(Theo
"Thơ Văn Lý Trần", Tập II, nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội
- Hà Nội, 1989; và"Việt Nam Phật Giáo Sử Luận", Nguyễn Lang,
Tập I, nhà xuất bản Văn Học - Hà Nội, 1994)
I . Tiểu sử
Thượng
Sĩ tên thật là Trần Tung, con cả của Trần Liễu, sinh năm
1230; anh ruột của Hưng Đạo Đại Vương và Hoàng hậu Nguyên
Thánh Thiên Cảm - vợ của Trần Thánh Tông.
Thượng
Sĩ tham gia chống giặc Nguyên Mông, tích cực ở cả ba trận
chiến (1257,1285 và 1288). Sau ngày kháng chiến thắng lợi, Thượng
Sĩ được phong Tiết Độ Sứ, trấn giữ Thái Bình. Sau đó
không lâu, Thượng Sĩ lui về Dưỡng Chân Trang tham cứu Phật
học và hành sâu giải thoát.
Từ
trẻ, Thượng Sĩ học đạo dưới sự dẫn dắt của thiền
sư Tiêu Dao; thực hành giải thoát tâm trong đời sống gia
đình, hình thức cư sĩ, vừa đảm trách các công việc xã
hội mà triều đình giao phó. Thượng Sĩ được vua Thánh Tông
với kiến thức uyên bác về nội và ngoại điển nể vì,
tôn làm đạo huynh, và được vua Trần Nhân Tông thờ làm
đạo giải thoát. Sinh tiền, Thượng Sĩ sáng tác nhiều thi,
kệ; một số được kiết tập trong "Thượng Sĩ Ngữ Lục"
rất thời danh. Người đã sống hiên ngang, mãnh liệt mà tự
tại, hào sảng với phong thái của một đại thiền sư Việt
Nam. Người tịch vào năm 1291, làm chủ thời điểm xả báo
thân.
II. Tư tưởng
Phật học của Thượng Sĩ
Thượng
Sĩ sống đời sống dung tục, chỉ có Thánh Tông, Nhân Tông
và các bậc thạc đức trong rừng Thiền mới biết chiêm ngưỡng
tâm giải thoát và tuệ giải thoát của Người. Bài biên khảo
nầy sẽ đi vào tìm hiểu vườn Thiền của Người qua một
số nét hương sắc Người để lại trong các thi kệ trong
"Thơ Văn Lý Trần" và "Việt Nam Phật Giáo Sử Luận".
1.
Tông chỉ Thiền của Thượng Sĩ
Đây
cũng là tông chỉ của thiền Tiêu Dao và thiền phái Trúc Lâm
Yên Tử. Tông chỉ ở đây thực sự là bí quyết quyết định
công phu đi vào Tâm và Tuệ giải thoát.
Một
hôm, Nhân Tông hỏi Người về tông chỉ ấy, Người bảo
:"Hãy quay về tự thân mà tìm lấy tông chỉ ấy, không thể
đạt từ ai khác".
Quay
về tự thân mà tìm lấy tông chỉ là ý nghĩa tự mình trở
về chính mình để khơi dậy tâm và tuệ giải thoát vốn
có ở tâm mình. Từ Kinh tạng Nikàya, đức Phật dạy hãy
trở về nương tựa mình và nương tựa pháp: một Tỷ kheo
nương tựa mình và nương tựa pháp là Tỷ kheo hành Tứ niệm
xứ. Hành Tứ niệm xứ là công phu khơi dậy tâm và tuệ giải
thoát sẵn có ở tâm mình. Như thế, tông chỉ thiền mà Thượng
Sĩ trao truyền cho Nhân Tông là hoàn toàn phù hợp với lời
dạy tinh yếu của đức Gotama được kiết tập ở kinh tạng
Nikàya (Pàli Text Society).
Thời
đức Phật, các tăng sĩ tìm về tông chỉ nói trên trong nếp
sống xuất thế; các cư sĩ thì tìm về tông chỉ ở đời
sống gia đình, xã hội. Thời Trần, ở Việt Nam, Ứng Thuận
- thầy truyền đạo cho tăng sĩ Tiêu Diêu, quốc sư Nhất Tông,
thiền sư Giới Ninh và Giới Viên - là một cư sĩ tại gia
như Tuệ Trung : thế là việc trở về với tâm và tuệ giải
thoát ở Việt Nam cũng như dưới thời đức Phật đều có
thể thực hiện trong nếp sống xuất thế hay nhập thế, tùy
duyên. Điều đặc biệt ở Việt Nam là Tuệ Trung là một
thiền sư vừa làm tướng cầm quân chống giặc Nguyên; vua
Lý Thánh Tông, Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông thì vừa làm
vua vừa làm thiền sư , vua Nhân Tông thì vừa làm vua vừa
làm thiền sư lúc tại gia và lúc xuất gia, rất tùy duyên,
không câu nệ. Sẽ không còn nghi ngờ hay ngạc nhiên, nếu
ta nhìn thẳng vào thực chất của công phu cá nhân soi mình
để đạt được tâm và tuệ giải thoát ấy: đó là công
phu nhìn thấy rõ cái hư ngã của "Ngũ thủ uẩn" ; do từ cái
thấy đó mà hành giả tự động buông xả hết thảy vọng
tâm - dục vọng; tham ái về sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp;
chấp ngã; và các tâm lý tiêu cực phát sinh từ tham ái và
chấp ngã ấy - tự động đến với tâm và tuệ giải thoát.
Đây quả là nội dung chứng đắc của các thiền sư Việt
Nam thời Lý, Trần, và chính đây là sức mạnh tâm lý - hay
có thể gọi là sức mạnh tinh thần, hoặc sức mạnh tâm
linh - tạo nên các thành quả lịch sử to lớn của Lý, Trần.
2.
Ca tụng đạo học của Thánh Tông
Sinh
tiền, Thánh Tông thường hội cùng các thiền sư danh tiếng
và Thượng Sĩ đàm đạo, bàn đến các điểm uyên áo của
Phật pháp. Từ các lời, ý tán thán cái tâm cái tuệ của
Thánh Tông, ta có thể hình dung được sự thật rằng Thượng
Sĩ đã làm chủ gia tài giải thoát của tâm thức mình:
Tụng
Thánh Tông đạo học
" Thánh
học cao minh đạt cổ kim,
Thiết
nhiên long tạng quán hoa tâm.
Thích
phong ký đắc khai quyền bảo,
Tổ
ý tương vô thấu thủy châm.
Trí
bạt thiền quan thông Thiếu thất,
Tình
siêu giáo hải khóa Uy-Âm.
Nhân
gian chỉ kiến thiên sơn tú,
Thùy
thính viên đề thâm xứ thâm"
(Ibid.tr.254)
Trúc
Thiên dịch: (tr.254)
" Thánh
học cao vời suốt cổ kim,
Kho
rồng riêng thấu tận gan tim.
