|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
06-5
Muôn việc về như, Thói đời hư dối, Họa thơ quan
Huyện, Cảnh vật Tịnh Bang, Họa Thơ Hưng Trí Thượng Vị
Hầu
|
|
|
06-7
Lễ Thiền sư Tiêu Dao ở Phước Đường, Cảnh vật
Phước Đường, Tăng Pháp sư Thuần Nhất, Đùa Thiền Sư Trí
Viễn xem kinh giải nghĩa, Điệu Tiên Sư
Khuyên
đời vào đạo, Bảo chúng, Bảo chúng, Bảo học giả, Chợt
hứng
|
06-8
Cội tùng đáy khe, Xuất trần, Đạo lớn không khó,
Tâm vương, Thả trâu, Đề tịnh xá, Chợt hứng, Cây gậy,
Chiếu thân, Tự đề, Chợt tỉnh, Tự tại, Bảo học trò,
Bảo tu nghiệp Tây phương, Thoát đời, Vui thú giang hồ.
|
|
|
|
|
|
|
X
TUỆ TRUNG THƯỢNG
SĨ NGỮ LỤC GIẢNG GIẢI
Biên
Soạn: Trúc Lâm Tổ Sư (Trần Nhân Tông)
Dịch
và Giảng: Hoà ThượngThích Thanh Từ
Ban
Văn Hoá Trung Ương GHPGVN Xuất Bản 1996
THI
CA (tt)
Dịch:
PHÀM
THÁNH KHÔNG HAI
Thân
từ vô tướng xưa nay không
Huyễn
hóa phân chia thành nhị kiến.
Ta,
người như móc cũng như sương,
Phàm,
Thánh như sấm cũng như chớp.
Công
danh phú quí đồng mây trôi
Năm
tháng đời người dường tên bắn.
Chút
tình thương ghét chợt dấy lên
Khác
nào bỏ bột đi tìm bánh.
Mày
ngang mũi dọc cũng như nhau
Phật
với chúng sanh không khác mặt.
Ai
là phàm chừ ai là Thánh
Nhiều
kiếp kiếm tìm không căn tánh.
Không
tâm chẳng thị cũng chẳng phi,
Chẳng
kiến không tà cũng không chánh.
Đồ
tể Quảng Ngạch thành nguyện vương
Tỳ-kheo
Khánh Hỷ công đức thánh.
Tự
giác giác tha độ đường mê
Khắp
cõi mát lành không nóng bức.
Anh
thấy chăng
Người
mất trước đó là ai?
Người
được sau đó là ai?
Hai
tâm sai khác một dòng mạng.
Rốt
cuộc vào tám muôn bốn ngàn pháp môn đà-la-ni.
Đồng
nhiếp vào gương trí rộng lớn tròn đầy Như Lai.
Chao!
Giảng:
Ai
tu cũng có quan niệm chuyển phàm thành Thánh, hay tiến từ
nhân vị phàm phu lên quả vị Thánh. Đây là ước nguyện
chân chánh, nhưng sao ở đây Thượng Sĩ nói Phàm Thánh không
hai? Đây Ngài giải thích:
“Thân
từ vô tướng xưa nay không, huyễn hóa phân chia thành nhị
kiến.” Thân của chúng ta từ thể vô tướng, xưa nay vốn
là không, do duyên hợp tạm có hình tướng huyễn hóa. Thế
mà chúng ta phân chia hai thứ ta người, phàm Thánh, phải quấy...
Tất cả những cái thấy phân biệt hai bên gọi là nhị kiến.
Đã là cái thân huyễn hóa không thật thì thân nào là phàm,
thân nào là Thánh?
“Ta,
người như móc cũng như sương, phàm, Thánh như sấm cũng như
chớp.” Thấy ta khác thấy người khác, nhưng sự thật ta
và người huyễn hóa tạm bợ như sương như móc, sáng thấy
mờ mờ nắng lên tan mất không còn. Và, phàm Thánh cũng vậy.
Vừa nói phàm vừa gọi Thánh thoáng chốc là mất đi, giống
như sấm vừa nổ vang sau đó liền dứt tiếng, chớp vừa
lòe sáng cũng tắt ngay. Vì nó là ý niệm ngôn ngữ hai bên
đối đãi, không thật, không bền.
“Công
danh phú quí đồng mây trôi, năm tháng đời người dường
tên bắn.” Sự giàu sang danh vị ở cõi đời, ai cũng thèm
khát mong muốn, muốn cho mình có địa vị trong xã hội để
nở mặt nở mày, muốn cho mình được giàu sang sung sướng.
Nhưng giàu sang danh vị không bền lâu, mới tiền rừng bạc
bể đó chẳng bao lâu trắng tay, vừa tiền hô hậu ủng đó
trở thành kẻ lưu đày. Giàu sang danh vị chẳng khác nào chòm
mây trôi nổi bồng bềnh trong hư không, vừa thấy đó là
mất đó. Tuổi đời mấy mươi năm chúng ta tưởng chừng
như dài lắm, nhưng ngồi nhớ lại ngày tháng qua thấy nhanh
như tên bắn. Những câu này Thượng Sĩ chỉ cho chúng ta thấy
tính chất của nhân ngã, phàm Thánh, công danh phú quí, thời
gian năm tháng chỉ là ý niệm hai bên không thật, thoáng có
rồi không, đừng có mê chấp.
“Chút
tình thương ghét chợt dấy lên, khác nào bỏ bột đi tìm
bánh.” Trong lãnh vực tu hành, muốn nhận ra pháp thân thanh
tịnh có sẵn nơi mình mà khởi niệm thương ghét thì pháp
thân bị che khuất, không làm sao nhận ra được. Giống như
muốn ăn bánh mà bỏ bột, vì bỏ bột thì không có bánh.
