|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
06-5
Muôn việc về như, Thói đời hư dối, Họa thơ quan
Huyện, Cảnh vật Tịnh Bang, Họa Thơ Hưng Trí Thượng Vị
Hầu
|
|
|
06-7
Lễ Thiền sư Tiêu Dao ở Phước Đường, Cảnh vật
Phước Đường, Tăng Pháp sư Thuần Nhất, Đùa Thiền Sư Trí
Viễn xem kinh giải nghĩa, Điệu Tiên Sư
Khuyên
đời vào đạo, Bảo chúng, Bảo chúng, Bảo học giả, Chợt
hứng
|
06-8
Cội tùng đáy khe, Xuất trần, Đạo lớn không khó,
Tâm vương, Thả trâu, Đề tịnh xá, Chợt hứng, Cây gậy,
Chiếu thân, Tự đề, Chợt tỉnh, Tự tại, Bảo học trò,
Bảo tu nghiệp Tây phương, Thoát đời, Vui thú giang hồ.
|
|
|
|
|
|
|
TUỆ TRUNG THƯỢNG
SĨ NGỮ LỤC GIẢNG GIẢI
Biên
Soạn: Trúc Lâm Tổ Sư (Trần Nhân Tông)
Dịch
và Giảng: Hoà ThượngThích Thanh Từ
Ban
Văn Hoá Trung Ương GHPGVN Xuất Bản 1996
TỤNG
CỔ
Giảng:
Tụng Cổ là những lời Phật dạy trong kinh, hay những lời
khai thị của các vị Cổ đức trong nhà Thiền, rất khó hiểu
khó hội. Thượng Sĩ đem ra tụng giải để cho người hiểu,
nên gọi là Tụng Cổ. Tụng Cổ không nhất thiết là lời
Phật dạy trong kinh, cũng không nhất thiết là lời của các
Thiền sư, có khi dẫn lời Phật dạy trong kinh, có lúc dẫn
lời khai thị của Thiền sư, cũng có khi dẫn lời của các
bậc Thánh nhân. Chúng ta học Tụng Cổ phải cẩn thận, đừng
để hiểu lầm. Lời đầu tiên để tụng, Thượng Sĩ dẫn
từ kinh Niết-bàn.
Dịch:
Cử:
Kinh Niết-bàn nói:
Các hạnh vô thường
Là pháp sanh diệt.
Thầy nói:
- Cái gì sanh diệt?
Tụng:
Các hạnh vô thường
Là pháp sanh diệt.
Ba cõi mưa mịt mù
Mười phương gió vi vút.
Phàm thánh chẳng ở chung
Rắn rồng không lẫn lộn.
Các hạnh vô thường tất cả không
Tâm sanh diệt kia ai hỏi đáp?
Nếu gặp lão Cồ-đàm thân cóng lạnh
Chưa khỏi ngang hông cho một đạp.
Chao!
Không thấy màu xuân ấm
Hay xem đào lý hoa.
Giảng:
Trong kinh Đại Bát Niết-bàn có bốn câu kệ:
Các hạnh vô thường
Là pháp sanh diệt
Sanh diệt diệt rồi
Tịch diệt là vui.
Bốn câu kệ này là gốc của bài Tụng Cổ và rất quan trọng
trong kinh Niết-bàn. Nhưng gây cho người sau nhiều nghi ngờ,
nên ở đây Thượng Sĩ dẫn ra tụng giải để cho chúng ta
hiểu. Trước khi giải lời tụng tôi dẫn một đoạn trong
kinh Pháp Bảo Đàn để quí vị hiểu phần căn bản:
Tăng Chí Đạo, người quê ở Nam Hải Quảng Châu đến tham
vấn, hỏi Lục Tổ:
- Học nhân từ khi xuất gia, xem kinh Niết- bàn hơn mười năm,
chưa rõ được đại ý, cúi mong Hòa thượng thương xót chỉ
dạy.
Tổ bảo:
- Chỗ nào ông chưa rõ?
- Các hạnh vô thường là pháp sanh diệt, sanh diệt diệt rồi,
tịch diệt là vui. Chỗ này con nghi ngờ.
- Ông nghi như thế nào?
- Tất cả chúng sanh đều có hai thân gọi là sắc thân và
Pháp thân. Sắc thân vô thường có sanh có diệt. Pháp thân
thường không tri không giác. Kinh nói: “Sanh diệt diệt rồi
tịch diệt là vui.” Chẳng biết thân nào tịch diệt, thân
nào thọ vui? Nếu là sắc thân, khi sắc thân tịch diệt, bốn
đại phân tán, toàn là khổ, khổ không thể nói vui; nếu
Pháp thân tịch diệt tức đồng cỏ cây gạch đá, ai sẽ
thọ vui?
Đây là cái nghi của ngài Chí Đạo, Ngài nêu lên hai vấn
đề. Con người có hai thân, sắc thân và Pháp thân. Sắc thân
là tướng sanh diệt vô thường. Nếu sắc thân tịch diệt
bốn đại rã tan thì lúc đó khổ. Vậy sự tịch diệt của
sắc thân không vui. Còn Pháp thân thì vô tri giác, đồng như
cỏ cây, khi tịch diệt cái gì biết vui? Tóm lại sắc thân
tịch diệt là khổ, Pháp thân tịch diệt vô tri, như vậy
vui chỗ nào? Ngài Chí Đạo nghi như thế nên bị Lục Tổ
quở:
- Ông là Thích tử sao tập theo ngoại đạo về đoạn kiến
và thường kiến mà luận nghị về pháp Tối thượng thừa.
Cứ theo lời ông nói, tức là ngoài sắc thân riêng có Pháp
thân, lìa sanh diệt để cầu tịch diệt, lại suy luận Niết-
bàn thường lạc nói có thân thọ dụng, đây là chấp lẫn
về sanh tử, đắm mê cái vui thế gian; nay ông nên biết Phật
vì tất cả người mê nhận thân năm uẩn hòa hợp làm thể
tướng của mình, phân biệt tất cả pháp cho là tướng ngoại
trần, ưa sanh ghét tử, niệm niệm đổi đời, không biết
là mộng huyễn hư giả, luống chịu luân hồi, lấy thường
lạc Niết-bàn đổi thành tướng khổ, trọn ngày tìm cầu.
Phật vì thương những người này, mới chỉ dạy Niết-bàn
chân lạc, trong sát-na không có tướng sanh, trong sát-na không
có tướng diệt, lại không có sanh diệt có thể diệt, ấy
là tịch diệt hiện tiền. Chính ngay khi hiện tiền cũng không
có cái lượng hiện tiền, mới gọi là thường lạc. Vui này
không có người thọ, cũng không có người chẳng thọ, há
có tên một thể năm dụng, huống là lại nói Niết-bàn ngăn
cấm các pháp khiến hằng chẳng sanh. Đây là ông chê Phật
hủy pháp.
Theo Lục Tổ thì sắc thân và Pháp thân không rời nhau, tịch
diệt và sanh diệt không rời nhau. Ngay nơi mỗi người có
cái tịch diệt là Niết-bàn thường lạc, mà chúng ta không
nhận được cái tịch diệt thường lạc đó, chỉ bám vào
cái thân sanh diệt, cho nên mới đem cái thường lạc của
Niết-bàn đổi thành tướng khổ sanh diệt, để rồi cứ
tìm cầu suốt đời. Đó là lầm lẫn, là cái bệnh lớn của
chúng ta. Ngay nơi mỗi chúng ta có cái không sanh không diệt,
nhận ra cái không sanh không diệt là thể nhập Niết- bàn
thường lạc, gọi là tịch diệt hiện tiền. Và ngay phút
giây hiện tiền cũng không khởi niệm hiện tiền, đó mới
là chân thật Niết-bàn. Cái vui Niết-bàn chân thật không
có người thọ cũng không có người chẳng thọ. Vì còn có
người thọ là còn năng còn sở đối đãi, không phải là
Niết-bàn chân thật. Cái vui Niết-bàn chân thật, không phải
là cái vui của cảm giác nơi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý
xúc chạm với trần cảnh; được thỏa mãn thì vui, không
thỏa mãn thì khổ; cái vui cái khổ đó là tướng vô thường
sanh diệt. Cái vui tịch diệt Niết-bàn là khi tâm không còn
một mảy may vọng niệm sanh diệt, chỉ là cái thể không
vọng động không sanh diệt nơi nội tâm. Cái vui này không
phải từ thân mà cũng không phải từ đâu đến, do hết niệm
sanh diệt, ngay nơi tâm thể không sanh diệt được vui. Hiểu
đoạn này chúng ta mới hiểu được phần Tụng Cổ mà Thượng
Sĩ nêu lên.
