BÌNH LUẬN
Của Hoà Thượng
Thích Minh Châu
Phật
Giáo Thiền Việt Nam quan tâm đến con người đích thực, chứ
không chú trọng đến con người hình tướng. Và trong
con người, nó trước hết chú trọng đến tâm địa, tức
là chỗ sâu sắc nhất của con người, chứ không phải hình
thức bề ngoài. Một người là cư sĩ, nhưng có tâm địa
giải thoát, thì có khác gì xuất gia, mặc dù chưa xuốngtóc
và chưa khoác áo cà sa. Trái lại, một người tuy đã
xuống tóc và mặc áo cà sa, nhưng tâm còn vương vấn thế
tục nặng nề, thì sẽ không tránh khỏi phạm giới và mắc
tội. Đó lá ý tứ của câu kệ sau đây của Thượng
sĩ Tuệ Trung, một câu rất dễ hiểu lầm:
“Trì
giới kiêm nhẫn nhục
Chiêu
tội bất chiêu phúc...”
Chúng
ta cần chú ý là Thượng sĩ không nói: Trì giới, nhẫn nhục
là tội lỗi. Người xuất gia phát nguyện trì giới và
nhẫn nhục, nhưng vì còn vương vấn thế tục, nên không trì
giới nhẫn nhục được, thì mắc tội. Khi còn là người
tại gia, thì không thành vấn đề, bởi vì không nhận lãnh
sự cung kính và cúng dường của thập phương tín thí.
Nhưng một khi đã xuất gia, mặc nhiên đứng vào hàng Tăng
Bảo, chịu sự cung kính và cúng dường của tín đồ mà lại
không trì giới nhẫn nhục được, không thoát khỏi dục vọng
thế gian, thì sao lại không mắc tội? Nói cách khác,
đã xuất gia làm Tăng, thọ 10 giới làm Sa Di hay là 250 giới
làm Tỳ Kheo, nhưng không giữ giới được thì phạm tội.
Thí dụ người xuất gia đã thọ giới không dâm dục, dù
là chánh dâm hay là tà dâm cũng đều phạm giới. Ngày
xưa, khi Phật còn tại thế, có trường hợp một tăng sĩ
trẻ, thỉnh thoảng lại về thăm vợ cũ, ngủ lại đêm.
Phật quở trách, nói không được. Tăng sĩ muốn về
với vợ cũ thì phải làm lễ xả giới, hoàn tục, rồi hãy
về với vợ, như vậy sẽ không phạm giới và phạm tội.
Xuất
gia làm tăng sĩ, đứng vào hàng tam bảo, được sự cúng dường
của tín thí thập phương, mang nhãn hiệu sứ giả của Như
Lai... mà lại sống không đạo đức, thậm chí phạm cả những
giới luật tối thiểu của người tại gia, thì đúng như
Tuệ Trung Thượng Sĩ nói:
“Trì
giới kiêm nhẫn nhục
Chiêu
tội bất chiêu phúc...”
Nếu
người đọc thiếu suy nghĩ, cho rằng Tuệ Trung muốn nói giữ
giới và nhẫn nhục là có tội và không được phúc, thì
đó là một sự hiểu lầm tai hại. Mà cũng vì sợ người
thường không hiểu cho nên Thượng Sĩ đã nhắn với vua Trần
Nhân Tông: “Vật thị phi nhân”. Chớ bảo điều
này cho bọn phi nhân, tức là những kẻ thiếu nhân phẩm,
không xứng đáng làm người.
Cũng
như chuyện Thượng sĩ ăn mặn, không ăn chay. Thượng
sĩ có phát nguyện ăn chay bao giờ đâu, cho nên Thượng sĩ
có ăn mặn là chuyện thường. Hơn nữa Thượng sĩ là
người giác ngộ, không có vướng mắc, chấp trước vào chuyện
ăn uống, ăn chay hay ăn mặc đối với thượng sĩ chỉ là
để nuôi thân và hành đạo.
Tuy
nhiên, trong câu trả lời của Thượng sĩ đối với câu hõi
của Thái hậu, thì có người không hiểu. Thượng sĩ
nói: : “Phật là Phật, Anh là Anh. Anh không cần thành Phật.
Phật cũng không cần thành Anh. Em không nghe các bực cổ đức
nóị Văn Thù là Văn Thù, Giải thoát là giải đó saỏ”
Trong
nguyên bản chữ Hán viết: (“Phật tự Phật, huynh tự huynh.
Huynh đà bất yếu tố Phật. Phật đà bất yếu tố
huynh. Bất kiến cổ đức đạo: Văn Thù tự Văn
Thù, Giải thoát tự Giải thoát”)
“Huynh
giả bất yếu tố Phật”, nếu dịch như trong tập Thơ Văn
Lý Trần thì không được ổn lắm: “Anh chẳng cần làm Phật”.
Theo tôi (HT. Minh Châu) nên dịch: “Anh không được làm Phật”,
hay là “Anh không thể làm Phật”. Bởi vì, với quá
khứ tu hành và cuộc sống hiện tại của Thượng sĩ thì
làm Phật sao được. Cũng như đức Phật, với cương
vị là Đạo sư của cả Trời và loài người, thì xữ sự
như Thượng sĩ sao được.
Mỗi
người đều có cương vị của mình, chỗ đứng của mình.
Thực ra, không ai có thể thay ai được, cũng như không ai có
thể hoàn toàn bắt chước ai được. Sẽ là buồn cười,
nếu Thượng sĩ lại sống như một Tăng sĩ, và cũng không
hợp lý, nếu có tăng sĩ nào đó lại muốn ăn nói, xử sự
như Thượng Sĩ là một người sốngtại gia.
Khi
Thượng sĩ nói với Trần Nhân Tông là người hiểu đạo,
thì Thượng sĩ nói:
“Trì
giới kiêm nhẫn nhục
Chiêu
tội bất chiêu phúc...”
Nhưng
đối với người khác, không phải là Trần Nhân Tông, Thượng
sĩ sẽ không nói như thế hay nói khác đi. Đối
với người xuất gia, giữ giới là việc quan trọng hàng đầu.
Chính giới luật phân biệt người tại gia và người xuất
gia, chính giới luật phân biệt người mới tu hành với người
tu đã lâu năm. Ví vậy mà Trần Thái Tông trong Khoá Hư
Lục đã viết rất nghiêm túc:
“Giới
như mặt đất bằng, mọi điều thiện từ đó sinh ra, giới
như thầy thuốc gỏi, chữa được mọi loại bệnh, giới
như ngọc Minh Châu, phá tan mọi tăm tối, giới như thuyền
bè vượt qua bể khổ, giới như chuỗi ngọc, trang nghiêm pháp
thân...” (KHL-Thọ Giới Luận)
Trần
Thái Tông viết cuốn “Khó Hư Lục” để dạy học trò đông
đảo, không thể nói như Thượng Sị:
“Trì
giới kiêm nhẫn nhục
Chiêu
tội bất chiêu phúc...”
“Tuệ
Trung Thượng Sĩ Với Thiền Tông Việt Nam, Viện Khoa Học Xã
Hội, Trung Tâm Nghiên Cứu Hán Nôm, Nhà Xuất Bản Đà Nẵng
2000 (trang 32-36)”.
Bài
Đọc Thêm:
Tuệ
Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục Giảng Giải, HT. Thích Thanh Từ
Tuệ
Trung Thượng Sĩ, Kẻ Rong Chơi Giữa Sống và Chết, Thích Phước
An
Tuệ
Trung Thượng Sĩ, Kẻ Ngông Cuồng Trong Đôi Mắt Phàm Tình,
Thích Huệ Giáo
Tuệ
Trung Thượng Sĩ, TT. Thích Chơn Thiện