Vậy, muốn cho pháp thân hiển lộ thì phải dứt niệm thương
ghét, vì thương ghét là niệm hai bên; những niệm hai bên
lặng hết thì pháp thân hiện tiền. Cũng như biết lấy bột
làm bánh thì có bánh ăn. Mục đích tối thượng của sự
tu hành là chúng ta nhận ra pháp thân hằng hiện hữu nơi mình,
nếu để niệm thương ghét, buồn giận, hơn thua, phải quấy
dấy lên là nuôi dưỡng cái thứ phản bội che đậy pháp
thân trong sáng của mình. Nó là giặc phá hoại của báu nhà
mình, phải gan dạ xa lìa xả bỏ chớ theo nó. Quí vị có
gan dạ xa lìa vọng niệm, hay nó dấy lên lưu luyến nuôi dưỡng?
Nuôi dưỡng dòng niệm trước độ mười lăm phút mới bỏ,
dòng niệm sau khởi tiếp tục nuôi nữa, cứ như thế nuôi
hết niệm này tới niệm kia! Nuôi thương ghét buồn vui...
hết ngày này tới tháng kia, tới năm nọ, cho tới già chết.
Ai nuôi nó thì không nhận ra pháp thân chân thật của mình,
ai buông sạch vọng niệm, không cầu ngộ, pháp thân vẫn hiện
tiền.
“Mày
ngang mũi dọc cũng như nhau, Phật với chúng sanh không khác
mặt.” Phàm và Thánh là một hay hai? Nói một không được,
nói hai cũng không thông. Giả sử có một người phát tâm
tu; khi mới phát tâm phiền não vẫn còn, nên gọi là phàm.
Nhưng nhờ họ tinh tấn tu hành dẹp bỏ hết phiền não, dứt
sạch niệm hai bên, ngộ được pháp thân thanh tịnh gọi là
Thánh. Vậy, người còn phiền não khi trước và người ngộ
pháp thân lúc sau là một hay hai? Nếu là một tại sao trước
kia không gọi người đó là Thánh mà gọi là phàm? Và, tu
hết phiền não giác ngộ mới gọi người đó là Thánh? Nói
phàm nói Thánh dường như hai, nhưng sự thật không phải
hai. Vậy, tất cả người phàm, nếu khéo tu buông hết vọng
tưởng, ngộ được pháp thân chân thật thì là Thánh, nên
nói Phật với chúng sanh không khác mặt. Chỗ này còn một
ý nữa là, đa số người đời cho rằng Phật là nhân vật
có ba mươi hai tướng tốt, có hào quang phóng ra sáng rỡ,
ngự trên tòa sen rất uy nghiêm. Người tu chỉ là con người
bằng xương bằng thịt, tầm thường như bao nhiêu người
đời. Giả sử như vị ấy tu dẹp hết vô minh phiền não,
hoàn toàn giác ngộ thành Phật, nhưng không đủ ba mươi hai
tướng tốt, không phóng hào quang, không ngồi tòa sen, mà đi
vào xóm làng để hóa duyên, gặp quí vị, quí vị cho đó
là Phật hay là chúng sanh? Nhìn qua thân hình thì thấy cũng
như mọi người! Khi còn mê cũng là thân này, cũng mày ngang
mũi dọc, khi giác ngộ rồi cũng là thân này cũng mày ngang
mũi dọc. Nhưng chỉ khác ở mê và ngộ chớ thân tứ đại
không khác. Thế nên Thượng Sĩ nói: “Mày ngang mũi dọc cũng
như nhau, Phật với chúng sanh không khác mặt.”
“Ai
là phàm chừ ai là Thánh, nhiều kiếp kiếm tìm không căn tánh.”
Căn cứ vào thân tứ đại này, hỏi ai là phàm ai là Thánh
làm sao phân định để trả lời? Phàm và Thánh không cố
định, người mê gọi là phàm người giác gọi là Thánh.
Mê giác là ở nội tâm người, chớ không do thân thể hình
hài mà nên. Con người ai cũng mang thân tứ đại như nhau,
không khác; nhưng khi mê là phàm khi giác là Thánh. Muốn tìm
kiếm nguồn gốc căn tánh của mê và giác khó mà tìm được,
dù trải qua nhiều đời nhiều kiếp cũng không tìm được.
Vì mê giác không có cội gốc làm sao mà tìm?
“Không
tâm chẳng thị cũng chẳng phi, chẳng kiến không tà cũng không
chánh.” Không tâm đây không phải là tâm không ngơ, mà là
tâm không dấy niệm. Tâm không dấy niệm thì không có chuyện
phải (thị) quấy (phi). Sở dĩ chúng ta thấy đây là phải
kia là quấy, là do chúng ta khởi niệm phân biệt, nếu tâm
hằng lặng lẽ không khởi niệm thì đâu có phải quấy. Người
tu mà không khởi niệm phân biệt, không cho đây là phải kia
là quấy, thường bị người đời cho là ba phải. Vì người
đời khởi động niệm nên nói đây phải kia quấy. Người
không khởi niệm làm sao xác định cái nào phải cái nào quấy?
Nếu cần phải nói thì nói không phải không quấy, mà nói
như thế thì người đời cho là ngu, không biết phải quấy.
Người đời do quá khôn nên thấy phải quấy, tốt xấu, hơn
thua đủ thứ. Còn người thật tu không phân biệt phải quấy
thì bị cho là ngu. Như vậy quí vị có gan dạ làm kẻ ngu
không? Đa số người đời thích khôn hơn là ngu, vì khôn mới
cãi lý hơn người, còn ngu thì đâu có cãi, cũng không hơn
ai. Không khởi niệm phải quấy thì có gì để cãi! Giả sử
tất cả Tăng Ni ở đây, không có ai còn khởi niệm phân biệt
phải quấy thì, đi từ thiền đường đến phòng tăng đến
trai đường, đi đâu cũng không có tiếng cãi lý hơn thua.
Còn nếu quí vị còn niệm phải quấy thì đi đâu cũng nghe
quí vị nói cãi ồn ào, từ bên TĂNG LẫN BÊN NI. CHẳNG HạN
NHƯ THấY CÀNH HOA hồng, người nói tốt người nói xấu,
rồi cãi nhau. Xế chiều thì hoa hồng rã cánh rụng hết, vậy
hoa hồng tốt hay xấu? Thật là vô lý, vật hết sức là tạm
bợ, thế mà chúng ta cứ chấp chặt vào đó để tranh cãi,
cãi cho ra lẽ, nhưng rốt cuộc rồi chẳng tới đâu! Đó là
nghiệp thức của chúng sanh, do có tâm thức phân biệt, nên
mới có phải có quấy. Nếu không tâm phân biệt, nào có thị
có phi. Và, do tâm phân biệt phải quấy, nên mới khởi kiến
chấp pháp này là tà, pháp kia là chánh; tà chánh là do tâm
chấp trước mà ra. Nếu không khởi niệm không chấp trước
thì cái gì tà cái gì chánh?
