CHƯƠNG
VIII
QUY
Y
Chiều
Chủ nhật
Như
chúng ta đã nói trước bữa ăn sáng, một số người bày
tỏ ý nguyện được thiết lập một mối liên kết với Phật,
chúng ta hãy làm một lễ quy y trong một hình thức rất đơn
giản, một nối kết với Phật, Pháp và Tăng.
Khi
người ta thiết lập một liên kết với Phật, dầu đức
Phật lịch sử đã từng hiện hữu, người ta hiểu Phật
trong nghĩa rất sâu xa, trong nghĩa tuyệt đối, Bu nghĩa là
người đã thức tỉnh, ddha là người đã hoàn thành mọi
đức hạnh. Buddha, Phật, là người đã thức tỉnh khỏi trạng
thái huyễn ảo và đã phát triển mọi tính cách có thể phát
triển được. Mặc dầu đó là một trạng thái vốn có nội
tại nơi mỗi người, ban đầu cần phải quy y, nương dựa
vào Phật cho đến lúc người ta có thể nhận ra Phật tánh
bên trong này.
Pháp
cũng có thể giải thích theo nhiều mức độ, nhưng ở đây
nó nghĩa là lời dạy, nó sẽ là con đường dẫn chúng ta
đến tự do giải thoát, con đường dạy cho chúng ta phát triển
tình thương.
Tăng,
đó là cái cho phép chúng ta đào sâu vào các lời dạy với
sự giúp đỡ của những người bạn tâm linh.
Chắc
chắn có nhiều điều phải làm và nhiều điều không được
làm. Một cách rất đơn giản, khi quy y Phật, người ta cam
kết kính trọng tất cả các bậc giác ngộ. Khi quy y Pháp,
người ta phát nguyện : “từ giây phút này đến khi tôi đạt
giải thoát, nếu tôi không thể giúp đỡ chúng sanh, thì ít
ra tôi cũng tránh bằng mọi phương tiện có thể để không
làm hại họ.” Khi quy y Tăng, người ta có quyết định này
: “cho đến khi tôi đã có một sức mạnh khá lớn, cho đến
khi tôi đã có một quyết tâm đầy đủ, tôi sẽ thực hành
những pháp tu cần thiết”. Và mặc dầu được khuyên hãy
duy trì một liên kết với mọi chúng sanh dầu họ thế nào,
khi người ta chưa đủ vững chắc để có thể giúp đỡ họ,
người ta cũng nên tránh có những tiếp xúc với những người
phá hoại hay gây hại.
Trong
bản chất, ý nghĩa của sự quy y là phát triển lòng đại
bi : nếu không thể giúp đỡ, thì ít ra cũng không làm hại.
Đến một trạng thái người ta không thể làm hại chúng sanh
nữa và tiếp theo là học cách giúp đỡ họ, đó thật sự
là một điều kỳ diệu !
Sự
cam kết cũng cốt nói lên lời nguyện quy y ba lần trong một
ngày ; điều đó không khó, không dài, chỉ giản dị : Namo
Buddhaya, Namo Dharmaya, Namo Sanghaya.
Những
giáo huấn của Phật rất rộng lớn, tuy nhiên trong bản chất
chúng cốt ở tránh những hành động gây hại cho mình và
cho người, vắn tắt đó là sự thực hành bất hại, bất
bạo động. Và điều ấy không áp dụng chỉ cho con người
mà còn cho chó, mèo, chim, cho đến các côn trùng rất nhỏ
và mọi chúng sanh khác. Mặc dầu nghiệp của chúng khiến
chúng có các hình dạng như thế, chúng cũng như chúng ta đều
có Phật tánh, bản tánh giác ngộ. Vậy hãy có môït thái
độ từ ái với tất cả chúng sanh và không bao giờ làm hại
họ. Tất cả chúng sanh đều kiếm tìm hạnh phúc và từ chối
khổ đau, thế nên tất cả những gì chúng ta có thể làm
để đem lại hạnh phúc cho chúng sanh, đó là con đường của
các bậc giác ngộ như là đức Phật.
