I
Tại
sao lại phải từ chối sự bao la của bể cả, để chấp
nhận thế giới hoang vu heo hút của núi rừng.
Quốc
vương đức trạch khoan như
hải,
Tùy
phận ta ta thủy thảo xuân.
Nghĩa
:
Ơn
đức quốc vương như bể cả.
Nhưng
xin cứ tùy phận với chút ít cỏ
nước
mùa xuân.
Con
đường đi lên, bao giờ cũng chông chênh và đầy hiểm nguy.
Người đi phải tự mình vượt qua biết bao là núi non, đồi
đỉnh, thì mới uống được ngụm nước đầu nguồn. Và
chỉ tại nơi đó thôi, con người mới được hoàn toàn tự
do ngắm cỏ nước mùa xuân :
PHÓNG
NGƯU
Ngẫu
hứng Quy sơn đắc đệ lân
Hoang
vu cam tác mục ngưu nhân
Quốc
vương đức trạch khoan như hải
Tùy
phận ta ta thủy thảo xuân.
Nghĩa
:
Quy
Sơn xóm nọ bỗng quay về
Cam
phận chăn trâu chốn nội hoang
Ơn
đức Quốc vương như bể cả
Riêng
vui cỏ suối với hoa ngàn.
Ðỗ văn Hỷ dịch.
(Thơ
Văn Lý Trần II. NXB. KHXH.
tr.
238)
Các
sử liệu còn để lại, cho chúng ta biết rất ít về cuộc
đời và con người của Tuệ Trung Thượng Sĩ. Ngay cả việc
một số người viết, đã lầm lẫn từ người anh cả, xuống
làm con của Hưng Ðạo Vương Trần Quốc Tuấn, chỉ chừng
ấy thôi, cũng khiến cho con người của ông, vốn đã độc
đáo, lại càng độc đáo hơn nữa đối với chúng ta.
Có
lẽ, cũng như đa số các Vương hầu thân tín khác của nhà
Trần, Ông cũng đã từng trực tiếp tham gia các cuộc kháng
chiến đánh đuổi quân Nguyên xâm lược. Nhưng khi chiến thắng
rồi, nghĩa là đất nước trở lại thanh bình, thì hành tung
của ông không được nhắc đến nữa.
Ðây
là một sự thiếu sót tư liệu bình thường? Hay là, chúng
ta nên xếp Tuệ Trung Thượng Sĩ vào đội ngũ của những
con người ngoại lệ? Những con người đi và muốn xóa sạch
vết chân của chính mình?
Khi
một dân tộc hay một cá nhân quá khát khao đi tìm thanh bình
cho đời sống nội tâm của mình, thì chắc chắn vấn đề
lịch sử không bao giờ được họ bận tâm đến.
Như
Ấn Ðộ chẳng hạn, có một nền văn minh lớn nhất vào thời
cổ, vậy mà không có một sử gia cỡ Tư Mã Thiên (Trung Quốc)
Hérodote Thucydie (Hi Lạp) Plutarque hay Tacite (La Mã), vì họ chỉ
muốn giải thoát thân phận bi thảm của chính họ ra khỏi
ngục tù của thời gian thôi. Ðối tượng suy tư của họ
cũng cao ngất như dãy Hi-Mã-Lạp-Sơn quanh năm bao phủ đầy
tuyết trắng kia.
Và
Lão tử của Trung Hoa nữa, vì khinh bỉ tư cách đê tiện của
một số quan lại và xã hội mình đang sống, nên đã quyết
tâm đi ẩn dật. Nếu không có Doãn Hỉ, thì chúng ta đã không
có bộ Ðạo Ðức Kinh. Ðây là sự cống hiến lớn lao vào
nền văn minh triết của nhân loại.
Nhưng
điều khôi hài là, những kẻ xem lịch sử như một trò đùa
đó, thì chính họ lại đóng một vai trò lớn lao trong sự
phát triển của lịch sử tư tưởng con người.
Chúng
ta có thể tưởng tượng được như thế này : thế giới
sẽ đen tối biết là bao, nếu xưa kia, không có những con
người dám từ bỏ những thú vui vật dục tầm thường, đi
vào rừng sâu, để tìm kiếm một thú vui khác, một thú vui
mà chung cục, sẽ không gây tai hại và chết chóc cho bất
cứ ai trên đời này.