Kinh Niết-bàn nói:
Các hạnh vô thường
Là pháp sanh diệt.
Hạnh là hành động, là sanh hoạt của người hay của muôn
vật ở thế gian này. Song người và vật đều có tướng,
hễ có tướng là có sanh diệt nên vô thường. Hai câu đầu
chỉ cho người và muôn sự muôn vật ở thế gian đang ở
trong tướng sanh diệt thảy đều là vô thường.
Thượng Sĩ hỏi: “Cái gì sanh diệt?” Ngài hỏi câu này
muốn gợi cho chúng ta thấy tất cả pháp có hình tướng trong
cõi đời này đều sanh diệt. Nhưng muốn tìm cái không sanh
diệt phải tìm ngay trong tướng sanh diệt, vì ngoài tướng
sanh diệt, không thể tìm tướng không sanh khoâng dieät ñöôïc.
Chuùng ta khoâng theå noùi moïi söï moïi vaät do coù hình töôùng
sanh dieät laø voâ thöôøng, mà toàn thể đều là sanh diệt.
Vì trong cái sanh diệt đã có cái không sanh không diệt nên
Ngài mới đặt câu hỏi này:
Các hạnh vô thường
Là pháp sanh diệt.
Ba cõi mưa mịt mù
Mười phương gió vi vút.
Phàm thánh chẳng ở chung
Rắn rồng không lẫn lộn.
Nếu thấy các pháp là vô thường sanh diệt thì trong tam giới
này mưa mịt mù, mười phương gió vi vút, tức là mọi sự
mọi vật ở trong thế gian, cho đến ba cõi mười phương đều
ở trong cái sanh diệt. Nếu chúng ta thấy tất cả pháp đều
sanh diệt thì thấy phàm khác thánh khác không ở chung, thấy
rồng khác rắn khác không lẫn lộn. Nhưng sự thật, trong
thế gian này những chỗ hàng long tượng (rồng to) vẫn có
những con rắn ẩn núp trong đó. Những nơi chúng sanh phàm
tình ở, vẫn có các bậc thánh lẫn trong đó để giáo hóa.
Để thấy rằng nếu chúng ta giản trạch tất cả tướng,
tất cả hạnh là sanh diệt vô thường, tức là chúng ta không
thừa nhận trong cái sanh diệt có cái không sanh diệt, cho nên
Thượng Sĩ mới nói phàm thánh chẳng ở chung, rắn rồng không
lẫn lộn.
Các hạnh vô thường tất cả không,
Tâm sanh diệt kia, ai hỏi đáp?
Tất cả pháp là vô thường hoại diệt thì thành không, đã
thành không rồi thì ngay tâm sanh diệt cái gì hỏi cái gì
đáp? Thượng Sĩ nêu lên câu hỏi này, nhằm nhắc cho chúng
ta ý thức rằng ngay nơi tâm sanh diệt có cái không sanh diệt
biết hỏi biết đáp.
Nếu gặp lão Cồ-đàm thân cóng lạnh
Chưa khỏi ngang hông cho một đạp.
Chao!
Sao Thượng Sĩ nói ngang ngược như thế?
Nếu căn cứ trên hai câu này thì tất cả pháp sanh diệt giống
như ba cõi mưa mù mịt, mười phương gió vi vút. Như vậy
thì thân Phật cóng lạnh. Nếu thân Phật cóng lạnh thì không
còn giá trị, cho nên ngang hông cho một đạp té nhào, vì thân
sanh diệt là vô nghĩa.
Không thấy màu xuân ấm
Hay xem đào lý hoa.
Hoa đào hoa lý trổ vào mùa xuân, tuy chúng ta chưa thấy màu
xuân ấm mà thấy hoa đào hoa lý trổ thì biết là tiết xuân.
Ý Thượng Sĩ nói tuy chưa sống trong cảnh giới sanh diệt
diệt rồi tịch diệt là vui, nhưng ngay trong sanh diệt nhận
ra cái không sanh diệt đó là người đặc biệt. Nếu đợi
sanh diệt diệt rồi mới thấy thì muộn lắm. Vì vậy nên
Thượng Sĩ nói: “Không thấy màu xuân ấm, hay xem đào lý
hoa.” Đó là cái đặc biệt. Tôi thường ví dụ nước biển
nguyên là lặng, nhưng gió thổi sóng dấy lên, nhìn xuống
mặt biển chúng ta thấy từng đợt sóng từng đợt sóng dồn
dập. Người trí tuy thấy sóng biển đang dồn dập mà vẫn
biết nước biển vốn phẳng lặng. Vì họ đã thấy cái thể
lặng lẽ của nó. Cũng vậy, trong tất cả tướng sanh diệt
của các pháp, ngay đó biết có cái không sanh diệt mới là
người trí. Chớ đợi khi tướng sanh diệt diệt rồi mới
nhận ra cái tịch diệt thì kết quả ở sau.
Tóm lại, hai câu đầu bài tụng này nhắc lại ý của bài
tụng trong kinh Niết-bàn. Hai câu kế diễn tả tướng sanh
diệt thì mù mịt lạnh lẽo rất đau khổ. Hai câu kế tiếp
nói rằng nếu chúng ta tách rời tướng sanh diệt và thể
không sanh diệt thì cái nhìn của chúng ta không tường tận,
giống như thấy phàm khác thánh khác, rồng khác rắn khác.
Đó là cái thấy phân biệt đối đãi. Hai câu kế tiếp nữa
gợi lên ý cho người hiểu rằng: pháp vô thường thì bại
hoại thành không; đã thành không thì ngay nơi tâm sanh diệt
ai hỏi ai đáp? Tâm sanh diệt chợt có chợt không; nhưng nếu
có hỏi là có đáp, vậy cái gì có sẵn hễ hỏi là đáp
liền, hoặc gọi là dạ liền vậy? Cái sẵn đó có bị sanh
diệt không? Nếu nó bị sanh diệt thì khi nó diệt rồi thì
ai đáp? Thượng Sĩ chỉ cho chúng ta thấy ngay nơi cái sanh
diệt có cái không sanh diệt hằng hiện hữu. Hai câu kế nữa
nói rằng nếu tất cả các pháp là vô thường, thì thân tứ
đại
của Phật (báo thân) lạnh cóng cũng bị sanh diệt, vì vậy
mà không có giá trị, không phải là cứu kính. Cho nên Thượng
Sĩ nói “nếu gặp lão Cồ-đàm thân cóng lạnh, chưa khỏi
ngang hông cho một đạp”. Vậy đối với báo thân sanh diệt
của Phật chỉ là cái thân bỏ đi không có giá trị, Pháp
thân không sanh không diệt mới là cứu kính, có giá trị.
Hai câu sau cùng kết thúc: phải ngay nơi cái sanh diệt nhận
được cái không sanh diệt mới là người khéo, cũng như thấy
hoa đào hoa lý nở biết là tiết xuân vậy.
Dịch:
Cử:
Sanh diệt diệt rồi
Tịch diệt là vui.
Thầy nói:
- Uyên Minh châu mày làm gì?
Tụng:
Sanh diệt diệt rồi
Tịch diệt là vui.
Chim mỏi đậu khóm lau
Cá mệt dừng đáy nước.
Chẳng ngại thân nhuốm đau
Chỉ e tay chế thuốc.
Đừng đeo mang gánh nặng
Đi qua cầu một cây.
Đến nhà thôi thưa hỏi
Từ đâu lại sẩy chân.
Muôn một không được dừng
Như trước xem mưu lược.
Ối!
Nếu chẳng nhân mê bờ lau lách
Đi càn được đến suối Võ Lăng.
Giảng:
“Uyên Minh châu mày làm gì?” Bình thường thì hai chân mày
hở ra, nhưng khi chúng ta không bằng lòng bất mãn điều gì
thì hai chân mày nhíu lại gọi là châu mày. Uyên Minh là tên
người, gọi đủ là Đào Uyên Minh tức Đào Tiềm, một danh
sĩ đời Tấn. Khi nước Tấn mất về tay nhà Tống, ông từ
quan lui về vườn trồng cúc uống rượu ngâm thơ. Ông là
tác giả ca khúc Qui Khứ Lai Từ, được truyền tụng ở đời.