Phật
phong: được báu trong tay mở,
Tổ
ý: nhìn kim đáy nước chìm.
Trí
bạt cửa thiền thông Thiếu thất,
Tình
sâu biển giáo át Uy Âm.
Người
đời chỉ thấy non sông đẹp,
Ai
lắng hang sâu tiếng vượn trầm"
Qua
bài Đường luật nầy, Thượng Sĩ xác nhận Thánh Tông đã
nắm vững lời Phật, ý Tổ, nắm chắc cốt tủy của Phật
pháp. Người mà xác nhận được sở đắc của người khác
thì sở đắc có thể còn cao hơn: sinh thời, Thánh Tông kính
nể sở học, sở đắc của Thượng Sĩ. Nay thử lần lượt
tìm hiểu các dấu vết biểu hiện sở đắc kia của Thượng
Sĩ.
3.
Khuyên người đời đến với Phật pháp
Khuyến
thế tiến đạo
"
Tứ tự tuần hoàn xuân phục thu
Xâm
xâm dĩ lão thiếu niên đầu.
Vinh
hoa, khẳng cố nhất trường mộng,
Tuế
nguyệt, không hoài vạn hộc sầu.
Khổ
thú luân hồi như chuyển cốc,
Ái
hà xuất một đẳng phù âu.
Phùng
trường diệc bất mô lai tị,
Vô
hạn lương duyên chỉ má hưu"
(Ibid.tr.264)
Huệ
Chi dịch (tr.264):
" Năm
tháng xoay vần, xuân đến thu,
Xăm
xăm tuổi trẻ đã phơ đầu.
Giàu
sang, mắt lóa cơn trường mộng,
Tuổi
tác, lòng đong vạn hộc sầu.
Nẻo
"khổ", bánh xe luân chuyển khắp,
Sông
"yêu", bọt nước nổi chìm mau.
Mãi
vui nên chẳng tìm ra gốc,
Nghìn
thuở lương duyên chẳng đến đâu"
Thấy
rõ người đời không ai tránh khỏi khổ: cái khổ do vô thường
gây ra: khổ già, khổ bệnh, khổ vì những gì ưa thích lại
vội vã ra đi, những gì ghét bỏ thì cứ lao mình đến, tình
người thì lắm đổi thay, càng ham sống thì càng thất vọng
lớn, con đường trước mặt sau lưng đều mờ mịt..., Thượng
Sĩ đã nhắc nhở người đời rằng thức tỉnh thì liền
thấy cảnh giới an nhàn, hạnh phúc mình mong tìm từ nơi sự
tỉnh thức: càng muốn thỏa mãn các ham muốn trần thế thì
càng muốn nhiều hơn và càng thất vọng nhiều hơn; biết
dừng lại, biết tiết chế, biết chế ngự các ham muốn vị
kỷ thì càng dễ tiếp cận với hạnh phúc. Đến với sự
thức tỉnh đó là đến với Phật pháp rồi vậy. Bây giờ
hành giả vẫn tiếp tục cuộc hành trình vô thường mà lòng
thì thấy như khắp chốn đều nở hoa, như Thượng Sĩ đã
từng:
" ...
Thiên thanh vạn thúy mê hương quốc,
Hải
giấc thiên đầu thị dưỡng chân".
( Dưỡng Chân,ibid.,tr.226 )
(
" Muôn tiá ngàn xanh tràn đất nước
Chân
trời góc biển dưỡng tình ta" )
( Đỗ văn Hỷ dịch,ibid.,tr,226 )
4.
Khuyên người học đạo (đã đến với đạo và đang hành
giải thoát)
Thị
Chúng
" Hưu
tầm Thiếu thất với Tào Khê,
Thể
tính minh minh vị hữu mê.
Cổ
nguyệt chiếu phi quan viễn cận,
Thiên
phong xuy bất giản cao đê.
Thu
quang hắc bạch tùy duyên sắc,
Liên
nhị hồng hương bất trước nê.
Diệu
khúc bản lai tu cử xướng,
Mạc
tầm Nam Bắc dữ Đông Tê (Tây)"
(ibid.tr. 265)
Huệ
Chi dịch:
" Thôi
tìm núi Thiếu với khe Tào,
Tính
sáng chưa mê lẫn chút nào.
Há
quản gần xa, trăng cứ dọi,
Lo
gì cao thấp, gió đều xao.
Thu
trong, biếc hẳn tùy duyên sắc,
Sen
ngát, hồng đâu bởi nước ao.
Khúc
diệu "gốc nguồn" xin cứ hát,
Bốn
phương thôi chớ hỏi nơi nao"
(ibid. tr;265)
Khi
đã tỉnh thức đến với đạo, hành giả tiếp tục an trú,
phát huy sự tỉnh thức ấy: kinh điển, lời Phật, ý Tổ
chỉ là sự đánh thức và chỉ hướng, hành giả hà tất
phải nhờ cậy đến Đạt Ma (Thiếu Thất) và Lục Tổ (Khe
Tào), do bởi tánh sáng vốn có nơi tâm mình, vốn ở nơi tâm
mình, các Tổ không giúp gì được nhiều hơn trong việc khơi
dậy mạnh mẽ tánh sáng ấy. Kinh nghiệm tâm linh của Thượng
Sĩ đã hiện rõ: khổ, vui đều do mỗi người tự định;
mê thì khổ, ngộ thì vui, há do thời tiết bốn mùa hay những
đổi thay của cuộc sống; có thể sống ở đời mà vui với
đạo như Nhân Tông đã cảm tác trong "Cư trần lạc đạo
phú": ngộ thì hạnh phúc có mặt khắp nơi, tánh sáng của
tâm hiện diện khắp chốn: "Khúc diệu gốc nguồn xin cứ
hát, Bốn phương thôi chớ hỏi nơi nao".
5.
Gợi bảo mọi người (Thị Chúng) :(ibid.,tr.231-232)
Để
giúp người đời an trú trong tâm và tuệ giải thoát, an trú
vững chắc hơn, cao hơn, tột cùng đến bến bờ giải thoát,
Thượng sĩ bảo:
"
Thế gian nghi vọng bất nghi chân,
Chân
vọng chi tâm diệc thị trần
Yếu
đắc nhất cao siêu bỉ ngạn,
Hiếu
tham đồng tử hiện tiền nhân"
(ibid.,tr.231)
Huệ
Chi dịch:
" "Dối"
ưa, "thực" ghét, ấy trò đời,
Thực,
dối tâm kia bụi cả thôi.
Muốn
nhảy cho cao, sang bến nọ,
Hỏi
xem con trẻ, có như lời?"