“Đồ
tể Quảng Ngạch thành nguyện vương, Tỳ- kheo Khánh Hỷ công
đức Thánh.” Thượng Sĩ trình bày phàm Thánh không khác,
không thị phi, không chánh tà. Tiếp theo Ngài dẫn câu chuyện
người đồ tể tên Quảng Ngạch bỏ nghề giết hại phát
nguyện tu, chẳng bao lâu được giác ngộ, nên nói đồ tể
Quảng Ngạch thành nguyện vương (kinh Đại Bát-niết-bàn).
Khánh Hỷ nghĩa là vui mừng, là tên của tôn giả A-nan, em
con nhà chú của Thái tử Sĩ-đạt-ta. Ngài ra đời ngay khi
Thái tử Sĩ-đạt-ta thành Phật. Thái tử thành Phật là niềm
vui mừng lớn của nhân loại, nên Ngài được đặt tên là
Khánh Hỷ. Khi lớn lên Ngài xuất gia làm Tỳ-kheo, làm thị
giả hầu cận bên Phật, là một trong những đệ tử lớn
của đức Phật, là bậc đa văn có đức hạnh đầy đủ,
tu chứng được quả Thánh. Thượng Sĩ nói Tỳ-kheo Khánh Hỷ
hầu cận Phật tu thành Thánh, người đồ tể tu cũng thành
Thánh. Chỗ này cho thấy, chẳng riêng người gần gũi Phật
như thị giả A-nan tu mới thành đạo, mà tên đồ tể từng
làm nghề giết hại sanh vật, nếu khéo tu cũng thành tựu
đạo quả. Như vậy nói ai phàm ai Thánh? Đâu phải đồ tể
là phàm, đâu phải Tỳ-kheo là Thánh, mà phàm Thánh chỉ ở
mê và giác. Vậy, với người giác ngộ không nói ai là phàm
ai là Thánh.
“Tự
giác giác tha độ đường mê, khắp cõi mát lành không nóng
bức.” Tự mình tu được giác ngộ rồi, ra giáo hóa giúp
cho người người được giác ngộ như mình, cũng ra khỏi
mê lầm, khiến cho cõi đời này được an vui thanh thoát. Nói
theo Thượng Sĩ là khắp cõi mát lành không nóng bức. Vậy,
trọng tâm của người tu là phải làm sao tu cho mình được
giác ngộ, sau đó giáo hóa cho người cũng được giác ngộ,
như thế mới đem lại an vui lợi ích cho chúng sanh. Ví dụ
Tăng Ni trong Thiền viện, nếu ai cũng tỉnh giác biết thân
này và ý niệm của tâm là huyễn hóa không thật, biết niệm
khởi là gốc tạo nghiệp, không khởi vọng niệm, không chạy
theo cảnh, không chấp thân là thật. Toàn chúng cả trăm người
ai cũng thấy như vậy thì từ sáng tới chiều đâu có bực
bội phiền não, ngày nào cũng an lành mát mẻ. Quí vị thấy
như thế nhắc nhở cho mọi người cũng thấy như thế, thì
cõi đời này thanh tịnh an vui dường nào! Sở dĩ bây giờ
có vui buồn phiền não là tại chúng ta chưa tỉnh giác, nên
sanh khởi nhiều chuyện lôi thôi.
“Anh
thấy chăng, người mất trước đó là ai? người được sau
đó là ai?” Thượng Sĩ hỏi chúng ta có thấy chăng, thân
này hư hoại chết đi là ai? Và người chết tái sanh thân
khác là ai? Thân cũ thân mới (thân tiền ấm thân hậu ấm)
dường như là hai thân hai tâm. Song, sự thật nó chỉ là một
dòng sanh mạng; thân trước hoại mất là tử, thân sau được
tức là sanh. Sanh tử thấy như có đây được kia, nhưng thật
chỉ là mình chớ không có ai khác. Thế nên Thượng Sĩ nói:
“Hai tâm sai khác một dòng mạng.” Tất cả niệm được
niệm mất đều không thật. Nó là gốc của nghiệp dẫn chúng
sanh đi trong luân hồi sanh tử. Không phải cái này được
sanh cái kia bị mất là hai cái khác biệt.
“Rốt
cuộc vào tám muôn bốn ngàn pháp môn Đà- la-ni, đồng nhiếp
vào gương trí rộng lớn tròn đầy Như Lai. Chao!” Đà-la-ni
là tổng trì, gồm giữ tất cả. Tất cả pháp hữu vi có
hình tướng sai biệt có sanh có diệt, đồng nhiếp chung một
Tánh Giác như nhau, hay nói cách khác là đồng nhiếp chung một
gương trí tuệ Phật rộng lớn của mình. Vậy, gương trí
tuệ Phật của mình mới là cái gốc, còn tất cả tướng
sanh diệt chỉ là cái tạm giả dối không thật. Thấy như
vậy mới là thấy tột cùng.
Tóm
lại, với đôi mắt giác ngộ thấy phàm Thánh không hai. Nhưng
người đời thấy là hai và lúc nào cũng nghĩ phàm phu tu để
được làm Thánh. Phàm Thánh không hai, mê là phàm, giác là
Thánh; tuy mê giác có khác ở nội tâm, chớ thân không khác.
Chúng ta tu muốn được giác ngộ là phải biết rõ vọng niệm
là si mê dẫn đi trong luân hồi sanh tử, nên không dấy niệm
phải quấy hơn thua không chạy theo ngoại cảnh.
Dịch:
MÊ
NGỘ KHÔNG KHÁC
Mê
đi sanh không sắc
Ngộ
lại chẳng sắc không.
Sắc
không mê ngộ ấy,
Một
lý xưa nay đồng.