Trong đoạn Lư Sơn Ký có ghi ngài Tuệ Viễn ở Lư Sơn (Lô
Sơn) lập hội Bạch Liên Xã mời Uyên Minh vào hội, khi vào
hội ông châu mày, nghĩa là ông không bằng lòng. Thượng Sĩ
nói: Uyên Minh châu mày làm gì? Vì “sanh diệt diệt rồi tịch
diệt là vui”, tất cả là Niết-bàn chân lạc, còn có cái
gì bất mãn mà châu mày?
Mở đầu bài tụng này bằng hai câu “sanh diệt diệt rồi
tịch diệt là vui” là lập lại hai câu kệ trong kinh Niết-
bàn. Ở trước đã giảng rồi đây tôi không giảng lại.
“Chim mỏi đậu khóm lau, cá mệt dừng đáy nước.” Chim
bay mỏi cánh không bay nữa, nên đậu vào khóm lau để nghỉ.
Cá lội mệt không lội nữa, dừng lại tựa vào các hòn đá
hoặc là các gốc cây dưới đáy nước. Hình ảnh này nói
lên trạng thái sanh diệt diệt rồi, tịch diệt là vui, vì
lúc đó an lạc thoải mái.
“Chẳng ngại thân nhuốm đau, chỉ e tay chế thuốc.” Không
sợ thân bệnh hoạn, mà chỉ ngại cân thuốc mỏi tay. Thân
bệnh là nhân, cân thuốc là quả; vì có thân bệnh là nhân
mới có quả là cân thuốc để trị. Ý nói đa số chúng ta
chỉ biết nhìn cái quả mà không chịu thấy cái nhân. Cũng
như ngay trong cái sanh diệt đã có cái tịch diệt mà chúng
ta không thấy, đợi cái sanh diệt diệt rồi mới thấy tịch
diệt là vui. Thấy như vậy là chỉ thấy cái quả mà
không thấy cái nhân. Ý hai câu này phải khéo mới hiểu được,
bằng không thì thấy như lạc đề.
“Đừng đeo mang gánh nặng, đi qua cầu một cây. Đến nhà
thôi thưa hỏi, từ đâu lại sẩy chân.” Ngài dạy đừng
có gánh gánh nặng mà đi qua cây cầu khỉ (cầu có một cái
cây bắc qua sông, lạch, không có cây để vịn). Nếu gánh
nặng mà đi qua cầu khỉ thì sẽ té. Muốn khỏi té thì đừng
gánh nặng qua cầu. Ý nói chúng ta sống trong cõi đời này,
nhất là người tu đừng bám víu đeo mang pháp hữu vi sanh
diệt tạm bợ, nếu đeo mang bám víu pháp hữu vi sanh diệt
tạm bợ thì không được an ổn thảnh thơi, bị phiền não
bức ngặt. Vậy nên chúng ta buông tất cả cố chấp, từ
bỏ không đeo mang bất cứ một pháp nào thì trên đường
đạo mới được tự tại an bình. Giống như người về đến
nhà cứ bước vào nhà không còn lo sẩy chân trái bước. Sở
dĩ sợ té là vì còn đang đi trên đường, về tới nhà rồi
thì không còn sợ té nữa.
“Muôn một không được dừng, như trước xem mưu lược.”
Trong muôn phần mà một phần nhỏ của muôn phần cũng không
được dừng, mà phải thấy được cái mưu lược như trước.
Nghĩa là tất cả những gì mình đang quảy đang mang đi vào
đường đạo, đó là cái khó khăn hiểm nguy, dù một phần
nhỏ cũng phải bỏ, như vậy mới sử dụng được mưu lược
để thành công. Nhược bằng không được như thế thì thất
bại. Tôi lập lại lần nữa, nếu người tu còn bám chặt
còn cố thủ một cái gì thì không bao giờ đến được chỗ
cứu kính. Vì vậy nên nói muôn một không được dừng tất
cả đều phải buông, cho đến một phần trong muôn phần còn
lại cũng phải buông luôn nữa. Chúng ta tu, những điều đáng
buông đã buông được bao nhiêu rồi? Có điều nào tiếc để
dành lại không? Chắc có những điều buông hơi tiếc. Còn
giữ lại nên chưa thành đạo. Vậy, tất cả phải buông sạch.
“Ối! Nếu chẳng nhân mê bờ lau lách, đi càn được đến
suối Võ Lăng.” Hai câu thơ này lấy từ điển tích ở Trung
Hoa, vào đời Tấn có một người đi câu cá, vui bước đi
theo bờ lau cuối cùng gặp cái suối tên Võ Lăng. Khi tới
suối Võ Lăng thấy dân cư đông đúc, hỏi ra ông mới biết
là con cháu của những người từ một ngàn năm về trước,
tránh nạn bạo Tần vào ở đây, sống cách biệt hẳn với
người ở bên ngoài. Cảnh sống riêng biệt an nhàn của những
người này giống như cảnh tiên, họ không bận bịu buộc
ràng với người thế gian bên ngoài. Người câu cá nhờ say
mê đi, càng đi mãi trên bờ lau mới tới suối Võ Lăng. Nếu
ông dè dặt không dám đi thì khó mà đến được. Để thấy,
người tu biết tịch diệt là vui, muốn hưởng được cái
vui ấy thì phải càn rừng lướt bụi, trải qua bao nhiêu khó
cực, mà vẫn mải mê không chán không mệt thì, mới tới
được chỗ tịch diệt là vui của kinh Niết-bàn nói. Bài
tụng này cũng nhắc chúng ta tu để đến chỗ tịch diệt
là vui.
Dịch:
Cử:
Kinh Duy-ma nói:
Quán thật tướng của thân
Quán Phật cũng như vậy.
Thầy: Nở nụ cười.
Tụng:
Quán thật tướng của thân
Quán Phật cũng như vậy.
Tìm kim rơi đất
Ngửa mặt xem trời.
Xưa kia không tấc dạ
Ngày nay lỗi bời bời.
Không trói lại cầu trói
Không ràng lại đến ràng.
Cọp ngồi thật cọp ngồi
Rồng ngủ là rồng ngủ.
Muốn biết thân cùng Phật
Trồng ngó nẩy sen hồng.
Gương ngọc tròn vành lên góc biển
Chỉ nhân ấn mắt có đổi dời.
Giảng:
“Quán thật tướng của thân, quán Phật cũng như vậy.”
Đối với thân, mỗi người chúng ta phải quán cái gì là
thật tướng, cái gì là giả tướng. Vậy thân tứ đại này
là thật hay giả? Nếu nó giả, ai động tới có la không?
- Động tới liền la, nếu nói giả thì ai la? Chẳng lẽ cái
giả biết la. Ở đây Ngài dạy chúng ta quán thật tướng
của thân, phân tích để thấy thân này cái gì là tướng
giả, cái gì là tướng thật. Theo kinh Niết-bàn tướng giả
là chỉ cho sắc thân, tướng thật là chỉ cho Pháp thân, gọi
đó là thật tướng của thân. Vậy, thật tướng của thân
là Pháp thân của mỗi người. Và, quán thân Phật cũng giống
như vậy.
“Tìm kim rơi đất, ngửa mặt xem trời. Xưa kia không tấc
dạ, ngày nay lỗi bời bời.” Ý bốn câu này quá hay. Thượng
Sĩ nói chúng ta phải quán sát thân này cho thấy cái nào là
giả, để nhận ra cái thật. Chẳng khác nào cây kim rơi xuống
đất, chúng ta muốn tìm kim mà ngửa mặt lên trời để tìm,
làm sao thấy được? Tại sao? Vì cội nguồn “xưa kia không
tấc dạ” tức là không có một niệm dấy động mà bây
giờ bảo quán thì lỗi bời bời, vô số lỗi. Quán chiếu
thì phải khởi niệm phân tích để thấy tướng giả, càng
thêm rối rắm, vì Thể chân thật vốn lặng lẽ không chút
động niệm, mà bây giờ khởi động niệm để quán nên có
lỗi. Chúng ta muốn nhận ra Thể chân thật mà phải tìm trong
cái giả tạm, chẳng khác nào ngửa mặt lên trời để tìm
cây kim rơi ở dưới đất. Đó là chuyện không đâu. Thượng
Sĩ hơi trách pháp quán.
“Không trói lại cầu trói, không ràng lại đến ràng.”