(ibid.;tr.232)
Tại
đây, Thượng Sĩ minh định thêm một lần nữa:
- Thói
đời, tập quán sống của người đời là hưởng thụ, thỏa
mãn lòng dục, vị kỷ: đấy là vùng tâm lý hư dối, nhưng
người đời ưa nắm giữ.
-
Sống rời khỏi lòng dục, xa hưởng thụ, sống vị tha là
nếp sống đạo (thực) thì người đời muốn tránh xa.
-
Thực ra cái nội dung gọi là nắm giữ hay tránh xa trên chỉ
là cái tướng dối, thực của tâm ưa ghét. Tâm ưa ghét thực
sự cũng là hư vọng, bụi bẩn : với Thượng Sĩ đắc cái
tâm "duy tác" (làm mà không tác ý dính mắc, không thủ trước)
không nhiễm trần một cách thuần thục tự nhiên như tâm
hài đồng của trẻ thơ thì hành giả mới thực sự vào sâu
tâm và tuệ giải thoát. Bài kệ "Thị Chúng" nầy là một
bước chỉ dạy xa hơn của Thượng Sĩ.
6.
Gợi bảo người học đạo (Thị học)
" Học
giả phân phân bất nại hà,
Đồ
tương linh đích, khổ tương ma.
Báo
quân hưu ỷ tha môn hộ,
Nhất
điểm xuân quang, xứ xứ hoa"
(ibid.,tr.232)
Đỗ
văn Hỷ dịch:
" Học
đạo mêng mang ai có hay
Gạch
đem mài gạch, nhọc nhằn thay!
Cửa
người anh hãy thôi nương dựa,
Một
ánh xuân về hoa đó đây"
(ibid,tr.233)
Với
bài thơ tứ tuyệt này, Thượng Sĩ đã lưu ý người học
đạo giải thoát, hành giải thoát cẩn trọng giác tỉnh ở
nhiều ngưỡng cửa phải đi qua:
a/
Ngưỡng cửa văn tự, khái niệm: kinh điển, lời Phật, ý
Tổ thì có nhiều; tất cả đều là ngón tay chỉ đường,
chỉ mặt trăng chân lý: người học đạo phải chóng rời
khỏi ngón tay để trở về với mặt trăng chân lý trong tự
tâm mình; không có gì bí mật ở đây cả, hành giả chỉ
cần mở lớn con mắt giác tỉnh thì liền nhận ra.
b/
Kinh điển, các lời dạy của Phật, Tổ là giới thiệu con
đường, giới thiệu pháp hành, thể cách sống, mà không phải
là chân lý; hành giả cần sống, thực hành mới có nhân duyên
tiếp cận chân lý.
c/
Các pháp hành chỉ là sự chỉ hướng tổng quát cho mọi người,
cho nhiều căn cơ khác nhau, hành giả cần thoát ngay ra khỏi
sự câu nệ các hình thức thể hiện, bởi hành là tâm của
hành giả hành, vận hành, chuyển dịch, chuyển đổi, mà không
phải cái sự tướng hành. Thế nên, bản chất của hành ở
ngoài sự ràng buộc của tuổi tác, phái tính, giai cấp, vị
trí xã hội, thời gian, nơi chốn... Hành là để hành giả
thực sự làm chủ cái tâm giác tỉnh của mình, làm chủ cái
tâm giải thoát và tuệ giải thoát : khi đã có thể làm chủ
cái tâm ấy rồi thì hành giả tự tại hành xử các việc
ích đời, lợi đạo, không còn nệ vào pháp nào, con đường
nào nữa : đây là điểm biểu hiện rất nhân bản (trả hành
giả về với tự thân hoàn toàn) và rất trí tuệ (đúng pháp,
chân an lạc, hạnh phúc).
Không
hành xử như thế là hành giả đi vào mờ mịt của tâm thức,
mãi gởi mình (phó thác đời mình) ở cửa người, trọn không
thể giáp mặt với tánh sáng trong tâm mình, như là cứ tiếp
tục mài gạch mà mong thành gương vậy. Hành xử đúng như
thế là hành giả sẽ thấy hoa nở khắp nơi giữa trần gian,
giải thoát trong mọi thời. Đây là một kinh nghiệm giải
thoát nữa mà Thượng Sĩ để lại cho đời!
7.
Thoát đời (Thoát thế) (ibid.,tr.243)
Làm
chủ cái tâm giải thoát và tuệ giải thoát ấy là thể hiện
ý nghĩa giải thoát, thực hiện con đường giải thoát thoát
khỏi các ràng buộc của thế tình, của cuộc đời, mà không
phải trốn lánh cuộc đời, trốn lánh các thể tướng của
đời. Thượng Sĩ đã viết:
Thoát
thế
" Phiên
thân nhất trịch xuất phần lung,
Vạn
sự đô lô nhập nhãn không.
Tam
giới mang mang tâm liễu liễu,
Nguyệt
hoa Tây một nhật thăng Đông"
(ibid.,tr.243)
Đào
Phương Bình dịch:
" Xoay
mình một ném vượt ra lồng,
Muôn
sự đều không, nhập mắt không.
Ba
cõi thênh thang, lòng sáng rỡ,
Trăng
Tây vừa lặn, nhú vầng Đông"
(ibid.,tr.243)
Trí
tuệ giải thoát là trí tuệ thể nhập vào sự thật của
tất cả hiện hữu, sự thật duyên sinh vô ngã, vô tự tánh:
muôn sự đều không có tự tính của thị, phi, tốt, xấu,
cấu, tịnh, phiền não hay bồ đề. Con mắt thấy sự thật
vô ngã tánh nầy gọi là con mắt Không ("Không nhãn") thấu
suốt ba cõi Dục, Sắc và Vô Sắc. Cái thấy nầy tự nó đem
lại cho hành giả cảm nhận thanh thản, hạnh phúc, tự tại
nên "vô cầu", luôn luôn tự tại mặc cho đêm đi ngày đến,
hay đêm đến ngày đi: cuộc đời bấy giờ trở nên mãi đẹp,
đẹp hơn cả ước mơ! Đây là giá trị sống mà Thượng
Sĩ thấy cần giới thiệu, trao truyền cho dân Việt như trao
sự độc lập giành lại từ tay giặc thù: dân Việt phải
thực sự được hạnh phúc giữa cuộc thăng trầm thường
có của lịch sử!
8.
Tự tại (ibid.;tr.241)
"
Đẳng thử vô đoan tiệm tiệm xâm
Quy
lai chung lão ký sơn lâm.
Sài
môn mao ốc cư tiêu sái,
Vô
thị vô phi tự tại tâm"
(ibid.;tr.241)
Đoàn
Phương Bình dịch:
" Nanh
chuột giây bìm cứ lấn xâm,
Về
thôi già gởi chốn sơn lâm.
