II.-
SỰ TU THÂN CỦA CON
Bổn
phận của kẻ làm con trong gia đình cũng phải thực hành năm
điều giới đã nêu trên. Tuy nhiên đối với con cái thì trọng
trách nặng nề và ơn đức sâu dầy nhất là sự tri ân và
báo ân đối với cha mẹ. Hay nói khác hơn là đạo hiếu,
nguồn gốc bao nết tốt và điều thiện. Hiếu là chìa khóa
thần kỳ diệu để con trẻ mở toang cánh cửa cuộc đời,
là làn hương thơm làm đẹp lòng mọi người. Hiếu thấm
nhuần đến đâu đều cảm hóa và vượt qua mọi trở lực
để hoàn thành nghĩa vụ cao cả của đạo làm con. "Hiếu
đứng đầu trăm nết tốt, hiếu cảm đến trời thì mưa
thuận gió hòa, hiếu cảm đến đất thì muôn vật xanh tươi,
hiếu cảm đến người thì mọi phước lành đều tới".
1.-
Tri ân
Tục
ngữ có câu: "Cây có cội, nước có nguồn, người có tổ
tông". Phàm tất cả sự vật trên đời đều có cội gốc
trước sau thứ lớp mà sinh sinh hóa hóa. Con người cũng vậy,
không phải trên trời rơi xuống hay dưới đất chun lên, mà
do cha mẹ sinh thành dưỡng dục từ bé cho đến lúc lớn khôn.
a.-
Đối với mẹ:
Công
ơn mang nặng trong chín tháng mười ngày, đến lúc sanh nở
chịu sự khổ sở như đâm thịt xé da, cấu cào thân thể.
Trong lúc nhất sanh thập tử ấy, người mẹ chỉ mong sao nghe
được tiếng con khóc là tiêu tan hết sự khổ. Đã sanh con
ra, người mẹ lại phải hy sinh tất cả, nhường nhìn thức
ngon vật béo cho con, nâng niu, chiều chuộng con, chăm sóc lúc
trời nồng giá lạnh, sẵn sàng ban những dòng sữa ngọt cho
con, thức khuya dậy sớm hầu hạ dơ dáy, nằm ướt nhường
khô, không kể đến thân mình đói rách. Chẳng may con trẻ
bị đau, mẹ luôn nơm nớp lo sợ chạy chửa thuốc thang, mong
sao con khỏe mạnh lòng mẹ mới yên. Khi có đi đâu xa, mẹ
luôn thương nhớ, tưởng nghĩ đến con. Ngày lớn khôn cho
con đến trường học hành. Tới tuổi thành nhân gây dựng
hạnh phúc tương lai. Đôi khi vì gia đình túng thiếu, người
mẹ vừa nuôi con, vừa giúp cha lo buôn bán tảo tần, vất
vả ngược xuôi kiếm thêm tiền phụ giúp gia đình.
Nhớ
ơn chín chữ cù lao,
Ba
năm nhũ bộ biết bao nhiêu tình.
Ôi!
Công lao của mẹ vòi vọi như núi Thái, tình thương của mẹ
lai láng như biển Thái bình, sự nhẫn chịu bao cay đắng phiền
muộn như mặt đất, dung chứa tất cả mọi vật dù xấu
xa nhơ bẩn, không bao giờ than trách, chối từ. Công lao, tình
thương, khổ nhục của mẹ như thế. Trong khi ngôn ngữ chỉ
bằng miệng giếng. Làm sao có thể lấy núi cao bể rộng,
đất dầy mà thu hẹp vào miệng giếng cho được. Có lẽ
chỉ khi bước vào địa vị làm mẹ, chúng ta mới thấy rõ
thế nào là tình mẫu tử.
Tình
mẹ sao kể xiết
Lòng
mẹ ví sao cùng
Chỉ
khi làm cha mẹ
Mới
thấm tình thương con.
b.-
Đối với cha:
Người
đã tạo dựng ra con, hy sinh cả cuộc đời để lo lắng sự
sống đầy đủ về vật chất cũng như tinh thần cho con. Ý
nguyện người cha hằng mong ước con mình sẽ là người tài
đức mai sau, luôn luôn lấy làm sung sướng khi thấy con hơn
mình trên mọi phương diện và rất hạnh phúc khi thấy con
được sống sung sướng trong sự yên lành. Mặc dù với công
việc sinh kế đa đoan suốt ngày, không đủ thời giờ để
săn sóc con từng miếng ăn giấc ngũ. Nhưng tình thương của
người cha vô cùng sâu sắc và thầm kín. Sừng sững kiên
cố như dáng núi chịu đựng bao sương gió, nắng mưa không
hề than trách. Như tàng cây đại thọ tỏa rộng che mát đời
con. Như dòng nước âm thầm lăïng lẽ trôi đi, kéo theo bao
nhiêu rác rưởi phiền muộn, sau khi đã đem phù sa bồi đắp
cho mặt đất, tiếp thêm sức sống cho cây cỏ và hạnh phúc
ấm no cho nhân loại. Rộng và xa như cánh chim đại bàng vượt
gió tung bay khắp muôn nơi. Cha đã ấp ủ, nuôi dưỡng cho
con tâm hồn cao thượng và ý chí lớn lao.