Theo Thượng Sĩ thì cái chân thật thản nhiên tự tại, không
bị trói không bị buộc. Bây giờ bắt phải quán chiếu, chẳng
khác nào không trói lại cầu trói, không bị ràng buộc lại
chịu ràng buộc.
“Cọp ngồi thật cọp ngồi, rồng ngủ là rồng ngủ. Muốn
biết thân cùng Phật, trồng ngó nẩy sen hồng.” Mọi người
chúng ta đối với các pháp hiện tại như thế nào thì thấy
như thế ấy. Chẳng hạn cọp ngồi thì thấy là cọp ngồi,
rồng ngủ thì thấy là rồng ngủ, cần gì phải xét phải
quán chi cho nhọc. Vậy muốn biết thân mình và thân Phật
đồng nhau, phải thấy hoa sen trổ hồng gốc từ ngó sen mà
ra, có hoa sen nào trổ mà không từ ngó sen ở dưới bùn chui
lên đâu? Vậy thì thấy thân Phật là thân chân thật và,
báo thân Phật cũng như thân mình cũng có thân chân thật,
không cần phải quán thân Phật rồi đối chiếu lại thân
mình, hay quán thân mình rồi đối chiếu thân Phật, thêm dài
dòng. Đó là ý Thượng Sĩ không chấp nhận lối quán chiếu.
“Gương ngọc tròn vành lên góc biển, chỉ nhân ấn mắt
có đổi dời.” Mặt trời từ từ lên tỏa ánh sáng từ
phía biển đông, chỉ có một mặt trời thôi, nhưng nếu chúng
ta dụi mắt thì thấy vô số bóng mặt trời khác. Sở dĩ
chúng ta thấy nhiều bóng mặt trời khác như thế là tại
chúng ta dụi mắt. Kỳ thật chỉ có một mặt trời mọc lên
ở phía biển đông mà thôi. Thượng Sĩ nói nơi mỗi người
có sẵn Thể chân thật, chỉ cần buông hết mọi kiến chấp
mọi phân biệt thì Thể chân thật hiện tiền, không cần
phải quán chiếu so sánh mới thấy được. Giống như mặt
trời lên từ phía biển đông, chúng ta nhìn thì thấy mặt
trời là mặt trời, nhược bằng dụi mắt thì thấy nhiều
bóng mặt trời khác, đó là lỗi tại dụi mắt, chớ một
mặt trời vẫn là một mặt trời. Thượng Sĩ dạy chúng ta
tu phải thấy đúng như thật, sự việc như thế nào thấy
như thế ấy, đừng quán chiếu so sánh làm rối thêm không
có lợi.
Dịch:
Cử:
Kinh Hoa Nghiêm nói:
Tất cả pháp chẳng sanh
Tất cả pháp chẳng diệt
Nếu hay hiểu như thế
Chư Phật thường hiện tiền.
Thầy nói:
- Xem ! Xem!
Lại nói:
Lớn giọng bảo im
Bỏ bánh ăn bột.
Hét!
Tụng:
Đầu vàng (Phật) khua lưỡi gạt chúng sanh
Chốn chốn ngủ say, dạo một mình.
Chẳng quản đêm tàn còn mộng mị
Đinh, đông cửa phượng giục tàn canh.
Giảng:
Kinh Hoa Nghiêm nói: “Tất cả pháp chẳng sanh, tất cả pháp
chẳng diệt, nếu hay hiểu như thế, chư Phật thường hiện
tiền.” Đức Phật nói: Tất cả pháp không sanh, tất cả
pháp không diệt, nếu chúng ta hằng thấy như vậy thì Phật
thường hiện tiền ở nơi ta. Thượng Sĩ nói: “Xem! Xem!”
Xem! Xem! Để chi? Thấy chư Phật hiện tiền không? Nếu
chư Phật hiện tiền thì cứ nhìn sẽ thấy.
“Lớn giọng bảo im, bỏ bánh ăn bột.” Ở đây nói tất
cả pháp chẳng sanh tất cả pháp chẳng diệt; vậy pháp chẳng
sanh pháp chẳng diệt là pháp ở ngoài hay ở nơi mình? Nếu
thấy tất cả pháp chẳng sanh tất cả pháp chẳng diệt hay
hiểu như thế chư Phật thường hiện tiền, mà thấy ở bên
ngoài thì chẳng khác nào chúng ta bảo người khác đừng nói
chuyện mà mình lớn tiếng la lên: “Im, đừng nói chuyện!”
Bảo người đừng nói chuyện mà mình lại la to. Giống như
muốn ăn bánh mà bỏ bánh lấy bột. Ý Ngài nói, tại sao chúng
ta không thấy mình là chẳng sanh chẳng diệt, mà phải thấy
tất cả pháp chẳng sanh chẳng diệt, mới thấy được Phật
hiện tiền? Nếu tâm mình chẳng sanh chẳng diệt thì Phật
hiện tiền nơi mình, đâu có xa. Ngài cho rằng thấy các pháp
chẳng sanh chẳng diệt như vậy là quanh co. Đó là bỏ cái
này để cầu cái kia.
“Đầu vàng khua lưỡi gạt chúng sanh, chốn chốn ngủ say,
dạo một mình.” Đầu vàng là chỉ cho đức Phật, khua lưỡi
gạt chúng sanh là lời Phật nói trong kinh gạt chúng ta. Gạt
như thế nào? Vì chúng sanh còn đang say mê, Phật dạy quán
tất cả pháp chẳng sanh, tất cả pháp chẳng diệt. Như vậy,
bảo họ quán là chỉ cho họ còn những cái say mê, nên nói
chốn chốn ngủ say dạo một mình. Ai dạo? Thiên hạ thì đang
ngủ say còn Phật thì đi có một mình thành ra Ngài đánh lừa
mình đi một cách tự do.
“Chẳng quản đêm tàn còn mộng mị, đinh, đông cửa phượng
giục tàn canh.” Đêm đã mãn rồi mà vẫn còn mê ngủ, tiếng
kiểng ở đền vua báo sáng rồi mà vẫn còn nằm ngủ. Ý
nói Phật nói tất cả chẳng sanh tất cả chẳng diệt, nếu
hay hiểu như thế, chư Phật thường hiện tiền, đó là Phật
nói lừa chúng ta. Thượng Sĩ nói nếu tâm chẳng sanh chẳng
diệt thì ngay đó là Phật rồi, cần gì phải thấy các pháp
chẳng sanh chẳng diệt chi cho lòng vòng. Nhưng, sở dĩ Phật
nói như thế, vì chúng sanh mê chấp các pháp là sanh là diệt,
nên Ngài dạy đừng chấp các pháp. Đa số chúng ta thấy các
pháp không sanh không diệt là thấy Phật hiện tiền, tức
là thấy Phật ở ngoài mình, sự thật thì Phật hiển hiện
nơi tự tâm mình, thế nên Thượng Sĩ nói Phật khua lưỡi
gạt chúng sanh. Tại sao Phật gạt chúng sanh? Vì chúng sanh
đang mê ngủ, mặc dù đã tàn canh, tiếng kiểng đánh thức
mà vẫn cứ ngủ. Chỉ có một mình Phật là người tỉnh
mới dùng phương tiện đánh lừa bảo phải thấy tất cả
pháp không sanh không diệt là thấy Phật hiện tiền, tức
là nhận ra Phật ngay nơi mình.
Dịch:
Cử:
Tăng hỏi Thiền sư Vạn Tuế: Đại chúng nhóm họp, cùng bàn
việc gì? Sư đáp: Phẩm tựa thứ nhất.
Thầy nói:
- Thứ nhì cũng được.
Tụng:
Nói phẩm tựa thứ nhất
Trên dưới không đồng bậc.
Người trí không thật hư
Kẻ mê sanh được mất.
Ngöôøi goã muùa thaùc chi
Gaùi ñaù thoåi taát laät.
Muốn tìm rõ ý này
Bát-nhã ba-la-mật.
Giảng:
Ở Trung Hoa cũng như ở Việt Nam đối với các bậc đức
cao đạo cả, để tỏ lòng tôn kính, chúng ta không dám gọi
pháp hiệu của các Ngài mà chỉ gọi tên chùa. Ví dụ Hòa
thượng ở chùa Phước Hậu thì gọi Hòa thượng Phước Hậu.
Cũng vậy, Vạn Tuế là tên ngôi chùa ở núi Cửu Tuyên, Phước
Châu, tỉnh Phước Kiến Trung Hoa. Đời nhà Lương, Thiền sư
Huệ Cầu trụ trì tại đây nên người đời gọi Ngài là
Thiền sư Vạn Tuế.