Nhà
tranh cửa liếp phong quang chán
Phải
trái đều không, tự tại tâm"
(ibid.;tr.242)
Xã
hội từ ngàn xưa đến mãi ngàn sau vẫn tiếp tục trôi chảy
vô thường như thế, vẫn thị phi, an nguy với vạn phiền
muộn và vạn niềm vui mỏng manh như thế. Thượng Sĩ vào
thời trai trẻ vẫn hành giải thoát, an trú giải thoát mà
vẫn xông pha trận mạc để cứu nước cứu dân, vẫn giảng
dạy đạo lý tùy căn cơ tiếp nhận. Lúc lão suy thì tự tại
lui về am tranh ở vùng non yên tịnh. Với Thượng Sĩ, ở đâu
và lúc nào cũng có mặt giải thoát, có nước có dân tùy
tâm Thượng Sĩ. Những vô thường, sinh diệt, thị phi ở đời
không làm vướng bận lòng Người: đến với cuộc đời là
đến với pháp giới, từ giã xác thân và từ giã cuộc đời
cũng là đến với pháp giới như thật: chẳng được cũng
chẳng mất. Đây là sự thật của mọi người, giúp mọi
người trở về với sự tỉnh táo, định tỉnh của tâm.
9.
Phàm Thánh chẳng khác nhau (Phàm Thánh bất dị) (ibid.;tr.285)
" Thân
tòng vô tướng bản lai không.
Huyễn
hóa phân hai thành nhị kiến.
Ngã
nhân tự lộ diệc tự sương,
Phàm
Thánh như lôi diệc như điện.
Công
danh phú quý đẳng phù vân,
Thân
thế quang âm nhược phi tiễn,
Miết
khởi tinh nhi tăng ái tình.
Tự
mịch mạn đầu nhi khí miến.
Mi
mao tiêm hoành tỵ khổng thùy,
Phật
dữ chúng sanh đô nhất diện.
Thục
thị phàm hề thục thị thánh?
Quảng
kiếp sưu tầm một căn tánh.
Phi
tâm vô thị diệc vô phi,
Vô
kiến phi tà dã phi chính.
Quảng
ngạch đồ nhi Quả nguyện vương,
Khánh
Hỷ tỳ-khưu công đức thánh.
Giác
tha giác tự bạt mê đồ,
Biển
giới thanh lương tô nhiệt bệnh.
Quân
bất kiến,
Tiền
thất giả thị a thùy?
Hậu
đắc giả hựu thị thùy?
Lưỡng
giá băng tâm nhất ban mệnh.
Đáo
đầu bát vạn tứ thiên đà-la-ni chi pháp môn,
Đồng
nhiếp nhập Như Lai quảng đại viên trí chi kính.
Đốt!"
(ibid.;tr.285)
Dịch
nghĩa:
" Thân
từ "vô tướng" vốn là không,
Vì
huyễn hoá mà chia biệt thành nhị kiến.
Ta
và người như móc cũng như sương,
Phàm
và Thánh như sấm cũng như chớp.
Công
danh và giàu sang đều như mây nổi,
Thân
thế và tháng năm, tựa mũi tên bay.
Bỗng
vì hoa mắt mà nẩy sinh tình yêu ghét,
Giống
như tìm bánh bao mà bỏ bột.
Lông
mày ngang, lỗ mũi dọc,
Phật
và Chúng sinh đều một bộ mặt mà thôi.
Ai
là phàm, ai là Thánh?
Tìm
tòi trong quảng kiếp cũng không thấy căn tính.
Phi
tâm, không phải cũng không trái.
Vô
kiến, chẳng tà cũng chẳng chánh.
Anh
đồ tể trán rộng là vua Quả nguyện.
Tỳ
Kheo Khánh Hỷ là thánh công đức.
Giác
ngộ mình và giác ngộ cho người vượt khỏi đường mê,
Khắp
cõi mát mẻ và không bệnh tật.
Ngươi
(anh) chẳng thấy
Kẻ
mất trước là ai?
Kẻ
được sau là ai?
Hai
cái tâm sai khác và một cái mệnh như nhau.
Rốt
cục cửa pháp 84.000 đà-la-ni
Cùng
thu vào tấm gương quảng đại viên trí của Như Lai.
Hét!"
(ibid.;tr.285-286)
Thượng
Sĩ sở dĩ đã trải nghiệm tâm tự tại của một thời trai
trẻ và trung niên đầy hào khí, hiên ngang và náo nhiệt, và
tâm tự tại của thời lão suy sống ở ẩn trầm lặng với
núi đồi, là nhờ Người đã "nhập đạo", đã cùng với
đạo bất nhị - cái đạo ở ngoài mọi ngôn ngữ diễn đạt
mà Thượng Sĩ từng bảo "Đạo bất tại vấn, vấn bất tại
đạo"- Khi đã cùng với đạo không hai không khác, nghĩa là
đã đi vào thực tại, thì mọi sự tướng khởi diệt, mọi
ý niệm, mọi tư duy, mọi thắc mắc đầy ngã tính đều trở
nên như bọt nước quá mỏng manh giữa biển khơi, không còn
là vấn đề hiện hữu nữa: tất cả tướng (ngã tướng)
tự biến, tự diệt. Đây là kinh nghiệm giải thoát siêu vượt
mọi hệ thống tư tưởng, triết học - các hệ thống đã
và đang bị kẹt, không có lối thoát, giữa những vấn đề
thực và hư, chân và vọng, thánh và phàm, hạnh phúc và khổ
đau, bản thể và hiện tượng, thiện và ác, đúng và sai
... - là giải đáp cho các vấn đề lớn nhất của triết
học, siêu hình học, và đồng thời cũng là tiếng hống sư
tử chấm dứt vai trò của triết học cổ xưa, cận đại
và hiện đại. Đó là tiếng hống, "Thánh Phàm bất dị",
bởi cái gọi là Phàm và cái gọi là Thánh đều là thực
tại, đều chứa đầy Thực tại. Cái "khác" (difference) chỉ
cóù mặt trong các ngã niệm, vọng niệm, không có gốc gác,
đầy ắp mộng mị! Đây là điều mà đức Phật Gotama đã
tuyên dạy trong kinh tạng Nikàya (Pàli Text Society), "Khi ta thanh
tịnh, Ta thấy thế giới thanh tịnh". Thấy thế giới thanh
tịnh là thấy Thánh, phàm bất dị, chân như và hiện tượng,
tánh tướng bất dị v.v...
Lời
tuyên bố của đức Phật là lời tuyên bố về sự thật
của thế giới nầy: thế giới qủa là thực tại như thật,
là Chân cảnh, là Thánh cảnh, là Phật giới, Phật cảnh dưới
cái nhìn của trí tuệ vô chấp thủ (complete detachment) - "
Khi ta thanh tịnh" đồng nghĩa với khi Tâm rời khỏi chấp
thủ hoàn toàn - Tiếng nói "Thánh phàm bất dị" của Thượng
Sĩ là âm vọng của lời dạy của Như Lai.