Dường
như, nền văn minh của thế giới hiện tại quá lạnh lùng,
lạnh lùng đến độ gần như tàn nhẫn. Có lẽ chính vì thế
mà những con người của Thế giới ngày hôm nay, đang khát
khao hơn bao giờ hết, một chút thi vị của người Ðông Phương
xa xưa.
Không
còn nghi ngờ gì nữa, Tuệ Trung Thượng Sĩ thuộc vào đội
ngũ của những con người ngoại lệ ấy.
Trong
bài Dưỡng Chân (nuôi dưỡng chân tánh). Ông đã từ chối
tham dự vào trò chơi của con người trên sân khấu cuộc đời,
và chỉ chấp nhận nhập cuộc vào trò chơi lớn lao hơn-trò
chơi cùng tạo vật trong vũ trụ.
DƯỠNG
CHAÂN
Suy
táp hình hài khởi túc vân
Phi
quan lão hạc tị kê quần
Thiên
thanh vạn thúy mê hương
quốc
Hải
giác thiên đầu thị dưỡng chân.
Nghĩa
:
NUÔI
DƯỠNG CHAÂN TÁNH
Hình
hài suy yếu đâu phải là chuyện
đáng
bàn
Cũng
không phải chuyện chim hạc
lánh
đàn gà
Nghìn
màu xanh, muôn vẻ thúy tràn
ngập
làng nước
Góc
bể bên trời là nơi nuôi dưỡng
chân
tánh của ta.
Ðỗ Văn Hỷ dịch.
(S.Ð.D. tr 226)
Tại
nơi góc bể chân trời ấy-Con người có thể dong thuyền ra
khơi, say sưa ngây ngất với một mùa thu vừa chớm dậy và
lắng nghe niềm im lặng của đất trời mênh mông :
GIANG
HỒ TỰ THÍCH
Tiều
đỉnh trường giang đãng dạng
phù
Du
dương trạo bát quá than đầu
Nhất
thanh hà xứ tân lai nhạn
Trắc
giác thu phong biến thập châu.
Nghĩa
:
VUI
THÍCH GIANG HỒ
Sông
dài, thuyền nhỏ nổi lênh đênh
Cất
mái chèo qua đoạn thác ghềnh
Một
tiếng nhạn trời đâu vẳng đến
Gió
thu như đã dậy mênh mông.
Ðào Phương Bình dịch
(S.Ð.D.tr 244)
Dường
như có một nỗi khát khao về tự do và cái đẹp cứ trào
vọt ra từ cõi thơ của Tuệ Trung Thượng Sĩ. Chỉ có cái
đề được chọn là : Vui thích giang hồ (giang hồ tự thích)
thôi, cũng đã nói lên hết tất cả nỗi khát khao ấy.
Nhưng
những ai dám cùng với Tuệ Trung Thượng Sĩ “Cất mái chèo
qua đoạn thác ghềnh” để đến được bến bờ của tự
do ấy?
Dĩ
nhiên, chỉ những người đã nhận chân được rằng, cuộc
đời mà hiện mình đang sống đây, chẳng có một ý nghĩa
gì cả, nhưng chỉ lặp đi lặp lại trong nhàm chán và vô
vị. Bởi vậy, đã đến lúc phải từ bỏ mà lên đường
tìm kiếm một hương vị khác cho cuộc đời.
Còn
những người sống chỉ biết hưởng thụ, lúc nào cũng chờ
có dịp tốt là kiếm quyền lợi về cho bản thân mình, những
người trong một bài thơ Tuệ Trung Thượng Sĩ đã gọi là
bọn “Cháy đầu bỏng trán” (Tiêu đầu lạn ngạch), những
người như vậy làm sao biết đến chân trời đó-Vì chân
trời ấy, chỉ để cho những con người xuất chúng, những
con người đầy nghị lực bước đi mà thôi :
CHIẾU
THAÂN
Tiêu
đầu lạn ngạch bị kim bào
Ngũ
thất niên gian thị xưởng tào
Túng
đã siêu quần kiêm bạt tụy
Nhất
hồi phóng hạ nhất hồi cao.
Nghĩa
:
SOI
MÌNH
Cháy
đầu bỏng trán, thì được mặc
áo
bào vàng
Còn
mình năm bảy năm nay vẫn ở
nơi
xay giã
Nếu
là bậc siêu quần xuất chúng
Thì
cứ một lần hạ xuống lại một lần
lên
cao.
Ðỗ Văn Hỷ dịch.