Tăng hỏi Thiền sư Vạn Tuế: “Đại chúng nhóm họp, cùng
bàn việc gì?” Sư đáp: “Phẩm tựa thứ nhất.” Thượng
Sĩ nói: “Thứ nhì cũng được.” Tại sao Thượng Sĩ nói
vậy? Vì có thứ nhất thì có thứ nhì đối đãi nhau. Cho
nên: “Nói phẩm tựa thứ nhất, trên dưới không đồng bậc.”
Tức là có trên có dưới, có thứ nhất có thứ hai có thứ
ba... có phân biệt sai khác.
“Người trí không thật hư, kẻ mê sanh được mất.” Người
trí thấy không thật không hư thì nói gì có một, có hai,
có ba... Kẻ mê thấy có được có mất hai bên đối đãi,
nên mới thấy có phẩm này phẩm nọ.
“Người gỗ múa thác chi, gái đá thổi tất lật.” Thác
chi là điệu múa; điệu múa này trang bị bằng hai hoa sen lớn
bằng giấy, hai cô gái đứng trong hoa sen, tới giờ múa hai
hoa sen nở ra, hai cô gái đứng trong hoa sen múa. Tất lật là
một loại kèn, thổi lên âm thanh nghe rất buồn thảm. Hai
câu này ý nói khi chúng ta không còn phân biệt đây là đệ
nhất kia là đệ nhị, hoặc đây thật kia hư thì lúc đó
giống như người gỗ, giống như gái đá. Người gỗ gái
đá không có niệm phân biệt, nhưng vũ múa thổi kèn được.
Đó là diệu dụng không thể nghĩ lường của người vô niệm,
không còn thức phân biệt. “Muốn tìm rõ ý này, Bát- nhã
ba-la-mật.” Người nào muốn tìm hiểu tột cùng chỗ này
là Bát-nhã ba-la-mật. Chỗ đó là chỗ vô phân biệt, là chỗ
vô niệm.
Dịch:
Cử:
Tăng hỏi Thiền sư Cảnh Sầm ở Trường Sa: “Con trùn chặt
làm hai đoạn, đoạn nào cũng cử động, vậy Phật tánh ở
đoạn nào?” Trường Sa đáp: “Động cùng chẳng động là
cảnh giới gì?”
Thầy nói:
Hai bên không động,
Động ở bên ông.
Tụng:
Con trùn chặt đứt làm hai khúc
Mỗi khúc lăng quăng, có ai biết.
Hỏi ra Phật tánh toàn khó thay
Cô phụ phanh lòng giấu sáu rùa.
Giảng:
Có một Thiền khách đến hỏi Thiền sư Trường Sa Cảnh Sầm:
Con trùn chặt làm hai đoạn, đoạn nào cũng cử động lăng
quăng. Vậy lúc đó Phật tánh ở đầu nào? Phật tánh là
cái biết, có động tức là có biết, hai bên đều động,
vậy Phật tánh ở bên nào? Câu hỏi này thật khó trả lời,
thế mà Thiền sư Trường Sa Cảnh Sầm đáp: “Động cùng
chẳng động là cảnh giới gì?”
Thiền sư Trường Sa là đệ tử của Thiền sư Nam Tuyền,
ban đầu Ngài trụ trì ở chùa Lộc Uyển rồi tùy duyên giáo
hóa không nhất định. Về sau Ngài trụ trên núi Trường Sa
ở Hồ Nam, giáo hóa đồ chúng rất hưng thạnh. Người đương
thời gọi Ngài là Hòa thượng Trường Sa.
Ngưỡng Sơn đến hỏi:
- Mỗi người trọn có việc ấy chỉ là dùng không được.
Ngài bảo:
- Mời ông dùng.
- Làm sao dùng?
Ngài liền đạp Ngưỡng Sơn té nhào. Ngưỡng Sơn nói:
- Thật là con cọp to.
Qua lối khai ngộ này chúng ta thấy Ngài quá đặc biệt, thuộc
hạng người bạo, Ngài mời Ngưỡng Sơn dùng mà Ngưỡng Sơn
không biết dùng, Ngài liền dùng bằng cách đạp Ngưỡng Sơn
một đạp té nhào. Không bạo là gì? Và, Ngưỡng Sơn cũng
là tay cự phách, bị ăn đạp té nhào, liền nói “thật là
con cọp to”. Người đời sau gọi Ngài là Sầm Đại Trùng.
Chúng ta thấy lối đối đáp của Ngài quá kỳ đặc. Con trùn
đứt làm hai, bên nào cũng giãy giụa, hỏi Phật tánh ở bên
nào, Ngài đáp bằng câu hỏi: “Động cùng chẳng động là
cảnh giới gì?” Có phải ông nghĩ cái động là Phật tánh,
còn cái không động là không Phật tánh chăng? - Động cùng
không động đâu ngoài Phật tánh, sanh diệt và tịch diệt
không ngoài Phật tánh. Đa số chúng ta đều nghĩ Phật tánh
chỉ là cái cục cựa nhúc nhích, không ngờ Phật tánh trùm
tất cả, nên mới hỏi Phật tánh ở đầu nào? Đây là lối
trả lời khéo của Ngài.
Thiền sư Trường Sa trả lời như thế, còn Thượng Sĩ thì
nói: “Hai bên không động, động ở bên ông.” Nghĩa là
hai khúc trùn đứt giãy giụa tự nó không động, tại người
khởi niệm hỏi nên người đó động. Cũng giống như gió
và phướn tự nó không động, mà động ở nơi tâm người
khởi niệm tranh cãi gió động hay là phướn động. Thượng
Sĩ làm tụng:
Con trùn chặt đứt làm hai khúc
Mỗi khúc lăng quăng, có ai biết.
Hai câu này rất dễ hiểu tôi không giảng.
Hỏi ra Phật tánh toàn khó thay
Cô phụ phanh lòng giấu sáu rùa.
“Phanh lòng” là mổ bụng. “Giấu sáu rùa”, từ ngữ này
lấy từ điển tích Phật dạy tu sĩ đối với sáu trần nên
giống như con rùa. Thường khi dã can gặp rùa, nếu dã can
cắn cái đầu thì rùa thụt đầu vào cái mai, nếu dã can
cắn chân thì rùa rút chân vào cái mai... Như vậy thì dã can
không hại được rùa. Cũng vậy, người tu chúng ta sáu căn
vừa chạy theo sáu trần thì phải dừng lại, không để cho
sáu căn dính với sáu trần thì được bình an giải thoát.
Nếu để sáu căn chạy theo sáu trần thì bất an đau khổ.
“Cô phụ phanh lòng giấu sáu rùa” là cô phụ người mổ
bụng mình để giấu sáu bộ phận con rùa vào trong, tức là
cô phụ lời Phật dạy. Vậy, muốn nhận ra Phật tánh, đừng
có chạy theo tướng động và tịnh, mà phải biết hướng
sáu căn trở vào, không chạy theo trần cảnh bên ngoài thì
không cô phụ lời Phật dạy, còn nếu để sáu căn chạy
theo sáu trần thì cô phụ lời Phật dạy.
Dịch:
Cử:
Thiền sư Tùng Thẩm ở Triệu Châu. Có vị Tăng vẽ bức chân
dung của Sư đem đến trình. Sư bảo: Hãy nói giống tôi không
giống tôi? Nếu giống tôi thì đánh chết lão Tăng đi. Nếu
không giống tôi thì đốt quách bức họa đi. Vị Tăng lặng
câm.
Thầy nói:
- Đều là phí công.
Tụng:
Mũi nhọn bút lông khuôn giấy báu
Thầm vẽ như nhiên thân bản lai.
Dù cho đánh chết, đem thiêu rụi
Thượng giới trần gian có mấy ai.
Giảng:
Một vị Tăng vẽ chân dung ngài Triệu Châu đem đến trình.
Ngài bảo, hãy nói giống Ngài hay không giống Ngài, nếu giống
Ngài thì đánh chết Ngài đi, nếu không giống Ngài thì đốt
quách bức họa. Vị Tăng không trả lời được. Thượng Sĩ
nói, đều là phí công. Tại sao Ngài nói như thế? Vì nói
đốt hay nói giết cũng đều là nói hai bên chỉ uổng công
thôi.