Đó
là bản "Trung Luận Kệ" của Việt Nam, hệt như "Trung Luận
Kệ" của luận sư Long Thọ (xứ Ấn, thế kỷ thứ II Tây
lịch). Thượng sĩ hiện ra là một Long Thọ - Việt Nam , mà
vừa là một thiền sư, một đại thi hào, một nhà siêu tư
tưởng.
10.
Bài ca Tâm và Phật (Phật Tâm ca, ibid.;tr.271)
"
Phật Phật Phật bất khả kiến,
Tâm
Tâm Tâm bất khả thuyết.
Nhược
Tâm sinh thời thị Phật sinh,
Nhược
Phật diệt thời thị Tâm diệt.
Diệt
Tâm tồn Phật thị xứ vô
Diệt
Phật tồn Tâm hà thời yết,
Dục
tri Phật Tâm, sinh diệt Tâm,
Trực
đãi đương lai Di Lặc quyết.
Tích
vô Tâm,
Kim
vô Phật;
Phàm,
Thánh, Nhân, Thiên như điện phất.
Tâm
thể, vô thị diệc vô phi.
Phật
tính, phi hư hựu phi thực.
Hốt
thời khởi (khỉ),
Hốt
thời chỉ;
Vãng
cổ lai kim đồ nghĩ nghĩ.
Khởi
duy mai một tổ tông thừa,
Cánh
khởi yêu ma tự gia tùy.
Dục
cầu Tâm,
Hưu
ngoại mịch;
Bản
thể như như tự không tịch.
Niết
bàn sinh tử mạn la lung.
Phiền
não, bồ đề nhàn đối địch.
Tâm
tức Phật,
Phật
tức Tâm,
Diệu
chỉ minh minh đạt cổ câm (kim).
Xuân
lại tự thị xuân hoa tiếu,
Thu
đáo vô phi thu thủy thâm.
Xả
vọng tâm,
Thủ
chân tính.
Tự
nhân tầm ảnh nhi vong kính.
Khởi
tri ảnh hiện kiến trung lai,
Bất
giác vọng tòng chân lý bính.
Vọng
lai, phi thực diệc phi hư.
Kính
thụ, vô tà diệc vô chính.
Dã
vô tội,
Dã
vô phúc;
Thác
tỷ ma-ni kiêm bạch ngọc.
Ngọc
hữu hà hề, châu hữu loại,
Tính
để vô hồng diệc vô lục.
Diệc
vô đắc,
Diệc
vô thất.
Tứ
thập cửu lai thị thất thất.
Lục
độ vạn hạnh hải thượng ba,
Tam
độc cửu tình không lý nhật.
Mặc
mặc mặc,
Trầm
trầm trầm;
Vạn
pháp chi tâm tức Phật tâm.
Phật
tâm khước dữ ngã tâm hợp.
Pháp
nhĩ như nhiên cắng cổ câm (kim).
Hành
diệc thiền,
Tọa
diệc thiền;
Nhất
đóa hồng lô hỏa lý liên.
Một
ý khí thời thêm ý khí,
Đắc
an tiện xứ thả an tiên.
Di
di di
Đốt
đốt đốt;
Đại
hải trung âu nhàn xuất một.
Chư
hành vô thường nhất thiết không,
Hà
xứ tiên sư mịch linh cốt.
Tinh
tinh trước,
Trước
tinh tinh;
Tứ
lăng tạp địa vật khi khuynh.
A
thùy ư thử tín đắc cập,
Cao
bộ Tỳ-lư đính thượng hành.
Hát!
Huệ
Chi dịch :
Phật!
Phật! Phật! Không bóng hình (không thể thấy)
Tâm!
Tâm! Tâm! ngoài ngôn thuyết.
Nếu
Tâm sinh là Phật sinh,
Bằng
Phật diệt ấy Tâm diệt.
Diệt
Tâm còn Phật chuyện này không,
Diệt
Phật còn Tâm, bao thuở hết.
Muốn
biết Tâm Phật, Tâm sinh diệt
Hãy
đợi về sau, Di Lặc quyết.
Trước
không Tâm,
Nay
không Phật;
Phàm,
Thánh, Trời, Người như chớp giật.
Thể
Tâm, không thị cũng không phi.
Tính
Phật, chẳng hư cũng chẳng thật.
Bỗng
vụt dấy,
Bỗng
ngừng nhanh;
Nay
lại, xưa qua luống quẩn quanh.
Đâu
chỉ chôn vùi nếp tông tổ,
Còn
gọi yêu ma về lộng hành.
Muốn
tìm Tâm,
Ngoài
chớ hỏi (chớ kiếm)
Thể
tính lặng không, không biến đổi.
Niết
bàn, sinh tử buộc ràng suông,
Phiền
não, Niết bàn, đối nghịch dối.
Lòng
(tâm) là Phật,
Phật
là lòng (tâm);
Diệu
chỉ sáng thiêng kim cổ thông.
Xuân
đến, tự nhiên hoa xuân nở,
Thu
sang, đâu chẳng nước thu trong.
Bỏ
vọng tâm,
Cầm
chân tính;
Khác
gì tìm bóng bỏ quên gương.
Nào
biết gương kia lồng bóng nọ,
Không
hay vọng vốn từ chân sanh.
Không
thực không hư là vọng đó,
Chẳng
tà, chẳng chánh, gương in hình.
Cũng
không tội,
Cũng
không phúc,
Lầm
vì hạt trai cùng bạch ngọc.
Ngọc
thì có vết, trai có tỳ,
Tính
vốn không hồng, cũng không lục.
Cũng
không được!
Cũng
không mất!
Bảy
bảy, bốn chín là đồng nhất
Muôn
hạnh, sáu độ sóng trùng dương,
Ba
độc, chín tình là vầng nhật.
Lắng!
Lắng ! Lắng!
Trầm!
Trầm! Trầm!
Tâm
của muôn loài tức Phật Tâm.
Tâm
Phật, tâm ta cùng khế hợp,
Pháp
vẫn y nguyên suốt cổ kim.
Đi
cũng thiền!
Ngồi
cũng thiền!
Trong
lò lửa đỏ một bông sen.
Y
Ù khí mất đi thêm ý khí,
Được
chốn ở yên hãy ở yên.
Chà!
Chà! Chà!
Ối!
Ối! Ối!
Bọt
trong biển cả thấy chìm nổi.
Muôn
pháp vô thường hết thảy không.
Linh
cốt biết đâu tiên sư hỏi.
Tỉnh!
Thức! Thức!
