Chào
quý đạo hữu,
Khi
nói về Tuệ Trung Thượng sĩ, thường người ta ít để ý
hay không hề nhấn mạnh đến điểm Tuệ Trung là cư sĩ và
không hề xuất giạ Gọi ông là thiền sư thì cũng không đúng
(sư ở đây là người xuất gia, không phải chỉ có nghĩa
là thầy), dù ông có thể là một đạo sư (guru, sư là thầy)
vì ông rất lỗi lạc, thâm hiểu Thiền học, được tổ dòng
Thiền Trúc Lâm là vua Trần Nhân Tông kính trọng, có thể
đã hoc. hỏi ông về đạo, và ông để lại thơ Thiền
nhiều nhất trong những người VN tu theo Thiền Tông. Nếu
muốn đề cao, có thể so sánh Tuệ Trung với Bàng Uẩn , cư
sĩ Thiền Tông nổi danh đời Dường (TQ), đệ tử của Mã
Tổ Đạo Nhất và Thạch Ddầu Hi Thiên, được người đời
phong danh là Duy Ma Cật của Đông Độ Chính Bàng Uẩn là tác
giả của hai câu thơ được truyền tụng dưới đây dùng
đánh đổ quan niệm học Thiền để cầu đạt được thần
thông (Lục Thông):
Thần
thông tịnh diệu dụng
Vận
thủy cập ban sài
Nghĩa
:
Thần
thông cùng diệu dung :
Gánh
nước, bửa củi tài !
Người
theo Thiền Tông thường có những lời nói , hành động phá
chấp, vượt ra ngoài ý nghĩ bình thường. Như thiền sư Đan
Hà (TQ) trèo lên cổ tượng Bồ Tát Văn Thù ngồi, và chẻ
tượng Phật lấy gỗ đốt để sưởị Họ làm thế vì muốn
phá chấp, và nhất là để giúp kẻ khác phá chấp. Nhưng
phải rất thận trọng khi học những bài học như thế. Vì
chính Tuệ Trung đã dặn dò vua Trần Nhân Tông sau khi đọc
bài kệ phá phá giới :
"Trì
giới và nhẫn nhục
Chuốc
tội chẵng chuốc phúc
.............................................
Đoạn
Thượng sĩ bí mật dặn kỹ vua :
Đừng
nói với những người không hiểu biết, (Vật thị phi nhân).
"
Vấn
đề Ăn Chay Ăn Mặn và Trì Giới trong các bài kệ Tuệ Trung
còn để lại tôi nghĩ chỉ như dùng cái "nghịch lý, nghịch
thường" , hay cái Không, để quét sạch hết mọi kiến chấp,
chấp thủ, rồi sau đó không phải ở lại trong cái nghịch
thường mà trở về, hay vuơn lên với trung đạọ Cho
nên không thể áp dụng trong cách tu hành thông thường của
ai thấy có căn cơ bình thường .
Hòa
Chào
quý đạo hữu,
Vấn
đề Ăn Chay và Ăn Mặn từ bài kệ của Tuệ Trung có lẽ
làm tốn nhiều giấy mực . Tôi thấy hai bài viết của HT
Thích Minh Châu và HT Thích Đức Nghiệp chỉ để giải thích
(hay biện minh) chuyện Tuệ Trung nói như vậy là đúng, ít
ra xét trong trường hợp, vị thế đứng của Tuệ Trung.
Với những lý lẽ dược sử dụng tóm lược như sau
:
1/
HT Minh Châu : vì ông coi cái tâm là trọng hơn hình tướng,
vì ông đã giác ngộ, phá chấp, vì ông là cư sĩ
(không muốn là Phật)...
2/
HT Đức Nghệp: vì ông tu chứng cao, không cố chấp, là cưasĩ
tại gia, vì đại nghĩa dân tộc (?).
Nhưng
tại sao không giả định là Tuệ Trung không đúng ở chỗ
này, trong vấn đề này , hay chỉ đúng một phần, đúng chỉ
được một nửạ Tại sao không có quyền phê phán Tuệ
Trung nếu ông giải thích, chủ trương không đúng với
giáo lý của đạo Phật, ở đây là giáo lý Đại Thừa, và
thu hẹp hơn giáo luật trong Thiền Tông. Tôi chỉ muốn nói
đến chuyện Ăn Chay và Ăn Mặn, không xét về chuyện Trì
Giới rộng hơn.
Tại
sao lại ăn chay ?
Vì
lòng từ bi đối với mọi loài chúng sinh, từ với loài người
mở rộng đến loài vật, tức cầm thú. Và để tránh phạm
giới sát sanh theo giới luật của Phật giáọ Không thể viện
dẫn lý do là thời Phật giáo nguyên thủy, hay ngay Nam Tông
ba6y giờ cũng không ăn chay (cử ăn thịt) mà do đó người
tu hành theo Bắc Tông cũng không cần phân biệt chay với mặn
(vì phân biệt như thế là không có lý ?). Nhưng phải nắm
vững chủ đích của ăn chay là phát triển lòng từ bi
, và tránh hay giảm bớt chuyện sát sinh. Thời nguyên thủy
và ở Nam Tông các tăng sĩ nhận phần ăn do dân chúng cúng
dường mỗi ngày, thì dù thế nào cũng không thể chọn
thức ăn không có thịt cá, là vì dân chúng không phải đều
là Phật tử, không phải đều ăn chay hay có mục đích làm
thức chay cúng d+ờng riêng cho tăng sĩ mỗi ngàỵ Chuyện đó
quá khó cho họ Nghĩa là trong thực tế Phật giáo nguyên thủy
và Nam Tông không thể tránh ăn thịt, ăn cá do họ nhận thức
ăn từ những người ăn mặn. Còn đến Ddại Th+`a, thì truyên`
thống khất thực không còn, các tăng ni tự làm lấy th+'c
ăn hàng ngày, tuy có thể nhận lãnh thực phẩm cúng dường
chưa chế biến. Vì không muốn phạm giới sát sanh, thức ăn
của tăng ni thuộc Phật giáo Đại Thừa, nhất là có nguồn
từ Trung Hoa, hoàn toàn không có thịt , cá.
Trở
lại trường hợp của Tuệ Trung. Ông không ăn chay vì lẽ
đơn giản ông là cư sĩ. Còn chuyện ông ăn mặn trong bữa
tiệc do hoàng thái hậu khoản đãi thì dù theo đúng như ngữ
lục kể lại nhưng có thể giải thích khác.. Là vì có thể
người ta tưởng là ông ăn chay, nên đã dọn riêng
thức ăn chay cho ông, nhưng ông ăn mặn, từ đó mới
có cái "giai thoại" về chuyện chay măn, và bài kệ. Nhưng
Tuệ Trung biện minh chuyện ông ăn mặn không phải theo quan
điểm của Phật giáo mà theo quan điểm của Lão Trang cho con
người sống hoà hợp, thuận theo với tự nhiên, thiên
nhiên là hợp với Đạọ lý lẽ đó, loài cầm thú có con
ăn cỏ, có con ăn thịt, và loài người vừa ăn rau vừa ăn
thịt thì mới phải đạọ Nhưng cái đạo này là đạo Lão
, không phải đạo Phật. Vì nếu cứ thuận theo vòng tự nhiên
mà sống, thì chúng sinh sẽ tiếp tục đi theo cái vòng luân
hồi bất tận. do nghiệp lực chi phối, hướng dẫn từ nguyên
thủỵ Cho nên phải biết phá bỏ những ràng buộc, kiềm
hãm của tự nhiên, của bản năng, đang cuốn hút con người
trôi lăn theo dòng sinh tử thì mới đạt được giải thoát
theo ý nghĩa của đạo Phật.
Thiền
Tông từ Trung quốc là Phật giáo phối hợp ít nhiều với
tư tưởng Lão Trang. Ở đây, Tuệ Trung đã dùng tư tưởng
Lão Trang để biện minh cho chuyện ông ăn mặn. Và vì vậy
có thể lý lẽ ông đưa ra không đủ thuyết phục nhiều người
trong Phật giáọ Cho nên không lạ, sau ông cũng không thấy
ai ( thiền sư nào) có chủ trương giống ông, tuy vì uy
tín ông lớn quá, nên không ai dám lên tiếng phê phán quan
điểm của ông trong bài kệ đã dẫn.
Hòa
Bài
Đọc Thêm:
Tuệ
Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục Giảng Giải, HT. Thích Thanh Từ
Tuệ
Trung Thượng Sĩ, Kẻ Rong Chơi Giữa Sống và Chết, Thích Phước
An
Tuệ
Trung Thượng Sĩ, Kẻ Ngông Cuồng Trong Đôi Mắt Phàm Tình,
Thích Huệ Giáo
Tuệ
Trung Thượng Sĩ, TT. Thích Chơn Thiện
