Mục
Lục
Lời
người dịch
Lời
mở đầu
Vài
nét về tác giả
Phần
một: SA DI
Viễn
tượng cái chết
Không
có gì chắc chắn
Cuộc
gặp gỡ trong bước đường cùng
Không
có gì là rác cả
Chỉ
còn biết lau chùi
Lời
răn dạy của Khổng Tử
Việc
phải lo
Không
thể làm được
Giữa
thầy và trò
Chuyện
của nó và tôi
Ba
loại đệ tử
Cho
tiền mai táng
Ý
nghĩa của sự can đảm
Tôi
đang làm gì ở đây?
Niềm
tin vạn năng
Phần
hai: TU LUYỆN
Tâm
bất động
Biết
đến cái ngu của mình
Ðời
sống hàng ngày trong thiền viện
Không
bao giờ hết tu
Phần
ba: THIỀN SƯ
Ðiều
gì đây?
Thượng
đế ở ngay đây
Cái
chết có bí hiểm không?
Tâm
như thủy
Cái
chết của ông tôi
Pháp
Vô Lậu
Chết
trong khi đang sống
Buông
thả trong cái chết
Mạng
sống Phật
Lời người
dịch
Thiền
sư Soko Morinaga sinh năm 1925. Sau khi tốt nghiệp trường Cao
đẳng, xuất gia năm 1948 với thiền sư Thụy Nham Tông Thạc
(1879 – 1965) thuộc thiền phái Bạch Ẩn Huệ Hạc tông Lâm
Tế. Từ 1949 đến 1963 Sư tu tập ở chùa Đại Đức và được
Sư huynh là thiền sư Sesso Ota ấn chứng. Sư giảng pháp, viết
sách báo, đồng thời là Viện trưởng Đại Học của dọ̀ng
Lâm Tế là Hanazono ở Kyoto. Thường cộng tác với Hội Phật
Giáo Luân Đôn, Sư đến Anh quốc du hóa hằng năm để giảng
dạy khóa tu mùa hạ do nhiều tông phái Phật Giáo bảo trợ.
Sư viên tịch năm 1995.
Những
gì chúng ta học được từ người xưa và cả người nay dĩ
nhiên không phải trên những danh xưng, tiếng tăm hay bài giảng
thơ văn để lại cho đời, mà chính ngay nơi những bước
chân của người, như trong tự truyện này, đang đạp trên
khắp nẻo đường đời từ chập chững non nớt như chồi
nụ đến chững chạc như hoa nở ngát hương.
Như
Sư đă viết, đây không hẳn là cuộc đời riêng của Sư,
mà hiện đang xảy ra cho mọi người ở khắp nơi. Đúng hơn
đó là bài toán bức thiết của mỗi chúng ta.
Thuần
Bạch
Lời mở
đầu 
Cách
đây ít lâu tôi có đến thuyết giảng tại một trường đại
học. Thuyết trình viên trước tôi nói khoảng một tiếng
rưỡi đồng hồ, quá giờ quy định. Khoảng thời gian nghỉ
ngơi giữa hai buổi diễn thuyết của chúng tôi bị thu hẹp
lại, và tôi bị gọi lên bục giảng ngay sau đó. Ðể tỏ
sự quan tâm đến những thính giả, tôi mở đầu bằng câu
hỏi: “Quý vị đã có thì giờ đi tiểu hết chưa?”
Cử
tọa rõ ràng là bị bất ngờ trước câu hỏi của tôi. Lại
càng ngạc nhiên hơn nữa, khi họ thấy người đang đứng
trước mặt họ, nói về chuyện tiểu tiện, lại là một
vị sư. Mọi người cười ầm lên.
Bắt
đầu như vậy rồi, tôi lại tiếp tục lái vào tiêu điểm.
“Tiểu tiện không phải là một việc người khác làm dùm
bạn được. Chỉ có mình mới tiểu cho chính mình được
thôi.” Câu này thật sự đã phá vỡ khoảng cách, và họ
cười còn tận tình hơn nữa.
Nhưng
thực sự ta phải thấy rằng, “chỉ có mình mới đi tiểu
cho chính mình được thôi, không ai khác có thể làm thế được”,
là một nhận định hoàn toàn nghiêm túc.
Thời
xa xưa bên Tầu, có một vị tăng nhập chúng tu nhiều năm
trong thiền viện của thiền sư Ðại Huệ, nhưng mặc dù đã
hết sức tinh tấn, ông vẫn không giác ngộ được. Một hôm
thầy ra lệnh cho ông đem một lá thư đến một nơi xa xôi
thuộc vùng Trường Sa. Chuyến đi này, vừa đi vừa về, có
thể mất đến nửa năm như chơi. Vị tăng nghĩ: “Tôi làm
gì có thì giờ ở thiền viện này tu tập mãi mãi được!
Ai mà rảnh rỗi đi làm một công việc như thế này!” Tăng
bèn hỏi ý kiến của sư huynh về vấn đề này.
Sư
huynh bật cười khi nghe vị tăng nói đến vấn đề nan giải
này. “Dù có đang đi du hành đệ cũng vẫn thiền được
cơ mà! Thôi được rồi, ta sẽ đi cùng với đệ.”, ông
đề nghị như vậy, và thế là hai người bắt đầu ra đi
trong cuộc hành trình.
Một
hôm, khi họ đang đi trên đường, sư đệ bỗng bật lên khóc.
“Em đã tu bao nhiêu năm nay rồi, mà tới giờ vẫn chưa thấy
đạt được gì cả. Rồi bây giờ, lang thang đi khắp nơi
như thế này, làm sao mà em giác ngộ được chứ,” ông than
thở.
Nghe
vậy, sư huynh vận dụng hết sức lực để nói một cách
thật mạnh bạo phũ phàng như tát nước: “Ta sẽ làm tất
cả những gì có thể làm được cho đệ trong chuyến đi này,”
“Nhưng có năm điều mà ta không thể làm được thế cho
đệ. Ðó là:
Ta
không thể mặc quần áo thế cho đệ được. Ta không thể
ăn thế cho đệ được. Ta không thể đại tiện cho đệ được.
Ta không thể tiểu tiện cho đệ được. Và ta không thể vác
đệ lên vai mà sống cuộc đời của đệ thế cho đệ được.”
Khi
nghe những câu nói này, vị sư đệ bỗng bừng tỉnh ra khỏi
cơn mê và được đại ngộ.
Tôi
hi vọng rằng, khi đọc những lời này, bạn sẽ nhận ra rằng
những gì tôi nói ở đây không phải chỉ là về tôi hay về
những điều xẩy ra ở đâu đâu. Không phải như thế,
những điều tôi nói đây chính là những vấn đề khẩn thiết
của các bạn .
Phần một:
SA DI
Viễn
tượng cái chết
Nếu
tôi có thể tóm tắt lại bốn mươi năm cuộc đời của tôi,
kể từ khi bắt đầu xuất gia, tôi phải nói rằng đó là
một sự tiếp diễn không ngừng những cái ngu dại. Khi nói
về sự ngu dại của mình, tôi không có ý nói đến một cái
gì sẵn có từ cha sanh mẹ đẻ, mà phần lớn về những ấn
tượng hư dối mà tôi đã huân tập, hết lớp này qua lớp
khác, trong trí tưởng tượng của tôi.
Bất
cứ lúc nào đi du hành qua ngoại quốc để thuyết giảng,
bao giờ tôi cũng được yêu cầu phải nhắm vào một vấn
đề chủ yếu: Ngộ (satori trong tiếng Nhật) là gì, thế nào
là giác ngộ? Cái gọi là Ngộ này, tuy thế, là một trạng
thái mà người ta chỉ có thể hiểu được qua chứng nghiệm.
Nó không thể được đem ra giải thích hay nắm bắt chỉ bằng
ngôn ngữ thuần túy.
Tỷ
dụ, có một câu ngạn ngữ rằng, “Khi nào có con mới biết
được lòng của cha mẹ.” Dù bậc cha mẹ có cố gắng diễn
đạt tâm tư của cha mẹ đối với con đến thế nào, đứa
con ấy cũng không thể nào hiểu được hoàn toàn. Chỉ khi
chính đứa con ấy trở thành cha mẹ, nó mới hiểu được
đầy đủ tấm lòng của mẹ cha. Sự thông hiểu ấy có thể
ví như giác ngộ vậy, tuy rằng giác ngộ là một cái gì sâu
xa hơn nhiều.
Bởi
vì không có ngôn ngữ nào có thể diễn đạt được kinh nghiệm
giác ngộ, ở đậy tôi sẽ chỉ bàn tới những điều cốt
yếu cho sự giác ngộ, những điều cốt yếu của sự tu tập
Thiền.
Tu
tập Thiền không phải là vấn đề nhớ nằm lòng những lời
lẽ kỳ diệu trong kinh sách hay ngữ lục của các vị tổ
thời xưa. Thực sự ra, những lời lẽ này được xử dụng
như một phương tiện để phá vỡ những ấn tượng sai lầm
trong trí tưởng tượng của con người. Mục đích của sự
tu tập không phải để làm tăng thêm kiến thức, mà để
cạo bỏ những lớp vẩy che lấp mắt, để vứt ra ngoài những
mũ chụp che tai.
Qua
sự tu tập, người ta có thể thấy được sự thực. Và tuy
nói rằng không có một thứ thuốc nào có thể chữa được
chứng bệnh khờ dại, điều làm cho người ta nhận ra được
rằng “tôi đúng là một kẻ khờ dại” thực ra lại chính
là phương thuốc ấy.
Cũng
có câu nói rằng “thuốc đắng giã tật”, và buồn thay,
thứ thuốc làm cho người ta nhận ra được sự ngu dại của
mình chắc chắn là rất cay đắng. Nhận thức ra được cái
ngu của mình thường hay đi kèm với những thử thách và rồi
phải trả giá, bằng những trắc trở và buồn rầu. Tôi đã
trải qua một nửa đời người bị vật vã với những hậu
quả cay đắng của phương thuốc này.
Tôi
sinh ra ở thành phố Uozu, thuộc quận Toyama. Trong lúc Thế
Chiến Thứ Hai đang sôi sục, tôi đang học chuyên ngành văn
chương, dưới chế độ giáo dục cũ của Nhật, tại trường
trung học Toyama. Các học sinh trung học, theo luật, được
chính thức hoãn dịch cho đến khi tốt nghiệp xong đại học.
Nhưng khi chiến tranh leo thang, có lệnh ban xuống rằng những
học sinh nào học về văn chương sẽ phải đi ra chiến trường.
Người ta thường giả dụ rằng những sinh viên khoa học sẽ
tiếp tục những môn học về y khoa hay khoa học và như vậy
sẽ cung cấp được những nhiệm vụ hậu cần trong chiến
tranh, trong khi những sinh viên văn khoa thì chỉ đọc sách,
đấu khẩu, và thường hay kích động tinh thần quốc gia.
Dù
sao, những học sinh văn khoa, bị đối đãi như không phải
là những học sinh, đã phải qua kỳ khám sức khỏe để nhập
ngũ vào lứa tuổi hai mươi và rồi bị đẩy vào quân đội,
không có ngoại lệ. Ðã vậy, tuổi quân dịch lại bị
hạ thêm một tuổi nữa, và dường như vì nhu cầu nóng bỏng,
tôi với tuổi mười chín đã bị lôi vào quân đội một
cách phũ phàng.
Chúng
ta ai cũng biết rằng sớm hay muộn gì, mình sẽ chết. Cái
chết có thể đến ngay ngày mai, hay có thể đến hai mươi
năm, ba mươi năm nữa. Chỉ vì không biết cái chết sẽ chờ
đợi ta lúc nào trên con đường dài sắp tới, ta mới có
được một chút an bình nơi tâm, mới có thể tiếp tục
đời sống bình thường. Nhưng với tôi, sau khi đã qua kỳ
khám sức khỏe và chờ đợi lệnh nhập ngũ đến bất cứ
lúc nào, cái chết bỗng nhiên hiện ra thật bất ngờ trước
mắt. Tôi có cảm tưởng như mình đang di động qua một khoảng
trống không, ngày này qua ngày khác. Thức hay ngủ, tôi đều
vẽ ra trong trí óc những cách chết khác nhau sẽ đến với
tôi trong chiến trường. Nhưng dù đang ở trong một cơn lốc
mù mịt của những ý tưởng về cái chết, tôi vẫn không
có thì giờ để tìm hiểu vấn đề một cách triết lý hay
tìm những phương tiện tu tập tôn giáo nào.
