|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
06-5
Muôn việc về như, Thói đời hư dối, Họa thơ quan
Huyện, Cảnh vật Tịnh Bang, Họa Thơ Hưng Trí Thượng Vị
Hầu
|
|
|
06-7
Lễ Thiền sư Tiêu Dao ở Phước Đường, Cảnh vật
Phước Đường, Tăng Pháp sư Thuần Nhất, Đùa Thiền Sư Trí
Viễn xem kinh giải nghĩa, Điệu Tiên Sư
Khuyên
đời vào đạo, Bảo chúng, Bảo chúng, Bảo học giả, Chợt
hứng
|
06-8
Cội tùng đáy khe, Xuất trần, Đạo lớn không khó,
Tâm vương, Thả trâu, Đề tịnh xá, Chợt hứng, Cây gậy,
Chiếu thân, Tự đề, Chợt tỉnh, Tự tại, Bảo học trò,
Bảo tu nghiệp Tây phương, Thoát đời, Vui thú giang hồ.
|
|
|
|
|
|
|
X
TUỆ TRUNG THƯỢNG
SĨ NGỮ LỤC GIẢNG GIẢI
Biên
Soạn: Trúc Lâm Tổ Sư (Trần Nhân Tông)
Dịch
và Giảng: Hoà ThượngThích Thanh Từ
Ban
Văn Hoá Trung Ương GHPGVN Xuất Bản 1996
THI
CA (tt)
Dịch:
LỄ
THIỀN SƯ TIÊU DAO Ở PHƯỚC ĐƯỜNG
Hằng
xa phong thái,
Ở
chốn hoang thôn.
Thân
tuy ngoài cõi Sâm với Thương
Ý
vẫn trong gương loan và phượng.
Nhàn
nhã ngâm khúc vô sanh
Hầu
đáp ơn thầy mớm sữa.
Trộm
có lời thơ tụng
Cúi
dâng lên pháp tòa:
Thân
tuy quê kịch ngụ nơi này
Bốn
trọng ân nào dám lãng khuây.
Ý
vụng sớm nhờ thêm ý khí
Lòng
tàn riêng giữ tấc lòng son.
Xuân
về ngắm rỗng hoa đào nở
Gió
thổi nghe hờ tiếng trúc lay.
Ngày
trước đến nhà thăm hỏi hết
Không
dây nay thỉnh dạo cung đàn.
Tạm
qua thăm hỏi Cổ chùy thiền
Tướng
mạo mười mươi khỏe lại bền.
Huệ
Khả thân buồn, da tủy ký
Triệu
Châu tuổi thọ, hạc qui niên.
Nên
biết thế gian người có Phật
Lạ
gì lò lửa nở hoa sen.
Trân
trọng dâng lên lời tụng hứng
Chớ
từ chút ít lễ vật hèn.
Giảng:
Thượng
Sĩ tuy ngộ lý Thiền, sống tự do tự tại, không còn kiến
chấp hai bên, nhưng với tinh thần của người học đạo,
Ngài không bao giờ lơ là bổn phận của người đệ tử đối
với thầy.
“Hằng
xa phong thái, ở chốn hoang thôn.” Thượng Sĩ nói về phong
cách và thái độ của Thiền sư Tiêu Dao thầy của Ngài. Ngài
thường ở xa không được thân cận với thầy Ngài, vì thầy
Ngài ở trong thôn vắng.
“Thân
tuy ngoài cõi Sâm với Thương, ý vẫn trong gương loan và phượng.”
Sao Sâm thì ở phương tây, sao Thương thì ở phương đông,
hai sao này không bao giờ gặp nhau. Ý nói thân Ngài tuy xa cách
ít được gặp thầy Ngài như sao Sâm và sao Thương, nhưng
tâm của Ngài lúc nào cũng kề cận thầy, như nhìn vào gương
thấy chim loan và chim phượng luôn luôn quấn quít bên nhau
không xa cách. Ý hai câu này nói đạo tình của Thượng Sĩ
đối với thầy của Ngài là Thiền sư Tiêu Dao. Thân Ngài
tuy xa cách không được gặp thầy, nhưng tâm hồn Ngài lúc
nào cũng hướng về thầy ở bên cạnh thầy.
“Nhàn
nhã ngâm khúc vô sanh, hầu đáp ơn thầy mớm sữa.” Giờ
đây muốn đền ơn pháp nhũ của thầy thì trò phải ngâm
khúc vô sanh cho mọi người thưởng thức. Ngài là một cư
sĩ mà có ý nghĩ rất hợp với đạo lý của người xuất
gia. Đức Phật dạy chúng ta muốn đền ơn Phật thì phải
giáo hóa chúng sanh. Bản nhạc vô sanh là bản nhạc giải thoát
sanh tử. Người học trò học được rồi, phải ngâm cho người
khác nghe, tức là đem giáo lý giải thoát sanh tử dạy cho
mọi người được học và tu, đó là đền đáp ơn thầy
đã giáo dưỡng mình. Như vậy, dù là tại gia hay xuất gia,
một khi đã thừa hưởng lời chỉ dạy của bậc thầy, được
lợi ích cho bản thân, được an nhàn tự tại, chúng ta phải
đem ra chỉ dạy cho người khác cũng được lợi ích như mình.
Đừng nghĩ rằng chúng ta mang ơn thầy phải làm sao cho có
nhiều tiền để cúng dường thầy, có chùa to để thầy an
dưỡng v.v... Đó chỉ là hình thức không quan trọng bằng
đem pháp vô sanh mà hướng dẫn chỉ dạy cho người. Qua hai
câu này chúng ta nắm vững được phương cách đền ơn thầy
và đền ơn Phật của người xuất gia cũng như tại gia tu
giải thoát.
“Trộm
có lời thơ tụng, cúi dâng lên pháp tòa.” Thượng Sĩ mạn
phép làm thơ tụng dâng lên thầy, tỏ chút lòng biết ơn giáo
hóa của thầy. Nhờ sự giáo hóa của thầy mà Ngài được
lợi ích.
“Thân
tuy quê kịch ngụ nơi này, bốn trọng ân nào dám lãng khuây.”
Thượng Sĩ tự nhận mình là người quê mùa ở thôn hoang
vắng. Mặc dù quê, nhưng phần đạo đức ơn nghĩa Ngài không
dám lơ là; bốn ơn: ơn cha mẹ, ơn Thầy Tổ hay ơn Tam Bảo,
ơn đàn-na thí chủ, ơn quốc gia xã hội, Ngài không dám lãng
quên. Những người lãnh đạo quốc gia xã hội là ân nhân
của người tu, vì họ có trách nhiệm giữ cho đất nước
được thanh bình, để người tu được yên tu nên cũng là
một trọng ân. Trong bốn trọng ân Thượng Sĩ chỉ mang có
ba ân vì Ngài là cư sĩ không thọ ân đàn-na, nhưng Ngài luôn
luôn không quên.
