THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn  Index Tác-Giả

 
 

 

c
VẤN ĐỀ ĂN CHAY ĂN MẶN 
của TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ
Một hôm, Hoàng Thái hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm (em gái của Tuệ Trung Thượng sĩ ) mở tiệc trong cung điện.  Trên bàn có cả thức ăn mặn và thức ăn chaỵ Thượng sĩ gắp thức ăn không phân biệt chay hay mặn. Hoàng Thái hậu hỏi :

Anh tu Thiền mà ăn thịt cá thì làm sao thành Phật được ?” Thượng sĩ cười dáp : “Phật là Phật, Anh là Anh. Anh không cần thành Phật. Phật cũng không cần thành Anh. Em không nghe các bực cổ đức nóị Văn Thù là Văn Thù, Giải thoát là giải đó saỏ” Trong bữa tiệc này có cả vua Trần Nhân Tông, vua rất thắc mắc về việc này và chưa hiểu rõ ý nghĩa câu trả lời của Thượng sĩ, nhưng chưa tiện hỏi... 

Năm Đinh Hợi (1287), Hoàng thái hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm băng. Thượng hoàng Trần Thánh Tông trông lo việc triều chỉnh ở kinh đô, vua Trần Nhân Tông phải cấp tốc về đất An Bang để thỉnh cậu là Thượng sĩ Tuệ Trung về lo lễ tang. Trên đường về kinh đô bằng thuyền, có thời giờ để Thượng sĩ Tuệ Trung và cháu (vua Trần Nhân Tông) đàm luận. Khi đó, vua vẫn còn thắc mắc về việc Thượng sĩ ăn mặn và những câu trả lời của Thượng sĩ trong bữa tiệc mà Thái hậu đãi lần trước, vì vậy, vua hỏi Thượng sĩ : Thưa cậu, chúng sanh quen cái nghiệp ăn thịt, uống rượu, làm thế nào thoát khỏi tội báo nghiệp lực ?

Thượng sĩ đáp : Nếu có người đứng xây lưng lại, thình lình có vua đi qua phía sau lưng, người kia không biết, vô tinh ném vật gì đó trúng vào vua, thử hỏi người ấy có sợ bị tội hay không và vua có giận bắt tội hay không ? Nên biết, hai việc đó không dính dấp gì đến nhau cả. Tiếp theo đó Thượng sĩ đọc cho vua nghe hai bài kệ rong kinh sách Phật : 

Vô thương chư pháp hành
Tâm nghi tội tiện sanh
Bổn lai vô nhứt vật
Phi chủng diệc phi manh
Nhựt nhựt đối cảnh thời
Cảnh cảnh tòng tâm xuất
Tâm cảnh bổn lai vô,
Xứ xứ Ba-la-mật.

Tạm dịch : 
Vô thường các pháp hiện,
Tâm ngờ tội liền sanh
Xưa nay không một vật
Không giống cũng không mầm
Ngày ngày thi đối cảnh 
Cảnh cảnh theo tâm xuất
Tâm cảnh vốn là không,
Khắp nơi là “Niết bàn”.

Vua suy nghĩ giây lâu nhưng vẫn chưa hiểu hết ý Thượng sĩ nên lại hỏi cậu : Tuy là như vậy, nhưng nếu tội là phước rõ ràng thì làm thế nào ?
Thượng sĩ biết vua chưa hiểu rõ nên đọc thêm một bài kệ để chỉ bảo thêm :

Khiết tháo dữ khiết nhục,
Chúng sanh các sở thuộc,
Xuẩn lai bách thảo sanh
Hà xứ liến tội phúc. .

Tạm dịch (TT) :
Ăn chay cùng ăn thịt
Chúng sanh tùy sở thích
Xuân về cây cỏ tươi
Chỗ nào thấy tội phước !

Vua lại hỏi: Như vậy, việc công phu giữ giới tinh nghiêm không chút lơi lỏng là để làm gì ? Thượng sĩ chỉ cười mà không đáp câu hỏi, vua cố năn nỉ, Thượng sĩ đọc hai bài kệ ấn tâm cho vua :

Trì giới kiêm nhẫn nhục
Chiêu tội bớt chiêu phúc
Dục tri vô tội phúc,
Phi trì giới nhẫn nhục,
Như nhân thượng thọ thì
An trung tự cầu nguy
Như nhân bất thượng thọ
Phong nguyệt hà sờ vi 

Tạm dịch :
Trì giới và nhẫn nhục
Chuốc tội chẵng chuốc phúc
Muốn biết không tội phúc,
Không nhẫn nhục trì giới
Như người đang leo cây
Đang yên lại tìm nguy .
Như người không leo cây
Trăng gió làm gì được?

Đoạn Thượng sĩ bí mật dặn kỹ vua :
“Đừng nói với những người không hiểu biết, (Vật thị phi nhân). 
Từ đó, vua Trần Nhân Tông mới biết môn phong Thiền học của Thượng sĩ cao thâm siêu việt.  Một hôm khác, vua Trần Nhân Tông hỏi Thượng sĩ về “yếu chỉ của Thiền Tông” và muốn biết được bí quyết giác ngộ mà Thượng sĩ được Thiền sư Tiêu Dao truyền. Thượng sĩ ứng khẩu đáp : “Hãy quay về tự quán xét chính bản thân mình chứ không thể nhờ một người nào khác”. (phản quan tự kỷ bản phận sự, bất tòng tha đắc).

Nhờ vào lời dạy thâm sâu bí yếu này của Thượng sĩ mà vua Trần Nhân Tông ngộ được yếu chỉ của Thiền tông và thấy được đường vào Đạọ Từ đó, vua Trần Nhân Tông mới hết lòng tôn kính Thượng sĩ và thờ Thượng sĩ làm thầỵ

Trên đây là trích đoạn “Tuệ Trung Thượng Sĩ Với Thiền Tông Việt Nam, Viện Khoa Học Xã Hội, Trung Tâm Nghiên Cứu Hán Nôm, Nhà Xuất Bản Đà Nẵng 2000 (trang 352-355)”.
 