Những
người đi vào quân đội thời ấy cắm đầu nhào đến phía
trước, hăng say tin tưởng rằng đây là một cuộc chiến
công bằng, một cuộc chiến thật quan trọng để họ có thể
hi sinh mạng sống không một chút luyến tiếc. Từ trong tinh
thần ấy, chúng tôi được trang bị với một biện giải
tạm bợ cho viễn ảnh cái chết trước mắt của mình hay
ít nhất đó cũng là trường hợp của tôi.
Giữa
những con người, có những kẻ chuyên bóc lột và những kẻ
chuyên bị bóc lột. Ðiều đó cũng áp dụng cho sự liên hệ
giữa các quốc gia và các chủng tộc. Trong suốt lịch sử,
những quốc gia phát triển về kinh tế đã thống trị những
nước kém phát triển hơn. Cuối cùng thì bây giờ, Nhật Bản
đã vươn lên được và thoát ra khỏi những xiềng xích của
sự bóc lột đó! Vì thế, đây là một cuộc chiến tranh chánh
đáng, một cuộc chiến có ý nghĩa! Làm sao chúng tôi có thể
tiếc rẻ cái mạng sống nhỏ nhoi của mình cho quốc gia, dù
cho mạng sống đó có bị nghiền ra thành từng mảnh
đi nữa? Kiểu lý luận hồ đồ này đã cho phép chúng tôi
đóng chặt lại tâm trí của mình.
Và
thế là những học sinh chúng tôi đi lên phi cơ, vũ trang chỉ
với một cái chết chắc chắn và nhiên liệu cho một chuyến
đi không về, để một vài quyển sách triết lý đắc ý nhất
hay một cuốn kinh Tịnh Ðộ bên cạnh tay lái, những quyển
sách chắc chắn sẽ không được đọc tới. Có nhiều người
đã lao vào tầu chiến của địch, cũng có nhiều người đã
ngã xuống trong ngọn sóng biển cao ngất hay máy bay bị bắn
rơi trước khi thi hành được nhiệm vụ.
Thế
rồi, ngày 15 tháng 8 năm 1945, Nhật Bản đầu hàng vô điều
kiện. Cuộc chiến tranh mà tất cả chúng tôi đã tưởng như
là công chính, cuộc chiến mà chúng tôi sẵn sàng vui vẻ hi
sinh mạng sống của mình, bỗng phút chốc, chỉ trong một
đêm, trở thành một cuộc chiến xâm lược, một cuộc chiến
ác độc và những kẻ chịu trách nhiệm cho cuộc chiến đó
phải bị xử tử.
Không
có gì chắc chắn
Dù
gì đi nữa, tôi cũng đã trở về sống sót từ quân ngũ.
Qua làn sóng ngắn phát thanh của cái radio, một thứ cực kỳ
hiếm hoi vào thời bấy giờ, tôi lắng nghe số phận của
những vị lãnh đạo Ðức Quốc Xã đã đầu hàng chỉ trước
Nhật có một bước. Khi nghe câu phán quyết được đọc to
lên của tòa án Quốc tế Nuremberg rằng, “Xử tử bằng cách
treo cổ”, chỉ một chữ -- treo cổ -- đã đập mạnh
vào tai tôi khiến tôi vẫn còn nghe được âm hưởng của
nó. Và rồi (có lẽ qua chính sách của Quân đội Mỹ đang
chiếm đóng?) một cuốn phim tài liệu được chiếu lên. Tôi
xem cuốn phim này ở một nơi hiện thời là một cửa hàng
bách hóa, trên lầu năm của một tòa nhà đổ nát đã tránh
được không bị tiêu hủy trong khu phố chính đầy vết tích
chiến tranh tàn phá của Toyama.
Có
một cảnh, một vị tướng lãnh người Ðức bị lôi lên
đoạn đầu đài và rồi bị treo cổ trước một đám đông
tụ tập tại quảng trường. Trong một cảnh khác, vị lãnh
đạo Ý Mussolini bị đám đông đập chết và rồi treo ngược
lên trên hàng rào giây thép gai cạnh xác người yêu của ông.
Cuốn phim tiếp tục với cảnh những xác người bị kéo lê
trên đường phố trong khi đám đông kêu gào chửi rủa và
ném đá lên họ.
Trong
những bộ đồng phục quân đội bị phế bỏ , tôi và những
bạn học lần lượt trở về trường. Chúng tôi trở
về, những thanh niên đã mất hết niềm tin và đầy khắc
khoải với câu hỏi về thế nào là trái và phải. Tuy rằng
trên nguyên tắc lớp học đã bắt đầu lại, nhưng thực
tế không ai học hành gì cả. Nếu có một vị giáo sư nào
bước vào lớp, sách vở trong tay, ông ta sẽ được yêu cầu
ngồi vào một bên trong khi những thành viên của quân đội
trở về thay nhau lên nói trên diễn đàn.
“Dù
may mắn hay không, chúng ta cũng đã trở về nhà, và chúng
ta đã đi học lại được. Nhưng điều chúng ta nghĩ là “phải”
chỉ trong phút chốc đã biến thành “trái”. Chúng ta có
thể còn sống bốn mươi, năm mươi năm nữa, nhưng có thể
nào chúng ta còn tin tưởng được điều gì nữa không…thế
nào là một điều “phải”, một điều “trái” mà không
bị thay đổi, biến hóa đi? Nếu chúng ta không giải quyết
được vấn đề này, dù có học nhiều đến đâu cũng sẽ
không giúp chúng ta tin tưởng vào cái gì được nữa. Sao,
các bạn nghĩ thế nào?”
Cứ
như thế, ngày này qua ngày khác.
Trong
những ngày đó, chúng tôi có một vị giáo sư triết lý tên
là Tasuku Hara, sau này trở thành giáo sư khoa triết của trường
Ðại Học Tokyo. Oâng là một giáo sư thật xuất sắc, và
tôi thường luyến tiếc cho ông đã chết thật trẻ. Một
ngày nọ, vị giáo sư Hara này, mà chúng tôi thường coi như
một người anh, đã đứng lên và nhất định yêu cầu cho
ông được lên tiếng.
Khi
lên diễn đàn, ông nói với chúng tôi, “Kant, một triết
gia người Ðức mà tôi đã nghiên cứu, có nói rằng: Những
con người chúng ta có thể suy nghĩ cả đời về ý nghĩa của
“thiện” và “ác”; nhưng chúng ta sẽ không bao giờ nghĩ
ra được. Ðiều duy nhất mà người ta có thể làm được
là dùng một cái thước để đo thiện và ác mà thôi.”
“Hãy
nghĩ như thế này,” ông tiếp tục, “nếu chúng ta dùng thước
đo của người Nhật, cuộc chiến này là một cuộc thánh
chiến, trong khi với tiêu chuẩn của người Mỹ, đó là một
cuộc chiến tranh xâm lược. Vì thế công việc của chúng
ta trong đời không phải là dán nhãn lên cái này là thiện,
cái kia là ác, nhưng là tìm kiếm một tiêu chuẩn nào có thể
áp dụng được ở bất cứ nơi nào trên thế giới này. Nhưng
cái tiêu chuẩn đo lường này không phải là cái gì có thể
bắt gặp được chỉ trong một ngày. Mỗi người trong các
anh phải vượt qua thời gian và không gian để tìm một tiêu
chuẩn có ý nghĩa được đối với càng nhiều người càng
tốt. Và để làm được điều này, tôi đề nghị, trước
hết là các anh hãy tiếp tục học chương trình trung học
của các anh đi.”
Sau
khi nghe lời khuyên đầy trung thực và thiện chí này, chúng
tôi học trở lại. Tuy nhiên, chúng tôi cũng vẫn tiếp tục
những cuộc thảo luận đầy tính cách lý thuyết. Và, riêng
tôi, vẫn còn bị bế tắc trong câu hỏi về thiện và ác
này; vấn đề này đã nằm sâu ở trong tiềm thức của tôi.
Tôi
nghĩ, thật ra đây là một vấn đề nan giải của thời cuộc
Nhật Bản, không chỉ thường thấy trong giới thanh niên như
chúng tôi, mà còn với những vị trung niên và lão niên. Chúng
tôi đã không còn biết được thế nào là đạo đức bình
thường. Tôi tin rằng Nhật Bản đã rơi vào một tình trạng
trong đó người ta không còn biết đem tiêu chuẩn nào để
noi theo, kể cả trong việc nuôi dạy con cái.
Không
những thế, trong cuộc đời riêng tư của tôi lại có những
thay đổi lớn lao. Ðầu tiên là, năm trước khi chiến tranh
chấm dứt, tôi mất cả cha lẫn mẹ cùng một lúc: trong khi
mẹ tôi đang hấp hối, cha tôi bị đứt mạch máu não và
mất ngay sáng hôm sau, ngày 24 tháng 8, trong cơn mê man mà không
một lần tỉnh dậy.
Tôi
có ba người chị lớn, nhưng tất cả đều đã lập gia đình
và ở xa. Họ sống ở Moji, Thượng Hải, và Mãn Châu.
Trong tình trạng di chuyển bất tiện của thời ấy, không
một chị nào của tôi có thể về dự đám tang. Tôi trở
thành người duy nhất còn lại trong gia đình, phải lo việc
ma chay, và tôi đã hoàn tất mọi việc trong hai ngày với sự
giúp đỡ của họ hàng thân thuộc. Thế rồi, trước khi tôi
có thể sắp xếp được gì, lệnh nhập ngũ tới và tôi phải
ra đi vào quân đội.
Trở
về nhà sau chiến tranh, tôi phải đương đầu với hai vấn
đề một lúc, vấn đề bất động sản và thuế đất. Gia
tộc tôi từ lâu đời vốn là những địa chủ, và số đất
ít ỏi mà chúng tôi có hiện giờ đang được cho thuê mướn
lại. Cha tôi luôn luôn dạy tôi là, “Không có gì bền vững
hơn là đất. Dù cho có bị hỏa tai, đất cũng không cháy
được. Dù cho có bị lụt lội, đất cũng không trôi mất.
Nếu có kẻ trộm vào, nó cũng không đem đất đi đâu được.
Dù con có làm gì khác trong đời, cũng không nên để mất
miếng đất này.”
Nhưng
rồi, sự việc đã xẩy ra là, mặc dù tôi không làm gì cả,
mảnh đất của gia đình tôi đã bị tịch thu trong chương
trình cải cách đầy tham lam của chính phủ. Bây giờ, cả
đất cũng mất đi, tôi còn gì để tin tưởng vào nữa? Tất
cả những điều tôi cho là chắc chắn trước đây đã trở
thành không còn chắc chắn nữa.
Cuộc
chiến tranh tôi cho là thánh thiện đã trở thành một cuộc
chiến xấu xa. Tôi không nghĩ là cha mẹ tôi sẽ chết đi đột
ngột như vậy, nhưng rồi họ đã ra đi, người nọ theo người
kia ngay sau đó. Số tiền bảo hiểm mà cha tôi đã để riêng
ra để phòng hờ cho các con trong trường hợp có điều bất
trắc xẩy ra cho ông đã bị phong tỏa lại, và không một
xu nào được đưa cho tôi cả. Và miếng đất vốn dĩ
đã làm nền tảng cho gia đình xưa nay bỗng chốc bị mất
đi.
Ðồng
thời trong lúc đó, vật giá lên cao liên tục. Cái mua với
giá một yen ngày hôm nay tăng vọt lên thành mười yen
hôm sau, và trước khi người ta kịp biết, phải cần đến
tờ giấy bạc 100 mới mua được! Trong thời đó, thực tế
là không hề có chuyện đi làm bán thời gian đối với các
sinh viên học sinh. Do đó, tôi không có một chút kinh nghiệm
gì trong việc đem hai bàn tay trắng ra đi làm nuôi thân. Ngoài
vấn đề tiêu chuẩn đạo đức, còn có câu hỏi nan giải
trước mắt là làm sao tôi có tiền để sinh sống được
đây.