Thức!
Tỉnh! Tỉnh!
Bàn
chân dẫm đất đừng chống chếnh.
Ai
người tin tưởng ở nơi đây.
Bước
trên đầu Phật trèo trên đỉnh.
Hét!
(ibid.; tr.375-377)
***
Nếu
tâm người sạch hết chấp thủ các ngã tướng, sạch lậu
hoặc, thì thế giới của mọi dị biệt của thực, hư, thị,
phi, v.v....liền biến diệt như sự biến diệt của cảnh mộng
khi tâm người ấy ra khỏi chiêm bao. Bấy giờ, thế giới
trước người ấy, gồm tâm và cảnh, là thật cảnh: Tâm
ấy, Tuệ ấy là Tâm Phật, Tuệ Phật và là Phật; cảnh ấy
là cảnh Phật và là Phật. Đấy là những gì mà Thượng
Sĩ đã cảm nghiệm qua "Phật Tâm Ca", và là những gì mà Kinh
Hoa Nghiêm dạy: "Tâm, Phật, Chúng sinh, tam vô sai biệt" - Tâm,
Phật và Chúng sinh, cả ba không khác biệt - Khi cả ba không
khác biệt, thì không thể nói có một thực thể (entity) Tâm
riêng, một thực thể Phật riêng, và một thực thể của
các hiện hữu Chúng sinh riêng. Vì thế mà không thể có mặt
một thực thể chân vọng, hư, thực, thị, phi, v.v... nào ở
đây, điều mà Thượng Sĩ đã quyết:
" Tích
vô Tâm,
Kim
vô Phật;
Phàm,
Thánh, Nhân, Thiên như điện phất.
Tâm
thể, vô thị diệc vô phi.
Phật
tính, phi hư hựu phi thực"
("
Trước không Tâm,
Nay
không Phật;
Phàm,
Tánh, Người, Trời như chớp giật.
Thể
tâm, không thị cũng không phi (không "là", không "không là")
Tính
Phật, chẳng hư cũng chẳng thật")
Với
tâm còn chấp trước, còn lậu hoặc thì Tâm, Phật, Chúng
sinh đều xuất hiện là ngã tướng, ngã tính của ngã niệm.
Với người ấy, Tâm ấy, không thể thấy được "Tâm, Phật,
Chúng sinh, Tam vô sai biệt", mà phải chờ thời điểm các
ngã niệm tan sạch, điều mà Thượng Sĩ bảo là chờ đến
đức Phật Di Lặc ra đời giải quyết:
" Dục
tri Phật Tâm, sinh diệt Tâm,
Trực
đãi đương lai Di Lặc quyết"
("
Muốn biết Tâm Phật, Tâm sinh diệt
Hãy
đợi về sau Di Lặc quyết")
Thế
mới rõ "Phật Tâm Ca" đang đánh thức hành giả ra khỏi cơn
mê ngã niệm, đang nhắn nhủ hành giả trở về với công
phu ách yếu của mình là tẩy sạch ngã niệm, tẩy sạch các
cấu nến đang phủ mờ Tâm, mà không phải là hỏi, là suy
nghiệm (lự), là tìm cầu ở ngoài, hãy ngưng ngay các cuộc
chạy vạy kiếm tìm:
" Dục
cầu Tâm,
Hựu
ngoại mịch;
Bản
thể như như tự không tịch,
Niết
bàn, sinh tử mạn la lung.
Phiền
não, bồ đề nhàn đối địch"
("
Muốn tìm Tâm,
Ngoài
chớ hỏi;
Thể
tính lặng không, không biến đổi.
Niết
bàn, sinh tử, buộc ràng suông,
Phiền
não, Niết bàn, đối nghịch dối")
Ngã
niệm là thuộc vọng, không thật có, không có gốc. Nó hiện
hữu như mộng, tỉnh tâm thì nó liền tan. Hãy thức tỉnh!
Thế thôi! như Thượng Sĩ đã chứng nghiệm:
" Tinh
tinh trước,
Trước,
tinh tinh;
Tứ
lăng tạp địa vật khi khuynh.
A
thùy ư thử tín đắc cập,
Cao
bộ Tỳ lư đính thượng hành.
Hát!"
(
" Tỉnh, thức! thức!
Thức!
Tỉnh! Tỉnh!
Bàn
chân dẫm đất đừng chống chếnh.
Ai
người tin tưởng ở nơi đây.
Bước
trên đầu Phật, trèo trên đỉnh.
Hét!)
Tiếng
nói Phật pháp của Thượng Sĩ rất thực, từ chứng nghiệm
tự thân, và hẳn là rất "bạo", rất uy dũng, chỉ dành riêng
cho các căn cơ trí tuệ cao từng thực hiện giải thoát, và
từng có khát vọng giải thoát mãnh liệt. Tiếng nói ấy vốn
đã vạch rõ con đường vào Tâm giải thoát và Tuệ giải
thoát cho các tu sĩ Phật giáo Việt Nam như là một đường
bay, hay một đường thẳng của tàu điện xuyên sơn, tuyệt
nhiên không quanh co vẻ vời. Nó truyền vào hậu thế một
sức sống đạo mạnh mẽ, nhưng hiện tại sức sống đó
đang ngủ yên trên những trang sách, và đang chờ đánh thức!
11.
Sống, Chết là lẽ thường (Sinh tử nhàn nhi dĩ: ibid.;tr.
282-284) :
"Tâm
chi sinh hề, sinh tử sinh,
Tâm
chi diệt hề, sinh tử diệt.
Sinh
tử nguyên lai tự tính không,
Thử
huyễn hóa thân diệc đương diệt.
Phiền
não, bồ đề ám tiêu ma,
Địa
ngục thiên đường tự khô kiệt.
Hoạch
than, lô thán, đốn thanh lương.
Kiếm
thụ đao sơn lập tồi chiết.
Thanh
văn tọa thiền, ngã vô tọa,
Bồ
tát thuyết pháp, ngã thực thuyết.
Sinh
tự vọng sinh, tử vọng tử.
Tứ
đại bản không tòng hà khởi?
Mạc
vi khát lộc sân dương diễm.
Đông
tẩu tây trì vô tạm dĩ.
Pháp
thân vô khứ diệc vô lai,
Chân
tính vô phi diệc vô thị.
Đáo
gia tu tri hãi vấn trình,
Kiến
nguyệt an năng khổ tầm chỉ.
Ngu
nhân điên đảo bố sinh tử,
Trí
giả đạt quan nhàn nhi dĩ.
Ngu
nhân điên đảo bố sinh tử
Trí
giả đạt quan nhàn nhi dĩ."
(ibid.;tr.282)
Huệ
Chi dịch:
" Khi
tâm sinh chừ sinh tử sinh.
Khi
tâm diệt chừ sinh tử diệt.