(S.Ð.D. tr 240)
Có
nên xem hai câu :
Túng
đã siêu quần kiêm bạt tụy
Nhất
hồi phóng hạ nhất hồi cao
Như
là kinh Nhật Tụng, mà ta phải trì tụng mỗi ngày để xem
có còn sợ hãi sự thất bại trước cuộc đời nữa không?
II
Khi
ta nhìn một đóa hoa đang nở rộ, hay thỉnh thoảng đứng
trên đồi cao nhìn vạt nắng mong manh cuối cùng của buổi
chiều tà. Những lúc như vậy, dường như tâm hồn ta như
có một nỗi bất an. Vì có lẽ, ta trực nhận được rằng,
cái đẹp này rất mong manh, thoáng chốc, và chẳng bao lâu
nữa, nó sẽ tan biến ngay lập tức.
Như
vậy, con người nên đi tìm cái đẹp ở đâu? Nơi nào mới
không có sự tàn phai?
Là
một nhà thơ của Phật giáo Thiền Tông, Tuệ Trung Thượng
Sĩ khuyên ta nên trở về tìm kiếm cái đẹp ngay bên
trong, chứ đừng tìm bên ngoài. Nếu ngày nào ta vẫn cứ tiếp
tục lang thang đi tìm bên ngoài, thì ngày đó ta vẫn chỉ gặp
toàn thất vọng và đau khổ mà thôi.
Trong
ta có một suối nguồn sâu thẳm, nếu ta biết khai phá một
cách kiên trì, thì một lúc nào đó, hàng vạn đóa hoa sẽ
bừng nở lên giữa mùa xuân bất tận :
THỊ
HỌC
Học
giả phân phân bất nại hà
Ðô
tương linh đích khổ tương ma
Báo
quân hưu ỷ tha môn hộ
Nhất
điểm xuân quang xứ xứ hoa.
Nghĩa
:
GỢI
BẢO NGƯỜI HỌC ÐẠO
Học
đạo mênh mông ai có hay
Gạch
đen mài gạch, nhọc nhằn thay!
Cửa
người anh hãy thôi nương tựa
Một
ánh xuân về hoa đó đây!
Ðỗ Văn Hỷ dịch
(S.Ð.D.tr 233)
Nhưng
không phải Tuệ Trung Thượng Sĩ chỉ là một nhà thơ ngồi
tưởng tượng ra cái đẹp đó rồi viết thành thơ đâu, nhưng
Người còn là một hành giả nữa, nghĩa là đã từng trực
nhận cái đẹp vời vợi đó, bằng chính kinh nghiệm bản
thân mình:
NGẪU
TÁC
Ðường
trung đoạn tọa tịch vô ngôn
Nhàn
khẩn Côn luân nhất lũ yên.
Nghĩa
:
CHỢT
HỨNG LÀM THƠ
Ngồi
ngay ngắm giữa nhà lặng lẽ
không
nói
Thảnh
thơi nhìn một tia khói trên núi
Côn
luân
Huệ Chi dịch
(S.Ð.D. tr 233)
Ngồi
thảnh thơi nhìn một tia khói trên núi Côn luân là gì? Có
phải chính đó là giây phút mà nói theo thuật ngữ của Thiền
là ngộ (Satori) đó không? Giây phút đó rất quan trọng, vì
nó làm sụp đổ tất cả trật tự cũ, và cánh cửa vô hạn
đã được mở tung :
THOÁT
THỂ
Phiên
thân nhất trịch xuất phần lung
Vạn
vật đô lô nhập nhãn không
Tam
giới mang mang tâm liễu liễu
Nguyệt
hoa Tây một nhật thăng
Ðông.
Nghĩa
:
THOÁT
ÐỜI
Vương
mình một cái vượt ra khỏi
lồng
Muôn
việc đều như trò chơi, vào mắt
cũng
thành hư không
Tam
giới mênh mông cõi lòng sáng
rõ
Bóng
trăng chìm xuống phương Tây,
mặt
trời mọc ở phương Ðông.
Ðào Phương Bình dịch
(S.Ð.D.tr.243)
III
Thiền,
cần thực nghiệm, có nghĩa là ta phải nắm bắt thực tại
trong đôi bàn tay trần của mình nên từ chối vai trò của
văn tự “Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự”.