Nhìn
lại những ngày ấy, tôi nhận ra rằng nếu lúc ấy tôi có
gia nhập một đám băng đảng nào đó cũng không phải là
điều đáng ngạc nhiên. Và cũng không có gì lạ nếu tôi
có nhẩy vào đường rầy xe lửa mà tự tử. Mỗi buổi
sáng tôi thức dậy cảm thấy thật thống khổ, mỗi một
ngày qua đi trong sự vô vọng. Ðêm đến tôi thiếp ngủ
đi tinh thần xuống dốc hơn lúc nào hết, để rồi sáng hôm
sau thức dậy càng cảm thấy đen tối hơn.
Cái
vòng lẩn quẩn ác nghiệt này tiếp tục ngày này qua ngày
khác, nhưng rồi tôi vẫn tốt nghiệp được trung học. Tuy
nhiên, vì không có một chút ý định nào muốn ghi tên vào
một trường đại học hay học một ngành gì cả, tôi
chỉ vất vưởng qua ngày một cách lười biếng. Rồi, giữa
lúc tinh thần đang đau khổ cao độ như thế, một ngày kia
tôi nhận ra rằng: từ xưa tới giờ, tôi chẳng làm gì cả
ngoài việc chỉ biết đọc sách, thâu thập kiến thức và
xoay quanh những lý thuyết. Lý do khiến tôi không biết phải
làm gì với tôi hiện nay, hóa ra là, tôi chưa từng biết xử
dụng thân mình một cách có kỷ luật bao giờ cả.
Cuộc
gặp gỡ trong bước đường cùng
Thế
rồi, sự kết hợp kỳ bí của những nhân duyên nào đó đã
khiến tôi lê bước đến gõ cửa nơi các thiền viện. Tôi
vẫn còn cảm thấy thật biết ơn, là sau khi đến viếng thăm
vài ba ngôi chùa, tôi đã được giới thiệu đến chùa Daishuin
ở Kyoto, mà ngày nay tôi vẫn còn ở, dưới sự hướng dẫn
của Ðại Sư Zuigan Goto. Ðại sư Zuigan trước đây đã trụ
trì chùa Myoshin-ji (Diệu Tâm Tự) và lúc bấy giờ đang trụ
trì chùa Daitoku-ji (Ðại Ðức Tự), là một con người vĩ
đại vô cùng.
Tôi
xuất hiện nơi ngưỡng cửa của Ðại sư, mái tóc để
dài bết lại, rối bời, một cái khăn vắt vẻo nơi bụng,
chân đi đôi guốc gỗ nặng nề . Câu đầu tiên con người
vĩ đại này nói với tôi là:”Tại sao anh đến đây?”
Ðể
trả lời, tôi nói lan man trong một tiếng rưỡi đồng hồ,
kể lể hoàn cảnh của tôi từ trước tới giờ và tình trạng
hiện nay ra sao. Ðại sư im lặng lắng nghe, không tỏ vẻ muốn
nói chen vào một tiếng nào.
Sau
khi tôi đã nói xong, ngài nói: “Nghe anh nói từ nẫy giờ,
tôi có thể thấy được rằng anh đã tới tình trạng không
còn tin tưởng được ở điều gì nữa. Nhưng trong việc học
đạo, không thể nào làm được gì nếu không tin tuởng nơi
người thầy của mình. Anh có tin được tôi không?
Nếu
anh tin được, tôi sẽ nhận anh ngay bây giờ, ngay trong tình
trạng này. Nhưng nếu anh không thể tin tưởng được tôi,
thì anh có ở đây cũng chỉ phí thì giờ, và tốt hơn là
anh nên trở về chốn cũ của mình.”
Zuigan
đại sư, ngay từ đầu, đã khẳng định một cách kiên quyết
về điều luật phải tin tưởng hết lòng nơi thầy của mình,
nhưng tôi lúc đó chưa có đủ hiểu biết để có thể nói
một cách sẵn sàng và thành thực rằng: “Dạ được!”
Ðại
sư lúc đó đã bẩy mươi tuổi, và tôi tự nhủ thầm. “Ông
già lẩm cẩm! Ông ấy là hòa thượng trụ trì chùa Diệu
Tâm hay chùa Ðại Ðức thì đã sao. Thiếu gì “nhân vật
quan trọng” trên đời này cũng chẳng ra cái gì. Nếu tin
tưởng dễ dàng, không điều kiện như vậy được một người
tôi mới chỉ gập lần đầu, thì tôi đã tin được vào một
cái gì trước khi tôi đến đây rồi! Chẳng phải là tôi
đến đây chỉ vì tôi không thể nào tin tưởng dễ dàng được
cái gì sao?”
Tất
cả những ý tưởng kia chạy băng ngang qua trí óc tôi, nhưng
ngay từ đầu tôi đã biết là nếu tôi nói ra, tôi sẽ
bị trả lời thẳng thừng là: “Nếu vậy thì anh đến đây
chỉ mất thì giờ vô ích. Hãy trở về đi.”
Tôi
tự nghĩ, dù cho tôi có nói láo, nhưng miễn là tôi có nói
những lời ấy ra, vị thầy sẽ cho tôi được ở lại, nên
bèn nói: “Con tin tưởng nơi thầy. Xin thầy hoan hỉ nhận
con.”
Lúc
ấy, tôi không hề biết chút gì về sức nặng của chữ
“Con tin tưởng”, nhưng đó là một bài học mà tôi được
dạy ngay sau đó, trước khi hết ngày.
Không
có gì là rác
“Hãy
đi theo ta,” đại sư ra lệnh, và ngài giao cho tôi công việc
đầu tiên, đó là quét dọn vườn. Ði cùng với lão sư bẩy
mươi tuổi ra ngoài vườn, tôi bắt đầu làm việc quét dọn
với một cây chổi tre. Những vườn thiền trong khuôn viên
các chùa thường được bố trí cẩn thận với những loại
cây cho lá rụng quanh năm. Không những mùa thu những cây phong
lá rụng đầy, mùa xuân đến những cây sồi và cây khuynh
diệp cũng thay lá luôn. Khi tôi vừa đến đó vào tháng tư,
mảnh vườn đã rải rác đầy lá rụng khắp nơi.
Con
người (hay có lẽ là tâm tôi thì đúng hơn) thật sự ra rất
là xấu tính. Tôi đứng đây, trong tâm đang rủa thầm “ông
già lẩm cẩm” này và chống lại ngay cả cái ý tưởng là
có thể tin tưởng dễ dàng được một điều gì như vậy;
nhưng cùng lúc đó, tôi lại muốn ông già này chú ý tới
tôi, nên tôi cầm chổi lên quét lia quét lịa. Chẳng
mấy chốc tôi đã vun đám lá rụng thành một đống lớn.
Hăng say tỏ ra vẻ chăm chỉ, tôi hỏi: “Ðại sư, con vứt
đống rác này đi đâu?”
Lời
nói vừa mới ra khỏi miệng tôi, ông đã mắng ngay:
“Không
có rác gì hết!”
“Không
có rác à.. thế sao, thầy xem cái đống này,” tôi gắng chỉ
cho ông thấy đống lá trước mặt.
“Vậy
là mi không tin ta hả! Có phải không?”
“Không
phải thế.. nhưng.. con phải vứt mấy cái lá này đi đâu
bây giờ?” Tôi chỉ còn biết nói như vậy.
“Mấy
cái lá ấy không vứt đi đâu cả!” Ông lại gầm lên.
“Vậy
con phải làm gì?” Tôi hỏi.
“Ði
ra nhà kho đàng kia lấy cho ta cái túi đựng than”, thầy ra
lệnh.
Khi
tôi trở lại, thầy đang cắm cúi cào cái núi lá kia, sàng
cho những lá nhẹ lên trên mặt, và đất cát, sỏi đá nặng
hơn cho rơi xuống dưới. Sau đó ông bắt đầu nhồi lá vào
trong cái túi tôi đem ra từ nhà kho, lấy chân dậm cho chúng
xẹp xuống. Sau khi đã nhét chặt tới chiếc lá cuối cùng
vào trong túi rồi, ông nói: “Ðem cái này ra nhà kho. Mình
sẽ dùng nó để đun nước tắm.”
Trong
lúc đi ra nhà kho, tôi thầm công nhận rằng cái túi lá tôi
đang mang trên vai này có lẽ chẳng phải là rác; tôi cũng
nhủ thầm rằng cái đống còn lại ngoài vườn kia rõ
ràng chỉ là rác, và không có gì khác hơn là rác cả. Nhưng
khi trở lại, tôi thấy Thầy đang ngồi xổm trên cái đống
còn lại, lượm ra từng viên đá. Sau khi Thầy đã cẩn thận
nhặt lên viên đá cuối cùng, ông nói: “Lấy mấy đá sỏi
này ra trải ở dưới ống máng nước mưa.”
Khi
tôi trải những viên đá trộn lẫn với sỏi đã có sẵn
ở đó, và lấp đầy những chỗ bị xoáy bởi nước mưa,
tôi nhận thấy những lỗ này không những được lấp đầy,
mà trông còn đẹp hẳn lên. Tôi lại phải công nhận rằng
những viên đá này cũng không xếp loại là rác được. Nhưng
chưa hết: vẫn còn những miếng đất, những mảnh rêu sót
lại từ cái đống hồi nẫy. Ai có thể làm gì được với
những thứ đó, tôi tự hỏi.
Tôi
thấy Thầy đang lúi húi nhặt những miếng này lên và để
chúng vào trong lòng bàn tay, từng cái một. Ông đảo mắt
tìm kiếm những cái khe, những chỗ lõm trên mặt đất, rồi
trám chúng vào đó và đập chân lên cho bằng. Rốt cuộc,
chẳng còn lại một chút gì từ đống lá hồi nẫy cả.
“Sao?”
ông hỏi. “Mi có hiểu hơn được một chút nào chưa? Từ
nguyên thủy, dù là người hay vật, chẳng có cái gì là rác
cả.”
Ðấy
là bài pháp đầu tiên mà tôi được nghe từ Ðại sư Zuigan.
Tuy bài pháp đó có gây cho tôi một ấn tượng, nhưng tiếc
thay, tôi không có đủ trí tuệ để đạt ngộ khi nghe những
lời lẽ đó.
“Từ
nguyên thủy, dù là người hay vật, không có cái gì là rác
cả.” Những lời lẽ này chỉ thẳng tới chân lý căn bản
của Ðạo Phật, một chân lý tôi chưa thể nhận ra được
trong những ngày tháng đó.
“Kỳ
diệu thay! Mọi chúng sanh vốn là đều là Phật, đều có
sẵn trí huệ và đức hạnh nơi mình. Chỉ vì chấp chặt
nơi những vọng tưởng sai lầm mà chúng sanh mới không thể
nhận ra điều đó được.” Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni đã
thốt lên điều đó trong giây phút ngài được giác ngộ.
Nói một cách khác, mọi chúng sanh nguyên thủy vốn đã toàn
hảo, nhưng bởi vì bám víu vào những khái niệm si mê, nên
họ không thể nhận thức được Phật tánh có sẵn nơi mình.
Trong
giây phút chớp nhoáng, màn sương che phủ trước mắt ngài
tan biến đi, và Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni đã thấy được
chân lý hiện tiền. “Từ đó tới giờ, ta đã nghĩ rằng
tất cả chúng sanh trong thế giới này chỉ sống trong sự
đau khổ và khốn cùng, trong những bất hạnh sâu xa. Nhưng
thực ra, chẳng phải là tất cả mọi chúng sanh, ngay nơi hiện
thân của họ, đều đang sống trong tánh Phật, đều đang
có sẵn sự toàn hảo tuyệt đối đó sao? Và chẳng phải
là điều này không chỉ áp dụng cho những người đang khỏe
mạnh an vui nơi thân và tâm, mà còn với những kẻ mù lòa,
những kẻ tật nguyền không có tay chân, phải kéo lê thân
xác mình một cách khó khăn đó sao? Chẳng phải là mỗi người
trong chúng ta, ngay trong trạng thái hiện tại của mình, đều
là một thực thể toàn hảo, không khiếm khuyết đó sao?”
Lòng đầy cảm kích và kinh ngạc, Ðức Phật đã thốt lên
như vậy trong giây phút giác ngộ của ngài.
Mỗi
năm, tôi đều đi Hokkaido để thuyết giảng, và có một năm,
sau khi nghe tôi nói chuyện, một thiếu phụ xin đến gặp tôi.
Thiếu phụ này, vốn là người rất sùng mộ đạo Thiên chúa,
đã nói như sau: “Nghe thầy nói chuyện hôm nay, con thấy rằng
tất cả những điều Ðạo Phật muốn khuyên người ta làm
chỉ là buông bỏ hết đi những dục vọng. Trong khi đó, đạo
Thiên Chúa nói rằng: “Hãy hỏi xin, ngươi sẽ được cho.
Hãy tìm kiếm, ngươi sẽ được thấy. Hãy gõ cửa, cửa sẽ
mở ra cho ngươi. Những lời dạy đó đáp ứng được những
kỳ vọng của giới thanh niên trẻ tuổi như con đây. Thầy
nghĩ sao về vấn đề này?”
Tôi
trả lời cô ta bằng một câu hỏi khác. “ Nói như thế có
nghĩa là không cần biết cô gõ cửa như thế nào, tìm kiếm
ra sao, cô cũng sẽ được ban bố, cũng sẽ được mở
cửa ư? Chẳng phải là trừ khi người ta tìm kiếm và gõ
cửa cách nào để có thể cảm ứng được với Tâm của
Thượng đế, cửa mới mở ra được, và điều ước nguyện
mới được ban cho sao?”
Tôi
đã nghe nói đến câu nói của đạo Thiên chúa rằng: “Ta
làm ra con đường của mình, nhưng Chúa sẽ định hướng những
bước đi trên đó.” Một cách tóm tắt, ta có quyền ước
muốn và lựa chọn, tìm kiếm tha hồ, nhưng Thượng đế mới
định đoạt những nguyện vọng của ta có thể thành tựu
được hay không.
Cũng
vậy, Ðạo Phật không chỉ nói là phải vứt bỏ hết mọi
ước muốn, dẹp hết mọi tìm kiếm. Nhất là ở trong sự
tu tập Thiền, chúng ta gõ vào cánh cửa ấy qua sự hành trì
thật gắt gao, hầu như là có thể mài dũa tới tận xương
tủy của mình vậy. Tuy nhiên, đạo Phật chỉ ra rằng, sau
khi đã tìm kiếm hết tất cả, điều chúng ta đạt được
lại là sự nhận thức rằng những gì ta tìm kiếm vốn đã
luôn luôn có sẵn nơi ta, rằng sau tất cả những công phu
miên mật, chúng ta thức tỉnh thấy được rằng thật ra là
cửa đã sẵn mở từ trước khi chúng ta bắt đầu gõ vào
đó.
Như
vậy, các bạn thấy rằng, Ðại sư Zuigan đã chỉ ra sự thật
căn bản nhất từ đầu khi ngài nói, “Từ nguyên thủy, dù
cho ở người hay vật, không có gì là rác cả.” Ðáng tiếc
là tôi đã không hiểu được ngài. Tôi tiếp tục làm ra vẻ
như mình là một đệ tử đang tin tưởng hết mình vào Thầy,
nhưng trong thâm tâm tôi vẫn thường chê bai và chống đối
lại. Nói trắng ra là, gần như hầu hết những lời thầy
nói đều làm cho tôi cảm thấy bực bội.
Chỉ
còn biết lau chùi
Nhiều
người thường khinh rẻ những hoạt động cần thiết cho
nhu cầu căn bản hàng ngày, nhưng đối với tôi, những việc
đó không được xem là lam lũ chân tay. Nếu bạn muốn nhìn
phong cảnh bao quát toàn diện ở ngoài, bạn phải trèo lên
một địa điểm cao mới thấy được rõ. Nhưng nếu bạn
muốn thấy tâm con người, bạn phải bước xuống mà nhìn
từ một chỗ thấp.
Ngay
sau khi vào thiền viện, tôi đã phải làm điều đó qua công
việc lau dọn hàng ngày. Từ sáng đến tối, tâm trí tôi không
còn có gì khác hơn là chỉ biết đến lau chùi. Ðiều đó
dẫn đến một kinh nghiệm oái ăm, phát hiện ra một khía
cạnh gai góc trong sự tu tập.
Nếu
có người nào đó biết rằng họ sẽ hiểu được phần nào
chân lý qua việc quét dọn lau chùi, họ có thể bị vướng
mắc trong sự thực hành này và rồi nhận ra rằng thực ra
họ đang đi xa rời khỏi sự nhận thức chân lý ấy.
Tâm của họ đã bị chướng ngại bởi chính sự thực hành
này.
Một
buổi sáng, sau khi tôi đã dọn bữa điểm tâm và mời ngài
ra dùng, Zuigan đại sư chậm rãi bước ra phòng ăn nói rằng:
“Này, đi vào phòng của ta, đứng ở chỗ cái bàn nhìn về
phía bệ thờ xem.”
Thường
thường, tai của một sa di mới nhập viện hay nghe thấy
giọng nói của thầy mình như là đang tức giận. Vì thế,
khi nghe Thầy nói vậy, tôi giật mình nghĩ thầm: “Chết rồi,
mình lại quét dọn hỏng gì nữa đây” và rồi lập tức
chạy vào trong phòng thầy.
Phòng
của thầy rất nhỏ hẹp, chỉ độ bốn chiếu rưỡi (diện
tích chừng 3m x 4m). Khoảng cách giữa bàn của ông với bệ
thờ chưa đầy hai mét, nhưng mặc dù tôi đã xem xét cẩn
thận khu vực này, tôi cũng không tìm ra được một vết bụi
hay một giọt nước nào nhỏ xuống. Tôi bò ra sàn nhà tìm
khắp nơi, nhưng chẳng thấy chỗ nào có vẻ có vấn đề
cả.
Tôi
ngồi thừ người ở đấy, cố tìm hiểu tại sao Thầy lại
giận dữ với mình, nhưng không thể nào nghĩ ra được. Thôi
cũng đành, lại phải ra chịu đựng sự mắng mỏ thôi, tôi
vừa nghĩ vừa đi trở lại phòng ăn. “Con không hiểu con
đã làm gì sai trong việc quét dọn phòng thầy,” tôi bứt
rứt nói, “Xin thầy dạy cho con biết.”
“Ðồ
ngu!” Ông quát lại. “Ai bảo là mi làm gì sai trong việc
quét dọn đâu? Sáng nay ta vừa cắm một bông hồng Sharon ở
trong cái lọ. Trông nó thật hài hòa với tấm liễn ở trên,
thật là đẹp mắt, nên ta bảo mi đi vào đó xem. Mi có thấy
cái bông hồng chứ?”
Tôi
chợt nhận ra rằng, sự thực là tôi chẳng để ý thấy cái
bông hồng nào cả. Tôi trở lại phòng Thầy để nhìn.
Bệ thờ được đặt trước một bức tường xưa đã đứng
đó từ hơn 250 năm nay, mầu sắc đã sẫm lại. Trên bức
tường mờ tối đó, một tấm liễn treo dọc xuống, vẽ theo
kiểu thư pháp một chữ “Lộ” (sương) duy nhất.
Khi
một vị thiền tăng viết chữ “Lộ”, ông không có ý muốn
nói đến một hiện tượng thiên nhiên, mà ngụ ý đến sự
hiển lộ trực tiếp. Không có gì có thể che dấu ở đâu
được. Chân lý, hay Pháp, đều lộ ra ở khắp mọi nơi, khắp
mọi vật. Phật tánh đều lộ ra trong tất cả vạn pháp.
Nếu ta để cho những lớp vẩy che mắt chúng ta rơi xuống,
ta sẽ nhận ra rằng tất cả mọi thứ, trong tất cả mọi
nơi đều hàm chứa chân lý tràn đầy; mọi thứ mọi nơi
đều tràn đầy tính Phật, mọi thứ mọi nơi đều có chân
giá trị của chúng. Ðó là ý nghĩa chữ “Lộ” của tấm
liễn treo tường kia.
Bên
dưới tấm liễn, một đóa hoa lớn mầu trắng tinh khiết
dường như đang nổi lên từ bức tường vôi cổ, chan hòa
một vẻ đẹp huyền diệu trước mắt người xem.
Chỉ
mấy phút trước đây thôi, tôi đã không thấy được đóa
hoa đó. Mắt của tôi đã đóng chặt lại không thấy nó.
Ðó chính là cái khó khăn gặp phải trong sự tu tập.
Sự
bỏ xót ấy của tôi trở thành một đề tài cho những bài
giảng dạy của thầy. Sau khi tôi đã phạm phải lỗi lầm
này, Zuigan đại sư thường hay nói trong những câu chuyện
là: “Nếu tâm ta bị vướng mắc, bị chướng ngại, ta sẽ
không thể thấy được ngay cả những vật mà mắt ta đang
nhìn đến. Có biết không, hôm trước đây, có một tên ngu
muội ngồi kia...”
Lời
răn dạy của Khổng Tử
Vị
lão sư bẩy mươi tuổi của tôi đã học hành chuyên cần
ở Trường Ðại học Tokyo và đã tốt nghiệp thủ khoa trong
khóa; ông đã thấu tỏ con đường Thiền đang đi và rồi
đã là viện trưởng của hệ thống các thiền viện Ðại
Ðức. Ðó là tiểu sử thân thế của ông, trong khi tôi đây
… tuổi sấp xỉ đôi mươi, chẳng có gì để phô trương
ngoài học vấn trung học của thời xưa cũ, chẳng bao giờ
lên đại học … tôi đã là đệ tử của ông. Với
vị trí thấp kém của mình, tôi ngưỡng vọng lên Thầy như
một người ở dưới ngước lên nhìn núi Hi Mã Lạp Sơn.
Và
thế là tôi, trong những ngày mới vào tu tập đó, chưa chi
đã thấy tuyệt vọng khi nghĩ đến tương lai, cảm thấy như
là chẳng có ích lợi gì đểø tiếp tục, và tự hành hạ
mình với ý tưởng là không thể nào mình xứng đáng để
có ngày bước thế vào bước chân của Thầy được. Thỉnh
thoảng, khi tiếp được một vài sự ngợi khen của Thầy,
tôi thấy mình như bay vút lên trên mây cao, nhưng rồi sau đó
lại rơi ngay xuống vực sâu của tuyệt vọng.
Sự
khó khăn của tôi không phải là riêng biệt. Có lẽ gần như
tất cả mọi người, từ thời xa xưa cho tới nay, khi bắt
đầu học đạo đều phải trải qua những tình huống như
vậy. Một thí dụ là Tử Lộ, học trò của Khổng Tử
ở Trung Hoa ngày xưa. Tử Lộ đã sống một cuộc đời
phóng đãng cho đến khi ông tình cờ đâm bổ vào một lớp
học trong đó Ðức Khổng Tử đang dạy Ðạo cho đệ
tử của ngài. Bị thu hút bởi cá tính của vị Thầy, Tử
Lộ đã trở thành học trò của ngài. Tử Lộ vốn là một
người rất tự tin nơi sức mạnh thể lực của mình, nhưng
rồi ông sớm nhận ra rằng Khổng Tử không những là một
người dạy Ðạo bằng sự ôn hòa và đức hạnh của mình,
mà còn có một sức mạnh mà Tử Lộ không thể nào sánh bằng.
Khổng Tử thông hiểu sâu xa tâm lý của tầng lớp dân chúng
hạ lưu, khiến Tử Lộ phải tự hỏi không biết trước đây
Ngài đã có đời sống như thế nào. Kiến thức của Khổng
Tử sâu rộng đến nỗi các đệ tử của Ngài đều không
ai hiểu được ngài như thế nào cả. Tuy là một đệ tử
rất chuyên cần, Tử Lộ cũng e ngại rằng mình sẽ không
thể nào bắt kịp được Thầy.
Trong
một dịp, Ðức Khổng Tử buông lời khen ngợi một trong những
đệ tử của ngài là Nhan Hồi, nói rằng: “Hay thay Hồi sinh!