Tại
vương quốc Ma Kiệt Đà, thuộc nước Ấn Độ thời xưa,
có ông vua tên Bình Sa Vương và người con là Hoàng tử A Xà
Thế. Vì nghe lời xúi dục của Đề Bà Đạt Đa, A Xà Thế
âm mưu sát hại vua cha để lên ngôi hoàng đế. Nhưng công
việc bị bại lộ. Tuy thế vua cha sẵn sàng tha thứ và còn
nhường ngôi lại cho con. Để trả ơn, vị hoàng tử bất
hiếu liền ra lệnh hạ ngục cha và bỏ đói cho đến chết.
Chỉ một mình Hoàng thái hậu được phép vào thăm. Mỗi khi
đi, bà dấu đồ ăn trong túi áo đem cho chồng, A Xà Thế hay
được quở trách mẹ. Sau bà lại dấu trong đầu tóc, A Xà
Thế cũng biết được. Cùng đường bà tắm gội sạch sẽ
rồi thoa vào mình một thứ đồ ăn làm bằng mật ong, đường
và sữa. Vua gợt lấy món ăn này để nuôi sống. Nhưng A Xà
Thế cũng bắt được và cấm hẳn mẹ không cho vào thăm vua
cha nữa.
Thấy
cha vẫn vui tươi, A Xà Thế nhất định giết cho khuất mắt,
hạ lệnh cho người thợ cạo vào khám giết cha.
Cùng
ngày ấy, vợ A Xà Thế hạ sinh một hoàng nam. Tin lành đưa
đến với vua một lượt với tin vua Bình Sa Vương chết trong
ngục.
Tin
chánh hậu hạ sinh hoàng nam được đọc trước, nỗi vui mừng
của A Xà Thế không kể xiết. Cả người nghe nhẹ nhàng sung
sướng. Tình thương của một người cha lần đầu tiên chớm
nở trong lòng, mặn nồng và sâu sắc, thấm vô từng khớp
xương ống tủy. Đứa con đầu lòng là một nguồn yêu thương,
là cơ hội để cha mẹ thưởng thức một tình thương mới
mẻ đậm đà vô cùng trong sạch. Cảm giác đầu tiên của
người cha mới được đứa con đầu lòng dường như đưa
họ vào một cảnh giới kỳ lạ. Khiến họ có cảm tưởng
rằng máu huyết mình đã nhỏ giọt ra để tiếp nối đời
mình.
Tức
khắc A Xà Thế vội vã chạy đi tìm người mẹ yêu dấu và
hỏi:
- Thưa
mẫu hậu, khi con còn nhỏ, phụ vương có thương con không?
- Tại
sao con hỏi vậy? Mẹ tưởng trên thế gian này không thể tìm
đâu ra người cha lành như cha con. Để mẹ thuật lại con
nghe. Lúc mẹ còn mang con trong lòng, ngày nọ mẹ nghe thèm lạ
lùng một món kỳ quái, mẹ thèm hút vài giọt máu trong bàn
tay mặt của cha con, mà mẹ nào dám nói ra. Rồi càng ngày
mẹ càng xanh xao và sau cùng phải thú nhận với cha con. Khi
nghe vậy, cha con vui vẻ lấy dao rạch tay cho mẹ hút máu. Lúc
ấy nhà chiêm tinh trong triều tiên tri rằng: con sẽ là người
thù của cha con. Do đó tên con là A Xà Thế (kẻ thù chưa sanh
- Ajatasattu). Mẹ có ý định giết con ngay trong lòng nhưng cha
con không cho. Khi con sanh ra, mẹ nhớ lời tiên tri, nên một
lần nữa muốn giết con. Một lần nữa, cha con lại cản mẹ.