Nhưng
vì là một nhà thơ và tư tưởng gia của Thiền, nên Tuệ
Trung Thượng Sĩ vẫn phải sử dụng đến phương tiện của
ngôn ngữ. Nhưng ngôn ngữ có một giới hạn nhất định của
nó trong việc diễn đạt thực tại.
Có
một bài thơ hơi khó hiểu, nhưng ta cũng có thể đoán được
rằng,... Tuệ Trung Thượng Sĩ đã rất phân vân khi ông phải
phát triển cái mà đáng lý ra nên im lặng :
ÐỀ
TỊNH XÁ
Ðạp
trước quan đầu vị sát na
Tung
hoành phóng ngữ trát già dà
Niên
lai bút chảy vô đoan thậm
Tam
giới Như Lai bất nại hà.
Nghĩa
:
ÐỀ
TỊNH XÁ
Dẫm
chân tới đầu cổng chùa chưa
được
giây lát
Buông
lời dọc ngang viết nên bài
kệ
Năm
gần đây, ngòi bút bỗng trở nên
hờ
hững
Như
Lai ở ba giới cũng chả biết là
thế
nào!
Ðỗ Văn Hỷ dịch
(S.Ð.D.tr.239)
Thế
nhưng đã để lại văn tự, thì tất nhiên phải có giải
thích mà giải thích thì phải có sai lạc, đó là chuyện bình
thường. Nhưng có những trường hợp mà ta bị bắt buộc
phải nghĩ là đã có cố ý giải thích sai lạc.
Chẳng
hạn, gần đây có một số bài viết cho rằng, Tuệ Trung Thượng
Sĩ đã chủ trương không cần ngồi Thiền, cũng chẳng cần
niệm Phật, vì đã có thơ trích để chứng minh cho lý luận
trên :
Tự
thị quyện thời tâm tự tức
Bất
quan nhiếp niệm bất quan thiền,
Nghĩa
:
Khi
nào mỏi mệt thì tâm tự tắt
Chẳng
cần niệm Phật, chẳng ngồi
Thiền
(S.Ð.D. tr.233)
Hay
táo bạo hơn, bát bỏ hẳn việc trì
giới
và nhẫn nhục :
Trì
giới kiêm nhẫn nhục
Chiêu
tội bất chiêu phước
Dục
tri vô tội phước
Phi
trì giới nhẫn nhục.
Nghĩa
:
Trì
giới và nhẫn nhục
Chỉ
chuốc tội chứ không chuốc
phước
Muốn
biết không tội phước
Thì
đừng trì giới nhẫn nhục.
(S.Ð.D.tr. 290)
Chúng
ta phải hiểu rằng, đây là ngôn ngữ của người đã đứng
trên đỉnh núi cao. Nhưng chúng ta, những người còn ở dưới
chân núi, mà vẫn cố ý lặp lại như vậy, thì đó chỉ là
đại ngôn mà thôi, và nên biết rằng, phá chấp nhiều khi
cũng rất nguy hiểm, nó dễ bị lợi dụng để biện minh cho
hành động “bậy bạ” của mình vậy.
Tuệ
Trung Thượng Sĩ đã rất ý thức được điều nguy hại này,
nên khi đọc cho Trần Nhân Tông nghe xong bài kệ ấy, Người
đã cẩn thận căn dặn :
...
Vật thị phi nhân
(Chớ
có bảo cho người không ra gì!)
Như
vậy, chỉ có nhân cách của con người mới chứng minh cho
lời nói của mình là đúng hay sai? Nhân cách của Tuệ Trung
Thượng Sĩ như thế nào? Có phải nhân cách đó đã làm chấn
động tâm hồn của Trần Nhân Tông không? Cái gì đã khiến
ông phải thốt lên :
...
Ngã tri Thượng Sĩ môn phong cao tiếu.
(Vì
vậy, ta biết môn phong của Thượng Sĩ thật là siêu việt)
Tại
sao một ông vua đã từng ăn chay từ hồi còn nhỏ, vậy mà
phải ca ngợi một người đang ăn thịt cá là “Siêu việt”
Có
lẽ, đây là điều chúng ta nên suy nghĩ vậy.
IV
Nhất
khúc vô sinh xướng liễu thì
Ðảm
hoành tất lật cố hương quy
Nghĩa
:
Vừa
lúc “Vô sinh” dứt khúc ca
Cầm
ngang ống sáo lại quê nhà.
Ðỗ Văn Hỷ dịch
(S.Ð.D.tr. 231)
Ðó
là lời hát ca của người vừa tìm lại được tự do nơi
quê nhà.