Chỉ sống với một cái bát tre, một ngụm nước, ở trong
một ngõ hẻm chật hẹp. Những người khác chắc sẽ thấy
đời sống đó buồn chán không chịu nổi, nhưng Hồi lúc
nào cũng vẫn lạc quan, vẫn giữ vững tinh thần như thường.
Thật là đáng ca ngợi!”
Ý
của Khổng Tử muốn nói là:,”A, thằng đệ tử Hồi đó
của ta, nó thật là một người phi thường. Nó ăn thức ăn
tồi tàn nhất, uống nước lạnh không thôi” -- ở bên Tầu
vì nước xấu, cho nên uống trà là một sự thường tình,
mà nếu trong cuộc sống chỉ có uống nước lạnh không thì
quả là một điều đáng chú ý! -- “và ở trong một căn
nhà lụp xụp. Hầu hết mọi người sẽ thấy đó là một
điều khổ hạnh không chịu nổi và sẽ cảm thấy tuyệt
vọng. Nhưng Nhan Hồi thì không thế! Dù cho có cuộc sống
như vậy, cũng không có gì ngăn cản được anh ta hoan hỉ
đi theo con đường Ðạo. Thật là một con người kỳ diệu
thay!”
Lúc
đó, Jan Yu, một đệ tử đang có mặt, đã nêu lên rằng:
“Không phải là con không tin vào Ðạo mà thầy và các vị
sư huynh tiền bối như Nhan Hồi đã thực hành. Nhưng có điều
là có những người trong chúng con không đủ khả năng để
làm được như vậy.”
Khổng
Tử khi ấy, thật khác với lúc thường, đã trách mắng Jan
Yu một cách nặng nề về sự giải đãi này, “Thiếu khả
năng là một cái cớ cho những người ít nhất đã từng thử
một lần, đã đi được một phần nào đường. Nhưng ngươi!
Ngay trước khi ngươi bắt đầu thử cái gì đã tự giới
hạn khả năng của mình rồi!”
Khổng
Tử đã răn dạy cho Jan Yu một bài học đích đáng.
Tất
cả mọi người chúng ta đều có những lúc muốn thốt lên
những lời như vậy, muốn trốn tránh trách nhiệm của mình.
Ngay cả tôi, khi đang kể lại câu chuyện răn dạy Jan Yu này,
cũng đã từng cảm thấy y như ông ta khi còn là một đệ
tử. “Không thể nào được. Thầy làm được những
điều ấy vì ngài thông hiểu Phật pháp, vì ngài là một
con người vĩ đại. Nhưng tôi, tôi chỉ là một con người
tầm thường ...” đây không phải là sự khiêm nhường, mà
là sự bào chữa vì đã tự nuông chiều mình!
Và
bây giờ, tôi nhận ra rằng các đệ tử của tôi sẽ
có những hình ảnh thế nào về tôi. Có thể là họ không
ngưỡng vọng tôi như tôi đã ngưỡng vọng Zuigan đại sư,
nhưng họ dường như vẫn nghĩ rằng không thể nào họ có
khả năng sánh bằng với tôi được.
Nếu
thực là như vậy, từ đó tới giờ tôi đã hoàn thành được
những gì? Tôi không có hứng khởi muốn vào học trường
Ðại học Tokyo và tốt nghiệp ở đó ra như đại sư Zuigan.
Tôi cũng không trở thành Viện trưởng một thiền viện nào.
Ðiều tôi làm được chỉ là: khi đến lúc phải làm việc
trong bếp, tôi đã dùng hết sức mình để làm việc trong
bếp.
Trên
đời này bạn không thể nỗ lực làm gì mà không kể đến
giá trị của chính sự nỗ lực đó. Trong mỗi thứ và trong
tất cả đều thể hiện tâm của mình trong đó, đều là
sự hiển lộ của Phật, sự biểu thị của Pháp. Khi
tôi mới bắt đầu bước vào tu viện, đại sư Zuigan, đang
đứng quét vườn bên cạnh tôi, đã chỉ ra cho tôi điều
đó khi ngài nói rằng: “Sao, mi đã hiểu chưa? Từ nguyên
thủy, dù ở người hay vật, cũng không có gì là rác cả.”
Tuy vậy, tôi đã phải mất thời gian đi một đường vòng
xa thực hành tu tập mới hiểu được điều này.
“Khi
cầm chổi lên, hãy trở thành cái chổi ; khi bưng bát cơm,
hãy trở thành bát cơm.” Ðó là những câu nói thông thường
ở trong Thiền, nhưng vấn đề là: làm sao thực hành được
trong đời sống hàng ngày đây?
Việc
phải lo
Trong
những thiền tự, bữa điểm tâm bằng cháo được tiếp theo
với tuần trà trong phòng của vị thiền sư. Thiền sư duyệt
qua công việc phải làm hàng ngày trong khi một ấm trà xanh
bột được khuấy kỹ rồi dâng lên cho ông đầu tiên, và
những người khác tiếp theo. Khi tôi mới đến học đạo
với lão sư Zuigan, có một nữ nhân, tên là Okamoto, cũng đang
sống ở trong chùa Daishuin. Người đàn bà lớn tuổi này đã
tốt nghiệp truờng nữ đại học Ochanomizu dưới triều đại
Taisho và đã làm việc trong ngành giáo dục nữ sinh trong nhiều
năm, cả ở Tokyo lẫn Kyushu. Khi đã ngoài 40 tuổi, cô trở
thành một đệ tử nghiêm túc của Thầy. Cô xin nghỉ việc
và dọn đến ở gần với Thầy, và, lúc nào cũng trong bộ
quần áo lao động thùng thình, cô đã chăm nom săn sóc Thầy
cho đến khi ngài viên tịch. Vào lúc ấy, ở chùa chỉ có
ba chúng tôi, và trong khi dùng trà Ðại sư thường nói chuyện
với cô Okamoto, nhưng ngài chẳng bao giờ thèm nói với tôi
tiếng nào.
Một
hôm cô Okamoto, có lẽ vì thương hại, đã đem tôi vào câu
chuyện. “Còn con nghĩ thế nào, Morinaga?”
“Không,
không,” Lão sư nói chen vào. “Nó chưa đủ tư cách để
nói trước mặt ai hết.”
Theo
quan niệm của lão sư, muốn nói chuyện trước người
khác, người ta phải tự biết mình hoàn toàn mới được.
Sự nhận biết bản thể của chính mình được gọi là Kiến
Tánh trong thiền môn. Những người chưa kiến tánh được
coi như chưa đủ tư cách để nói chuyện trước mặt người
khác.
Sự
việc này làm tôi tức tối, và một lần nữa tôi lại rủa
thầm trong bụng, “Ông già đáng ghét! Ông ấy nói chẳng
có người nào, vật nào là rác cả, nhưng ông ấy đối xử
với mình có khác gì rác rến đâu?”
Tôi
chỉ nghĩ thầm như vậy thôi. Nhưng nếu tôi dám tỏ lộ thái
độ ra ngoài, chắc mọi sự sẽ chấm dứt ngay! Lão sư chắc
sẽ nói thẳng với tôi không ngần ngại rằng: “Thế à,
vậy thì mi trở về nhà đi. Không ai có thể học đạo với
một vị thầy mà không tôn kính và tin tưởng vị thầy ấy
được.”
Qua
kinh nghiệm của tuần trà này, tôi hiểu rằng sự tin tưởng
thực sự tức là sự chấp nhận mà không có quyền thắc
mắc. Tôi phải đồng ý nhận bất cứ công việc gì, cho dù
nó khó khăn vượt bực đến đâu. Cho dù tôi có được
bảo phải làm ba việc cùng một lúc, cho dù tôi được
bảo phải làm điều gì tôi chưa từng làm, tôi cũng không
bao giờ, dưới bất cứ hoàn cảnh nào, được nói rằng:
“Con không làm được. Ðiều đó không thể làm được.”
Nếu
vậy, tôi phải làm sao bây giờ? Sống chết, tôi cũng phải
dồn hết mọi nỗ lực tập trung vào công việc … đó là
điều duy nhất tôi có thể làm được. Ðiều đầu tiên mà
Ðại sư đã nhồi nhét vào trong tôi là phải tin tưởng
nơi vị thầy. Ðiều đó có nghĩa là tôi phải lo làm công
việc của chính mình, qua sự cố gắng toàn diện, và không
được than phiền chút nào.
“
Không
thể làm được ”
Khi
xưa lúc cha mẹ tôi còn sống và khỏe mạnh, tôi thường cằn
nhằn suốt ngày, và câu nói “Con không thể làm được”
lúc nào cũng sẵn sàng trên đầu môi chót lưỡi của tôi.
Tuy vậy, tôi để ý thấy rằng câu “Con không thể làm được”
mà lúc nào tôi cũng nói luôn mồm này, thực sự ra không
phải là một lượng định vô tư về sự thiếu khả năng
một cách khách quan, mà sự thiếu khả năng đó là dựa trên
sự lượng định đầy chủ quan của tôi về năng lực của
mình vào thời điểm đó.
Khi
bạn nghĩ rằng bạn có khả năng, tỷ như là, tới 10.0 chẳng
hạn, tất cả những gì lên đến 9.9 là có thể làm được;
cái cảm tưởng “Không thể làm được” khởi lên đúng
vào lúc bạn được giao cho một công việc lên đến 10.1.
Người nào mau chóng cho rằng một công việc nào đó là không
thể làm được sẽ không bao giờ làm được một việc gì
quá 10.0. Người đó sẽ chẳng bao giờ khá hơn được. Vì
vậy, bạn không bao giờ nên nghĩ rằng, “Tôi không làm được”.
Không
cần biết thầy của mình đòi hỏi mình tới mức nào, bạn
phải luôn luôn làm tròn nhiệm vụ. Bạn phải cố gắng không
ngừng để lo cho xong việc, và trong khi bạn leo thang … từ
10.1, 10.2, 10.3 … bạn sẽ dần dần phát triển, lần đầu
tiên, một khả năng mà bạn không bao giờ ngờ là bạn
có thể có được.
Giả
tỷ như bây giờ Thầy tôi ra lệnh, “Giết!” hay “Chết
đi!” Tôi có sẽ phải giết, hay chết thực không? Tôi sẽ
phải làm gì bây giờ? Nếu nhận những lệnh như vậy, làm
sao người ta có thể tin tưởng được vị thầy đó?
Trước
hết, chúng ta phải nhận biết rằng người thầy mà chúng
ta tin tưởng sẽ không bao giờ bảo chúng ta làm một điều
gì vô đạo đức. Do đó, khi vị thầy dùng đến chữ giết
hay là chết, những chữ này phải có một ẩn ý sâu xa, mà
người đệ tử chưa thể hiểu được.
Và
rồi, chấp nhận rằng những ngôn từ được dùng có một
ý nghĩa khác sâu xa hơn, nhưng không hiểu ý nghĩa ấy như
thế nào, người đệ tử thấy mình bị dằn vặt bởi một
mối nghi lớn. Ðeo đẳng mối nghi này trong tâm, thường xuyên
bị thúc đẩy với ý nghĩ về nan đề trước mắt, người
đệ tử dồn hết sức lực để lo tập trung tu tập. Ðiều
đó, theo nhà Thiền, gọi là “đại tín căn”.
Những
câu như là “Giết Phật, giết Tổ” và ngay cả “Giết
cha, giết mẹ” xuất hiện nhan nhản trong những văn bản
của Thiền tông. “Ðại tín căn” trong Thiền là làm tới
nơi tới chốn những gì được giao cho, đúng với ý nghĩa
của chữ này. Bất kỳ bạn có nghe nói gì, bất kỳ bạn
có được giao cho việc gì, bạn cũng làm việc đó một cách
siêng năng, không một chút phàn nàn. Sự siêng năng này
là đặc điểm nổi bật trong thời gian đầu tiên học đạo
của tôi .
Ðiều
đó, tuy nhiên, không có nghĩa là tôi thi hành những việc được
giao phó một cách đáng tin cậy hay là thành thạo gì. Ví dụ
như, có lúc trong ngày đầu tiên của tôi, khi tôi được sai
đi lau nhà, tôi quỳ gối xuống sàn nhà, cầm cái giẻ lau
trong một tay, lau qua lau lại từ phải sang trái. Tuy nhiên,
những sàn gỗ của một ngôi thiền tự thật bao la lớn rộng
hơn nhà thường rất nhiều.