“Mũi nhọn bút lông khuôn giấy báu, thầm vẽ như nhiên thân
bản lai.” Thường họa sĩ dùng bút lông mũi nhọn vẽ hình
người trên giấy gọi là tả chân (chân dung). Song, muốn vẽ
cho ra cái chân thật chẳng có mấy người dù trên thượng
giới hay dưới trần gian, thấy cái chân thật không qua hình
thức vẽ hay tướng mạo, thật là ít có. Cho nên Ngài nói
“dù cho đánh chết đem thiêu rụi”. Đánh chết thân tứ
đại này hay thiêu rụi bức họa đều là giả tướng, còn
thân chân thật như nhiên chẳng mấy người nhận được.
Ý Thượng Sĩ nói dù cho thân tứ đại này hay bức họa cả
hai đều là giả tướng, chỉ có thân chân thật như nhiên
của mình mới là quí, nhưng ít người biết được.
Dịch:
Cử:
Qui Sơn gói một tấm gương gởi Ngưỡng Sơn. Ngưỡng Sơn
thượng đường đưa lên bảo: “Hãy nói, đây là gương Qui
Sơn, là gương Ngưỡng Sơn? Có người nói được thì không
đập bể.” Chúng không nói được. Ngưỡng Sơn đập nát
tấm gương.
Thầy nói:
- Chưa khỏi cái họa Qui Sơn.
Lại tiếp:
- Theo hạnh nhỏ mà bỏ thừa lớn.
Tụng:
Gương báu gói niêm mặt hướng tiền
Đưa lên đẹp xấu tự hiện nguyên.
Đập đi nỡ phụ ý nung nấu
Chỉ nhận sáng trong treo tự nhiên.
Giảng:
Ngài Ngưỡng Sơn được thầy là Thiền sư Qui Sơn gởi cho
tấm gương; gởi gương là ngầm ý truyền trao hay thọ ký.
Khi nhận tấm gương Ngài đối trước chúng nói: “Gương
này là của Qui Sơn hay của Ngưỡng Sơn? Có người nói được
thì để, nói không được thì đập.” Bây giờ quí vị nói
coi! Nói của Qui Sơn hay của Ngưỡng Sơn cũng là lối nói
hai bên, nên không ai mở miệng được. Thế nên Thượng Sĩ
bình: “Chưa khỏi cái họa Qui Sơn.” Họa Qui Sơn là họa
gì? - Dù cho đem cái gương đập đi cũng không khỏi họa,
đó là việc truyền trao hay thọ ký của Qui Sơn.
Lại tiếp: “Theo hạnh nhỏ mà bỏ thừa lớn.” Ngài Ngưỡng
Sơn nêu lên cho mọi người thấy để ngộ, mà trong chúng
không ai ngộ, đó là Ngài nghĩ cái nhỏ mà bỏ cái lớn, vì
sự truyền thừa là việc lớn. Thế nên Thượng Sĩ làm tụng:
Gương báu gói niêm mặt hướng tiền
Đưa lên đẹp xấu tự hiện nguyện.
Đập đi nỡ phụ ý nung nấu
Chỉ nhận sáng trong treo tự nhiên.
Ý Thượng Sĩ nói gương báu gói lại để mặt gương hướng
ra trước, đưa cái gương lên mọi vật hiện trong gương rõ
ràng, vật đẹp hiện đẹp, vật xấu hiện xấu không sai
lệch. Gương này biểu trưng cho Đại viên cảnh trí, nếu
đem gương đập đi là phụ công nung nấu của thầy tổ, đã
bao nhiêu năm rèn luyện cho mình, nên đập bỏ không đành.
Cứ tự nhiên nhận đi rồi treo cho sáng không hơn sao? Tâm
thể chân thật của mỗi chúng ta cũng giống như cái gương
không có niệm phân biệt, nhưng đối trước mọi người mọi
vật, thấy biết rõ ràng đúng như thật.
Dịch:
Cử:
Lão Tử nói: Vinh nhục đều sợ.
Niêm:
Tay khéo vẽ nên ngàn sự vật
Tâm này nẩy nở muôn mối sầu.
Tụng:
Lạnh thì mặc áo, nực cởi ra
Không lạnh không nực, ai biết mà.
Chỉ xem liễu ngự hoa cung sắc
Đâu chỉ tìm xuân bỏ bốn mùa.
Giảng:
Lão Tử nói gọn có bốn chữ “vinh nhục đều sợ”. Người
ta tán tụng mình như thế nào là vinh? Người ta phỉ báng
mình như thế nào là nhục? Xưa Lão Tử sợ cả vinh lẫn nhục,
bây giờ chúng ta chỉ sợ thiên hạ phỉ báng, còn tán tụng
thì rất thích. Sở dĩ Lão Tử sợ cả vinh lẫn nhục là vì
cả hai đều đưa con người đến tâm bệnh. Được tán tụng
thì con người khởi tâm ngã mạn, bị làm nhục thì khởi
tâm sân hận, bị cái nào cũng bệnh, nên cả hai đều đáng
sợ, vì thế mà Thượng Sĩ niêm: “Tay khéo vẽ nên ngàn sự
vật, tâm này nẩy nở muôn mối sầu.” Nếu tay chúng ta khéo
vẽ ra hàng ngàn bức ảnh đẹp hoặc làm ra hàng ngàn vật
dùng tốt, đều do từ tâm dấy khởi nên sanh ra muôn mối
sầu, đủ thứ bệnh.
“Lạnh thì mặc áo, nực cởi ra, không lạnh không nực ai
biết mà.” Nếu lạnh thì mặc áo, nếu nóng thì cởi áo,
đó là lẽ đương nhiên, lạnh nực ngầm nói đến vinh nhục.
Theo Thượng Sĩ sống là tùy duyên, vinh thì sống theo vinh,
nhục thì sống theo nhục có gì mà phải sợ! Không lạnh không
nực lúc đó thế nào? “Chỉ xem liễu ngự hoa cung sắc”,
câu này dẫn ý từ hai câu thơ của Hàn Duy đề bên thành
tây: “Ngự liễu sơ trường giá cẩu trĩ, cung hoa vị thức
hãi du nhân” nghĩa là cành liễu ở vườn ngự mới già che
con chim trĩ, hoa ở trong cung chưa thức làm du khách sợ hãi.
Ý nói chúng ta chỉ nhìn vẻ đẹp của cây liễu trong vườn
ngự, và chỉ nhìn sắc đẹp của đóa hoa trong cung vua thì
không có lâm vào tình huống “đâu chỉ tìm xuân bỏ bốn
mùa”. Nghĩa là thời tiết có xuân, hạ, thu, đông, chúng
ta không thể chấp nhận có mùa xuân mà phủ nhận mùa hạ,
mùa thu, mùa đông. Theo Thượng Sĩ thì người tu hiểu đạo
lúc nào thấy cảnh cũng đẹp, chớ không phải cảnh chỉ
đẹp ở mùa xuân mà mùa hạ, mùa thu, mùa đông cảnh không
đẹp.
Ý Ngài dạy chúng ta đừng có tâm mong cầu, tìm cái này bỏ
cái kia. Đối với người tu, sự vinh nhục không có gì phải
sợ, nếu không khởi niệm phân biệt tốt xấu, vinh nhục
thì tâm trong sáng bình lặng, tâm đã trong sáng bình lặng
thì đâu còn sợ cái gì.
Dịch:
Cử:
Thiền sư Lâm Tế đến thăm chủ tháp. Chủ tháp hỏi: “Lễ
Phật trước hay lễ Tổ trước?” Lâm Tế đáp: “Tổ Phật
đều chẳng lễ.” Chủ tháp hỏi: “Tổ Phật cùng Trưởng
lão có oán thù gì mà chẳng lễ?” Lâm Tế liền phủi áo
đi ra.
Thầy nói:
Được cỡi đầu cọp
Chẳng vuốt râu hùm.
Tụng:
Một lần phủi áo thong thả đi
Chủ tháp trợn trừng chẳng liễu tri.
Phật, Tổ cùng đều không lễ
Thu quang khe sáng ngọc rạng ngời.
Giảng:
Thiền sư Lâm Tế đến viếng một cái tháp to, người giữ
tháp ra tiếp Ngài, hỏi: “Lễ Phật trước hay lễ Tổ trước?”
Nếu là chúng ta thì trả lời “vô lễ Tổ rồi lên lễ Phật”.