Việt Nam Phật giáo Sử Luận , Nguyễn Lang:

" .. Em gái Tuệ Trung là hoàng hậu Thiên Cảm (ghi chú : vợ vua Trần Thánh Tông) một hôm mời ông vào cung ăn tiệc. Trên bàn có những món mặn và món chay, ông đã gắp thức ăn một cách không phân biệt. Hoàng hậu hỏi :" Anh tu thiền mà ăn thịt ăn cá thì làm sao thành Phật được.?" Ông cười đáp:" Phật là Phật, anh là anh, anh không cần thành Phật, Phật không cần thành anh. Em chẳng nghe cổ đức nói "Văn Thù là Văn Thù, giải thoát là giải thoát đó sao". Vua Nhân Tông hồi đó cũng có mặt trong bữa tiệc , và vua không quên câu chuyện này, định một ngày kia sẽ hỏi Tuệ Trung cho ra lẽ.

Sau này khi được Tuệ Trung trao cho hai bộ ngữ lục Tuyết Đậu và Dã Hiên, vua Nhân Tông nhớ lại chuyện ăn thịt cá , và tính cách "hoà lẫn thế tục" của Tuệ Trung , liền làm bộ hỏi một cách gián tiếp :

" Bạch thượng sĩ, chúng sanh quen cái nghiệp ăn thịt uống rượu thì làm thế nào thoát khỏi tội báo ?".

Tuệ Trung đã trả lời như sau về vấn đề tội báo :

"Nếu có người đang đứng xây lưng lại, thình lình có vua đi qua sau lưng, người ấy không biết, cầm một vật gì ném nhằm vuạ Thử hỏi : người ấy có sợ không, ông vua có giận không ? Nên biết hai việc ấy không dính líu gì với nhau vậy ". 

Rồi ông đọc hai bài kệ sau đây cho vua nghe :

Vạn pháp vô thường cả
Tâm ngờ tội liền sinh
Xưa nay không một vật:
Chẳng hạt, chẳng mầm xanh

Hàng ngày khi đối cảnh
Cảnh đều do tâm sinh
Tâm, cảnh đều không tịch
Khắp chốn tự viên thành

( Vô thường chư pháp hành
Tâm nghi tội tiện sinh
Bản lai vô nhất vật
Phi chủng diệc phi manh

Nhật nhật đối cảnh thời
Cảnh cảnh tùng tâm xuất
Tâm cảnh bản lai vô
Xứ xứ ba la mật )

Nhân Tông thưa với Tuệ Trung rằng ông đã hiểu lời dạy về tội phúc. Nhưng Tuệ Trung biết là Nhân Tông còn thắc mắc. Ông đọc tiếp bài kệ sau đây :

Có loài thì ăn cỏ
Có loài lại ăn thịt
Xuân về thảo mộc sinh
Tìm đâu thấy tội phúc

(Nghiết thảo dữ nghiết nhục
Chúng sinh các sở thuộc
Xuân lai bách thảo sinh
Hà xứ kiến tội phúc )

Nhân Tông liền hỏi câu hỏi ông đã dành sẵn trong tâm tư từ lâu nay : " Như vậy thì công phu giữ giới trong sạch không chút xao lãng là để làm gì ?". Tuệ Trung cười không đáp. Vua cốnàị Tuệ Trung đọc hai bài kệ sau đây :

Trì giới và nhẫn nhục
Thêm tội chẳng được phúc
Muốn siêu việt tội phúc
Đừng trì giới, nhẫn nhục.
Như người khi leo cây
Đương yên tự chuốc nguy
Nếu đừng leo cây nữa
Trăng gió làm được gì ?

(Trì giới kiêm nhẫn nhục
Chiêu tội bất chiêu phúc
Dục tri vô tội phúc
Phi trì giới nhẫn nhục

Như nhân thượng thụ thời
An trung tự cầu nguy
Như nhân bất th+ợng thụ
Phong nguyệt hà sở vi ? )

Và dăn kỹ Nhân Tông "đừng bảo cho người không ra gì biết"....

Vua Nhân Tông một hôm hỏi ông về ý chỉ thiền phái của Tuệ Trung. Tuệ Trung nói:

"Hãy quay về tự thân mà tìm lấy tông chỉ ấy, không thể đạt được từ một ai khác."

Ngày thị tịch, Tuệ Trung không nằm trong phòng riêng mà cho kê giường nằm ở Dưỡng Chân Trang, giữa thiền đường lớn.  Ông nằm xuôi theo kiểu cát tường , mắt nhắm. Những người hầu hạ, và thê thiếp khóc rống lên. Ông mở mắt ngồi dậy, bảo lấy nước rửa tay, xúc miệng, rồi quở nhẹ rằng :"

Sống chết là lẽ thường nhiên, sao lại buồn thảm luyến tiếc để cho chân tính ta náo động ?" Nói xong thì tịch một cách êm áị

(Việt Nam Phật giáo Sử Luận , Nguyễn Lang)

Bài Đọc Thêm:
Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục Giảng Giải, HT. Thích Thanh Từ
Tuệ Trung Thượng Sĩ, Kẻ Rong Chơi Giữa Sống và Chết, Thích Phước An
Tuệ Trung Thượng Sĩ, Kẻ Ngông Cuồng Trong Đôi Mắt Phàm Tình, Thích Huệ Giáo
Tuệ Trung Thượng Sĩ, TT. Thích Chơn Thiện

 
 
c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap