt, những khối vuông, tròn, cục mịch mà sống động,
những đường cham khỏe mạnh, gân guốc đã tạo ra một phong
cách nghệ thuật đầy tinh thần lạc quan.
Chính
những yếu tố của phong cách nghệ thuật dân gian đầy tính
hiện thực, tính chiến đấu và tính lạc quan ấy đã ảnh
hưởng đến lối tạo tượng Phật Tuyết Sơn (cùng các vị
tổ và Kim Cương) ở chùa Tây Phương. Bản chất “nhân thể”
của Phật Tuyết Sơn, sự vận động nội tại của cuộc
đấu tranh giữa tinh thần và vật chất trong con “người”
Tuyết Sơn là một nội dung có tính tư tưởng cao của hình
tượng Phật. Tính tư tưởng ấy xuất hiện trên cơ sở kế
thừa truyền thống nghệ thuật dân gian thấm chất hiện thực
trong điêu khắc trang trí đình chùa các thế kỷ XVI, XVII,
XVIII. Đồng thời, vào cuối thế kỷ XVIII, hơi thở mới của
thời đại – thời đại giải phóng dân tộc: cuộc kháng
chiến chống bọn xâm lược Mãn Thanh, và, trước đấy là
cuộc khởi nghĩa Tây Sơn rầm rộ - đã thổi vào nghệ thuật
điêu khắc nói riêng, và nghệ thuật tạo hình nói chung, một
luồng sinh lực mới, chứa chan tinh thần vận động đi lên
của tư tưởng quật khởi, của sức mạnh nhân dân. Phật
Tuyết Sơn chùa Tây Phương là motọ mãu người trầm luân,
khổ ải về mặt vật chất, nhưng là người chiến thắng
về mặt tinh thần.
Tương
Phật trong nền điêu khắc cổ Việt Nam, dù chất liệu là
gỗ hay đá, dù nhằm mục đích thể hiện những giáo điều
của Phật pháp, vẫn mang trong mình hơi thở của từng thời
đại lịch sử.
Đất
nước ta đi lên không ngừng, và trong cuộc vận động đi
lên ấy, những sản phẩm văn hóa nghệ thuật xưa – cho dù
chỉ là những pho tượng Phật – cũng góp phần vào bước
đi vững vàng của đất nước. Người Việt Nam ngày nay không
còn chiêm ngưỡng đức Phật như chiêm ngưỡng một thế lực
siêu linh, mà thấy rõ trong dáng ngồi bất động của Phật
A Di Đà, thấy rõ trong ngàn tay mầu nhiệm của Phật bà Quan
Âm, thấy rõ trong khối óc chuyển động của Phật Tuyết
Sơn, những phẩm chất của tinh thần Việt Nam: kiên định,
từ tâm, giàu tính chiến đấu. Và trên đường đi đến tương
lai, người Việt Nam thấu hiểu rằng: phải vận động những
phẩm chất tinh thần ấy.
--------------------------------------------------------------------------------
1
Cáo tật thị chúng, thơ của Mãn Giác thiền sư.
2 Lời
Phật Thích Ca Mầu Ni (Cakyamuni) thuyết cho bà hoàng hậu Vi
Đề Hy nghe về cõi “cực lạc thế giới”. Xem Lịch sử
Phật Tổ, Đuốc Tuệ xuất bản, Hà Nội, 1951.
3 Phái
Thiền Tông của Đạo Phật là một “giáo ngoại biệt truyền”
chỉ thẳng cho người du học “minh tâm kiến tính”. Khi Phật
Thích Ca ở hội Linh Sơn cầm hoa sen truyền pháp cho đệ tử
thấu rõ giáo lý đạo Phật, ngài Ma-ha Ca-diếp (Mâha Kocyapa),
một đại đệ tử của Phật, đã thấu hiểu ý Phật qua
ánh mắt . Vậy nên Phật Thích Ca truyền “chinh pháp nhãn
tạng” và “y, bát” cho Ma-ha Ca-diếp làm tổ thứ I của
phái Thiền Tông. ở nước ta, Tỳ Ni Đa Lưu Chi (Vinitacuri)
đứng đầu phái Thiền Tông thứ I vào quãng năm 580, Phái
Thiền Tông đầu tiên này ở Việt Nam truyền đến tổ
Y Sơn thiền sư (1216). Năm 820, ở Việt Nam có phái Thiền Tông
thứ II do Võ Ngôn Thông truyền pháp, Phật phái Thảo Đường
thời Lý (từ 1054-1205) là phái Thiền Tông thứ III ở Việt
Nam.
4 Võ
tật thị chúng, thơ của Viên Chiếu thiền sư (998-1090).
5 Chiều
cao của khuôn mặt bằng 1/5 chiều cao của Phật A Di Đà ngồi,
khuôn miệng có chiều rộng bằng 1/2 chiều rộng giữa hai
đuôi măt, tai dài bằng độ dài từ kẽ khép hai làn môi đến
nốt hồng tâm giữa trán.
6
Văn bia tháp Sùng Thiện Diên Linh (1121), chùa Long Đội, xã
Đội Sơn, huyện Duy Tiên, Nam Hà.
7
Văn bia tháp Sùng Thiện Diên Linh (1121), chùa Long Đội, xã
Đội Sơn, huyện Duy Tiên, Nam Hà.
8 Hiện
nay trưng bày ở Viện bảo tàng Mỹ thuật (Hà Nội).
9 Lời
Phật Thích ca Mầu Ni (cakyamuni) thuyết độ cho Kiều Trần
Như, A Tháp Bà, Xem Lịch sử Phật Tổ, Đuốc Tuệ xuất bản,
Hà Nội, 1951, Xem thêm kinh Phạn Vương vấn Phật quyết nghi.
10
Xem kinh Bi Hoa.
11
Xem kinh Hoa Nghiêm.
12
Nay là chùa Hương, Hà Tây.
13
Huy Cận: Bài thơ cuộc đời, 1963.
14
ở chỗ này chỉ là nhận xét cá nhân. Tuy vậy, nếu không
khe khắt, một số tượng Quan Âm tọa sơn, Quan Âm tống tử
thờ ở các chùa Bút Tháp, Tam Sơn (Hà Bắc) và chùa Tây Phương,
chùa Trăm gian, chùa Bối Khê (Hà Tây) v.v... là những pho tượng
khá đẹp, nhất là pho tượng Quan Âm tọa sơn ở chùa Tam
Sơn (Hà Bắc), một ngôi chùa bị B.52 Mỹ hủy diệt vào cuối
tháng 12-1972.