Nhưng ngài Lâm Tế nói: “Tổ Phật đều chẳng lễ.” Nghe
Ngài nói ngang ngược quá, nên chủ tháp nói: “Tổ Phật cùng
Trưởng lão có oán thù gì mà chẳng lễ?” Ngài Lâm Tế phủi
áo đi ra. Như thế là sao? - Trong nhà Thiền còn thấy Phật
khác Tổ khác là chưa thấy đến nơi đến chốn, Ngài khai
thị ông chủ tháp nên nói “Tổ Phật đều chẳng lễ”.
Ông chủ tháp nghe chẳng hội, mà còn khó chịu hỏi lại:
“Tổ Phật cùng Trưởng lão có oan gia gì mà chẳng lễ?”
Khai thị cho, chẳng hội mà còn khó chịu thì phủi áo đi
chớ còn nói gì nữa? Thế nên Thượng Sĩ nói “được cỡi
đầu cọp chẳng vuốt râu hùm”. Ngài ví lời nói không kẹt
hai bên của ngài Lâm Tế khai ngộ cho chủ tháp là cỡi đầu
cọp, nhưng chủ tháp không hội, ngài Lâm Tế không làm sao
cho chủ tháp thức tỉnh được, bỏ đi, nên nói chẳng vuốt
râu hùm. Tức là cỡi đầu được mà chưa vuốt râu được.
“Một lần phủi áo, thong thả đi, chủ tháp trợn trừng
chẳng liễu tri.” Ngài Lâm Tế phủi áo đi một cách thong
dong tự tại, còn chủ tháp thì bực tức nhìn theo chẳng hiểu
gì ý của Ngài chỉ dạy. “Phật, Tổ rốt cùng đều không
lễ, thu quang khe sáng ngọc rạng ngời.” Không lễ Tổ, không
lễ Phật ví như ánh sáng mùa thu rọi xuống dưới khe nước,
nhìn xuống khe như có hòn ngọc rạng ngời. Nói không lễ
Tổ không lễ Phật là nói đến tâm thanh tịnh sáng suốt
giống như ngọc quí, mà ông chủ tháp không biết, không nhận
ra.
Dịch:
Cử:
Trần Tôn Túc hỏi vị Tăng: Ở đâu đến? Vị Tăng trợn
mắt nhìn Sư. Sư nói:
Kẻ lừa trước ngựa sau
Nói thử một câu xem?
Vị Tăng lặng câm.
Tụng:
Ngựa sau lừa trước chớ ngược ngang
Lừa đá ngựa giày lại thế nào?
Đêm trước trong mơ người ướm hỏi
Hai thây chôn dưới một mồ sâu.
Giảng:
Ông
Tăng này tỏ ra oai, được hỏi ở đâu đến chỉ trừng mắt
nhìn lại mà không trả lời. Nếu không phải là Thiền sư
chánh hiệu thì cho ông Tăng này ngộ rồi, nên mới có thái
độ kỳ đặc như thế. Nhưng ngài Trần Tôn Túc là một Thiền
sư chánh hiệu biết rõ người, nên hỏi: “Kẻ lừa trước
ngựa sau, nói thử một câu xem?” Vị Tăng không trả lời
được nên làm thinh. Như vậy là bị Ngài phá vỡ. Trần Tôn
Túc chỗ khác gọi là Trần Bồ Hài, hiệu Đạo Minh, thủ
tọa của hội Hoàng Bá, là sư huynh của Thiền sư Lâm Tế.
Ngài
Trần Tôn Túc nói “lừa trước ngựa sau”, bây giờ Thượng
Sĩ nói: “Lừa sau ngựa trước chớ ngược ngang, lừa đá
ngựa giày lại thế nào?” Tăng bị hỏi một câu, trả lời
không trôi, làm sao đây? “Đêm trước trong mơ người ướm
hỏi, hai thây chôn dưới một mồ sâu.” Ý nói vị Tăng này
giống như người mơ bắt chước. Thấy các Thiền sư có khi
trừng mắt có khi làm thinh, tưởng đâu làm như thế là hay
nên bắt chước, nhưng rốt cuộc rồi thì “hai thây chôn
dưới một mồ sâu”. Hai thây là thây trợn mắt, thây lặng
câm nói không được, nên chôn dưới mồ sâu. Đây là chỉ
cho người dốt mà làm cao tưởng như mình giỏi lắm, không
ngờ bị các Ngài bẻ lại, điên đầu đáp không được.
Dịch:
Cử:
Thiền
sư Cảnh Thông về sau trụ trì ở Hoắc Sơn có cư sĩ đến
hỏi: “Thế nào là đại ý Phật pháp?” Sư liền lễ bái.
Cư sĩ nói: “Hòa thượng vì sao lễ người thế tục?” Sư
nói: “Ngươi chẳng nghe nói tôn trọng đệ tử sao?”
Thầy
nói:
Vâng,
dạ và ừ
Cách
nhau bao nhiêu?
Lại
Cảnh Thông hỏi vị Tăng: “Từ đâu đến?” Vị Tăng đưa
tọa cụ lên. Sư nói: “Đầu rồng đuôi rắn.”
Thầy
nói: “Bóng trăng không phải là sanh kế một nhà.”
Lại
vị Tăng hỏi Cảnh Thông: “Thế nào là Phật?” Sư liền
đánh. Vị Tăng đánh lại. Sư nói: “Ông đánh ta có đạo
lý, ta đánh ông không đạo lý.” Vị Tăng lặng câm. Sư liền
đuổi ra.
Thầy
nói:
Một
bên dùng bạo binh, sẽ vô nghĩa vậy,
Một
bên đem gà bẫy chồn, chó con chạm cọp.
Tụng:
Tướng
quân ba trận chẳng thành công
Hoàng
đế lệnh truyền sáu nước xong.
Vừa
buông ngàn giáo trận chiến dứt
Lại
nghe muôn ngựa tiếng thu vang.
Giảng:
Ngài
Cảnh Thông là đệ tử của Thiền sư Ngưỡng Sơn. Một hôm
Ngài đến tham vấn, Thiền sư Ngưỡng Sơn ngồi nhắm mắt.
Sư nói:
-
Như thế, như thế! Hai mươi tám vị Tổ ở Tây thiên cũng
như thế! Sáu vị Tổ ở Trung Hoa cũng như thế! Hòa thượng
cũng như thế! Cảnh Thông cũng như thế!
Nói
xong, Ngài đến bên phải đứng một chân, Thiền sư Ngưỡng
Sơn đứng dậy lấy gậy mây đánh cho bốn gậy. Nhân đây,
Ngài tự xưng Tập Vân Phong Hạ Tứ Đằng Điều Thiên Hạ
Đại Thiền Phật.
Có
một lần Ngài đến Thiền sư Bí Ma (Bí Ma có cây gậy trên
đầu gậy có cái nạng. Thiền khách đến tham vấn, Bí Ma
lấy gậy đè cổ, Thiền khách nói được hay không được
cũng đều bị ông đập, thành ra ai cũng ngán) trụ trên ngọn
núi ở Ngũ Đài Sơn. Bí Ma thấy Ngài liền nói:
-
Ma quỉ nào dạy ông đi xuất gia? Ma quỉ nào dạy ông đi hành
cước? Nói không được cũng bị nạng đập chết, nói được
cũng bị nạng đập chết. Nói mau! Nói mau!
Ngài
Cảnh Thông nhảy vào lòng Bí Ma ngồi, Bí Ma vỗ vào lưng Cảnh
Thông ba cái. Cảnh Thông chạy ra nói:
-
Lừa dối tôi cách ba chục ngàn dặm.
Đó
là cái kỳ đặc của ngài Cảnh Thông. Vì thế mà Thiền tông
đời Tống gọi Ngài và Trí Thông là hai Đại Thiền Phật.
- Ngài Trí Thông ở trong hội Thiền sư Trí Thường, bỗng
một hôm, giữa đêm Ngài la lên: “Tôi ngộ rồi! Tôi ngộ
rồi!” Hôm sau Thiền sư Trí Thường gọi lên hỏi: “Hôm
qua ông nói ông ngộ là ông ngộ cái gì?” Ngài đáp: “Ni
cô nguyên là cô gái.” Thiền sư Trí Thường gật đầu. Vì
lý do đó mà ngài Trí Thông có biệt hiệu là Đại Thiền
Phật. -Ngài Cảnh Thông có phong độ mà người đời không
lường nổi. Khi Ngài trụ ở Hoắc Sơn có cư sĩ đến hỏi:
“Thế nào là đại ý Phật pháp?” Ngài không nói gì hết,
sụp xuống lạy cư sĩ. Cư sĩ thắc mắc hỏi: “Hòa thượng
vì sao lễ bái người thế tục?” Ngài nói: “Ngươi chẳng
nghe nói tôn trọng đệ tử sao?” Câu nói của Ngài là câu
nói qua lề. Nếu là Thiền sư Hoàng Bá thì đánh bằng gậy.