Vọng
dấy tam đồ dấy
Chân
thông ngũ nhãn thông.
Niết-bàn
tâm vắng lặng
Sanh
tử biển trùng trùng.
Chẳng
sanh lại chẳng diệt
Không
thủy cũng không chung.
Chỉ
hay quên nhị kiến
Pháp
giới thảy bao dung.
Giảng:
“Mê
đi sanh không sắc, ngộ lại chẳng sắc không.” Con người
khi còn mê không biết mình từ đâu sanh ra và khi chết cũng
không biết mình sẽ về đâu? Nói cách khác là do mê nên không
biết đường sanh tử thế nào, vì vậy mà thấy có sắc có
không; không là cái không hình tướng, sắc là cái có hình
tướng, hai cái đối đãi nhau. Ví dụ như thân người, cái
bàn, cái ghế... là sắc, khoảng trống trong không gian thì
gọi là không. Do mê nên thấy có sắc có không đối đãi
nhau, khi ngộ rồi thì không thấy có sắc có không đối đãi
nhau nữa. Tại sao vậy? Vì con người chúng ta ai cũng quen nhìn
cái có hình tướng gọi đó là sắc, còn cái không hình tướng
gọi đó là không, thành ra có sắc và không tương đối. Nhưng
chỗ rốt ráo thì sắc không thật là sắc, không không thật
là không. Như thiền đường này, bên ngoài là một lớp trống
không, kế đó là một lớp vách, cửa, mái bao bọc phủ kín
gọi là cái nhà (sắc ), bên trong nếu đặc kín thì không
phải là cái nhà. Bên trong cái nhà cũng là một khoảng trống
không. Như vậy, cái trống không trùm cả trong lẫn ngoài cái
dáng che đậy tạm bợ gọi là cái nhà, chớ không thật. Đó
là đứng trên phương diện đối đãi mà nói, nếu đứng
trên bình diện cùng tột thì, thiền đường này trước đây
là sắc hay là không? Nếu nói là sắc thì chỉ là những cây
thông thôi, chớ không có cái thiền đường. Do duyên hợp
lại lập thành cái nhà gọi là thiền đường. Như vậy thiền
đường trước không tự có, do duyên hợp tạm có thiền đường.
Nhưng, năm bảy mươi năm sau nếu nó hư không sửa, nó cũng
trở lại thành không. Vậy trước không sau không, giữa chỉ
có tạm bợ, có không thật có. Vậy, sắc thể nó vốn là
không, và không thể cũng là không; không và sắc đồng một
thể, không hai. Thế nên khi ngộ thấy được tột cùng thì
không có cái sắc thật cái không thật, chẳng qua là đối
đãi giả lập thôi. Vì vậy mà Thượng Sĩ nói khi mê thấy
có sắc và không, khi ngộ thấy sắc và không đều không thật
chỉ là giả danh.
“Sắc
không mê ngộ ấy, một lý xưa nay đồng.” Trước Thượng
Sĩ nói sắc không không phải hai, giờ đây Ngài nói mê và
ngộ lý xưa nay đồng. Người chưa tu là còn mê, nhưng phát
tâm tu công phu viên mãn hốt nhiên ngộ được lý đạo; khi
chưa ngộ và khi ngộ rồi vẫn là một người, chỉ khác nhau
ở chỗ mê và ngộ thôi. Ví dụ nhà đang tối, bật đèn thì
nhà sáng, vừa rồi nhà tối giờ đây nhà sáng, hai hiện tượng
tối sáng khác nhau rõ ràng, nhưng cùng ở trong nhà mà thấy
có tối và sáng dường như hai. Song không phải hai, vì tối
cũng ở trong nhà mà sáng cũng ở trong nhà, chớ không ngoài
cái nhà. Khi nhà tối chúng ta nói là tối, khi bật đèn sáng
chúng ta nói là sáng. Thấy tối thấy sáng là do mắt nhìn
chớ khoảng không gian đâu có tối sáng, không đổi thay vẫn
là khoảng không gian trong nhà. Cũng vậy, tâm thể con người
không mê không ngộ, vì tâm thức loạn tưởng không thấy
suốt được lẽ thật thì gọi là mê, khi thấy suốt được
lẽ thật thì gọi là ngộ. Vậy, mê ngộ là do thấy được
lẽ thật và không thấy được lẽ thật, chỉ khác nhau chỗ
đó thôi, chớ tâm thể trước sau không đổi dời. Như trong
nhà trước tối sau sáng, khoảng hư không trong nhà trước
sau không đổi. Khi có ánh sáng thì bóng tối chạy đi đâu
quí vị có thấy không? Và, khi đèn tắt mất ánh sáng, bóng
tối từ đâu chạy tới quí vị thấy không? - Sáng tối có
ở đâu đến và có đi đâu không? - Thấy sáng thấy tối
là do mắt của người mê loạn thấy, chớ sáng tối không
thật, hư không trong cái nhà trước sau là một. Cũng vậy,
mê ngộ khác nhau trên cái dụng biết và không biết được
lẽ thật, chớ tâm thể trước sau không khác.
“Vọng
dấy tam đồ dấy, chân thông ngũ nhãn thông.” Khi vọng niệm
dấy lên thì tạo nghiệp đi trong luân hồi sanh tử, nếu niệm
lành thì tạo nghiệp lành sanh cõi người cõi trời, nếu khởi
niệm ác thì tạo nghiệp ác, đi trong ba đường dữ là địa
ngục, ngạ quỉ, súc sanh chịu bao nhiêu thứ khổ đau. Và,
nếu không khởi niệm, thấu suốt được lý chân thật thì
được ngũ nhãn lục thông. Như vậy, nếu chúng ta sống với
vọng niệm thì lục đạo tam đồ hiện, nếu chúng ta sống
với lý chân thật thì ngũ nhãn lục thông hiện. Hai đường
mê ngộ rõ ràng, thế nên chúng ta tu, chủ yếu là phải buông
xả vọng niệm, vì còn dấy niệm là còn đi trong luân hồi,
dứt vọng niệm thì Thể chân thật hiện bày.