Sinh
tử xưa nay tính vốn không,
Hư
huyễn thân này rồi cũng hết.
Phiền
não, bồ đề dần tiêu mòn,
Địa
ngục thiên đường tự khô kiệt.
Lò
lửa, vạc dầu tự êm ru,
Núi
kiếm rừng dao bỗng gãy tiệt.
Thanh
văn ngồi thiền ta không ngồi,
Bồ
tát nói pháp, ta nói thiệt.
Sống
là sống dối, chết: chết dối.
Tứ
đại vốn không, từ đâu nổi?
Đừng
như hươu khát rượt "bóng sông",
Chạy
quàng không nghỉ khắp Tây, Đông.
Pháp
thân không qua, cũng không lại,
Chân
tính không trái cũng không phải.
Đến
nhà, thôi chớ hỏi con đường.
Thấy
trăng, tìm gì ngón tay chỉ.
Người
ngu điên đảo sợ tử, sinh,
Bậc
trí, tử sinh là thường thôi vậy.
Người
ngu điên đảo sợ tử sinh,
Bậc
trí, tử sinh là thường thôi vậy."
(ibid.;tr.283)
Con
đường sống mà Thượng Sĩ nói đến ở trên, và sự giác
tỉnh về sự thật của con người và cuộc đời được đề
cập trong thi, kệ của Người, là những gì giúp hành giả
giải quyết êm ả hai vấn đề lớn ở đời: sinh và tử.
Tất cả đều phát sinh từ "cái nhìn" (regards) Duyên sinh, thấy
rõ vạn hữu đều duyên sinh, chúng thực sự không hiện diện,
mà chỉ có một pháp giới duyên khởi đang vận hành: tâm,
thân, ta, người, sống, chết, vui, khổ, qua, lại v.v... là
các ngã tướng nên thật sự không có, mà chỉ các duyên trôi
chảy kết hợp ra những thứ gọi là các ngã tướng ấy.
Thấy rõ như vậy thì hành giả giác tỉnh ngay rằng: cái tâm,
cái ta... còn chưa có, thì làm gì có tâm sinh, tâm diệt, ta
sinh, ta diệt. Cũng thế, sinh và tử còn chưa có, làm gì có
sự sợ sinh tử; tứ đại không thật có thì làm gì có những
thứ do tứ đại hợp thành tạo nên. Cái thấy trí tuệ nầy
tự nó an nhiên, tự tại, khoái hoạt, tự nó giải quyết
mọi vấn đề mà ngã tưởng của con người dựng nên: tất
cả thắc mắc, ước mơ, sợ hãi.v.v... sẽ đều tắt ngấm,
đều tịch diệt!
Thượng
Sĩ đã sống vững trú trong tâm giác tỉnh, trong cái nhìn trí
tuệ kia nên sinh tiền đã tự tại sống (như bài Phóng Cuồng
Ca ghi) và tự tại chết. Thiền đã có mặt trong bốn oai nghi
của Thượng Sĩ thì hà tất phải ngồi thiền? Tuệ đã có
mặt trong cái nhìn của Thượng Sĩ nên nhìn đâu cũng gặp
thực tướng, thì hà tất phải nói pháp? - bởi chỉ cần
nói rất thường, với ngôn ngữ tự nhiên thường nhật, là
thực chất đã là nói pháp.
Rời
khỏi cái nhìn Duyên Khởi và sự giác tỉnh Duyên Khởi thì
người đời sẽ rơi vào thế giới của ngã tưởng, ngã tướng,
vốn rất điên đảo mộng mị, từ đó khởi sinh vạn điên
đảo tâm khác như ưa, ghét, buồn, vui, sợ hãi, ham muốn v.v...
Thấy rõ điều nầy Thượng Sĩ viết nên bài "Sinh tử nhàn
nhi dĩ" rọi sáng cho hậu thế của quê hương Luy Lâu-Yên Tử.
III - Kết luận
về con đường Phật học của Thượng Sĩ
Từ
cuộc sống giải thoát của Điều Ngự (xem bài "Trần Nhân
Tông, Sở đắc giải thoát và Tư tưởng Phật học", cùng
tác giả) và của Thượng Sĩ Tuệ Trung, một số nét Thiền
định Phật giáo đời Trần rất tiêu biểu biểu hiện rõ:
1.
Con đường giải thoát Giới, Định, Tuệ được thực hiện
suốt cuộc đời của mỗi cá nhân, bất luận ở vị trí
nào trong xã hội, rất thiện xảo tùy duyên: Điều Ngự học
Phật học chuyên chú từ nhỏ, nuôi sống sự giác tỉnh giải
thoát từ nhỏ; theo dõi tâm, kiểm soát tâm và chế ngự tâm
lúc làm Thái tử, làm Vua, làm Thái thượng hoàng, rồi tiếp
xuất gia thực hành Giới, Đinh, Tuệ đầy đủ cả hai mặt
tướng và tâm. Điều ngự thực hành giải thoát kết hợp
với công việc thi hành việc nước (xã hội) - giữ nước
và dựng nước - và công việc thuyết pháp độ sanh, tổ chức
trang nghiêm Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Thượng
Sĩ cũng chuyên tâm học Phật từ nhỏ dưới sự chỉ dẫn
của thiền sư Tiêu Dao và nuôi sống sự giác tỉnh giải thoát
từ đó; tiếp tục phát triển trí tuệ trong đời sống gia
đình, đời sống của một tướng lãnh, quan chức triều đình
giữa ba cuộc chiến chống ngoại xâm Nguyên - Mông; rồi an
trú trong trí tuệ giải thoát tại Dưỡng Chân Trang yên tịnh;
tùy duyên độ đời.
Cả
hai thiền sư hầu như tâm đã sớm trọn lành và ổn định
(cận định từ trẻ), nên sinh thời chỉ thuần hành thiền
quán: nói đúng là hành "Tác ý như lý" (tác ý đúng pháp).
Đây là công phu hành "Thất giác chi" như đã được giới
thiệu từ Tương Ưng bộ kinh, tập V, Nikàya, Pàli Text Society,
hành trong mọi oai nghi hằng ngày. Theo thời gian phát triển,
tâm hành giả sẽ lần lượt vào Niệm giác chi, Trạch pháp
giác chi, Tinh tấn giác chi, Hỉ giác chi, Khinh an giác chi, Định
giác chi và Xả giác chi: hành giả an trú tự nhiên trong Giới
học và Định học, các lậu hoặc sẽ lần lượt bị loại
trừ; ở giai đoạn Xả giác chi, các Thánh quả sẽ dần dần
được chứng đắc. Công phu giải thoát nầy phù hợp với
các cấp độ của hàng căn cơ trí tuệ. Với trí tuệ sâu
và ý chí mạnh, thì Thất giác chi chóng thành tựu. Khi Niệm
giác chi và Trạch pháp giác chi thành tựu là khi hành giả
thành tựu phần công phu căn bản của Thiền định Tứ niệm
xứ.