Thay vì đánh bằng gậy thì Ngài lạy. Đó là cái đặc biệt
của Ngài. Ông cư sĩ không lãnh hội được ý chỉ, tưởng
Ngài lạy ông, nên ông hoảng sợ, hỏi lại: “Hòa thượng
vì sao lễ bái người thế tục?” Hỏi thì Ngài đáp: “Ngươi
chẳng nghe nói tôn trọng đệ tử sao?” Kỳ thật cái lạy
của Ngài không mang ý nghĩa tôn trọng đệ tử, mà có ý nghĩa
như tôi đã nói ở trên.
Thượng
Sĩ bình: “Vâng, dạ và ừ, cách nhau bao nhiêu?” Vâng, dạ
và ừ là ba từ cùng một ý nghĩa. Nhưng, thông thường người
đời thích đáp vâng hay dạ chớ không thích đáp ừ. Vì vâng,
dạ thì cung kính, còn ừ thì ngang ngược. Ý Thượng Sĩ nói
cung kính và ngang ngược cách nhau bao nhiêu? Cũng như đứng
thẳng người hay lễ bái chỉ là hình tướng tạm bợ thôi.
Cảnh
Thông hỏi vị Tăng: “Từ đâu đến?” Vị Tăng đưa tọa
cụ lên. Sư nói: “Đầu rồng đuôi rắn.” Thượng Sĩ bình:
“Bóng trăng không phải là sanh kế một nhà.” Về đêm,
nhà không có đèn mà muốn ăn cơm, người ta phải dọn cơm
ở ngoài sân, nếu mặt trăng thật hiện trên không thì mới
thấy để gắp thức ăn mà ăn. Nếu là bóng trăng trong gương
hay bóng trăng trong nước thì không phải là chỗ để chúng
ta dọn cơm ăn, vì không có ánh sáng. Ý nói vị Tăng đưa
tọa cụ lên giống như bóng trăng chớ không phải mặt trăng
thật, đó là hành động bắt chước.
Tăng
hỏi Cảnh Thông: “Thế nào là Phật?” Sư liền đánh, Tăng
đánh lại. Sư nói: “Ông đánh ta có đạo lý, ta đánh ông
không đạo lý.” Tăng lặng câm. Tăng hỏi thế nào là Phật,
Ngài đánh để khai ngộ là có đạo lý, tại sao Ngài nói
không đạo lý? Còn vị Tăng đánh Sư là vô lễ sao SƯ NÓI
CÓ ĐạO LÝ? TRONG NHÀ THIềN NÓI Để CHO NGƯờI suy gẫm đạo
lý là câu nói chết là tử ngữ. Nói không để cho người
suy nghĩ gì được là câu nói sống, là hoạt ngữ. Ngài đánh
cốt để khai ngộ cho vị Tăng, mà vị Tăng này không ngộ,
lại suy lường đánh lại Ngài, nên Ngài nói “ta đánh ông
không đạo lý, ông đánh ta có đạo lý” vị Tăng không đáp
được nên bị đuổi ra.
Thượng
Sĩ bình: “Một bên dùng bạo binh, sẽ vô nghĩa vậy, một
bên đem gà bẫy chồn, chó con chạm cọp.” Vị Tăng không
thông lý Thiền được khai ngộ bằng cái đánh, đánh trả
lại Thiền sư là dùng bạo binh nên vô nghĩa. Còn Thiền sư
Cảnh Thông thì nói lừa: Ông đánh ta có đạo lý. Ví như
đem gà bẫy chồn chó, song vì chó nhỏ không biết nguy hiểm
nên chạm phải cọp, đó là vị Tăng vấp phải lỗi với
Ngài.
“Tướng
quân ba trận chẳng thành công.” Tướng quân chỉ cho vị
Tăng, ba trận: trận thứ nhất hỏi đại ý Phật pháp, trận
thứ hai đánh lại ngài Cảnh Thông, trận thứ ba lặng câm
không đáp được. Hành động, nói, nín của vị Tăng đều
không hợp đạo, nên nói ba trận không thành công. “Hoàng
đế lệnh truyền sáu nước xong.” Ngài Cảnh Thông chỉ ra
lệnh một chút là muôn việc đều yên ổn. “Vừa buông ngàn
giáo trận chiến dứt.” Nghĩa là hai bên đối đáp. “Lại
nghe muôn ngựa tiếng thu vang.” Vào mùa thu nghe tiếng muôn
ngàn con ngựa nó ré vang, biểu hiện quang cảnh thanh bình.
Thượng Sĩ ca ngợi tán thán Thiền sư Cảnh Thông.
Dịch:
Cử:
Hòa
thượng Đàm Không có vị Ni đến xin phép khai đường thuyết
pháp. Ngài nói: “Hàng Ni phụ nữ không nên khai đường.”
Ni thưa: “Long nữ tám tuổi thành Phật, là sao?” Sư bảo:
“Long nữ có mười tám pháp biến hóa, ngươi biến một pháp
cho lão tăng xem?” Ni thưa: “Biến được chỉ là loài chồn
thành tinh.” Sư liền đánh đuổi ra.
Thầy
nói:
-
Phải thì phải, còn kẹt một mối.
Tụng:
Thương
thay diệu pháp muốn bàn huyền
Đâu
chỉ cầm lan (giỏ) hay buông lan (giỏ)
Đánh
đuổi hồ tinh là chỉ yếu
Trước
ba ba sau lại ba ba.
Giảng:
Tôi
không có tài liệu về lịch sử của Hòa thượng Đàm Không.
Thượng Sĩ nêu lên, có một cô Ni đến xin Ngài khai đường
thuyết pháp, Ngài ngăn không cho Ni giới khai đường thuyết
pháp, nên cô Ni mới nhắc Long nữ tám tuổi thành Phật và
hỏi tại sao Ngài không cho cô thuyết pháp. Ngài nói Long nữ
có mười tám pháp biến hóa, bảo cô hãy biến một pháp cho
Ngài xem. Cô Ni này bắt chước lời của Thiền sư, cô nói:
“biến được chỉ là loài chồn thành tinh”, nên bị Hòa
thượng đánh đuổi đi. Sự việc này Thượng Sĩ bình: “Phải
thì phải còn kẹt một mối.” Đánh đuổi thì phải, nhưng
kẹt một mối là thấy nam thấy nữ. Thượng Sĩ mới làm
tụng: “Thương thay diệu pháp muốn bàn huyền, đâu chỉ
cầm lan hay buông lan.” Diệu pháp muốn giảng giải đâu phải
chỉ có người cầm giỏ hay bỏ giỏ mới làm được. Ý nói
không phải chỉ có người nam mới làm được, người nữ
làm không được. “Đánh đuổi hồ tinh là chỉ yếu.” Nói
biến hóa hay nói hồ tinh, bị đánh là phải, nhưng “trước
ba ba sau lại ba ba”. Tới chỗ tuyệt đối không thể dùng
lời để diễn tả. Thượng Sĩ nói Hòa thượng Đàm Không
còn thấy có tướng nam tướng nữ nên còn kẹt chút đó.
Đối
với tất cả Thiền sư mà chúng ta được đọc qua thấy vị
nào đã thâm nhập được bản thể chân thật thì chỗ nhắm
không khác. Nhưng sở dĩ thấy có sai biệt là tùy cơ người
hỏi cao hay thấp, các Ngài dùng phương tiện khác nhau. Vì
vậy mà những lời đối đáp có lúc thấy rất bạo, có lúc
thấy rất từ bi nhẹ nhàng. Các Thiền sư Việt Nam thường
thì đối đáp nhẹ nhàng, lâu lâu mới có vài câu bạo như
“đạp lão Cồ-đàm cóng lạnh”. Nhưng đó chỉ bạo trên
ngôn ngữ, chớ không bạo ở hành động như các Thiền sư
Trung Hoa đấm đá... Phương tiện các ngài dùng cốt làm sao
cho người đương cơ tỏ ngộ là mục đích chánh.

|