“Ðồ
ngu! Mi tính ngồi đó lau nhà tới bao nhiêu ngày mới xong hả?
Phải lau như thế này này.” Khi tôi thấy Thầy quỳ xuống
cả hai tay lẫn hai chân, mông chổng lên, lấy hai tay đè lên
miếng giẻ trên sàn rồi kéo lê thoăn thoắt suốt dọc hành
lang, tôi cảm thấy như những lớp vẩy đang che lấp tầm
mắt nhìn của tôi đang rơi xuống đất.
Khi
học khoa văn ở trường trung học, những bạn đồng học
và tôi thuờng đọc những sách triết và rồi thảo luận
với nhau suốt đêm. Toàn là những câu chuyện lý thuyết!
Tôi đã bỏ biết bao nhiêu thì giờ trong những hoạt động
đó rất lâu trước khi tôi bước chân vào cổng Thiền. Nhưng
tất cả chỉ là lý thuyết, và trong thực tế, tôi còn chưa
biết lau nhà cho đúng cách nữa! Tôi cảm thấy thật
xấu hổ với mình khi nhận ra điều này, và tự quyết định
rằng từ đây tôi sẽ cố gắng làm hết sức mình. Nhưng
tôi vẫn chưa biết hướng nguồn năng lượng của mình đến
đúng nơi đúng chỗ.
Ban
ngày thường có một nhóm thanh niên trẻ đến chùa làm công
quả. Nếu một người trong số họ cầm cây chổi lên và
bắt đầu quét vườn, tôi sẽ nhẩy bổ nào nói: “Ðưa đây,
để tôi làm!” … và giằng lấy cây chổi trên tay anh ta.
Nếu có một người khác đi lau nhà, tôi cũng sẽ nhào đến,
dựt lấy cái giẻ lau, “Ðưa đây, để tôi làm!” Nếu có
một ai đó đi nhóm lửa để đun nước tắm, tôi cũng sẽ
chạy bay vào dành lấy việc, tuyên bố “Ấy để tôi
làm!”
Cuối
cùng, tất cả bọn họ đều kêu lên với tôi, “Bộ thầy
không tìm được việc gì làm mà không phải dành lấy việc
của người khác hả?”
Lúc
ấy, tôi quả tình không hiểu được tôi đã làm gì sai. Có
lẽ đó là bởi vì tôi không thể tự xoay xở được điều
gì, bằng những nỗ lực riêng của chính mình.
Bây
giờ, khi các thiền sinh đến chùa của tôi để tập tọa
thiền, việc đầu tiên tôi giao cho họ làm là đun nước tắm.
Biết rằng đôi khi họ có thể nhóm lửa dưới một bồn
tắm trống không, tôi thường bắt đầu hỏi dò họ vài câu.
“Anh
sắp phải sửa soạn đun nước tắm. Việc đầu tiên anh làm
là gì?”
Rất
nhiều khi, câu trả lời là: “Nhóm lửa.”
“Anh
không định đốt tôi đấy chứ hả?” Tôi hỏi.
“Ồ
không, đầu tiên con phải cho nước vào đầy bồn đã,”
thiền sinh sẽ nói vậy.
“Anh
chỉ cho nước vào bồn như vậy thôi à?” Câu hỏi này làm
họ bối rối vì họ không hề có ý nghĩ là phải cọ sạch
bồn tắm trước. Sau khi duyệt qua với họ những cái căn
bản … cọ sạch bồn tắm, bơm nước vào đầy bồn, kiểm
soát lại mực nước, đậy nắp lên, rồi nhóm lửa … tôi
trở lại để thấy họ đang loay hoay khó xử bên cái lỗ
nhóm mồi. Nhìn vào trong lò, tôi thấy vài khúc củi to nằm
chắn lên trên đống giấy báo đang cháy rụi.
“Làm
thế này lửa sẽ không bắt được, có phải không? Sao không
dùng mấy que củi nhỏ hơn?” Tôi hỏi.
“Nhưng
bạch thầy, không có que củi nào nhỏ hơn cả.”
“Thế
thì chẻ nó ra cho nhỏ hơn được không?”
“Con
không biết cái rìu ở đâu.”
“Nếu
không biết, tại sao không hỏi?”
Cuối
cùng sau đó, người thiền sinh trẻ tuổi bắt đầu đi chẻ
củi. Nhưng đó không có nghĩa là sẽ có ngay một ngọn lửa
bùng lên. Khói tuôn ra từ cái lỗ nhóm mồi, mà lửa vẫn
nhất định không chịu cháy. Khi tôi đến thanh tra mọi việc,
tôi thấy đám tro tàn từ ngọn lửa trước vẫn chưa được
bốc đi. Tôi bèn hỏi, “Này, cái gọi là lửa thực ra là
gì nhỉ?”
“Thì,
đó là một hỗn hợp của oxygen và vật .”
“Oxygen
ở đâu?”
“Ở
trong không khí.”
“Nếu
vậy, sao anh không hốt cái đống tro này đi để cho không
khí có thể vào được dễ dàng? Và nếu ống khói bị nghẽn,
anh cũng phải thông cái đó cho sạch luôn nữa.”
Nếu
tôi nói như vậy, người thiền sinh sẽ trèo lên trên mái
nhà để thông ống khói, nhưng khi trở xuống thế nào họ
cũng đạp chân lên làm vỡ mất vài miếng ngói.
Nhưng
tôi không thể cười những người trẻ tuổi này, bởi vì
tôi cũng đã có thời giống y như họ!
Giữa
thầy và trò
Một
buổi sáng trong thời kỳ tôi còn mới vào tu, cô Okamoto hỏi
đại sư Zuigan trong khi dùng trà: “Bạch thầy, nếu so sánh
đại sư Kosen và Soen, ai giỏi hơn?”
Có
lẽ tôi cần phải giới thiệu một chút về tông phái của
tôi qua đồ biểu dưới đây để trình bầy được rõ ràng
hơn:
Hakuin (Bạch Ẩn Huệ Hạc, 1685-1768)
|
Kosen (Hồng Xuyên Tông Ôn, 1816-1892)
|
Soen (Hồng Nhạc Tòng Diễn, 1859-1919)
____ |____
|
|
Sokatsu Josho
|
(Chuyết Ông Tông Hoạt)
1870-1954
|
Zuigan
(Thuỵ Nham Tông Hoạt, 1879-1965)
|
Sesso
|
Soko
Tôi
là “Soko” ở dưới cùng của bảng này, và Sesso là sư huynh
của tôi trong hệ phái. Cả hai chúng tôi cùng là đệ tử
của đại sư Zuigan, và sư phụ của thầy chúng tôi là đại
sư Sokatsu. Nếu bạn đi ngược dòng cho tới tận nguồn
gốc cuối cùng, bạn sẽ đến ngay Ðức Phật Thích Ca Mâu
Ni.
Trong
Thiền tông, sự truyền thừa của các bậc đại sư đã đạt
được giác ngộ qua quá trình tu tập rất là minh bạch. Kinh
nghiệm tâm linh này phải được người thầy xác nhận, và
chỉ những ai được ấn chứng mới chính thức gia nhập vào
tông phái. Tất cả mọi người đều biết rõ ràng ai
là người đã được thầy truyền tâm ấn, và sự kế thừa
này được giữ gìn rất cẩn trọng. Trong tông Lâm Tế, danh
hiệu “lão sư” (Roshi) được dùng để tôn xưng những
người được kế thừa trong hệ phái.
Kosen
Roshi, người đứng đầu trong hệ phái ở trên, tức là Kosen
Imakita, một bậc đại sư xuất chúng đã từng trụ trì chùa
Viên Giác (Engakuji) ở Kamakura suốt từ những ngày cuối cùng
của thời đại Ðức Xuyên trải dài cho đến thời Minh Trị
trong thế kỷ thứ 19. Trong những ngày đen tối Phật giáo
bị đàn áp, ngài đã vượt lên trên những phân chia phe phái
và nỗ lực bằng mọi cách để phục hưng lại đạo Phật.
D.T. Suzuki, một cư sĩ nổi tiếng, đã rất ngưỡng mộ ngài
và viết một quyển sách nói về ngài.
Người
truyền thừa sau Kosen Roshi là Soen Shaku Roshi, người đầu
tiên phổ biến đạo Phật ở Mỹ Quốc, và cũng đã trụ
trì chùa Viên Giác (Engakuji) ở Kamakura. Soseki Natsume là một
trong vô số người đã học Thiền dưới vị đại sư này.
Chính
hai vị này là người cô Okamoto đã nói đến khi cô hỏi Thầy
ai là người giỏi hơn.
Lão
sư Zuigan, trông rất khắc khổ và không hay nói đùa, đã trả
lời với bộ mặt thật nghiêm nghị, “Ðại sư Kosen giỏi
hơn.”
“Nếu
vậy, giữa đại sư Soen và đại sư Sokatsu, ai là người
giỏi hơn?” cô Okamoto tiếp tục.
Ðại
sư Sokatsu mà cô đang nói đến là người đã từ chối không
sống trong một tự viện danh tiếng sau khi đã được truyền
thừa, mà đi về sống ẩn dật tại một cái am nhỏ xíu gọi
là Ryoboan, ở trong khu vực Yanaka của thành phố Tokyo; ở đó
ngài đã dạy Thiền cho những cư sĩ . Những phụ nữ
đầu tiên nổi danh với lập trường đòi hỏi nữ quyền
ở Nhật Bản đãø ở trong số rất nhiều các đệ tử của
ngài. Vị lão sư Sokatsu này là nhân vật mà cô Okamoto đã
hỏi tới, nhưng lão sư Zuigan vẫn trả lời rằng: “Lão sư
Soen giỏi hơn.”
“Ồ,
thầy ơi! Thế thì tệ quá! Chẳng lẽ tông phái này càng ngày
càng xuống dốc tới mức không còn gì sao? Thế thì bây giờ,
thầy nghĩ sao, ai giỏi hơn, Sokatsu đại sư hay Zuigan đại
sư?” Cô Okamoto nhất định hỏi.
Lão
sư Zuigan, đáp lại sự quan tâm của cô về tông phái càng
ngày càng xuống dốc, đã trả lời mau mắn, “Ta giỏi hơn.”
Suốt
từ đầu cho tới lúc ấy, luôn luôn vẫn là người thầy
giỏi hơn, nhưng khi được hỏi về vị trí của chính mình
trong tông phái, ông lại bảo rằng, “Tôi giỏi hơn thầy
của tôi.”
Ðiều
này làm cô Okamoto vô cùng hoan hỉ, sau đó cô lại hỏi tiếp,
“À, nếu vậy thì, Lão sư ơi, thầy với đệ tử của thầy,
Sesso, ai là người giỏi hơn?”
Nghe
vậy, tôi muốn bật cười lớn lên. Lão sư Zuigan, người
đã từng trụ trì các thiền viện Diệu Tâm và Ðại Ðức,
là một đỉnh cao trong thế giới Thiền tông. Trong khi đệ
tử của ngài, Sesso, còn chưa có chùa để trụ trì, còn
đang sống như người quản tự giữ một ngôi chùa nhỏ trong
hệ thống thiền viện Diệu Tâm, mà việc làm chỉ là giữ
gìn vườn tược cho sạch sẽ. Bởi vì tôi chưa thể nhìn
thấu được những giá trị ẩn tàng trong con người mà chỉ
phán xét dựa trên vị thế xã hội, tôi đã nghĩ rằng so
sánh lão sư Zuigan với thầy Sesso giống như là so sánh mặt
trăng trên cao với con rùa vậy. Không thể nào nói đến chuyện
đọ sức giữa hai nguời ở đây được, và tôi gần như
muốn phá lên cười.
Lão
sư Zuigan, không cần ngừng lại một giây nào để suy nghĩ,
nói ngay: “Cái đó còn phải xem.”
Khi
những lời nói này đập vào tai tôi, bộ mặt tôi, lúc đó
đang sẵn sàng để cười phá lên, lập tức nghiêm chỉnh
lại, và bây giờ dù là ngoài ý muốn, tôi cũng vẫn cảm
thấy rưng rưng như muốn khóc. Tôi thật có phước mới được
một vị thầy như thế này. Ngài có thể mắng tôi thật phũ
phàng, gọi tôi là đồ vô dụng, và nói rằng tôi không xứng
đáng để nói trước mặt ai cả, nhưng ngài vẫn luôn luôn
để mắt đến tương lai các đệ tử của mình. Tôi nhận
ra rằng, dù bây giờ phải đương đầu với sự non kém của
tôi, ngài cũng đã tin tưởng tôi sẽ trở thành người
như thế nào trong một năm, hai năm, mười năm, hay hai chục
năm nữa. Từ bấy lâu nay làm việc với tôi, ngài vẫn luôn
luôn mang trong tâm hình bóng tiềm năng của tôi trong tương
lai cũng như trong hiện tại. Tôi cảm nhận mãnh liệt được
điều đó khi ngài nói: “Cái đó còn để xem.”
Và
rồi sự việc xẩy ra là, vài năm sau đó, thầy Sesso đã tỏ
ra xứng đáng với câu nói ấy, đã trở thành người truyền
thừa của đại sư Zuigan và rồi trở thành viện trưởng
thiền viện Ðại Ðức. Theo những lời dậy dỗ của đại
sư Zuigan, tôi đã ở bên cạnh sư huynh Sesso trong nhiều năm
và sau này trở thành người truyền thừa của ngài. Trong giây
phút thị tịch, Ðại sư Sesso đã đạt được một trạng
thái siêu xuất của tâm, không kém gì người thầy của ngài.
Và
thế là, câu chuyện trong tuần trà của một buổi sáng ấy,
cuối cùng, đã làm cho tôi tin tưởng được Thầy của mình
tự đáy lòng.
Nhưng
mặc dù vậy, tôi cũng vẫn chưa đi đến đâu trong đường
tu của mình.
Chuyện
của nó và tôi
Có
một câu chuyện nữa cũng miêu tả được tương quan tin cậy
mật thiết giữa thầy và trò. Ðại sư Soen có một người
đệ tử tên là Josho Ota. Người đệ tử này sau đó đã trở
thành viện trưởng thiền viện Viên Giác và rồi viện trưởng
thiền viện Ðại Ðức, nhưng câu chuyện tôi kể ra sau đây
xẩy ra khi ông vẫn còn tu tập dưới trướng của lão sư
Soen.
Một
ngày mùa hè, có một đạo hữu đến chùa Viên Giác ngỏ lời
mời đại sư Soen rằng, “Ðại sư, thường ngày ngài vẫn
dùng những thức ăn do các vị sư ở đây nấu, nhưng hôm
nay nóng nực như thế này, con muốn mời ngài đi ăn tối,
một cúng dường nho nhỏ để giúp ngài quên cái nóng đi phần
nào.”
Vốn
là người rất phóng khoáng, Ðại sư Soen trả lời, “Thế
à, ngươi sắp cho ta ăn tiệc hả?” Ngài bèn gọi đệ tử
Josho theo hầu cận, và rồi đi đến tiệm ăn.
Vì
lúc đó là mùa hè, nên những liếp cửa bằng tre chắn ngang
những phòng riêng lót chiếu tatami được kéo qua một bên,
khiến các thực khách từ phòng này có thể nhìn qua các phòng
khác được. Lão sư Soen ăn uống rất tận tình và trở nên
hoàn toàn cao hứng. Oâng gắp mấy miếng cá sống lên nói,
“A, mấy cái rau này quý hiếm quá! Sao mấy ông sư không trồng
rau này trong vườn của chùa nhỉ?” và rồi cứ tiếp tục
đùa dỡn như vậy cho đến khi, y phục trên người bung ra
gần hết, gần như trần truồng, ông nhẩy múa um sùm.
Vị
lão sư là người rất nổi tiếng, tên ngài được biết đến
kể cả ở nước ngoài nữa. Chẳng mấy chốc các thực khách
ở những phòng kế bên bắt đầu xôn xao, “Có phải thầy
viện trưởng chùa Viên Giác đang nhẩy múa trần truồng ở
đó không nhỉ?” Josho liền đi ra kéo cánh cửa tre ngăn lại.
Bất
ngờ, đại sư nắm lấy cổ áo Josho, mắng ngay: “Ê! Bộ
mi chê bai hành vi của ta hả? Mi đóng cánh cửa đó có phải
vì mi nghĩ là ta đã làm sai không hả?”
Josho,
trong một lúc lung lay niềm tin nơi thầy, tự nhiên đã thấy
mình bị đấm đá tơi bời.
Các
vị thiền tăng thường qua một quá trình tu tập dựa trên
cơ sở hành động nhiều hơn lời nói. Nhưng mặc dù vậy,
trong tình trạng ma men như thế này, và không thấy có cơ gì
chấm dứt sau năm sáu cú đấm đá, Josho, từ đó tới giờ
vẫn im lặng và ngoan ngoãn chịu đòn, bây giờ không muốn
chịu đựng thêm nữa. Nắm chặt lấy tay thầy, ông nói:”
Dù có là đại sư hay không đại sư, thầy cũng không được
tiếp tục như thế này.”
Soen
đại sư dằng tay ra và trở về chỗ ngồi. Làm như không
có gì đã xẩy ra, ông tiếp tục uống rượu cho đến khi
trở về chùa Viên Giác, vẫn trong tình trạng cao hứng tột
độ.
Mặc
dù câu chuyện đã chấm dứt ở đó, người đạo hữu đã
mời họ đi ăn tối đó cảm thấy rất ái ngại. Biết rằng
quan hệ giữa thầy trò nơi thiền viện rất là nghiêm khắc,
ông lo lắng không biết lão sư có đuổi Josho đi sau khi họ
trở về chùa không. Cảm thấy không thể nào yên tâm được
với tình trạng này, ông vội vàng đi đến chùa Enkakuji để
làm người trung gian hòa giải.
“Xin
cám ơn thầy đã hoan hỉ nhận bữa cơm cúng dường nhỏ nhoi
của con và đã cho con được hân hạnh dùng bữa với thầy,”
ông nói với lão sư, “Nhưng con cũng muốn nói thêm rằng,
mặc dù Josho đã không được lễ độ với thầy trong bữa
ăn, nhưng con tin chắc rằng thầy ấy không có ý xấu gì đâu.
Cúi xin thầy, vì nể tình con, mà bỏ qua mọi sự và tha thứ
cho thầy ấy.”
“Cái
đó là việc của tôi với nó,” lão sư trả lời cộc lốc.
Xin
đừng hiểu câu nói đó rằng đây là vấn đề giữa thầy
và đệ tử và người ngoài không nên xen vào. Thực sự ra
ý của ông là thầy trò ông có thể đấm đá lẫn nhau, nhưng
giữa hai người họ không bao giờ có một khoảng cách nào
dù nhỏ như sợi tóc. Ðối với một người tu thiền, được
nghe thầy mình nói như vậy quả là một điều đáng mừng,
nhưng đối với một vị thầy, có được một người đệ
tử xứng đáng để nói điều ấy ra cũng thật là một điều
hạnh phúc lớn lao. Tôi đã nghe kể lại rằng, sau đó, người
đạo hữu đang tính xen vào trong quan hệ thầy trò kia đã
đỏ mặt ngượng ngùng và rút lui ngay khi nghe câu trả lời
cộc lốc đó.
Câu
chuyện này nhắc nhở tôi đến quan hệ giữa những võ sĩ
sumo và cái vòng đai. Lý do khiến hai người võ sĩ to béo khổng
lồ, mà hợp với nhau lại có thể cân đến trên năm trăm
pounds Anh, đã đến đấu chiến với nhau, dùng hết sức lực
để đánh bại người kia, là vì có một vòng đai ở dưới
họ; vòng đai ấy, như sợi dây nối liền thầy và đệ tử,
tuyệt đối sẽ không được phá vỡ. Nếu một võ sĩ, dù
có khéo léo đến đâu, mà phải đi đấu trong một vòng đai
vẽ trên băng đá, chắc hẳn ông ta sẽ cố hết sức mình
để làm cho băng đá ấy không bị tan vỡ mất, phải vậy
không?
Ba
loại đệ tử
Trong
tu thiền, có một điều cần làm là phải “phá vỡ bản
ngã” … không có cách nào có thể né tránh điều đó được.
Hơn nữa, nếu rụt rè không dám phá vỡ bản ngã của mình
… cái thường hay chống trả lại dữ dội khi có nguy cơ
bị phá vỡ … thì coi như sẽ chẳng có hi vọng đạt tới
Ðạo được. Những người không biết nghiến răng chịu đựng,
nhất quyết không sờn lòng dù là bị đá đấm bầm dập,
bị đánh đuổi tàn nhẫn, sẽ không thể tồn tại được
trong cái gọi là tu thiền này. Vì lý do đó, có thể nói rằng
những đệ tử học thiền được chia làm ba loại, tùy vào
sự liên hệ của họ với thầy của họ: “Những người
xuất sắc nhất ràng buộc với thầy họ trong sự căm ghét,
người tầm thường trung bình trong lòng thương xót, và những
người yếu kém nhất là trong sự khuất phục quyền lực.”
Những
người xuất sắc nhất là những đệ tử hạng nhất, hay
là người có đức hạnh lớn. Nếu nhìn bề ngoài, những
đệ tử này trông còn có vẻ hằn học nữa. Thầy càng đối
xử với họ nghiêm khắc chừng nào, họ càng cố gắng tiến
sâu hơn, thề quyết phải vượt qua cho bằng được, để
tỏ cho thầy họ thấy khả năng của họ đạt được như
thế nào. Không có điều gì làm những đệ tử này có thể
buông lơi ra được.
Những
đệ tử tầm thường trung bình là những người thực sự
gặp khó khăn trong sự tu tập và muốn rút lui, nhưng cảm
thấy họ không thể bỏ cuộc được, khi thấy Thầy đã hết
sức tử tế và yểm trợ cho họ. Những đệ tử loại này
được lôi kéo nhờ tình thương của người Thầy.
Sau
hết, loại đệ tử yếu kém nhất, khi cảm nhận thấy quyền
lực độc tôn của người Thầy, họ muốn nương dựa vào
“bóng mát cây cổ thụ” ấy. Ðiều đó có nghĩa là, đối
với họ nếu phải nương dựa vào một người nào, thì tốt
nhất là người ấy phải có nhiều quyền lực. Câu nói, “Những
kẻ thấp kém hay bị hấp dẫn bởi quyền lực” không chỉ
dừng lại ở trong cánh cổng của một thiền viện, mà còn
đúng với xã hội nói chung.
Tất
cả những điều trên nhắc tôi nhớ lại một trong những
lỗi lầm mà tôi đã phạm phải khi tôi đã vào tu được
một thời gian. Trong một dịp, có một người đã nêu ra một
trong những khuyết điểm của tôi, và tôi nổi đóa lên: “Anh
biết gì mà nói!” rồi mắng cho anh ta một trận. Tôi đã
biểu lộ sự ngã mạn mà người ta đôi khi gặp phải trong
bước đường tu, một loại “đầu óc đã bị rỉ sét trong
sự tu.”
Khi
câu chuyện này đến tai Thầy tôi, người gọi tôi vào trong
phòng ngay lập tức, để nói rằng tôi bị đuổi ra khỏi
chùa. Người nói bằng cách là: “Thu dọn hành lý đi.”
Ap
trán xuống đất, trong ba mươi phút tôi khẩn khoản xin lỗi
hết lời, nhưng những lời van xin tha thứ của tôi chẳng
có công hiệu gì.
“Con
làm điều đó vì con đã không suy nghĩ kỹ càng. Cái đó xẩy
ra chỉ vì con chót lỡ, trong một phút sơ xuất của con thôi.”
Tôi nại cớ ra bào chữa như vậy.
“Nếu
đó là một điều mi làm sau khi đã suy nghĩ kỹ càng, và rồi
sau đó thấy sự sai lầm của mình, thì điều đó sẽ không
xẩy ra lại,” thầy đáp lại, “nhưng nếu nó “xẩy ra
vì chót lỡ” trong một phút sơ xuất của mi, thì tức là
nó đã khởi lên từ một cái gì thâm căn trong tâm của mi,
trong tánh khí của mi. Nếu thật như vậy thì lại càng không
đáng để được tha thứ!”