Một hôm con có cái nhọt trên đầu ngón tay, nhức nhối vô
cùng, khóc suốt đêm ngày không ai dỗ được. Cha con đang
cùng bá quan phân xử việc triều đình, nghe vậy cầm lòng
không đặng, bế con trong lòng và không ngần ngại ngạâm
ngón tay của con trong miệng, nhè nhẹ nút cho con đỡ đau.
Gớm thay! Cái nhọt bể, máu mủ tuôn ra trong miệng cha con,
và sợ lấy tay ra con sẽ đau, cha con nuốt luôn vào trong bụng
cả mủ lẫn máu! Phải, người cha hết lòng thương yêu con,
vì tình phụ tử đậm đà, nhè nhẹ nuốt hết vừa máu và
mủ.
Nghe
đến đó, bỗng A Xà Thế đứng phắc dậy, kêu lên như điên:
- Hãy
chạy mau, thả ra lập tức người cha yêu quý của trẫm.
Than
ôi! Người cha yêu quý ấy đã ra người thiên cổ. Vua xúc
động rơi lụy dầm dề. Bây giờ ông mới nhận định rằng,
chỉ khi bắt đầu làm cha mới biết được tình cha thương
con như thế nào. (Trích trong "Đức Phật và Phật pháp" của
Narada).
Trong
Kinh Bổn Sư, đức Phật dạy: "Cha mẹ đối với con ân đức
cao nặng sâu dầy, ân đức sanh sản từ tâm bú mớm, ân đức
tắm giặt nuôi nấng trưởng thành, ân đức cung cấp các
món cần dùng, ân đức chỉ dạy cách sống ở đời. Cha mẹ
luôn luôn muốn con rời khổ được vui, không bao giờ xao lãng.
Nhớ con, thương con như bóng theo hình...".
Quả
thật, cha mẹ là quê hương yêu thương muôn thuở của đời
con. Do vậy, người Phật tử phải luôn luôn ghi tạc, tưởng
nhớ đến sự tri ân của mình đối với đấng sinh thành
và tìm cách báo đền phần nào trong muôn một.
2.-
Báo ân
Mặc
dù cha mẹ có bổn phận lo lắng gây dựng cho con nên người,
không có ý mong cầu sẽ được đền ơn trả hiếu. Nhưng
bổn phận người con không thể nào quên cái trọng ân thiêng
liêng cao quý ấy được. Trong Kinh Đại Báo Phụ Mẫu Trọng
Ân, Phật dạy: "Ví có kẻ nào hai vai kiệu cõng cha mẹ đi
chơi, suốt cả mọi nơi, trên rừng dưới biển, hai vai nặng
nề, mòn cả đến xương, máu chảy cùng đường, không hề
ân hận, cũng chưa báo được công đức mẹ cha kể trong muôn
một..." Cho đến cắt thịt, moi tim, móc ruột, chẻ xương
lấy tủy... cùng nuôi cha mẹ trong lúc cần thiết cũng không
đền đáp hết công ân cha mẹ.
Vậy
để báo đáp ơn cha mẹ ta phải làm gì?
a.-
Đối với cha mẹ khi còn sống:
* Cung
nuôi vật thực: Suốt đời cha mẹ hy sinh tận tụy vì con.
Ngày nay ta được trưởng thành, thì hởi ơi! Sương trắng
thời gian đã phủ giăng trên đầu cha mẹ: sức khỏe hao mòn,
thân người suy yếu, dung nhan tàn tạ... chỉ còn nương cậy
vào con cháu lúc tuổi đã xế chiều. Làm con phải hiểu rõ
công ơn và tâm tư cha mẹ để lo hầu hạ săn sóc từng miếng
ăn giấc ngủ, viên thuốc đến việc an ủi, vỗ về tinh thần
khi đau yếu. Thời gian luôn luôn trôi qua, mạng người cũng
biến đổi sinh diệt mau lẹ. Một hơi thở ra không trở lại
đã ra người thiên cổ. Thế nên, cha mẹ còn sống ngày nào
tùy theo khả năng, hoàn cảnh mà chúng ta cung cấp thức ăn
vật uống. Đừng viện cớ vì điều kiện kinh tế khó khăn
chưa thể đáp đền, đợi đến khi giàu có sẽ trả hiếu
sau. Thử hỏi cha mẹ chắc còn sống tới ngày ta được giàu
có không? Tốt hơn hết, có gì dâng nấy, dù ít hoặc không
cao lương mỹ vị. Nhưng với tấm lòng thành kính chăm sóc
của ta sẽ làm cha mẹ vui gấp trăm lần hơn là mâm to cỗ
đầy mà ta không thiết tha quan tâm đến. Thầy Tử Lộ nói
với đức Khổng Tử rằng:
"Đội
nặng đi dường xa thì tiện đâu nghỉ đấy, không đợi chọn
chỗ rồi mới nghỉ. Nhà nghèo cha mẹ già thì con làm thế
nào hay thế ấy, không đợi có quyền cao chức trọng mới
chịu làm. Ngày trước, lúc song thân tôi còn, cơm thường
dưa muối, đường xa trăm dặm phải đội gạo về nuôi song
thân. Lúc song thân mất, làm quan to ở nước Sở, xe ngựa
hàng trăm, lương bổng hàng vạn, ăn những miếng ngon, mặc
những của tốt, mỗi khi nhớ đến song thân lại muốn dưa
muối đội gạo để nuôi người như trước, thì không sao
được nữa! Cha mẹ tuổi già như bóng qua cửa sổ. Cây muốn
lặng mà gió chẳng dừng, con muốn nuôi mà cha mẹ không còn
sống". (Tích truyện Thầy Tử Lộ đội gạo nuôi cha mẹ).