Nhưng
con người ấy, vẫn phải tiếp tục sống như bao nhiêu người
thường tình khác trên thế gian này. Bởi vậy nên :
Khỏa
quốc hân nhiên tiện thoát y
Lễ
phi vô dã, tục tùy nghi.
Nghĩa
:
Ðến
xứ cởi trần cứ vui vẻ mà bỏ áo
Không
phải là quên lễ, chỉ tùy theo thói tục mà thôi.
Nhưng
điều quan trọng nhất trong thái độ chấp nhận đời sống,
mà bên ngoài có vẻ như tầm thường ấy vẫn là, cũng chỉ
vì tình thương vô hạn đối với người đồng loại mà thôi.
Trong
suốt bài thơ “Vật bất năng dung”, ta nghe ra được nỗi
đau khổ vô cùng của Tuệ Trung Thượng Sĩ. Ông đau khổ,
không phải cho chính mình, mà đau khổ vì biết được rằng,
mình đang gánh lên vai tất cả sự ngu xuẩn của con người
:
Kim
xuyên chốc ấu vi huyền đắc
Minh
kính manh nhân tác cái chi
Ngọc
tháp nhập cầm ngưu bất chính
Hoa
trang anh lạc tượng hà tri
Hu
ta nhất khúc huyền trung diệu
Hợp
bã hoàng kim chú Tử Kỳ.
Nghĩa
:
Chiếc
thoa vàng đối với bà già đầu
hói
chỉ là chiếc móc để treo.
Tấm
gương sáng đối với người mù
chỉ
là cái nắp để đựng chén.
Dẫu
tiếng ngọc nhập vào đàn cầm
thì
trâu cũng chẳng thèm nghe.
Bông
hoa có trang sức thêm chuỗi
ngọc
thì voi cũng không biết đến.
Than
ôi! Một khúc mầu nhiệm trong
huyền
vi.
Nên
đem vàng mà đúc Tử Kỳ.
(S.Ð.D. tr. 257)
Nhưng
không phải vì thế mà thối lui, trái lại con người càng
vô minh bao nhiêu, thì sứ mạng cứu vớt con người lại càng
phải được nung nấu bấy nhiêu. Vì vậy, Tuệ Trung Thượng
Sĩ đã tham gia và xông trận, Ông đã xuống núi với Thiền
trượng trong tay :
TRỤ
TRƯỢNG TỬ
Nhật
nhật trượng trì tại chưởng
trung
Hốt
nhiên như hổ hựu như long
Niêm
lai khước khủng sơn hà toái
Trác
khởi hoàn phương nhật nguyệt
lung
Tam
xích song lâm hà xứ hữu
Lục
hoàn Ðịa Tạng khoái nan phùng
Túng
nhiêu thế đạo kỳ khu thậm
Bất
nại tòng tiền bột tốt ông.
Nghĩa
:
CHIẾC
GẬY
Ngày
lại ngày qua tay vững gậy
Thoắt
nhanh như cọp dẽo như rồng
Vung
lên, sông núi e tan nát
Dựng
dậy, trời trăng sợ mịt mùng
Ba
thước song lâm tìm mỏi mắt
Sáu
vòng Ðịa Tạng kiếm hoài công
Dẫu
cho đường tục chông gai mấy
Lão
chẳng như xưa bước ngại ngùng.
Huệ Chi dịch
(S.Ð.D.tr. 266)
Tuệ
Trung Thượng Sĩ kêu gọi con người trước tiên, hãy đạp
vỡ bức tường ngăn cách với thế giới bên ngoài. Từ lâu
ta cứ nghĩ rằng, hiện tượng bên ngoài chẳng có liên quan
gì với chính ta cả, chính ý nghĩ đó thôi, cũng đã làm cho
ta cảm thấy cô độc trước vũ trụ vô biên kia.
Nhưng
không, tất cả những gì được thể hiện bên ngoài chỉ
là sự phóng hiện từ bên trong của chúng ta. Ta nghĩ như thế
nào, thì vũ trụ và thế giới mà ta đang sống cũng sẽ như
thế.
THỊ
ÐỒ
Niệm
khởi, tâm tâm khởi
Tâm
vong, niệm niệm vong
Dục
tri đoan đích ý
Thạch
hổ giảo kim đương
Thiên
địa do đàn chỉ
Sơn
xuyên đẳng thấu thanh
Tạm
thời phong vũ động
Kê
hướng ngũ canh minh.