Để
lập lại lời nguyện quy y của chúng ta hay để thiết lập
sự liên kết này cho lần đầu tiên, chúng ta hãy quán tưởng
trong khoảng không gian trước mặt hình tượng đức Phật,
ngồi trên tòa sen trên một dĩa mặt trời và một dĩa mặt
trăng, một hình tượng thật giản dị, vàng chói, phóng ra
vô số tia sáng vàng chói. Phật ngồi trong tư thế kim cương,
bàn tay phải đặt trên gối phải, các ngón tay hướng xuống
đất, lòng bàn tay quay vào phía trong, và bàn tay trái, lòng
bàn tay ngửa hướng về trên, đặt thẳng ngang mức lỗ rốn,
trong tư thế thiền định. Đó là Phật kết ấn “dùng đất
làm chứng” (địa chứng ấn). Sự biểu lộ của khuôn mặt
ngài thì ngập tràn tình thương và lòng bi mẫn, và ngài đã
hoàn thành nơi mình tất cả tướng chánh và tướng phụ của
giác ngộ. Người ta thấy Ngài như thế trước mặt mình.
Người
ta có thể tự hỏi tại sao quán tưởng Phật trong tư thế
ấy, bàn tay phải trên đầu gối phải, tay trái ngang rốn.
Ngay trước khi đạt đến giác ngộ, đức Phật ngồi thiền
định dưới cây Bồ đề. Ngài đã phát nguyện không cử
động cho đến lúc tìm ra chân lý tuyệt đối, và như luôn
luôn trong các trường hợp đó, rất nhiều mãnh lực tiêu
cực biểu lộ tìm cách ngăn chặn sự thành công của công
cuộc tìm kiếm này. Vì để đạt đến một mức giác ngộ
như thế, phải tích chứa một số công đức khổng lồ, các
thế lực ấy vặn hỏi đức Phật : “Nhưng ngài có quyền
gì đòi hỏi đạt đến giác ngộ ? Ngài đã chứa nhóm được
bao nhiêu công đức mà nghĩ đến chuyện có thể đạt đến
giác ngộ ?” Khi ấy, không để bị phân tâm, Phật trả lời
: “Ta lấy đất làm chứng cho những công đức đã tích chứa
được trong hàng nghìn tiền kiếp !” Chính là để ghi nhớ
việc này mà chúng ta quán tưởng Phật trong tư thế ấy.
Để
nhận sự quy y hay lập lại lời nguyện quy y, người ta cầu
nguyện và lễ ba lạy. Người ta có thể tự hỏi : “Nhưng
làm sao có thể chỉ đơn giản gợi ra sự hiện diện của
đức Phật trước mặt và sau đó liên kết với Ngài ? Người
ta có bằng chứng nào rằng ngài thật sự ở đó ?” Chính
đức Phật đã nói : “Trước bất kỳ ai nghĩ nhớ đến
ta, ta sẽ hiện diện ngay lúc ấy.” Thế nên, gợi ra một
cách mạnh mẽ sự hiện diện của đức Phật và của các
bậc giác ngộ, các vị sẽ thật sự có mặt ở trước chúng
ta ! Vậy thì trước sự hiện diện của các vị, chúng ta
nói lời nguyện và lễ ba lạy.
Lạy
là một thao tác rất trọn vẹn : người ta chắp hai tay trước
trái tim để biểu thị rằng điều mà người ta làm, người
ta làm từ tận đáy lòng. Các ngón tay của bàn tay phải và
bàn tay trái chạm nhau biểu trưng sự kết hợp của đại
bi và trí huệ. Khi lạy, người ta đứng, hai chân xếp dính
nhau ; người ta chắp tay ngang trái tim để tượng trưng cho
sự kết hợp của đại bi và trí huệ, tiếp theo là trước
trán, cổ họng và trái tim – ba trung tâm – và người ta
tách mở hai tay, điều ấy nghĩa là người ta sắp làm việc
cho chúng sanh bằng cách dùng trí huệ và đại bi. Sau đó người
ta chạm mặt đất ở năm điểm : trán, hai đầu gối và hai
lòng bàn tay, điều này biểu trưng sự chuyển hóa của năm
nguyên tố thành năm trí và sự vượt qua năm Con Đường,
năm giai đoạn.