Nét
nổi bật của Điều Ngự và Thượng Sĩ, vì thế, là nét
thực hiện "Chỉ" (Samatha) và "Quán" (Vipassana) song hành. Ở
đây tiếng nói của trí tuệ Duyên Sinh, Vô ngã thường hiện
rõ.
2.
Tiếng nói trí tuệ ấy khởi đầu từ sự bừng ngộ, giác
tỉnh rằng các hiện hữu chỉ là sự hiện diện của vô
lượng nhân duyên mà không phải là các thực hữu (entities)
như người đời thường tưởng. Giác tỉnh ấy được nuôi
dưỡng liên tục, từ đó các tâm lý cấu uế như tham lam,
sân hận, si mê, xan, tham, tật đố, ngã mạn, vị kỷ, v.v...,
bị loại bỏ sạch. Nói theo ngôn ngữ của tông Pháp tướng
Duy Thức, tại đây hành giả đã rời khỏi cái nhìn "biến
kế" và an trú vào cái nhìn "y-tha khởi". Công phu "Thất giác
chi" được khởi động từ đó.
3.
An trú vào giác tỉnh, không dính mắc vào sắc thân, cảm thọ,
tư duy, danh vọng, lợi lộc, hành giả tiếp tục xúc tiếp
và giác sát tự thân và xã hội. Càng giác sát, càng thêm
thức tỉnh mạnh. Càng thức tỉnh mạnh, hành giả càng đi
sâu vào tâm "từ bỏ" (không dính mắc), làm chủ tâm thức
mình, tùy duyên mà hành xử việc đời, việc đạo với tâm
thuần lương, từ ái, với tư duy vô dục, vô sân và vô hại.
Nếp sống, nếp hành nầy biểu hiện rõ ràng tính người
(nhân bản), rất hiện tại, hiện thực rất trí tuệ, và
qua Điều Ngự , Thượng Sĩ còn là rất Việt Nam.
4.
Nếp sống, nếp hành này luôn luôn bao hàm sự trưởng dưỡng
tinh thần trách nhiệm cá nhân cao; tinh thần tự chủ, độc
lập cao; và tinh thần tự tri, sáng tạo cao. Đây là các tinh
thần giáo dục tốt đào tạo nên các thế hệ công dân tốt:
khi các tâm lý cấu uế kể trên bị loại trừ, thì các tâm
lý tiêu cực làm dấy lên các hiện tượng tiêu cực của
xã hội cũng bị loại trừ, tâm lý vô chấp và vị tha phát
triển, rất thuận lợi cho công việc thực hiện đại đoàn
kết dân tộc như đã từng được thể hiện dưới hai triều
đại Lý, Trần.
Đối
với những công dân bình thường với trí tuệ yếu, ý chí
bình thường và với những ước mơ bình thường, đi theo
nếp sống của Điều Ngự, Thượng Sĩ cũng có thể thành
tựu phần đạo đức thực dụng của Phật giáo (chế ngự
ham muốn, mở rộng tâm khoan dung, vị tha) áp dụng tốt đẹp
vào xã hội Việt Nam.
Đối
với những công dân trí tuệ có nghị lực và ý chí cao, họ
có thể trải nghiệm những gì mà Điều Ngự và Thượng Sĩ
đã trải nghiệm, họ có điều kiện để giáp mặt với an
lạc, thanh thản, hạnh phúc trong từng bước đi, không có
trăn trở vì phải từ bỏ tâm thế tục.
5.
Ngôn ngữ biểu đạt sự thủ đắc giải thoát của Thượng
Sĩ rất mạnh, rất bạo, có tác dụng đánh thức người nghe
- những hành giả đang trên đường thực hành công phu giải
thoát - như là:
- "...
Dã vô tội,
Dã
vô phúc;"
(ibid.;tr.27)
(Không
có tội,
Không
có phúc;)
-
" Trì giới kiêm nhẫn nhục,
Chiêu
tội bất chiêu phúc."
(ibid.;tr.290)
(Trì
giới và nhẫn nhục,
Chuốc
tội, chẳng chuốc phúc)
-"
Yến đắc nhất cao siêu bỉ ngạn,
Hiếu
tham đồng tử hiện tiền nhân."
(ibid.;tr.231)
(
Nếu muốn vượt lên cao sang bờ bên kia,
Hãy
hỏi đứa trẻ thơ ở ngay trước mặt)
-
" Thanh văn tọa thiền ngã vô tọa,
Bồ
tát thuyết pháp, ngã thực thuyết."
(ibid.; tr.282)
(
Thanh văn ngồi thiền, ta không ngồi,
Bồ
tát nói pháp, ta nói thực)
Ngôn
ngữ nghe có làn hơi bạc hãnh, nhưng diễn đạt rõ sự tình
rằng Thượng Sĩ đã đến bờ bên kia, nói rõ"những gì cần
làm đã làm xong" ("Sở tác dĩ biện") của một Thánh A-la-hán.
Hầu như cũng cùng một sở chứng, sở đắc nầy, trước
phút viên tịch Điều Ngự lại nói với lời lẽ trang nghiêm
của một nhà mô phạm, rằng:
" Nhất
thiết pháp bất sinh,
Nhất
thiết pháp bất diệt.
Nhược
năng như thị giải,
Chư
Phật thường hiện tiền.
Hà
khứ lai chi hữu."
(ibid.;tr.395)
(Mọi
pháp đều không sinh,
Mọi
pháp đều không diệt.
Nếu
hiểu rõ như thế
Thì
thấy chư Phật thường hiện diện.
Có
đi lại, sinh diệt gì đâu? (!) )
Thượng
Sĩ và Điều Ngự thực sự đã đến bờ bên kia!
Nhị
vị Thượng nhân quả nhiên đã để lại những kinh nghiệm
giải thoát và kinh nghiệm "sống đời vui đạo" rất giá trị
trên thi đàn Việt Nam, trong Văn học Phật giáo Việt Nam.
Tỷ
Kheo Thích Chơn Thiện
Tháng
3/2003
Trúc
Lâm Thiền Viện-Paris
Bài
Đọc Thêm:
Tuệ
Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục Giảng Giải, HT. Thích Thanh Từ
Tuệ
Trung Thượng Sĩ, Kẻ Rong Chơi Giữa Sống và Chết, Thích Phước
An
Tuệ
Trung Thượng Sĩ, Kẻ Ngông Cuồng Trong Đôi Mắt Phàm Tình,
Thích Huệ Giáo
Vấn
Đề Ăn Chay Ăn Mặn của Tuệ Trung Thương Sĩ