Nghĩa
:
GỢI
BẢO HỌC TRÒ.
Một
ý nghĩ nổi lên, thì mọi tâm nổi lên
Một
tâm quên đi, thì mọi ý nghĩ quên đi
Muốn
biết nghĩa đích thực
Hổ
đá cắn dê vàng
Trời
đất chỉ như búng ngón tay
Non
sông chỉ bằng một tiếng dặng hắng
Tạm
thời gió mưa rung chuyển
Gà
gáy lúc canh năm.
Huệ Chi dịch
(S.Ð.D.tr.245)
Sau
khi đã giải phóng được ý niệm đó rồi, thì thiên nhiên
không còn lạnh lùng và xa lạ trước cái nhìn của ta nữa,
và vũ trụ vạn vật bỗng như được hồi sinh lại, đẹp
vô cùng :
TỰ
ÐỀ
Thu
quang hữu bút mạc hình dung
Khích
mục sơn hà xứ xứ đồng
Nhất
phái Tào khê hàn trạm trạm
Thiên
nhiên Hùng nhĩ bích tùng tùng
Ðăng
lung chàng phá Kim cương
quyển
Lộ
trụ hồn thôn lật cức bông
Dục
thức cá trung đoan đích ý
Tân
la dạ bán nhật đầu hồng
Nghĩa
:
TỰ
ÐỀ
Ánh
sáng mùa thu, không bút nào hình dung được
Ngước
nhìn non sông nơi nào cũng một vẻ
Một
dòng suối Tào khê lạnh ngăn ngắt
Nghìn
năm núi Hùng nhĩ vẫn xanh lớp lớp
Ðèn
lồng đập vỡ vòng kim cương
Cột
trần nuốt trọn tấm phên gai góc
Muốn
biết cái ý xác thực trong đó
Nữa
đêm ở Tân la, mặt trời đã ửng đỏ
Huệ Chi dịch
(S.Ð.D.tr 267)
Và
sau cùng, con người phải nhận ra rằng, mọi hiện tượng
của thế gian, cứ thế tiếp tục trôi chảy không ngừng,
sự tồn tại và hủy diệt của mọi sự vật và của chính
ta nữa cũng nằm trong dòng sông vô tận ấy :
AN
ÐỊNH THỜI TIẾT
Sinh
tử do lai bãi vấn trình
Nhân
duyên thời tiết tự nhiên thành
Sơn
vân dã hữu xuất sơn thế
Giản
thủy chung vô đầu giản thanh
Tuế
tuế hoa tùy tam nguyệt tiếu
Triêu
triêu kê hướng ngũ canh minh
A
thùy hội đắc nương sinh diện
Thủy
tín nhân thiên tổng giả danh
Nghĩa
:
THỜI
TIẾT YÊN ÐỊNH
Thôi
đừng hỏi lai lịch về con đường sống chết làm gì,
Thời
tiết của “nhân duyên” cứ thế tự nó hình thành
Mây
núi đã có cái thế bay ra khỏi núi
Nước
suối không tiếng nào không phải là tiếng nước gieo vào
lòng suối.
Hàng
năm hoa vẫn nở vào tháng ba
Sáng
sớm, gà vẫn gáy vào canh năm
Ai
là người hiểu được mặt người mẹ
Mới
tin rằng người và trời đều là giả danh.
Ðỗ Văn Hỷ dịch
(S.Ð.D.tr 246)
Vậy
thì, tại sao ta phải sợ sống chết nhỉ?
Trong
bài : Sanh tử nhàn nhi dĩ (Sống chết chỉ là nhàn mà thôi!),
Tuệ Trung Thượng Sĩ cho rằng, chỉ có người ngu mới sợ
sống chết, còn kẻ trí, tức là người đã “ấn định
được thời tiết” rồi, thì xem sống và chết chẳng là
gì cả, mà cũng chỉ là một dịp để cho ta tiếp tục cuộc
rong chơi, chỉ có vậy thôi :
Ngu
nhơn điên đảo bố sinh tử
Trí
giả đạt quan nhàn nhi dĩ.
Nghĩa
:
Người
ngu điên đảo sợ sống chết
Bậc
trí có cái nhìn thông đạt, xem
sống
chết chỉ là lẽ thường mà thôi.
(S.Ð.D.tr
283)
THÍCH
PHƯỚC AN.