Khi
đưa hai bàn tay chắp trước trán, cổ họng và trái tim, đó
là dâng cúng thân, ngữ, tâm của chúng ta, và cầu xin nhận
được sự ban phép lành của thân, ngữ, tâm của các bậc
giác ngộ.
Ở
đây, vì không có chỗ, chúng ta không đứng lạy, chỉ đơn
giản chắp hai tay trước trái tim và làm lễ lạy trong tâm
thức trước sự hiện diện của Phật bằng cách để hai
tay chắp trước trán, cổ họng và trái tim.
Vậy
chúng ta hãy mạnh mẽ gợi ra sự hiện diện của Phật trước
mặt và hãy đánh thức sự phát tâm nơi chúng ta, nghĩa là
chúng ta làm sự quy y này để có thể làm lợi lạc cho tất
cả chúng sanh và cho chúng ta, và xác định trong tâm với một
quyết định lớn lao : “Kể từ giây phút này tôi không làm
điều gì gây hại cho bất kỳ ai và tôi sẽ cố gắng, bằng
sự tối đa của khả năng tôi, giúp đỡ tất cả những ai
mà tôi có thể.” Nếu không thể giúp đỡ người khác, người
ta sẽ cố gắng tránh làm hại họ.
Tiếp
theo, chúng ta hãy tụng đọc ba lần Namo Buddhaya, Namo Dharmaya,
Namo Sanghaya, vừa đặt hai tay lần lượt ở ba chỗ : trán,
cổ họng và trái tim. Đọc lần đầu tiên, là để khởi
động ý nguyện quy y, lần thứ hai là để xác nhận điều
đó, và lần thứ ba là để thực sự nhận lấy sự ban phước
của việc trao truyền quy y.
Sự
trao truyền quy y này đến với chúng ta theo một dòng liên
tục từ giây phút đức Phật đạt đến giác ngộ cách đây
hơn hai ngàn năm cho đến thời chúng ta. Đường dây này đến
với chúng ta một cách không gián đoạn. Thế nên, các phước
lành của sự trao truyền này là toàn vẹn và rất mạnh mẽ,
và chúng ta nhận chúng hôm nay là để phụng sự tất cả
chúng sanh.
Sự
việc quy y và thiết lập mối liên kết này là một hành động
rất quan trọng. Chính đức Phật đã nói để giải thích
sự quy y là mạnh mẽ bao nhiêu : “Nếu năng lực ấy có một
hình thể và người ta dùng cả trái đất làm đồ đựng,
toàn thể trái đất cũng không đủ sức chứa nó.” Đó thật
sự là một điều cực kỳ quan trọng, cực kỳ mạnh mẽ.
Sau khi quy y, mọi thiền định người ta làm, mọi tu hành đều
mạnh mẽ và lợi lạc rất nhiều.
Sự
liên kết mà chúng ta đã thiết lập, chúng ta không để nó
như vậy, chúng ta hãy đóng dấu nó, nếu người ta có thể
nói thế, bằng dấu ấn của lòng đại bi.
Làm
thế nào ? Bằng mọi năng lực thân tâm, chúng ta phát một
lời nguyện trong cái ngày tốt lành, phước đức này ! Thật
vậy, hôm nay là ngày thứ mười âm lịch, ngày được dành
cho đạo sư vĩ đại Padmasambhava, người đã đem Phật giáo
vào Tây Tạng. Hôm nay, chúng ta đã thiết lập một liên
kết với các bậc giác ngộ, và mọi kết quả sinh ra từ
điều đó, chúng ta hãy phân phát cho mọi chúng sanh để dập
tắt mọi nỗi khổ đau của họ và dẫn dắt họ nhanh chóng
đến mức độ giải thoát hoàn toàn, nơi ấy chẳng còn chút
đau khổ nào. Chính trong mục đích ấy mà chúng ta hãy
hồi hướng thiện nghiệp...