“Niết-bàn
tâm vắng lặng, sanh tử biển trùng trùng.” Niết-bàn là
quả của tâm thanh tịnh vắng lặng, sanh tử là quả của
tâm thức dấy khởi dồn dập như sóng biển trùng trùng. Thế
nên nói tới sanh tử là nói tới vọng niệm dấy khởi liên
miên, giống như sóng biển nối tiếp không ngừng. Còn tâm
thanh tịnh vắng lặng chính là Niết-bàn. Như vậy, chúng ta
tu không tìm cầu Niết-bàn ở đâu xa mà phải dừng vọng
niệm, tâm vắng lặng thanh tịnh thì Niết- bàn hiện tiền.
Niết-bàn sanh tử không rời tâm người.
“Chẳng
sanh lại chẳng diệt, không thủy cũng không chung.” Tâm thể
của mỗi người vốn không sanh cũng không diệt, không trước
cũng không sau. Nếu tâm mê chạy theo vọng tưởng đó là sanh
tử. Nếu tâm giác thì dứt vọng tưởng, thanh tịnh là Niết-bàn.
Như vậy, Niết-bàn là cái chẳng sanh chẳng diệt, không trước
không sau, nhưng nếu mê khởi vọng niệm thì bao nhiêu thứ
trần lao dấy khởi không thể kể hết.
“Chỉ
hay quên nhị kiến, pháp giới thảy bao dung.” Nhị kiến là
cái thấy hai bên theo sở chấp. Như thấy thân mình là thật,
thấy thân người là thật, chấp chặt là ta là người...
đó là nhị kiến. Giờ chỉ cần buông bỏ cái chấp hai bên
thì pháp giới thảy bao dung, tâm trùm cả pháp giới. Nhị
kiến là chỉ cho cái thấy hai bên là sắc không, mê ngộ,
có không, Niết-bàn sanh tử... Tức là tâm không khởi niệm
về sắc không, mê ngộ, có không, Niết-bàn sanh tử... Ý niệm
về những sự việc đó là hư dối không thật. Vì nếu hết
sanh tử thì không còn nói đến Niết-bàn; Niết- bàn nghĩa
là vô sanh; sanh tử là sanh rồi chết, chết rồi sanh lại
liên miên. Khi dứt sanh tử thì không còn danh từ sanh tử,
danh từ sanh tử đã không thì danh từ Niết-bàn cũng không
có. Thế nên, Niết-bàn, sanh tử, mê ngộ... đều không thật.
Vậy mà lúc nào chúng ta cũng sống trong tương đối hai bên
không thật. Mở mắt ra nhìn sự vật thì thấy thật, mở
miệng nói thì nói hai bên, cử động nào cũng hai bên hết.
Giờ đây nói sắc nói không, nói thị nói phi... tất cả những
cái đó cùng một thể như nhau. Nếu chúng ta biết tất cả
pháp đối đãi cùng một thể thì nghe khen cũng như nghe chê
không có gì khác. Vậy, nếu chúng ta biết tất cả pháp đối
đãi hai bên đều không thật thì tâm không chấp không kẹt,
tâm mở rộng khắp cả bầu trời. Nếu thấy tất cả pháp
đối đãi hai bên là thật thì tâm chấp trước không kẹt
chỗ này cũng dính chỗ kia, lúc nào cũng vướng mắc. Quí
vị tu muốn tâm mình bao dung trùm khắp hay lúc nào cũng vướng
mắc? - Ai tu cũng muốn mình tự do tự tại, chớ không muốn
kẹt dính. Vậy, muốn tự do tự tại thì phải buông xả,
không cố chấp, bằng không thì cứ thấy mình đúng người
sai, mình tốt người xấu... Cả ngày giận tức, phiền lo,
bực bội không yên, đủ thứ khổ. Đứng trên mặt thể mà
nói thì thân ai cũng là thân tứ đại, không người nào là
không mang thân tứ đại. Tứ đại là cái thể của thân người,
nhưng trên thân, phân biệt có đẹp có xấu, có nam có nữ.
Từ cái phân biệt đó sanh ra đủ thứ chuyện. Nếu tất cả
chúng ta ai cũng thấy thân người do tứ đại hòa hợp mà
thành, không ai khác ai thì không còn thấy đẹp thấy xấu,
thấy nam thấy nữ. Bấy giờ tâm chúng ta bao dung, không còn
nghe khen đẹp thì vui, nghe chê xấu thì buồn... tâm lúc nào
cũng thênh thang rộng rãi. Do thấy phải là tốt, thấy quấy
là xấu, nên ai cũng thích phải ghét quấy; thấy đúng là
tốt, thấy sai là xấu nên làm điều gì ai cũng muốn mình
đúng mình hay để được khen. Ngược lại thì bất mãn phiền
não. Cái phải, cái đúng, cái hay nó không thật, thế mà chúng
ta chấp nên sanh ra bao nhiêu thứ bệnh. Nếu chúng ta thấy
tất cả pháp đối đãi không thật, chỉ là giả tướng giả
danh thì không kẹt không dính vào đâu cả, tâm tự tại vô
ngại. Quí vị có muốn làm người tự do tự tại không? Nếu
muốn thì đừng khởi niệm phân biệt chấp trước, kẹt dính
hai bên, buông xả niệm phân biệt chấp trước hai bên thì
giải thoát mọi ràng buộc. Hiểu như thế mới thấu cái lý
mê ngộ không khác và nhận chân lẽ thật.
Dịch:
NGÂM
BĨU MÔI
Xưa
nay một vật chừ cũng sai,
Thân
sanh mang nghiệp chừ cũng phải.
Vì
sao ngũ uẩn chừ lăng xăng
Bám
chặt tứ đại chừ nương tựa.
Bỗng
có cao thấp chừ ngắn dài
Tự
chịu sanh già chừ bệnh chết.
Người
có thạnh chừ thì có suy
Hoa
có tươi chừ thì có héo.
Nước
có hưng chừ thì có vong
Thời
có thái chừ thì có bĩ.
Ngày
có chiều chừ thì có mai
Năm
có chung chừ thì có thủy.
Trở
về ẩn đạo chừ núi rừng
Nguội
lạnh lợi danh chừ triều thị.