Vấn
đề gia đình giàu nghèo, hoặc có món ngon vật lạ hay không,
điều này chẳng đáng quan tâm lắm đối với người già.
Và cha mẹ cũng thông cảm hoàn cảnh hiện thực của con cháu
mà an phận thủ thường. Duy chỉ có một điều làm cho người
già vui nhất là hành động và cử chỉ, cung cách đối xử
hàng ngày của con cháu, với tấm lòng thương kính cha mẹ
thật sự. Chỉ cần một bửa cơm đạm bạc, một ly nước
trà nóng cũng đủ làm cha mẹ vui sướng hạnh phúc rồi, thế
nên việc đối xử khéo léo, tế nhị với cha mẹ lúc tuổi
về già rất là cần thiết. Hãy tỏ ra hết lòng với cha mẹ
trong mọi hoàn cảnh, đừng hẹn hò chờ đợi lúc khác. Đến
chừng đó cho dù ta có nhà cao cửa rộng, cao lương mỹ vị,
hoặc xây mồ to mả đẹp cũng chẳng ích gì nữa.
* Tôn
kính vâng lời: Trong Kinh Đại Tập dạy: "Gặp đời không
có Phật, khéo thờ cha mẹ tức là thờ Phật", quả thật
lời dạy cao quý phát xuất ra từ con người cao quý. Vẫn
biết Phật và cha mẹ khác xa về mọi phương diện, nhưng
ở đây đức Phật muốn đề cao giá trị tôn kính của người
con đối với Phật và cha mẹ nên bình đẳng. Chúng ta tôn
kính Phật vì Ngài đã đem đến cho ta lý tưởng sống cao
thượng, nhưng người đem lại cho ta sự sống là cha mẹ Cho
nên phụng thờ cha mẹ tức là tôn kính cúng dường Phật
vậy.
Ngày
nay ta được nên người có địa vị trong xã hội hay ra sao
đi nữa cũng không thể quên công ơn cha mẹ được, phải
hết lòng vâng kính tôn thờ. Không vì cha ẹ tuổi già sức
yếu hoặc lẩm cẩm, sinh tật mà ta khinh thường. Con người
mỗi độ tuổi một khác, tùy theo sức khỏe mà tâm tính thay
đổi. Như con nít thích đùa giỡn, thanh niên thích nhạc kích
động, trung niên thích nhạc nhẹ, già lão thích yên tĩnh.
Hiểu thế, ta sẽ thông cảm và yêu thương người già hơn
khi có những dị tính xảy ra như: khó khăn, hay chấp, nói
nhiều, nóng nảy, giận hờn... Vì "già sanh tật, đất sanh
cỏ". Đôi khi dẫn đến lú lẫn, ăn rồi nói chưa ăn... Dù
có biến chứng xấu xa đến đâu đi nữa đó cũng là người
sinh thành ra ta. Làm con không được quyền khinh thường mà
phải biết tùy cơ mà phục vụ đáp đền.
Ngoài
việc tôn kính, người con phải biết vâng lời cha mẹ dạy
bảo. Dù sao cha mẹ cũng nhiều tuổi, dày kinh nghiệm việc
đời hơn. Tuy nhiên, vâng lời dạy cần phải xét cho kỹ khi
hành động chớ nên mù quáng tin tưởng một cách tuyệt đối.
Theo Nho gia phong kiến ngày xưa thì: "Quân xử thần tử, thần
bất tử bất trung, phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu".
Nghĩa là vua khiến bầy tôi chết mà không chết là bất trung,
cha bảo con chết mà con không vâng lời là đứa bất hiếu.