“Ý
vụng sớm nhờ thêm ý khí, lòng tàn riêng giữ tấc lòng son.”
Hai câu này thấm thía làm sao! Thượng Sĩ nói Thượng Sĩ dốt
nát khờ khạo, nhờ Thiền sư Tiêu Dao thầy của Ngài giúp
cho tăng trưởng ý chí để tiến đạo. Hôm qua tôi có nhắc,
Tăng Ni tu ý chí phải vững mạnh, mới vượt qua những chướng
ngại thử thách trên đường tu. Bởi vì quí vị tu lâu ngày
mệt mỏi ý chí cùn lụt, nên tôi phải nhắc quí vị phấn
phát nỗ lực mạnh lên. Đó là nhờ thầy nhắc nhở thúc
đẩy làm cho mình tăng trưởng ý chí thêm vững mạnh. Tuy
tâm Thượng Sĩ không còn những vọng niệm lăng xăng, những
tình cảm nồng nhiệt bi lụy như người thế tục, nhưng đối
với Thầy Tổ Ngài riêng giữ tấc lòng son. Người cư sĩ
mà nói lên được điều này thật là hi hữu, đáng tôn quí.
Ngài nói lên được cái đạo tình cao cả giữa thầy trò.
Người xuất gia chúng ta nhiều khi tu lâu, lớn tuổi đạo
có đệ tử, bận lo cho đệ tử nên quên mất bổn phận làm
trò! Còn Ngài thì nguội lạnh với thế tình mà đạo tình
vẫn một tấm lòng son sắt.
“Xuân
về ngắm rỗng hoa đào nở, gió thổi nghe hờ tiếng trúc
lay.” Trước kia còn vọng niệm nên xuân về hoa đào nở
lòng Ngài cũng rộn rực. Giờ đây xuân về hoa đào nở, lòng
lặng rồi nên Ngài xem hoa một cách nhẹ nhàng, thấy hoa nở
chỉ cười thôi chớ lòng không rộn rực như thuở nào. Gió
thổi tiếng trúc chạm nhau cọt kẹt, chỉ nghe một cách hững
hờ, không còn để tâm dính mắc như thuở trước. Tâm hồn
của Ngài bây giờ rất nhẹ nhàng thảnh thơi, đối duyên
xúc cảnh thấy nghe hay biết mà không bị dính mắc.
“Ngày
trước đến nhà thăm hỏi hết, không dây nay thỉnh dạo cung
đàn.” Ngày trước đến chùa thăm hỏi từ thầy cho tới
các chú điệu, bây giờ không muốn thăm hỏi từng người
nữa, mà chỉ xin thầy dạo cho một cung đàn không dây. Nghĩa
là bây giờ không muốn thăm hỏi từng người, mà chỉ xin
thầy dạy cho giáo lý giải thoát không kẹt hai bên, không
còn đối đãi, đó là dạo cung đàn không dây.
“Tạm
qua thăm hỏi cổ chùy Thiền, tướng mạo mười mươi khỏe
lại bền.” Cổ chùy Thiền chỉ cho Thiền sư Tiêu Dao thầy
của Thượng Sĩ. Nhà Thiền ví Thiền sư như cái chùy. Thuở
xưa hay dùng từ ngữ mũi dùi ở trong đãy, mũi dùi đó gọi
là cổ chùy, dù cho có đãy bao bọc mà mũi dùi luôn cứng
và nhọn, nên lúc nào cũng ló đầu ra khỏi bọc, bao không
nổi. Ý muốn nói rằng các vị đạo cao đức trọng dù có
ai cố ý che đậy, đức độ các ngài vẫn tỏa sáng, không
ai ngăn che giấu giếm nổi, giống như cây dùi để trong đãy
mà vẫn ló đầu ra. Thượng Sĩ ví thầy mình như cái chùy
xưa và mong thầy luôn luôn được khỏe mạnh sống lâu dài.
“Huệ
Khả thân buồn da tủy ký, Triệu Châu tuổi thọ, hạc qui
niên.” Thượng Sĩ nói thầy mình giống như Tổ Huệ Khả
“thân buồn da tủy ký” (buồn là thẹn, chữ thẹn không
hợp vận nên phải dùng chữ buồn). Nghĩa là Tổ Huệ Khả
được Tổ Bồ-đề-đạt-ma thọ ký: “ngươi được phần
tủy của ta”. Thiền sư Tiêu Dao thầy của Thượng Sĩ bấy
giờ không được thọ ký như Tổ Huệ Khả, nên Ngài thấy
buồn. Xưa khi Tổ Bồ-đề-đạt-ma sắp tịch bảo đệ tử
trình sở ngộ. Ngài Đạo Phó thưa:
-
Theo chỗ thấy của con chẳng chấp văn tự chẳng lìa văn
tự, đây là dụng của đạo.
Tổ
bảo:
-
Ngươi được phần da của ta.
Theo
ngài Đạo Phó, dụng của đạo là không dính hai bên, vậy
mà Tổ bảo là chỉ thấy phần da. Chúng ta bây giờ chắc
chỉ thấy được sợi lông của Tổ.
Ni
Tổng Trì ra thưa:
-
Nay chỗ hiểu của con, như Tổ A-nan thấy nước Phật A-súc,
chỉ thấy một lần, không còn thấy lại.
Tổ
bảo:
-
Ngươi được phần thịt của ta.
Đoạn
này Ni Tổng Trì dẫn đức Phật dạy Tôn giả A- nan về cõi
Phật A-súc, Tôn giả A-nan muốn thấy, nhưng không biết làm
sao để thấy, đức Phật liền vận dụng thần thông cho Tôn
giả A-nan thấy. Sau đó đức Phật thâu thần thông, Tôn giả
A-nan hết thấy. Câu chuyện này ngầm ý nói người tu dụng
công miên mật, tâm thanh tịnh, lúc nào đó hốt nhiên nhận
ra Thể chân thật có sẵn nơi mình. Song, chỉ nhận ra một
lần mà không hằng sống được, giống như Tôn giả A-nan
thấy cõi Phật A-súc chỉ có một lần. Ở trước ngài Đạo
Phó nói không chấp văn tự không lìa văn tự là việc bên
ngoài, nên Tổ nói thấy da của ta. Ni Tổng Trì nói thấy cái
chân thật của mình mà chỉ thấy có một lần, nên Tổ nói
được phần thịt của ta, sâu hơn một chút.
Ngài
Đạo Dục ra thưa:
-
Bốn đại vốn không năm ấm chẳng có, chỗ thấy của con
không một pháp có thể được.
Tổ
bảo:
-
Ngươi được phần xương của ta.
Đến
ngài Huệ Khả bước ra đảnh lễ Tổ, rồi lui lại đứng
yên lặng.
Tổ
bảo:
-
Ngươi được phần tủy của ta.
Tổ
truyền y bát cho ngài Huệ Khả.
Chỗ
cuối cùng của đạo là chỗ không ngôn ngữ, vì còn ngôn
ngữ là còn đối đãi, nên ngài Huệ Khả không nói, chỉ
xá, lui ra đứng khoanh tay. Chỗ ngôn ngữ không diễn tả được
là chỗ rốt ráo. Dễ quá! Nhưng, xin đừng bắt chước. Nếu
hôm nào quí vị lên trình sở ngộ với tôi, tôi hỏi, quí
vị xá lui đứng khoanh tay, sẽ bị tôi nạt: “Chú chưa được
phần tủy đâu nghe!” Đó chỉ là hành động bắt chước,
chớ chưa thật ngộ. Thời nay người ta hay bắt chước mà
làm trật. Thượng Sĩ buồn vì Thiền sư Tiêu Dao thầy Ngài
chưa được thọ ký như Tổ Huệ Khả được Tổ Bồ-đề-đạt-ma
thọ ký thấy phần tủy của Ngài. Nhớ ơn thầy, Thượng
Sĩ mong ước và chúc thầy mình sống lâu như Thiền sư Triệu
Châu sống đến một trăm hai mươi tuổi.
“Nên
biết thế gian người có Phật, lạ gì lò lửa nở hoa sen.”
Thượng Sĩ nhắc cho mọi người biết, ở thế gian tất cả
chúng ta ai cũng có sẵn ông Phật, nên không lạ gì khi nghe
Thiền sư nói trong lò lửa nở hoa sen. Lò lửa chỉ cho thân
vô thường, hoa sen chỉ cho tánh Phật có sẵn nơi mỗi người.
Ngọn lửa vô thường đốt cháy từng giờ từng phút. Tuy
nhiên, trong thân vô thường này có TÁNH Phật chưa bao giờ
bị vô thường chi phối, chẳng khác nào trong lò lửa cháy
hừng hừng mà có hoa sen nở tươi thắm. Biết rõ như vậy
chúng ta mới thấy được giá trị thật của người tu. Chúng
ta tu là phải nhận ra cái chân thật của mình đang bị vùi
lấp phủ che, bởi những tướng vô thường sanh diệt. Và,
cũng là cốt lõi của nhà Thiền mà thầy dạy trò tu chủ
yếu là phải nhận ra ông Phật của chính mình, chớ không
phải tìm ông Phật ở nơi nào khác, Phật ở ngay trong cái
thân vô thường giống như trong lò lửa nở hoa sen vậy.
“Trân
trọng dâng lên lời tụng hứng, chớ từ chút ít lễ vật
hèn.” Thượng Sĩ hứng làm bài tụng dâng lên cúng dường
thầy và mong thầy không từ chối.
Thượng
Sĩ là một cư sĩ mà lòng quí kính của Ngài đối với bậc
thầy hết sức thiết tha, biết rõ trọng trách của mình đối
với bậc thầy, phải cúng dường như thế nào mới là đền
ơn thầy, phải tu như thế nào để khỏi phụ lòng thầy.
Đây là điều rất hiếm có ở nơi người cư sĩ. Thượng
Sĩ còn biết rõ vì sao mình mang ơn thầy. Vì thầy là người
dạy mình tu, giúp cho mình thêm ý chí. Sau cùng Thượng Sĩ
khuyên mọi người tu, phải nhận ra nơi mình có sẵn tánh
Phật như trong lò lửa có hoa sen.
Dịch:
CẢNH
VẬT PHƯỚC ĐƯỜNG
Phước
Đường cảnh trí chính là đây
Nương
ngọn gió thiền mát mẻ thay.
Dậu
đổ tiêu sơ măng mọc ốm
Cổng
sân tịch mịch rặng tùng gầy.
Chưa
gặp thời lành, hiền thánh hiện
Khá
vui thú quí ẩn rừng này.
Sớm
muộn trời già khai Phật nhật
Cửa
vào đào lý cợt xuân quang.
Giảng:
Thượng
Sĩ làm thơ tả cảnh Tinh xá Phước Đường của Thiền sư
Tiêu Dao thầy Ngài.
“Phước
Đường cảnh trí chính là đây, nương ngọn gió thiền mát
mẻ thay.” Ngài nói mọi người tới Tinh xá Phước Đường
nghe thầy Ngài dạy thiền, ai cũng được vui vẻ mát mẻ.
“Dậu
đổ tiêu sơ măng mọc ốm, cổng sân tịch mịch rặng tùng
gầy.” Đây tả cảnh vật quanh Tinh xá Phước Đường, nào
là rào xiêu, nào là măng mọc không người cho phân, không
người săn sóc nên nó gầy ốm. Từ cổng đi vào Tinh xá chỉ
có một rặng tùng gầy, sân thì cỏ cây mọc chằng chịt.
Cảnh vật Tinh xá Phước Đường thật vắng vẻ tiêu sơ,
không có vẻ gì phồn thịnh. Tại sao vậy? - Vì “chưa gặp
thời lành hiền thánh hiện, khá vui thú quí ẩn rừng này”.
Sở dĩ cảnh vật Phước Đường tiêu sơ tịch mịch, vì chưa
gặp thời nên hiền thánh có đó mà còn ẩn chưa hiện. Thú
quí ẩn trong rừng tiêu sơ tịch mịch, ngầm chỉ cho Thiền
sư Tiêu Dao đang ẩn ở chốn này chưa gặp thời mở mang truyền
bá.
“Sớm
muộn trời già khai Phật nhật, cửa vào đào lý cợt xuân
quang.” Thượng Sĩ ước mơ thời cơ xoay chuyển mặt trời
Phật bừng sáng. Chừng đó cảnh Phước Đường sẽ có đào
nở hoa, lý có trái, đùa cợt với ánh sáng mùa xuân. Thiền
sư Tiêu Dao thầy Ngài, một ngày nào đó sẽ mở mang truyền
bá Thiền, mọi người thấm nhuần lý Thiền trở thành người
giác ngộ sáng suốt.
Dịch:
TẶNG
PHÁP SƯ THUẦN NHẤT
Pháp
thân tịch diệt, sắc thân còn
Đêm
lặng canh ba vào mộng hồn.
Ví
chửa rong chơi Thiền Tổ Vực
Cũng
từng qua lại Pháp vương môn.
Vô
sanh đường Thánh lười tiến bước
Hữu
lậu trời người cam kết tròn.
Nếu
gặp tác gia bàn diệu chỉ
Thiên
Tân bến ấy dấy hồ tôn.
Giảng:
“Pháp
thân tịch diệt, sắc thân còn, đêm lặng canh ba vào mộng
hồn.” Pháp thân thì tịch diệt lặng lẽ, sắc thân do tứ
đại duyên hợp tạm có và hóa thân thì ý thức đang dạo
nơi này nơi kia. Đó là ba thân: pháp thân, báo thân và hóa
thân.
“Vì
chửa rong chơi Thiền Tổ Vực, cũng từng qua lại Pháp vương
môn.” Thượng Sĩ nói ngài Thuần Nhất là một vị Pháp sư
đã từng học giáo lý ở các trường, hay trong những pháp
hội giảng pháp. Tuy Ngài thông giáo lý, nhưng chưa thâm nhập
lý Thiền, nên nói chửa rong chơi Thiền Tổ Vực mà từng
qua lại Pháp Vương môn.
“Vô
sanh đường Thánh lười tiến bước, hữu lậu trời người
cam kết tròn.” Lười đi trên đường vô sanh của Thánh Hiền,
mải ở trong cõi trời cõi người sanh tới sanh lui. Hai câu
này trớ trêu, ngầm ý nói mỉa mai Pháp sư Thuần Nhất. Tuy
Pháp sư giảng kinh hay nhưng chưa sống được với thể bất
sanh bất diệt, đối với đường vô sanh không chịu tiến
bước, thì bảo đảm sẽ đi mãi trong đường sanh tử luân
hồi ở cõi trời cõi người.
“Nếu
gặp tác gia bàn diệu chỉ, Thiên Tân bến ấy dấy hồ tôn.”
Tác gia là chỉ cho những bậc tu hành đã ngộ đạo. Nếu
gặp những vị ấy bàn diệu chỉ Thiền thì Pháp sư sẽ bí,
giống như trên cầu Thiên Tân xem khỉ giỡn. Nghĩa là tâm
còn lăng xăng chạy hết chỗ này tới chỗ kia chớ chưa im
bặt. Ý này Thượng Sĩ dẫn từ câu chuyện:
Một
hôm có Đại Nhĩ Tam Tạng người Ấn Độ sang Trung Hoa nhằm
đời Đường, xưng là đã được ngũ thông, vua muốn trắc
nghiệm nên mời ông ra mắt Quốc sư Huệ Trung. Vừa đến
thấy Quốc sư ông khoanh tay đứng hầu bên hữu.
Quốc
sư hỏi:
-
Ông được tha tâm thông chăng?
Tam
Tạng đáp:
-
Chẳng dám.
Quốc
sư hỏi:
-
Ông nói xem hiện giờ Lão tăng đang ở chỗ nào?
Tam
Tạng đáp:
-
Hòa thượng là thầy của một nước sao lại đến Tây Xuyên
xem đò đua.
Quốc
sư hỏi:
-
Ông nói xem hiện giờ Lão tăng đang ở chỗ nào?
Tam
Tạng đáp:
-
Hòa thượng là thầy một nước sao lại đứng trên cầu Thiên
Tân xem khỉ giỡn.
Lần
thứ ba Sư cũng hỏi như trước, Tam Tạng lặng thinh không
biết Ngài ở chỗ nào!
Thượng
Sĩ nói “Thiên Tân bến ấy dấy hồ tôn” ngầm nhắc Pháp
sư Thuần Nhất: ông thông hiểu giáo lý, mà chưa ngộ được
lý Thiền thì tâm ông vẫn lăng xăng, chưa đến chỗ vô tâm.
Bài thơ này tặng Pháp sư mà cũng muốn nhắc khéo người
có học mà thiếu tu.
Dịch:
ĐÙA
THIỀN SƯ TRÍ VIỄN
XEM
KINH GIẢI NGHĨA
Mực
mồi thơm ngát, bút làm cần
Biển
học sóng đùa, lý là thuyền.
Khen
ngợi Viễn Công từng câu thả
Rồng
to bắt được, phải năm lừa.
Giảng:
“Mực
mồi thơm ngát, bút làm cần, biển học sóng đùa, lý là thuyền.”
Thượng Sĩ nói Thiền sư Trí Viễn dùng bút mực để giải
thích kinh điển, giống như dùng thuyền câu đi trong biển
giáo lý, thả mồi bằng mực cần bằng bút để giải thích
giáo lý của Phật.
“Khen
ngợi Viễn Công từng câu thả, rồng to bắt được phải
năm lừa.” Thượng Sĩ khen Viễn Công từng thả câu, câu
rồng to ở dưới biển. Nhưng mà ngày bắt được rồng, còn
xa thăm thẳm, đến năm con lừa mới bắt được. Trong mười
hai con giáp, không có con giáp nào là lừa cả. Như vậy, Trí
Viễn câu suốt đời cũng không bắt được rồng. Ý Thượng
Sĩ nói Trí Viễn thông hiểu kinh Phật, dùng bút mực để
giải thích giáo nghĩa. Tuy vậy, suốt đời vẫn không thấu
suốt lý Thiền thâm sâu, giống như người muốn thả mồi
câu rồng to ở dưới biển, suốt đời vẫn không câu được.
Dịch:
ĐIỆU
TIÊN SƯ
Một
khúc vô sanh hát vừa im
Vác
ngang cây gậy về cố hương.
Đầu
trên qua khỏi nơi nào có
Trâu
đất tha hồ cỡi ngược lên.
Giảng:
“Điệu”
là truy điệu, tức là nói lên công hạnh của người đã
mất. Điệu Tiên Sư là nhắc đến công hạnh của thầy sau
khi tịch.
“Một
khúc vô sanh hát vừa im.” Thầy không còn hát khúc vô sanh,
tức là thầy đã tịch rồi, không còn giáo hóa nữa. Vậy
thầy đi đâu? “Vác ngang cây gậy về cố hương.” Câu này
Thượng Sĩ dẫn câu chuyện đi ở tự tại, của một vị
đệ tử tông Vân Môn là Am chủ Tường ở Liên Hoa Phong. Khi
sắp tịch Ngài cầm cây gậy để ngang vai nói “vai vác cây
gậy tức lật chẳng đoái đến người, đi thẳng vào ngàn
đảnh núi muôn đảnh núi”. Nói xong Ngài tịch. Người xưa
ra đi rất là tự tại, muốn tịch thì tịch, ngồi nằm đi
đứng gì cũng được. Bây giờ hỏi thầy đi đâu? - Trả
lời: Thầy cũng giống như Am chủ Tường vác cây gậy đi
qua ngàn núi muôn núi, chớ không dừng ở nơi nào. “Đầu
trên qua khỏi nơi nào có, trâu đất tha hồ cỡi ngược lên.”
“Nơi nào có” nguyên chữ Hán là “hà hữu hương”. Ở
đoạn trước Ngài nói chỗ cuối cùng là đạt đạo hay giải
thoát sanh tử. Chỗ đó là chỗ tha hồ cỡi ngược con trâu
đất, chỗ đó là chỗ rốt ráo. Thầy của Thượng Sĩ đi
về chỗ tột cùng của đạo, Ngài có diệu dụng không lường
nổi. Đó là lời tán thán của Thượng Sĩ đối với Thiền
sư Phước Đường thầy Ngài.
Dịch:
KHUYÊN
ĐỜI VÀO ĐẠO
Thời
tiết xoay vần xuân lại thu
Xăm
xăm tuổi trẻ đã bạc đầu.
Giàu
sang nhìn lại một trường mộng
Năm
tháng ôm suông muôn hộc sầu.
Nẻo
khổ luân hồi xe chuyển bánh
Sông
yêu chìm nổi tợ bọt chùm.
Gặp
trường chẳng chịu sờ lên mũi
Muôn
kiếp duyên lành chỉ thế thôi.
Giảng:
Khuyên
đời vào đạo là khuyên người đời nên bước vào đường
đạo để tu hành, chớ để qua luống uổng một đời.
“Thời
tiết xoay vần xuân đến thu, xăm xăm tuổi trẻ đã bạc đầu.”
Thời tiết xoay vần hết xuân rồi tới hạ, hết thu rồi
tới đông. Thời tiết cứ đi qua đều đều, con người thì
từ đầu xanh trở thành đầu bạc, vì nó biến chuyển theo
sự xoay vần của năm tháng, chúng ta nhìn lại đầu của mình
mới năm nào tóc còn đen mướt, bây giờ đã hoa râm bạc
trắng. Như vậy thời tiết tháng năm luôn luôn xoay vần biến
chuyển, kiếp người cũng chịu ảnh hưởng của sự biến
chuyển vô thường ấy, nên thân từ trẻ biến thành già chớ
không trẻ mãi. Đa số chúng ta đều có bệnh mâu thuẫn, mong
cho ngày tháng qua mau mà không muốn mình già. Công nhân đi
làm sở thì muốn cho mau tới cuối tháng để lãnh lương,
trông mau tới dịp hè để được nghỉ, nhưng quên rằng mỗi
lần lãnh lương thì cái đầu mình sẽ điểm thêm vài sợi
tóc bạc, lãnh lương nhiều chừng nào thì đầu mình bạc
nhiều chừng nấy. Muốn cho ngày tháng qua nhanh mà muốn thân
mình trẻ mãi, vậy có mâu thuẫn không? Muốn ngày tháng qua
nhanh thì phải chấp nhận thân mình mau già, đầu mình mau
bạc!
“Giàu
sang nhìn lại một trường mộng, năm tháng ôm suông muôn hộc
sầu.” Biết bao kẻ phú quí sống đời sang cả, nhưng trải
qua những cuộc bể dâu thăng trầm, giờ đây còn đâu, còn
chăng chỉ là một giấc mộng. Vì vậy mà “năm tháng ôm
suông muôn hộc sầu”. Mỗi năm qua mỗi tháng qua, nào buồn
thương giận ghét dồn đầy cả bụng. Sống càng nhiều tháng
nhiều năm chừng nào thì phiền não chồng chất nhiều chừng
nấy, cho nên nói muôn hộc sầu. Chẳng biết người tu có
chất thêm những hộc sầu không, chớ người đời khó tránh.
Bởi vì nay gặp việc bất như ý này, mai gặp việc bất như
ý kia, cứ ôm ấp mà không chịu buông xả, nên buồn thương
giận ghét tăng thêm thành muôn hộc. Như vậy cuộc đời như
giấc mộng mà lòng thì chất chứa cả muôn hộc phiền não,
rất đáng thương.
“Nẻo
khổ luân hồi xe chuyển bánh, sông yêu chìm nổi tợ bọt
chùm.” Nếu ôm ấp phiền não thì nhất định sẽ trôi lăn
vào nẻo khổ luân hồi, vì động cơ đưa con người tái sanh
trong lục đạo là những niệm phiền não lăng xăng. Phiền
não chứa đầy cả kho cả hộc thì nhất định sẽ lôi đi
trong luân hồi không thể tránh. Thế mà người đời không
biết dừng, cứ yêu thương, giận ghét v.v... Nếu yêu thương
giận ghét thì phải chìm nổi trong dòng sông ái dục. Vì cái
nhân sanh ra phiền não đều từ yêu ghét; nếu còn ôm lòng
yêu ghét thì sự chìm nổi ở biển khổ không bao giờ hết,
giống như chùm bọt nước tụ tan mãi trên dòng sông trên
mặt biển không biết bao giờ cùng.
“Gặp
trường chẳng chịu sờ lên mũi, muôn kiếp duyên lành chỉ
thế thôi.” Gặp cơ hội tốt mà chúng ta không chịu nắm
bắt, dù cho có duyên lành muôn kiếp cũng chỉ có thế thôi,
không tiến được. Ở đây tôi nhắc quí vị, được cơ hội
nghe kinh học đạo, mà không chịu nắm ngay cơ hội đó để
tiến tu, cứ thả trôi cũng như gặp trường mà chẳng chịu
sờ lên mũi. Nhà Thiền thường nói lên lẽ thật: lỗ mũi
lúc nào cũng ở trước mặt mình không bao giờ thiếu vắng,
hơi thở là sanh mạng của chính mình. Lỗ mũi là chỗ phát
ra hơi thở, cho nên dụ lỗ mũi là sanh mạng sẵn ở trước
mặt mình. Vậy mà chúng ta không nhớ cái mũi và hơi thở,
cứ mãi lo chuyện này chuyện kia, mà quên mất cái ở trước
mặt mình. Cũng vậy, tâm thể chân thật sẵn có nơi mỗi
người chúng ta giống như cái lỗ mũi lúc nào cũng ở trước
mặt. Bây giờ có cơ hội tốt nghe kinh học đạo tu để trở
về với cái chân thật, thế mà chúng ta lơ là bỏ qua thì
“muôn kiếp duyên lành chỉ thế thôi”. Vì gặp cơ hội
tốt mà không chụp ngay cái cơ hội đó, để tiến lên thì
dù cho có duyên lành muôn đời vẫn không được lợi ích.
Hôm trước tôi đi ra nước ngoài gặp quí Phật tử họ than:
“Hồi ở trong nước chúng con thiếu duyên không gặp THầY,
KHÔNG TRựC TIếP NGHE THầY GIảNG Để TU. BÂY giờ ra nước
ngoài nghe những lời Thầy giảng trong băng, chúng con hối
tiếc sao lúc đó mình không đi tìm THầY Để HọC ĐạO, BÂY
GIờ MớI HọC QUÁ MUộN màng...” Quí vị ở đây đủ duyên
được quí thầy giảng dạy hướng dẫn trực tiếp cho tu
học thì đừng bỏ qua cơ hội tốt, sau tìm lại rất là khó!
Đây
là bài thơ nhắc nhở người còn mắc kẹt ở ngoài đời,
phải mau bước vào con đường đạo để tu học chớ đừng
lơ là, duyên lành qua mất, muôn kiếp không được lợi ích.
Dịch:
BẢO
CHÚNG
Thôi
tìm Thiếu Thất với Tào Khê
Thể
tánh sáng ngời chửa từng mê.
Trăng
cổ chiếu soi nào cận viễn
Gió
trời thổi mát thấp cao chê.
Ánh
thu đen trắng tùy duyên sắc
Sen
nở thơm hồng bùn chẳng hề.
Diệu
khúc xưa nay cần cứ hát
Chớ
tìm nam bắc với đông tê.
Giảng:
Bài
này Thượng Sĩ nhắc nhở chúng ta tu, nên gọi là Bảo Chúng.
Chúng ở đây gồm có hai hạng xuất gia và tại gia, là những
người đến học với Ngài. Ngài khuyên rằng: “Thôi tìm
Thiếu Thất với Tào Khê, thể tánh sáng ngời chửa từng
mê.” Thượng Sĩ khuyên chúng ta muốn tu muốn đạt được
đạo, không phải tìm tới Thiếu Lâm chỗ Tổ Bồ-đề-đạt-ma
ở, hay phải tìm tới Tào Khê chỗ Lục tổ Huệ Năng trụ
xứ giáo hóa mới tu được. Vì hai nơi đó tuy là chỗ của
Sơ Tổ và Lục Tổ nhưng nó là cảnh tướng, có chỗ nơi
không phải là gốc của sự giác ngộ. Gốc của sự giác
ngộ là “thể tánh sáng ngời chửa từng mê”. Mỗi chúng
ta ai cũng có thể tánh sáng suốt lúc nào cũng hiện tiền
chưa từng bị mê, vậy mà chúng ta không nhận ra. Sở dĩ chúng
ta không nhận ra thể tánh sáng suốt của chính mình là, tại
những vọng niệm lăng xăng tiếp nối lôi kéo chúng ta cứ
chạy theo nó, mà quên mất thể tánh sáng suốt của mình.
Như vậy muốn được giác ngộ không phải tới Tào Khê hay
Thiếu Thất, mà phải khéo buông bỏ những vọng niệm lăng
xăng nơi tâm mình thì thể tánh sáng ngời hiện tiền, chớ
không tìm kiếm đâu xa.
“Trăng
cổ chiếu soi nào cận viễn, gió trời thổi mát thấp cao
chê.” Mặt trăng xưa chiếu ánh sáng xuống mọi vật một
cách đầy đủ và bình đẳng, không câu nệ xa gần. Và, gió
từ phương trời thổi lại, nó không chê chỗ thấp chọn
chỗ cao, cao thấp nó đều thổi bình đẳng. Tuy nhiên, chỗ
khuất lấp thì gió thổi tạt lên chỗ cao, đó là tại chỗ
nơi chớ không phải tại gió lựa chọn. Đó là hai hình ảnh
trăng cổ gió trời không phân biệt xa gần cao thấp.
“Ánh
thu đen trắng tùy duyên sắc, sen nở thơm hồng bùn chẳng
hề.” Bầu trời mùa thu có ánh trăng sáng trong, nhưng ánh
sáng ấy không nhất định màu vàng, màu xanh hay màu trắng,
mà tùy duyên. Nếu cảnh vật trắng thì nó hiện sắc trắng.
Cảnh vật xanh nó hiện sắc xanh, đỏ thì nó hiện sắc đỏ.
Ánh sáng vàng, xanh v.v... là tại những hình sắc bên ngoài:
Như ánh sáng đang chiếu mà chúng ta để hạt lưu ly ở trên
miếng giấy đỏ thì thấy ánh sáng màu đỏ, để trên miếng
giấy xanh thấy ánh sáng màu xanh v.v... Như vậy phản ảnh
màu này màu nọ là tại màu sắc chớ ánh sáng không có màu
này màu nọ. Và, hoa sen nở ra từ dưới bùn mà nó không hề
bị bùn làm cho hôi hám. Đó là những hình ảnh trăng cổ,
gió trời, ánh sáng mùa thu, hoa sen nở, tất cả những thứ
đó đều không có phân biệt so sánh gần xa, cao thấp, trắng
đen và thơm hôi. Nghĩa là nó không bị sự so sánh làm cho
mất đi tính chất bình đẳng. Thượng Sĩ mượn cái bình
đẳng để nói lên thể sáng ngời của chúng ta nó cũng không
phân biệt xa gần, cao thấp, trắng đen hay thơm hôi. Sở dĩ
có những cái phân biệt đó là do tùy duyên bên ngoài như
thế nào thấy như thế ấy. Ý Thượng Sĩ nói: nơi mọi người
chúng ta có sẵn cái thể tánh bình đẳng trong sáng, chưa bao
giờ có niệm phân biệt so sánh. Nếu khởi niệm phân biệt
so sánh là thiếu bình đẳng tự nhiên.
“Diệu
khúc xưa nay cần cứ hát, chớ tìm nam bắc với đông tê.”
Diệu khúc là bản nhạc nhiệm mầu có sẵn từ xưa tới nay,
nếu cần thì cứ hát, chớ đừng tìm tới phương nam, phương
tây, phương bắc. Theo Thượng Sĩ bản nhạc nhiệm mầu này
chỉ cho thể tánh sáng ngời hằng hữu nơi mỗi chúng ta. Cứ
sống với thể tánh ấy đừng chạy nơi này nơi nọ tìm kiếm
vô ích.
Bài
thơ này Thượng Sĩ dạy chúng ta, là người học đạo muốn
sáng được đạo thì phải nhận nơi mình có thể tánh sáng
suốt bình đẳng, không bị cái so sánh phân biệt che lấp.
Nó đã có sẵn cứ ngay đó mà sống, đừng tìm kiếm phí
công.
Vậy
quí vị đã hát được bản nhạc nhiệm mầu mà Thượng Sĩ
nói chưa, hay chỉ hát những bài ca thế tục? Những bản nhạc
thế tục thì dễ nhớ, còn diệu khúc này thì mau quên! Tại
chúng ta chạy theo sáu trần mà quên nó chớ nó đâu có mất.
Tóm
lại, bài này Thượng Sĩ khuyên người tu Phật, phải trực
nhận nơi mình có sẵn cái thể tánh sáng suốt không bao giờ
mê mờ, tại chúng ta chạy theo vọng tưởng quên nó mà thôi.
Biết rồi thì đừng thắc mắc rằng mình ở đây tu lâu ngộ,
phải tới Thiếu Lâm hay Tào Khê tu mới mau ngộ. Đừng có
khao khát ước mơ tìm kiếm đâu xa, mà phải quay lại nơi
mình nhận ra tánh sáng suốt của mình và hằng sống với
nó. Nếu khởi niệm phân biệt so sánh thì thể tánh sáng suốt
bị che khuất, Thượng Sĩ muốn cụ thể hóa cho nên nói bản
nhạc xưa có sẵn, muốn hát lúc nào thì hát, đừng tìm kiếm
ở đâu xa. Đó là lời nhắc nhở của Thượng Sĩ, ai là người
học đạo phải mau hiểu lấy.
Dịch:
BẢO
CHÚNG
Người
đời ưa vọng chẳng ưa chân
Chân
vọng tâm kia cũng là trần.
Cốt
muốn nhảy thẳng lên bờ ấy
Hãy
tham đồng tử đang có đây.
Giảng:
“Người
đời ưa vọng chẳng ưa chân.” Người đời ưa vọng chẳng
ưa chân là phải rồi, còn người tu thì ưa chân chẳng ưa
vọng hay như người đời ưa vọng không ưa chân?-! Nhưng Thượng
Sĩ nói “chân vọng tâm kia cũng là trần”. Tâm chân tâm
vọng cả hai thuộc về trần, tức là thuộc về sanh diệt.
Cái vọng thuộc về trần, nó sanh diệt là phải, nhưng sao
cái chân cũng thuộc sanh diệt? - Thể tánh bất sanh bất diệt,
tự nó không nói là chân hay vọng. Vì tâm chúng ta còn nhiều
vọng niệm lăng xăng nên gọi là vọng, khi chúng ta buông những
vọng niệm, tâm yên lặng tạm gọi là chân. Nói chân là do
có vọng mà nói, nếu vọng hết rồi thì chân cũng không còn.
Cũng như cái nhà này chúng ta nói sáng vì không có bóng tối,
nói tối là do không có ánh sáng. Song, ai cũng ưa sáng mà không
ưa tối, nhưng nếu không có tối thì có sáng không? Ngược
lại cũng vậy. Giả sử ở nơi nào đó chưa bao giờ có đêm
thì có ngày không? Sở dĩ có tối có sáng là do đối đãi
nhau mà lập không phải thật. Cũng như nói vọng là đối
với chân mà nói, nói chân là đối với vọng mà nói. Thể
tánh sáng suốt không thuộc chân vọng vì chân vọng là hai
cái giả lập.
“Cốt
muốn nhảy thẳng lên bờ ấy.” Bờ ấy là chỉ cho bờ giác
hay là Niết-bàn. Muốn nhảy thẳng đến bờ giác thì phải
“hãy tham đồng tử đang có đây”. Phải tham vấn chú bé
đang ở đây. Chú bé đang ở đây là chú bé nào? Chữ này
có hai cách giải. Trong kinh Hoa Nghiêm thường gọi Bồ-tát
là đồng tử. Đồng tử là chỉ cho những đứa bé; tại
sao gọi Bồ-tát là đồng tử? Bồ-tát gọi là giác mà cái
giác của Bồ-tát đối với cái giác của Phật thì chưa viên
mãn, Bồ-tát thì từng phần giác chớ chưa giác ngộ viên
mãn như Phật. Như người đứng tuổi thì các bộ phận trong
cơ thể và sự khôn ngoan sáng suốt phát triển đầy đủ,
còn đứa bé thì các bộ phận trong cơ thể tuy đủ, nhưng
chưa phát triển toàn diện, nên đối với người lớn thì
nó là đứa bé. Cũng vậy đứng về mặt giác ngộ thì đức
Phật đã viên mãn nên coi như người lớn, Bồ-tát mới giác
ngộ từng phần nên đối với Phật coi như là đứa bé, cho
nên các kinh Đại thừa thường gọi Bồ-tát là đồng tử.
Nhưng đồng tử đối với Phật chớ không phải đối với
chúng ta. Chúng ta thì thấy Bồ-tát là những vị trưởng thượng,
chỉ có Phật mới coi Bồ-tát như đứa bé thôi. Đó là nói
theo kinh. Nhưng ở đây thì khác, Thượng Sĩ nói người tu
muốn nhảy thẳng tới bờ giác ngộ thì phải tham vấn đồng
tử đang có đây, tức là muốn giác ngộ thì phải nhận ra
cái tánh giác sẵn có nơi mình, chớ đừng tìm đâu xa hết.
Tại sao gọi tánh giác là đồng tử? Vì tánh giác là viên
mãn trùm khắp mà người mới nhận ra thì chỉ giác từng
phần chưa viên mãn, ví như đứa bé nên gọi là đồng tử.
Bốn
câu kệ này Thượng Sĩ dạy chúng ta, vọng chân gì cũng phải
buông và muốn giác ngộ thì phải nhận ra cái thể tánh sáng
suốt sẵn có nơi mình, chớ không tìm đâu xa.
Dịch:
BẢO
HỌC GIẢ
Học
giả rối bời biết là sao
Luống
đem gạch ngói uổng công mài.
Bảo
anh thôi chớ nương cửa khác
Một
điểm ánh xuân chốn chốn hoa.
Giảng:
Bảo
học giả là khuyên người trí thức chớ nghiên cứu tìm tòi.
“Học
giả rối bời biết là sao, luống đem gạch ngói uổng công
mài.” Học giả là người chuyên nghiên cứu sách vở, để
tìm tòi những điều hay đẹp ở trong ấy, nên tâm họ luôn
rối bời, do đó mà không đạt được chỗ chân thật cứu
kính, giống như người đem gạch ngói mài để làm gương.
Câu này Thượng Sĩ dẫn chuyện mài gạch của Thiền sư Nam
Nhạc Hoài Nhượng. Sau khi đắc pháp nơi Lục Tổ, Thiền sư
Hoài Nhượng đến trụ ở dãy Hoành Nhạc. Một hôm đi dạo
núi thấy một vị Tăng tên Đạo Nhất ngồi thiền trên phiến
đá, Ngài đi đến hỏi:
-
Đại đức ngồi thiền để làm gì?
Đạo
Nhất thưa:
-
Để làm Phật.
Sau
đó Ngài lấy một cục gạch đến trên phiến đá trước
am Đạo Nhất ngồi mài, Đạo Nhất thấy lạ hỏi:
-
Hòa thượng mài gạch để làm gì?
-
Mài để làm gương.
-
Mài gạch đâu có thể thành gương được?
-
Ngồi thiền đâu có thể thành Phật được?
-
Vậy làm thế nào mới phải?
-
Như trâu kéo xe, xe không đi, vậy đánh xe là phải hay đánh
trâu là phải?
Dốt
nát như chúng ta, ai cũng biết đánh trâu là phải. Thí dụ
này rất hay, con trâu kéo xe, xe là cái bị động, trâu là
cái chủ động, muốn cái bị động di chuyển thì phải điều
khiển cái chủ động.
Đạo
Nhất lặng thinh. Ngài nói tiếp:
-
Ông học ngồi Thiền hay học ngồi Phật? Nếu học ngồi thiền,
thiền không phải ngồi nằm. Nếu học ngồi Phật, Phật không
có tướng nhất định, đối pháp không trụ, chẳng nên thủ
xả, ông nếu ngồi Phật tức là giết Phật, nếu chấp tướng
ngồi chẳng đạt ý kia.
Hằng
ngày Phật không những ngồi mà còn đi khất thực, tối còn
nằm nghỉ. Vậy lúc đi lúc nằm gọi là gì? Ngồi cũng Phật
mà đi cũng Phật, nói nín đều là Phật. Như quí thầy tu
lúc ngồi là thầy tu hay đi đứng là thầy tu? Nếu vô chùa
thấy quí thầy quí cô ngồi thiền nói quí thầy quí cô tu,
một lát quí thầy quí cô xả thiền có tu không? Dầu ngồi
hay đi bất cứ ở hành động nào cũng là thầy tu. Cũng vậy
Phật ở trong hành động nào cũng là Phật. Tóm lại, ý Thượng
Sĩ muốn nhắc chúng ta rằng, khi tu đừng chấp vào hình thức
nào cố định, hình thức chỉ là phương tiện chớ không
phải cứu kính. Phương tiện nào thích hợp và giúp cho chúng
ta tiến đạo thì chúng ta ứng dụng. Ví dụ chúng ta muốn
tâm được yên tịnh mà nằm ngủ mãi ngáy pho pho thì tâm
không an định. Đi dạo chơi với huynh này huynh kia, nói chuyện
năm trước năm sau thì tâm không an định. Tốt hơn hết là
ngồi lại nghiêm chỉnh ngó xuống, không có chuyện gì rối
rắm, nhưng phải biết ngồi là phương tiện chớ không phải
cứu kính, nếu nói ngồi thiền là cứu kính ấy là sai. Cho
nên chư Tổ sau này nói tu trong bốn oai nghi, chớ không hạn
cuộc vào một oai nghi nào. Nhưng trong bốn oai nghi, ngồi là
thù thắng hơn hết, nên chúng ta lấy phương tiện thù thắng
mà ứng dụng. Phải nói rõ cho quí vị hiểu, chớ không khéo
mai kia một vài sư nào đó hỏi rằng: “Tại sao Tổ quở
ngồi thiền, mà ở đây thầy chủ trương ngồi, vậy là đã
trái ý Tổ.” Nói nghe hay lắm nhưng nếu không ngồi thiền
thì làm gì? Đi tới đi lui nói chuyện tạp tâm loạn tưởng,
thêm phiền não chớ không lợi ích gì, nên tôi bắt ngồi.
Thượng Sĩ nói “luống đem gạch ngói uổng công mài”. Mài
gạch ngói để làm gương là việc làm phí công vô ích.
“Bảo
anh thôi chớ nương cửa khác, một điểm ánh xuân chốn chốn
hoa.” Thôi anh đừng tới nhà người mà trông cậy người
ta chỉ dạy, chỉ cần một điểm sáng của mùa xuân thì tất
cả hoa đều đua nhau nở rộ. Nghĩa là hoa đã có sẵn cái
mầm ở trong thân cây, chỉ cần ánh nắng mùa xuân chiếu
tới thì nó nở, chớ không cần tìm kiếm đâu xa. Cũng vậy
ở nơi mỗi chúng ta đều có sẵn cái mầm giác ngộ, chỉ
cần nhân duyên thuận tiện thì nó bừng sáng, chớ nên tìm
kiếm trông chờ ở bên ngoài.
Dịch:
CHỢT
HỨNG
Trong
nhà ngồi thẳng lặng không lời
Nhàn
ngắm Côn Luân mảnh khói trôi.
Đến
khi nghe nhọc tâm liền bặt
Chẳng
cần nhiếp niệm chẳng cần thiền.
Giảng:
“Trong
nhà ngồi thẳng lặng không lời, nhàn ngắm Côn Luân mảnh
khói trôi.” Một hôm ở trong nhà, Thượng Sĩ ngồi thẳng
lưng yên lặng nhìn ngọn núi Côn Luân. Núi này nối dài từ
ngọn Côn Luân ở Trung Quốc, chạy qua Cao Bằng đến tỉnh
Thái Nguyên ở Việt Nam mới dứt. Núi Côn Luân có lẽ là
nơi quê hương của Thượng Sĩ, quê Ngài ở gần vùng Thái
Nguyên Cao Bằng, Ngài ngồi thấy trên ngọn núi Côn Luân có
vài mảnh khói bay. Ngắm mãi một hồi thì: “Đến khi nghe
nhọc tâm liền bặt, chẳng cần nhiếp niệm chẳng cần thiền.”
Thượng Sĩ ngồi trong nhà ngắm núi Côn Luân bỗng dưng tâm
lặng lẽ không còn niệm khởi. Ngài ngồi chơi không dụng
công tu, thế mà tâm không khởi niệm, nên nói không cần nhiếp
niệm chẳng cần thiền. Chúng ta ngồi thiền trong tư thế
kiết già, niệm dấy khởi, chúng ta buông, không theo, gọi
là nhiếp niệm. Cũng có lúc chúng ta ngồi nhìn trời nhìn
mây, mà tâm dứt bặt không khởi một niệm, dứt hết niệm
ngồi thản nhiên tự tại, nên không nói là ngồi thiền, Thượng
Sĩ nói chẳng phiền dứt niệm chẳng cần thiền mà tâm vẫn
im bặt.

|