Thiếu
Thất chín năm chừ cùng ta đồng tâm
Hoàng
Mai nửa đêm chừ với ta tri kỷ.
Tùy
phần chừ Liên Xã châu mày
Rộng
chí chừ Triệu Châu răng gõ.
Dù
cho trước tiếng chừ gật đầu
Đâu
được trong giày chừ động ngón
Lò
hồng không đúc chừ dùi trong đãy
Cọp
mạnh đói chừ chẳng liếc mồi.
Minh
châu há ngại chừ sóng gió
Sắc
chánh sá gì chừ tía hồng.
Đến
đây rồi chừ sự lý toàn bày
Cầm
giữ, buông bỏ chừ đâu cần nghĩ ngợi.
Trâu
đá giữa đêm vào biển đông
Càn
ngã san-hô, trăng như nước.
Giảng:
Bĩu
môi là trề môi tỏ thái độ không bằng lòng, Thượng Sĩ
là người đã giác ngộ mà còn bĩu môi tỏ thái độ không
bằng lòng việc gì? Chúng ta hãy đọc kỹ sẽ thấy cái bĩu
môi của Ngài.
“Xưa
nay một vật chừ cũng sai, thân sanh mang nghiệp chừ cũng phải”
là cái bĩu môi của Thượng Sĩ. Lục tổ Huệ Năng đâu không
nói “bản lai vô nhất vật” là bản thể chân thật có
sẵn nơi mỗi người; vì không hình tướng, không sanh diệt,
không bị vô thường chi phối nên nói không một vật. Nếu
nói có một vật là không đúng. Khi ngài Hoài Nhượng tới
Lục Tổ. Lục Tổ hỏi:
-
Ở đâu đến?
Hoài
Nhượng thưa:
-
Ở Tung Sơn đến.
-
Vật gì đến?
-
Nói in tuồng một vật tức không trúng.
-
Lại có thể tu chứng chăng?
-
Tu chứng tức chẳng không, nhiễm ô tức chẳng được.
Qua
câu nói này Lục Tổ liền ấn chứng cho sau này làm Tổ. Khi
ngài Hoài Nhượng đáp: “nói in tuồng một vật tức không
trúng” là đã khế hợp với “bản lai vô nhất vật” mà
Lục Tổ đã nói. Tuy ngài Hoài Nhượng trả lời khế hợp
với chỗ thấy của Lục Tổ, nhưng Lục Tổ muốn trắc nghiệm
xem Ngài đã thấu suốt chưa mới hỏi tiếp: “Lại có thể
tu chứng chăng?” Ngài đáp: “Tu chứng tức chẳng không (chẳng
không tức là có), nhiễm ô không thể được.” Vì Thể chân
thật không tướng mạo làm sao nhiễm nhơ được, nên Thượng
Sĩ nói “xưa nay một vật chừ cũng sai”. Nhưng, khi đã “sanh
thân mang nghiệp chừ cũng phải”. Tại sao lạ vậy? Vì đã
mang nghiệp sanh ra trên đời này rồi thì thấy thân mình là
thật có, thấy muôn vật là thật có; cái gì có cũng phải
hết. Thượng Sĩ nói khi tỉnh ngộ chỉ nói một vật cũng
là sai, khi mê tạo nghiệp đi trong luân hồi sanh tử, thì thôi
vô số sự vật cái nào cũng phải. Đó là hai câu đầu nói
về Thể chân thật xưa nay vốn không một vật của người
đã giác ngộ. Và, người mê tạo nghiệp sanh thân thì thấy
muôn ngàn sự vật đều có.
“Vì
sao ngũ uẩn chừ lăng xăng, bám chặt tứ đại chừ nương
tựa.” Tại sao chúng ta bị năm uẩn tụ họp làm rối loạn,
rồi chúng ta nương bám vào sắc uẩn là thân tứ đại này,
cho đó là thân mình? Thượng Sĩ bĩu môi không bằng lòng là
không bằng lòng chỗ này. Tại sao trước không có một vật
mà bây giờ ngũ uẩn tập hợp, chúng ta nương bám sắc thân
tứ đại cho là mình, có vô lý không?
“Bỗng
có cao thấp chừ ngắn dài, tự chịu sanh già chừ bệnh chết.”
Từ chỗ bám chặt vào sắc thân tứ đại cho là mình, nên
thấy mình cao người thấp, mình hay người dở, tạo bao thứ
nghiệp, rồi chịu quả khổ sanh già bệnh chết. Khi đã mang
thân sanh già bệnh chết, cứ chấp chặt vào thân, mất thân
này chụp thân khác, tiếp nối kiếp kiếp đời đời không
ngừng. Đây là hiện tượng mà Thượng Sĩ bĩu môi không bằng
lòng. Đối với hiện tượng này chúng ta bĩu môi hay vui mừng
hỉ hạ? - Chúng ta sanh ra là tổ chức ăn mừng, Thượng Sĩ
thì thấy vô lý, nên Ngài diễn tả cho chúng ta thấy cái vô
nghĩa của cuộc đời.
“Người
có thạnh chừ thì có suy, hoa có tươi chừ thì có héo, nước
có hưng chừ thì có vong, thời có thái chừ thì có bĩ, ngày
có chiều chừ thì có mai, năm có chung chừ thì có thủy.”
Tất cả mọi sự vật cái nào cũng chịu luật vô thường
chi phối. Con người sanh ra có trẻ thì có già, hoa có tươi
thì có héo, nước có hưng thì có vong, thời có thái (hưng
thạnh) thì có bĩ (xấu), ngày có chiều thì có mai, năm tháng
có chung thì có thủy. Sự vật nào cũng ở trong vòng tương
đối, ở dạng này rồi đổi qua dạng kia. Không có một vật
cố định không đổi dời. Như vậy ở đời cái gì là vui?
Nếu trẻ là vui thì già là buồn, nếu hoa nở là vui thì hoa
tàn là buồn, nếu đất nước hưng thạnh là vui thì suy vong
là buồn, nếu gặp thời cơ thuận tiện được lợi thì vui,
thời cơ bất tiện bất lợi thì buồn... Tóm lại tất cả
người, vật, thời tiết, năm tháng đều nằm trong pháp đối
đãi, đã là pháp đối đãi thì có cái gì là thật, đã là
không thật thì bám víu để làm gì?