Ắt hẳn ta phải xem ông vua đó thế nào? Có xứng đáng để
ta chết vì vua không? Giả sử nếu ông vua vô đạo tàn ác,
tham dâm, bất chính, hại nước hại dân... mà ta phải phục
tùng đem cái chết của mình mà giữ lòng trung thành, vô tình
nuôi dưỡng tội ác cho vua thì hóa ra là kẻ dại khờ quá
lắm. Trái lại ông vua hết lòng vì dân vì nước, chẳng may
Tổ quốc lâm nguy, ngoại xâm lấn chiếm gây bao tang tóc cho
dân tộc, nếu ta lẫn tránh từ chối lời kêu gọi của nhà
vua tòng quân diệt giặc, không dám hy sinh vì đại nghĩa, như
thế mới gọi là bất trung. Vâng lời cha mẹ cũng thế, chúng
ta phải xét kỹ càng lời dạy ấy có chính đáng hay không?
Nếu nghe lời cha mẹ chết vì việc bất chính, đôi khi hiếu
đâu chưa thấy mà còn hại đến cha mẹ nữa.
Thế
nên theo tinh thần hiếu tử, bổn phận làm con luôn vâng lời
cha mẹ, không nên trái ý là điều tốt. Nhưng cũng phải tùy
theo sự việc mà chấp hành. Có nghĩa là nếu cha mẹ là người
vô đạo, nghề nghiệp bất chính thì ta không nên nghe theo
vội mà phải biết tùy cơ ứng biến, xoay chuyển cha mẹ về
con đường thiện, phải luôn luôn có thái độ tôn kính lễ
phép, nếu không hậu quả không tốt sẽ xảy ra cho cha mẹ
lẫn con cháu.
Thầy
Tăng Sâm bừa cỏ ruộng dưa lỡ tay làm đứt mất ít rễ.
Cha là Tăng Tích giận cầm gậy đánh vào lưng. Tăng Sâm đau
quá ngã gục chết giấc một lúc mới hồi tỉnh lại. Khi
về nhà liền đến thưa với cha rằng:
- Lúc
nãy con có tội để đến nỗi cha phải đánh làm đau tay cha.
Thực là con lỗi đạo.
Nói
xong lùi xuống vừa gảy đàn vừa hát có ý để cha nghe tiếng,
cho rằng mình không còn đau đớn gì nữa. Đức Khổng Tử
nghe thấy chuyện, bảo học trò cấm cửa không cho Tăng Sâm
vào.
Tăng
Sâm tự nghĩ mình vô tội, mượn bạn lại hỏi vì cớ gì
ngài giận. Đức Khổng Tử nói:
- Ngày
trước ông Thuấn phụng sự cha là Cổ Tẩu, lúc cha sai khiến
gì thì luôn bên cạnh, lúc cha giận dữ muốn giết thì lánh
xa. Cha đánh bằng roi vọt thì cam chịu, đánh bằng gậy gộc
thì chạy trốn. Thế cho nên ông Cổ Tẩu không mang tiếng
bất từ. Nay Sâm thờ cha liều mình, để chiều cơn giận
đến nỗi cha đánh ngất đi. Giá mà cha đánh quá tay chết
mất thì có phải vô tình làm cho cha mắc tội giết người
không? Lúc ấy tội bất hiếu còn gì to hơn nữa! (Trích Cổ
Học Tinh Hoa).
Qua
câu chuyện trên ta thấy, đối với người con hiếu vì cha
mẹ hy sinh tính mạng hoặc liều mình cứu cha mẹ trong khi
nguy cấp là điều chánh đáng. Trái lại, hy sinh vì cơn giận
dữ đánh đập của cha mẹ, chỉ biết nhắm mắt xuôi tay
chịu đựng, để thỏa mãn cơn giận dữ ấy, vô tình chúng
ta lại tạo cho cha mẹ một tội giết người. Lúc ấy chữ
hiếu lại trở thành đại bất hiếu.
* Tránh
ác hành thiện: Căn cứ theo lời Phật dạy trong các kinh sách,
ngoài sự cung cấp các món ngon vật lạ cho cha mẹ, săn sóc
thuốc thang lúc ốm đau, an ủi lúc tuổi già sức yếu, tạo
sự an vui thoải mái về nhu cầu vật chất ra, người con còn
phải biết khuyên cha mẹ hướng về nẻo thiện, xa lánh đường
ác. Cho nên ý nghĩa báo ân song thân khi còn sanh tiền rất
là quan trọng, ở chỗ làm thế nào biến cải cuộc đời,
tánh tình, chiều hướng của cha mẹ biết tin hiểu giáo lý
nhân quả, biết quy kính Tam Bảo. Để từ đấy cha mẹ chúng
ta sẽ lần lượt giải nghiệp và tự sửa lấy mình. Tựï
cha mẹ sám hối, cải tạo những gì đã sai phạm lầm lỡ
trong quá khứ. Nên hiếu hạnh cao tuyệt hơn hết đối với
người Phật tử là làm sao cho cha mẹ không rơi vào ba đường
ác.
Trong
Cảnh Sách có đoạn: "Muốn báo ơn cha mẹ, nên khuyên cha mẹ
đối Phật, Pháp, Tăng Tam Bảo, đối với các pháp nhân quả...
cha mẹ chưa tìn khuyên cha mẹ tin, cha mẹ tin rồi khiến lòng
tin tăng trưởng, cha mẹ không giữ tịnh giới khuyên giữ
tịnh giới, cha mẹ có lòng xan tham khuyên làm việc bố thí,
cha mẹ không có thắng huệ khuyên cha mẹ tu huệ. Khéo an trú
để điều phục. Như vậy mới gọi là chân thật báo ơn
cha mẹ".
Trường
hợp cha mẹ chưa hiểu đạo, làm con nên thể hiện các việc
sau:
- Tạo
điều kiện cho cha mẹ tin hiểu nhân quả, để khỏi phạm
những việc bất chính đáng tiếc xảy ra. Hay nói khác hơn:
điều ác chưa sanh, cố gắng đừng cho phát sanh.
- Hàng
ngày trong thực tế, vì sự sinh kế đôi khi cha mẹ gây tạo
nghiệp bất thiện, hành động trái lương tâm hoặc làm nghề
bất chánh như buôn bán đồ lậu, làm đồ tể, làm hàng giả...
Chúng ta phải kiên quyết tìm cách thuyết phục, nói rõ quả
báo để cha mẹ đình chỉ và dứt tuyệt. Hay nói khác hơn:
điều ác đã sanh phải tìm cách ngăn chận không cho phát triển.
- Cha
mẹ chưa tin Tam Bảo, chưa hiểu giáo lý Phật, không rõ lợi
ích về việc bố thí, cúng dường, không biết giữ gìn cấm
giới (ngũ giới). Chúng phải khéo tạo thuận duyên để cha
mẹ phát khởi thiện tâm. Hay nói khác hơn: điều thiện chưa
sanh phải làm cho phát sanh.
- Khi
cha mẹ đã tin hiểu Tam Bảo và rõ sự lợi ích của việc
giữ giới, bốn thí, phóng sanh... chúng ta cố gắng khuyến
khích và tạo điều kiện để cha mẹ thực hiện. Hay nói
khác hơn: điều thiện đã sanh, cố gắng làm cho tăng trưởng
thêm lên.
b.-
Đối với cha mẹ lúc qua đời:
Tất
cả chúng sanh trong thế giới hiện tại đều bị chi phối
bởi định luật sinh, trụ, dị, diệt chuyển biến không ngừng,
thay đổi từ sát na này đến sát na khác. Cuối cùng những
sinh vật có sanh tất phải có diệt. Đó là lẽ đương nhiên
không ai có thể đi ngược lại định luật vô thường ấy.
Do vậy sự sống của con người chỉ là một sự thay cũ đổi
mới về thể chất hình hài. Ví như ta cất một căn nhà đã
hơn 50 năm, nay bị hư mục. Nếu có tiền, ta xây lại một
căn nhà nguy nga đồ sộ tốt đẹp hơn căn trước. Trái lại,
nếu nghèo khổ không tiền, ta phải chịu dột ướt hoặc
lâm vào cảnh màn trời chiếu đất tàn tệ hơn. Luân hồi
nhân quả cũng thế. Nếu đầy đủ phước đức thì những
kiếp lai sanh con người sẽ giàu sang, thân tướng đoan chính,
cuộc sống ấm no. Nếu phước mỏng nghiệp dày, tội ác chất
chồng thì phải chịu nghèo khó khổ cực.
Nên
vấn đề qua đời của cha mẹ là điều kiện tất nhiên của
con người trên quả đất không ai tránh khỏi. Do vậy người
Phật tử với bổn phận làm con phải hiểu lẽ vô thường
ấy, để khi hữu sự ta không nên kêu gào, than khóc làm cho
hoang mang tinh thần người sắp mất. Cần phải bình tĩnh niệm
Phật, hoặc tán thán những công đức của cha mẹ đã làm
khi còn sanh tiền (nếu có), để những lời tốt lành ấy
thấu vào tai người sắp mất khiến cho tâm trí cha mẹ an
ổn, không có những lo sợ khi bước qua thế giới khác. Vì
chập tư tưởng cuối cùng của con người trước khi chết
rất là quan trọng, có thể định đoạt được một phần
sự tốt hay xấu trong kiếp cận lai. Để dẫn chứng điều
ấy tôi xin trích một đoạn trong Kinh Niết Bàn như sau:
"Khi
Phật còn tại thế, trong ao Ca La có một con hến, nghe đức
Phật thuyết pháp liền bò lên bờ ẩn vào trong đám cỏ để
nghe Phật giảng. Lúc ấy, có một người chăn trâu đi ngang
thấy số thính giả vây quanh đức Phật, lấy làm lạ bèn
chạy đến xem. Vì muốn nghe pháp, người ấy vội vàng đạp
nhằm con hến chết ngay lập tức. Do tâm niệm lành trong khi
đang nghe đức Phật thuyết pháp, nó liền sanh lên cõi trời
Đao Lợi. Bấy giờ, nó bèn nghĩ mình vốn là thân hến, nhờ
nghe đức Phật thuyết pháp mà được sanh Thiên, liền rời
cung điện đến trước đức Phật kính lễ bái tạ ơn đức
của Ngài".
Khi
cha mẹ qua đời, ngoài những lễ nghi tang chế, ta cần phải
tu phước, bố thí, tránh sát sanh và lễ siêu độ cho cha mẹ
trong vòng từ 49 đến 100 ngày. Về sự cúng lễ nên đơn giản,
đừng bắt chước thế nhân bày biện cỗ bàn ăn uống, nhậu
nhẹt. Có những người lúc cha mẹ còn sống thì hắt hủi
thậm tệ, đến lúc mất thì lại than van kêu khóc, ra chiều
thương tiếc, rồi giết gà, vịt, heo cúng tế, làm đám thật
linh đinh, để người đời thấy mình là con hiếu thảo lo
lắng chu toàn tang lễ cha mẹ. Thật là giả dối, đúng với
câu: "Khi sống không cho ăn, chết làm văn cúng ruồi" là vậy.
Vấn
đề quan trọng của người Phật tử báo ân cha mẹ lúc quá
vãng là việc tụng kinh, bái sám, cúng dường, bố thí... hồi
hướng những công đức ấy đến người mất. Không phải
ở chỗ giết súc vật cho nhiều, cúng tế cho lớn, vô tình
ta lại chồng chất thêm tội lỗi, làm cho cha mẹ phải sa
đoạ vào ba đường ác. Tội nghiệp của người mất ví như
kẻ mang đá nặng đi trong bùn lầy, nặng nề khốn khổ, chúng
ta lại chồng chất thêm một mớ đá nữa khiến họ càng
nặng nề, lún sâu dưới bùn.
Trong
kinh Thí Dụ có chép, lúc ấy Phật cùng A Nan đi trên bờ sông,
bỗng thấy 500 quỷ đói vừa đi vừa hát, đồng thời lại
thấy 500 quỷ đói khác khóc lóc đi qua. A Nan thấy thế bạch
hỏi đức Phật:
- Bạch
Thế Tôn, tại sao bọn kia vừa đi vừa hát, còn bọn này lại
khóc lóc như thế?
Đức
Phật trả lời:
- Bọn
quỷ ca hát ấy sắp được sinh lên cõi trời là vì trong nhà
con cháu họ biết tu phước, trì trai, lễ bái cúng dường,
bố thí, hồi hướng phước quả đến cho họ. Còn bọn quỷ
khóc lóc kia sắp bị đọa vào địa ngục, vì trong nhà thân
quyến con cháu vì họ mà sát sanh cúng tế, không biết tu phước,
bố thí nên họ phải gánh lấy quả nghiệp ác do người thân
gây tạo. Vì vậy mà họ khóc lóc.
Có
kẻ thắc mắc nghi ngờ không biết hành động báo hiếu bằng
cách tụng kinh, cúng dường, bố thí có đem lại lợi ích
cho người mất không? Quả thật đây là vấn đề khá phức
tạp. Nếu nói có lấy gì chứng minh cho người sống? Nếu
nói không thì hóa ra lời dạy của Thánh hiền phi lý vô ích
sao? Ở đây với khả năng hiểu biết hữu hạn, chúng tôi
xin dựa theo một vài thí dụ thực tế mà giải thích.