Tôi
đã dùng hết cách để xin lỗi mà vẫn không được. Cuối
cùng, tôi ngẩng người lên, cái thân hình mà từ nẫy giờ
đã quỳ mọp xuống như một con nhện đang bám lấy sàn, và
rồi tôi nhìn thẳng vào mặt lão sư. Mắt của người vốn
đã to, mà khi ngài nhìn trừng trừng vào tôi lúc đó, trông
như là cả bộ mặt của ngài chỉ còn là hai con mắt khổng
lồ. Tôi trừng mắt lại, không chịu thua chút nào.
“Không
có chỗ nào cho con đi cả, chỉ có chỗ ở với thầy thôi.
Thầy có ném con ra ngoài một ngàn lần hay mười ngàn lần,
con cũng tuyệt đối không bao giờ rời thầy ra đâu!” Tôi
hét lại.
Ðáng
ngạc nhiên thay, nước mắt bỗng dâng lên trong mắt thầy,
và tôi tưởng chừng như những giọt lệ to long lanh sắp rơi
xuống má người. Rồi tôi nghe thầy nói, “Ta tha cho mi đó.
Ði ra ngoài lo công việc đi.”
Khi
nhớ lại câu chuyện này, tới lúc này, tôi vẫn còn rưng
rưng nước mắt.
Người
thầy đem sự khắc nghiệt ra đối với đệ tử để làm
khơi động ý chí chống trả, kể cả sự căm ghét, nghĩ rằng
làm như vậy người đệ tử sẽ bằng cách nào đó vượt
qua được tới đích cuối cùng. Nhưng thật sự không phải
thế, khi áp dụng sự đối xử nghiêm khắc với đệ tử,
người thầy luôn luôn cầu nguyện cho đệ tử của mình sẽ
có thể vượt qua hết được mọi sự. Nếu ngày nay có một
đệ tử nào đến nói với tôi rằng:”Dù cho có giết con,
con cũng không bao giờ rời xa thầy,” chắc chắn rằng tôi
cũng sẽ khóc.
Vì
vậy, bạn có thể thấy được tại sao tôi cảm thấy biết
ơn khi nghĩ đến cung cách vị Thầy mà hiện nay đã ra người
thiên cổ đối xử với tôi. Từ đầu đến cuối, ngài đã
hành xử như ø thể là tôi, một kẻ không ra gì, là một
loại đệ tử xuất sắc nhất vậy. Nếu Lão sư lượng định
về tôi một cách khác, nếu người đã nghĩ rằng, “Nếu
mình không nương tay, thì chắc người này sẽ bỏ cuộc”,
thì có lẽ ngài đã đối xử với tôi nhẹ nhàng hơn.
Cho
tiền mai táng
Tôi
đã kể lại câu chuyện làm sao tôi, một kẻ vụng về chẳng
biết làm gì cho đúng cách, đã được huấn luyện trở thành
một người ít nhất có thể nấu cơm trên bếp lửa, đun
nước tắm, cọ nhà vệ sinh, và làm việc trong vườn được.
Và rồi, theo đúng thời đúng lúc, tôi cũng được dạy những
điều khác, như là đọc kinh điển và cử hành những lễ
nghi thích hợp đối với một vị tăng sĩ.
Rồi
một ngày kia, sau khi tôi đã ở chùa Daishuin hơn một năm,
lão sư nói với tôi, “Một người, nhất là một người
đã xuất gia làm tăng sĩ, cần phải có những giao tiếp với
người khác. Mi không thể sống cô lập được. Mi phải có
những liên hệ đến nhiều người khác. Tuy rằng một đệ
tử học đạo chỉ với một người thầy thôi cũng có thể
gọi là đủ, nhưng vì mục đích phải có những liên hệ
xã hội khác, mi cần phải đi đến một thiền đường để
tu tập ở đó.”
Có
hai loại thiền tự. Thường thường các vị sư khi mới xuất
gia ở trong một loại chùa cho đến khi tốt nghiệp đại học.
Ra trường rồi, những vị tăng trẻ này gia nhập một thiền
viện để chuyên tu tọa thiền một cách triệt để. Tôi đã
được thầy định đoạt cho gia nhập vào thiền viện Ðại
Ðức để tu trì như loại sau này.
Một
tăng sĩ trên đường đến thiền viện chuyên tu đem theo trong
mình một cái hộp nhỏ đựng quần áo. Cái hộp đó, theo
truyền thống, làm bằng giấy dầy được phết lên một lớp
sơn mài cho cứng, lớn hơn cái hộp đựng sách một chút.
Bát ăn cơm, đũa, dao cạo và đá mài để cạo đầu, kinh
sách, đồ lót, và áo mưa được gói làm hai gói và cột lại
bằng một sợi dây để vị sư đó có thể quẩy hết những
đồ dùng đó lên trên lưng. Ông ta vén áo lên giắt vào lưng
quần, nai nịt hai bắp vế, cột chặt lại đôi giầy rơm,
đội nón tre lên đầu, rồi lên đường đến thiền viện.
Tôi
đang sắp xếp lại cái hộp quần áo của tôi thì lão sư
đi vào hỏi, “Thế nào? Mi đã cột cái hộp lại chưa?”
“Chưa,
con đang sắp làm đây.”
“Thế
thì đúng lúc quá. Ðem cái nắp hộp đi vào phòng của thầy.”
Thầy ra lệnh.
Cái
hộp này, trông giống như một cái rương nhỏ đựng thuốc,
được đóng chặt lại bằng một cái nắp. Không hiểu lão
sư có ý định gì, tôi đem cái nắp vào trong phòng của người.
Lão sư cầm lấy nắp hộp và để vào dưới đáy ba tờ giấy
một ngàn yen. (vào thời buổi đó, tờ giấy một ngàn yen
vẫn còn có giá lắm)
“Mi
có hiểu ý nghĩa của cái này không?” lão sư hỏi sau khi
người đã bỏ tiền vào.
“Có
phải tiền cho con tiêu không?” tôi định hỏi, nhưng đã
kịp ngăn lại trước khi thốt ra lời nói, biết rằng tôi
sẽ bị mắng ngay lập tức nếu nói điều gì ngu dại.
Lão
sư đã quá bẩy mươi tuổi khi tôi đến đó xin làm đệ tử
của ngài. Lúc đó ngài đã cảnh cáo tôi là, “Ta không biết
ta còn sống bao nhiêu lâu nữa. Nếu thầy của mi chết nửa
chừng, mi sẽ bị đứt gánh nửa đường tu. Nếu không có
ai để nương dựa vào để sống, mi sẽ gập rất nhiều khó
khăn. Tốt hơn là nên đi tìm một vị thầy khác trẻ hơn.”
“Con
vẫn còn ít tiền cha con để lại. Con sẽ không là gánh nặng
tài chánh cho thầy đâu,” tôi năn nỉ.
Với
lời hứa đó, tôi đã được Lão sư thâu nhận vào làm đệ
tử dưới trướng. Theo sự thỏa thuận trước này, ông đã
chưa bao giờ cho tôi một xu nào để tiêu.
Bây
giờ, khi tôi sắp rời chốn này đi đến thiền viện, tôi
nghĩ chắc Lão sư, dù luôn luôn có vẻ chắc nịch, cũng có
thể cho tôi một ít tiền để tiễn đưa. Tuy nhiên, trái ngược
với sự trông đợi của tôi, ngài cho biết là, “Ðây là
tiền Niết Bàn.”
Hình
ảnh Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni nằm nghiêng một bên khi ngài
nhập diệt được biết đến như là “hình ảnh Niết Bàn.”
“Mi
sắp đến thiền viện đem thân mạng phó thác ở đó. Nếu
không may mắn, mi sẽ bị thất bại và rồi sẽ chết giữa
chừng trong lúc tu. Ðể cho mi không là một gánh nặng với
bất cứ ai, ta cho tiền này để mai táng cái thân.”
Lão
sư bình thường rất nghiêm khắc và không hay nói đùa. Nghe
người nói, với bộ mặt nghiêm trọng, “tiền này là để
mai táng ngươi đó,” làm cho tôi ớn lạnh xương sống. Với
một quyết tâm mới, tôi tự thề với mình, “Ta sẽ làm
được điều đó”!
Tôi
đã từng nghĩ về cái chết trước đây, khi còn là một học
sinh phải đi ra trận tuyến, tuy nhiên cái chết mà Lão sư
đã ám chỉ trong câu … “Tiền này để mai táng cho ngươi”
… có một ý nghĩa hoàn toàn khác hẳn. Cái chết mà ngài
nói đến đó không phải là cái chết của thể xác, mà là
cái chết của bản ngã tôi.
Không
cần biết chúng ta có khéo léo biện hộ đến thế nào, khi
đi thẳng đến gốc của vấn đề, động cơ chính của mọi
sự vẫn là để nâng niu cái bản ngã quý giá của chúng ta.
Trừ khi chúng ta tu tập để vượt qua được sự vướng mắc
ngoan cố vào cái ngã của mình, chúng ta sẽ không mở mắt
ra được. Những lời lẽ của Lão sư đã đánh thức tôi
như vậy. Tôi cảm thấy những lời người nói về sự mai
táng thân tôi như là cái thúc ở bên sườn vậy. Ngày nay,
tôi cũng gởi các đệ tử của tôi đến thiền viện với
một tờ giấy bạc mười ngàn yen, để mai táng thân của
họ.
Ngày
hôm sau, khi trời vẫn còn đen như mực, tôi đến phòng Lão
sư từ biệt, và rồi rút lui ra cửa sau, bước xuống nền
đất ở trên lối ra vào. Một vị tân sa di không được phép
dùng cửa trước. Khi với tay lấy đôi giầy rơm, tôi nghe
tiếng Lão sư bước ra đàng sau. Bởi vì Lão sư luôn luôn
là người giữ cung cách uy nghiêm, không phải là loại có
thể đi ra tiễn đưa đệ tử, tôi ngạc nhiên thấy người
đi ra qua cửa bếp phía sau. Hơn thế nữa, người lại còn
bước xuống thềm đất, ngồi xổm dưới chân tôi, và lấy
dây cột đôi giầy rơm của tôi lại.
Ngượng
ngùng, tôi vội vàng rụt chân lại và phản đối, “Ấy,
thầy đừng làm như vậy. Con làm lấy được mà.”
“Ðây,
đưa chân đây cho thầy,” thầy dục, kéo chân tôi về phía
người. Sau khi đã cột mấy sợi dây gọn gàng lên đôi giầy,
người gõ tay vào mấy cái nút và nói, “Ðừng có cẩu thả
mà làm lỏng mấy sợi dây này.”
Dĩ
nhiên, khi tôi đến thiền viện và được nhận vào đấy,
tôi cũng sẽ tháo dây của những đôi giầy rơm này ra. Ðiều
thầy muốn nói, tôi hiểu là, đừng bao giờ sơ xuất làm
lơi lỏng sợi dây của lời nguyện trong đường tu. Một lần
nữa, tôi run người trong ý chí quyết tâm của chính mình,
cúi rạp xuống chào Lão sư rồi cất bước ra đi trong bóng
tối của buổi sáng sớm tinh mơ đến thiền đường của
thiền viện Ðại Ðức ở Kyoto.
Ý
nghĩa của sự can đảm
Khi
một vị tăng xin đăng nạp vào trong một thiền viện để
tu tập, lúc đến tiền điện của thiền viện ấy, vị tăng
bỏ nón ra cất đi trong một góc nhà, trèo lên bực thang, và
lên tiếng gọi. Trong một đại thiền viện, thường có tiền
điện lớn mênh mông và một bực thang dẫn lên một giải
hành lang rộng lớn ngoài xa. Tuy rằng có thể có đến khoảng
mấy tá tăng sĩ đang tu tập ở trung tâm của thiền viện,
chung quanh bốn bề đều không một tiếng người, không khí
im lặng như một cái nhà mồ. Vị tăng gọi lớn, giọng ngân
dài, “Quý thầy ơi! Xin mở cửa cho tôi!”, một thủ tục
đã được lập ra từ thời xa xưa đến giờ.
Vị
tăng xin đăng nạp cảm thấy như giọng nói của mình bị
hút vào trong khoảng không gian sâu thẳm của thiền viện.
Bấy giờ, có tiếng trả