“Trở
về ẩn đạo chừ núi rừng, nguội lạnh lợi danh chừ triều
thị.” Thôi không bám víu pháp đối đãi ở thế gian, tránh
xa thành thị, vào núi rừng ở ẩn để tu hành, bỏ hết chuyện
lợi danh chốn ồn náo, mà thiên hạ đang bon chen giành giựt.
“Thiếu
Thất chín năm chừ cùng ta đồng tâm, Hoàng Mai nửa đêm chừ
với ta tri kỷ.” Tổ Bồ-đề- đạt-ma từ Ấn Độ sang Trung
Hoa, lúc chưa gặp cơ hội truyền bá thiền, Ngài lên ngọn
Tung Sơn ngồi xây mặt vào vách chùa Thiếu Lâm để chờ thời,
đủ duyên mới ra giáo hóa. Xưa, ở hội Huỳnh Mai, lúc nửa
đêm Lục Tổ được Ngũ Tổ trao y bát xong là vào rừng núi,
ở ẩn hơn mười năm. Thượng Sĩ tự thấy Tổ Bồ-đề-đạt-ma
lúc ngồi xây mặt vào vách, ở chùa Thiếu Lâm trên ngọn
Tung Sơn là bạn đồng tâm với Ngài. Và, Lục tổ Huệ Năng
hơn mười năm ẩn náu trong rừng là bạn tri kỷ của Ngài.
“Tùy
phần chừ Liên Xã châu mày, rộng chí chừ Triệu Châu răng
gõ.” Liên Xã châu mày dẫn điển tích Đào Uyên Minh là một
nhà văn thơ giỏi, được ngài Huệ Viễn ở Lô Sơn mời đến
hội Bạch Liên Xã để chuyên niệm Phật. Tuy không xứng hợp,
song Đào Uyên Minh nể tình ngài Huệ Viễn đến, đến với
đôi mày nhíu lại, lòng không thích mà cũng phải chiều vậy.
Câu chuyện Triệu Châu răng gõ, tôi tra nhiều tài liệu mà
vẫn không tìm ra điển tích này, chỉ thấy trong thiền sử,
Hàn Văn Công hỏi Thiền sư Bảo Thông:
-
Hòa thượng tuổi được bao nhiêu?
Sư
cầm xâu chuỗi dở lên, bảo:
-
Hội chăng?
-
Chẳng hội.
-
Ngày đêm trăm lẻ tám.
Văn
Công không hiểu trở về.
Hôm
sau Văn Công lại đến, vừa tới cửa gặp thủ tọa, Văn
Công thuật câu nói hôm qua của Sư, hỏi ý kiến thế nào?
Thủ tọa vỗ răng ba cái. Văn Công vào trong gặp Sư, hỏi
lại ý kiến hôm qua, Sư cũng vỗ răng ba cái.
Chuyện
Triệu Châu gõ răng, tôi đọc hết Ngữ lục và Quảng lục
của Ngài, chỉ thấy có hai trường hợp nói đến răng. Trường
hợp thứ nhất: Có một vị Đại vương ở Trấn Châu hỏi
Ngài:
-
Sư tôn năm nay bao nhiêu tuổi?
Triệu
Châu đáp:
-
Chỉ có một cái răng.
-
Làm sao nhai được thức ăn?
-
Tuy nhiên, một cái từ từ nhai được.
Trường
hợp thứ hai: Có một vị Tăng hỏi ngài Triệu Châu:
-
Hoa Phật chưa nở làm sao biện được chân thật?
Ngài
đáp:
-
Đã nở.
Vị
Tăng đem việc này thuật lại cho ngài Lạc Phổ nghe. Nghe xong
Lạc Phổ gõ vào răng một cái.
Nếu
gõ vào răng thì ngài Lạc Phổ gõ chớ không phải Triệu Châu
gõ. Triệu Châu răng gõ e dùng lộn một tên chăng?
“Dù
cho trước tiếng chừ gật đầu, đâu được trong giày chừ
động ngón.” Đoạn đầu Thượng Sĩ trình bày cho chúng ta
thấy cái Thể chân thật của mình xưa nay không một vật,
do mê tạo nghiệp nên có thân năm ấm, chấp thân năm ấm
là mình thì thấy có cao thấp, tốt xấu... mới có sanh già
bệnh chết khổ đau. Xét kỹ cuộc đời từ con người cho
tới muôn vật, cái nào cũng có lúc thạnh lúc suy, có hưng
có vong... Không có cái nào trước sau như nhất ở một thể
cố định. Thấy rõ như vậy nên không đuổi theo không nắm
bắt, mà lui vào núi rừng vắng vẻ để tu, trút hết mọi
lợi danh ở chốn thị thành. Việc làm này giống như Tổ
Bồ-đề-đạt-ma, khi chưa gặp người truyền đạo, ngồi
xoay mặt vào vách ở chùa Thiếu Lâm núi Tung Sơn, giống như
Lục Tổ ẩn trong rừng hơn mười năm khi chưa đủ duyên giáo
hóa, giống như Đào Uyên Minh bị mời vào hội Bạch Liên
Xã, giống như Triệu Châu người chí rộng... Các Thiền sư
đã giác ngộ nhận ra Thể chân thật, mà chưa đủ duyên để
giáo hóa nên phải ẩn nhẫn chờ đợi cơ duyên. Lúc các Thiền
sư chưa gặp thời duyên giáo hóa không khác đoạn:
“Dù
cho trước tiếng chừ gật đầu, đâu được trong giày chừ
động ngón.” Đối diện với người, người chưa nói mà
đã biết trước họ muốn nói cái gì rồi nên gật đầu.
Thông minh thấu suốt như vậy mà “đâu được trong giày
chừ động ngón”. Chân mang giày không thể khoe chân đẹp,
chân xấu, vì giày phủ kín che khuất, dù trong giày ngón chân
có ngo ngoe cục cựa cũng không ai thấy. Như vậy, khi bị che
khuất dù có muốn ngoi đầu lên cũng không ai thấy được,
thôi thì cứ yên phận ở trong đó.