Đôi
bạn trẻ trai gái quen nhau. Nhân dịp đầu xuân hoặc sinh nhật,
người bạn trai tặng bạn gái của mình một tấm thiệp với
hàng chữ chúc mừng, người bạn gái nhận tấm thiệp này
một cách cảm động và coi như kỷ vật quý báu. Thật ra,
tấm giấy đó chẳng có giá trị hiện kim nào, nhưng qua nó
người bạn gái nhận một tấm lòng thương yêu của người
bạn trai trao cho.
Một
người cha bị bệnh nặng, đứa con ở xa hay tin vội về thăm,
mua quà bánh, hỏi thăm an ủi, chăm sóc và đưa cha vào bệnh
viện chữa trị. Những hành động của người con như thế
có gánh chịu phần nào sự đau đớn dày vò cơ thể nơi người
cha không? Chắc chắn là không rồi. Nhưng người cha sẽ cảm
thấy sung sướng khi biết con hết lòng lo lắng chữa trị
cho mình.
Qua
hai trường hợp nêu trên. Cô gái nhận tấm thiệp, người
cha nhận món quà. Hai vật đó thật ra chẳng có giá trị là
bao, nhưng qua đó cô gái cảm nhận tấm chân tình của người
bạn trai, người cha nhận được lòng hiếu thảo của người
con. Nếu có chết chắc họ cũng lấy làm mãn nguyện. Từ
thí dụ ấy có thể suy ra việc cha mẹ qua đời cũng thế.
Với mắt thịt xác phàm làm sao chúng ta có thể thấy biết
cha mẹ đầu sanh vào cảnh giới nào. Do vì không biết nên
chúng ta phải làm hết sức mình để vơi dịu sầu đau, đồng
thời tạo thêm được sự lợi ích nào cho người chết là
làm (nhưng không làm theo hình thức mê tín dị đoan). Trước
mất mát lớn lao ấy chúng ta chỉ biết tụng kinh, bố thí,
phóng sanh, cúng dường Tam Bảo... Chúng tôi thiết nghĩ việc
làm này rất có lợi. Nếu xét về mặt thật tế, chúng ta
đã làm được những điều tốt, đầy tình người và chắc
chắn về mặt nhân quả vẫn là lợi ích cho chính mình. Đối
với người khuất, bổn phận làm con, đã tỏ hết lòng thành
để thực hiện điều nói trên, cầu mong cha mẹ nhờ ơn đức
ấy mà sớm siêu thoát. Điều này không biết có được như
ý không, nhưng hành động đó đã thể hiện tình cảm sâu
sắc của kẻ làm con đối với cha mẹ. Ví như kẻ tù tội
trong ngục sẽ rất mãn nguyện khi biết người thân họ hết
lòng lo chạy tội cho mình, tuy biết rằng việc ấy không thành
công. Thế nên, siêu hay không là tùy theo nhân duyên nghiệp
báo của cha mẹ và tấm lòng thành của người con.
*
Tóm
lại, thời gian trôi qua một cách mau chóng, như ngựa câu qua
cửa sổ, như ngọn đèn treo trước gió... quỷ vô thường
không hẹn mà đến, phút chốc đã ra người thiên cổ. Cuộc
sống con người ví như chiếc thuyền đang trồi hụp trong
giữa biển lớn sanh tử. Chúng ta phải cố gắng tinh tấn
ra sức chèo vào bờ. Đừng để một khi mất thân này thì
muôn kiếp khó được lại. Mặc dù phương tiện vẫn phải
đi từ thấp đến cao nhưng mục đích chung vẫn là lìa khổ
đạt vui, giải thoát khỏi nẻo luân hồi sanh tử.Phải luôn
nghĩ đến vấn đề sanh tử là việc trọng đại, ráng lo
trau dồi tâm trí, tinh tấn học đạo. Được như vậy, chúng
ta mới có thể hoàn hảo phần nào việc tri ân và báo ân
đối với cha mẹ. Hơn nữa con cái là di thể, là hình bóng
của cha mẹ. Nếu bản thân được rạng danh, nhân phẩm, đức
hạnh ta cao thượng mọi người tôn trọng kính nể thì cha
mẹ ta cũng sẽ được tiếng thơm muôn thuở. Như gương hiếu
hạnh của đức Phật và các vị Bồ Tát xưa kia vẫn còn
ghi đậm nét vàng son trong sách sử.
Thanh
Sĩ có câu:
Tu
một thuở cứu thân vĩnh kiếp
Độ
được mình còn vớt mẹ cha
Thuyền
to một chiếc sắm ra
Tất
nhiên chở hết cả nhà xuống đi...