“Lò
hồng không đúc chừ dùi trong đãy, cọp mạnh đói chừ chẳng
liếc mồi.” Cây dùi trong đãy lò lửa hồng không đúc được.
Ý này dẫn từ điển tích: Bình Nguyên Vương sang nước Sở,
Mao Toại xin đi theo. Bình Nguyên Vương bảo:
-
Người hiền sĩ trong đời giống như chiếc dùi trong đãy,
mũi nó tất ló ra ngoài. Cái đãy bằng vải tuy kín, nhưng
đựng cây dùi mũi nhọn cây dùi xuyên qua lớp vải ló đầu
ra, không giấu kín được mũi dùi. Cũng vậy, ở đời người
tài ba, người có khả năng thoát khỏi sanh tử, dù có đúc,
đúc cũng không được. Thế nên chư Tổ hay nói dùi ở trong
đãy. “Cọp mạnh đói chừ chẳng liếc mồi.” Con cọp mạnh
đang đói thấy mồi không thèm ngó. Ý câu này muốn nói, tuy
các Thiền sư ẩn dật không làm gì để hiển lộ tài năng
và sức mạnh cho mọi người thấy, nhưng ở nơi các ngài
đã có sẵn sức sống mãnh liệt và tinh thần lợi tha không
giới hạn, cũng giống như con cọp đói tuy thấy mồi mà không
thèm nhìn, nhưng bản chất con cọp đó là cọp mạnh.
“Minh
châu há ngại chừ sóng gió, sắc chánh sá gì chừ tía hồng.”
Hạt minh châu để dưới đáy hồ, dầu có gió làm nước
dậy sóng chao động trên mặt hồ, hạt minh châu ở đáy hồ
vẫn nằm yên, không động lay, nó vẫn tỏa ánh sáng hoặc
trắng hoặc vàng..., không ngại màu pha trộn như màu tía màu
hồng... Vì nó là sắc chánh. Ý hai câu này nói người thật
có tài đức thật giác ngộ dù trú ẩn ở đâu, dù ở hoàn
cảnh nào, những chướng duyên không thể chi phối làm lay
chuyển được. Khả năng trí tuệ và đức hạnh của họ,
lúc nào cũng nguyên vẹn không bị phai mờ hay hao mất.
“Đến
đây rồi chừ sự lý toàn bày, cầm giữ buông bỏ chừ đâu
cần nghĩ ngợi. Trâu đá nửa đêm vào biển đông, càn ngã
san-hô trăng như nước.” Người tu mà nhận ra Thể chân thật
nơi mình rồi, tuy chưa ra làm việc lợi ích cho đời, nhưng
không còn mắc kẹt, không bị lu mờ. Vì đến đây sự lý
hiện bày rõ ràng không còn mờ mịt che giấu, ngang đó thì
cầm giữ hay buông bỏ không cần nghĩ ngợi. Giống như trâu
đá vào biển đông. Ngày xưa nói sắt biết nói, trâu đá
chạy là nói chuyện không đâu. Nhưng ngày nay người bằng
sắt bằng gỗ, lắp máy vào cũng nói cũng hát được, trâu
bằng gỗ bằng đá lắp máy vào cũng chạy được. Ở đây
Thượng Sĩ đề cập đến trâu đá là để nói, người tu
khi tới chỗ không còn thấy hai bên đối đãi là không còn
niệm phân biệt, song vẫn hằng giác hằng tri, có diệu dụng
không thể lường được. Giống như trâu đá tuy không tri
giác, nhưng ban đêm nó nhào xuống biển đông, làm ngã hết
những cây san-hô ở dưới biển. Và, thấy trăng cũng như
nước. Nước là cái mờ che đậy, trăng thì sáng soi. Khi lý
sự toàn bày rồi thì cái mờ cái sáng đều như nhau.
Tóm
lại, Thượng Sĩ bĩu môi tỏ thái độ không bằng lòng bởi
những lý do: Một là Thể chân thật từ xưa không có một
vật, thế mà giờ đây ngũ uẩn tụ hợp, bám chặt ngũ uẩn
cho là mình, nên mới có ta người, cao thấp, dài ngắn... rồi
tự chịu sanh già bệnh chết từ đời này tới đời kia.
Hai là cuộc đời từ con người cho đến muôn vật, thời
tiết tháng ngày đều ở trong vòng đối đãi sanh diệt vô
thường giả dối. Thế mà người đời cứ mải đắm đuối
kiếm tìm đuổi bắt. Đối với những sự việc này Thượng
Sĩ bĩu môi tỏ thái độ không bằng lòng. Vậy Ngài có lỗi
chê khen không? Và, chúng ta có thấy để bĩu môi như Ngài,
hay bằng lòng chấp nhận để chịu chung số phận, cho sanh
diệt vô thường chi phối hết kiếp này tới kiếp khác? Đối
với sự việc này Thượng Sĩ bĩu môi không bằng lòng, dứt
khoát sống đời ẩn dật, trước hết là làm lạnh tâm danh
lợi, sau làm người đồng tâm với Tổ Bồ-đề-đạt-ma,
làm người tri kỷ với Lục tổ Huệ Năng, chơi với nhà thơ
Đào Uyên Minh, chơi với những vị thanh thản như Triệu Châu.
Tuy sống ẩn dật, chớ đạo đức giác ngộ không thể che
giấu được, giống như ngón chân không cử động được
ở trong trong giày, nhưng không phải không có ngón chân, hay
như lò không đúc được dùi trong đãy, cọp mạnh đói mà
không thèm ăn mồi, minh châu không sợ sóng gió. Thượng Sĩ
thấy rõ kiếp người tạm bợ, cuộc đời giả dối không
thật, nên bĩu môi cười không chấp nhận. Ngài sống đời
ẩn dật nuôi dưỡng đạo tâm, khi sự lý hiện bày rõ ràng
thì không còn cầm giữ hay buông bỏ, không còn niệm hai bên
đối đãi thì sẽ được cái diệu dụng không thể nghĩ bàn.

|