|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
06-5
Muôn việc về như, Thói đời hư dối, Họa thơ quan
Huyện, Cảnh vật Tịnh Bang, Họa Thơ Hưng Trí Thượng Vị
Hầu
|
|
|
06-7
Lễ Thiền sư Tiêu Dao ở Phước Đường, Cảnh vật
Phước Đường, Tăng Pháp sư Thuần Nhất, Đùa Thiền Sư Trí
Viễn xem kinh giải nghĩa, Điệu Tiên Sư
Khuyên
đời vào đạo, Bảo chúng, Bảo chúng, Bảo học giả, Chợt
hứng
|
06-8
Cội tùng đáy khe, Xuất trần, Đạo lớn không khó,
Tâm vương, Thả trâu, Đề tịnh xá, Chợt hứng, Cây gậy,
Chiếu thân, Tự đề, Chợt tỉnh, Tự tại, Bảo học trò,
Bảo tu nghiệp Tây phương, Thoát đời, Vui thú giang hồ.
|
|
|
|
|
|
|
X
TUỆ TRUNG THƯỢNG
SĨ NGỮ LỤC GIẢNG GIẢI
Biên
Soạn: Trúc Lâm Tổ Sư (Trần Nhân Tông)
Dịch
và Giảng: Hoà ThượngThích Thanh Từ
Ban
Văn Hoá Trung Ương GHPGVN Xuất Bản 1996
TRÚC
LÂM TỔ SƯ
TUỆ
TRUNG THƯỢNG SĨ
NGỮ
LỤC
Dịch:
(Trên hội Trúc Lâm núi Yên Tử, chùa Long Động, đồng tử
Tỳ-kheo Huệ Nguyên khắc bản lại và thắp hương kính cẩn
đề tựa.)
Chư Phật ba thuở, các vị Tổ sư nhiều đời, vì một đại
sự nhân duyên xuất hiện ra đời: Cốt chỉ cho chúng sanh
ngộ được Phật của chính mình, tròn đồng thái hư không
thiếu không dư, người người vốn đủ, mỗi mỗi viên thành.
Bởi vì chúng sanh không ngộ chân Phật của mình, nên bị
các Kinh Lục lừa gạt mất một đời, săn đuổi theo cái
thấy nghe, có lợi ích gì? Do chẳng rõ muôn pháp như hoa đốm
trong không, chỉ một tâm dựng lập. Kinh Kinh Lục Lục trùng
trùng điệp điệp, nhiều như lá trong rừng, số như cát biển,
giấy mực văn từ không thể kể hết. Dù nói tám muôn bốn
ngàn (84.000) pháp môn, mỗi môn trọn như người gỗ múa may,
tên tuy khác mà thể vẫn đồng.
Tên khác là, phương tiện khai (mở) giá (đóng) có muôn ức
Kinh Lục.
Thể đồng là, chỉ trở về chỗ gốc, một tánh thái hư.
Người học thấu rõ một thì muôn việc đều xong, đâu có
nhiều thứ văn tự bìm sắn, ngôn ngữ chương cú, đối đãi
cơ quan kỳ đặc ấy vậy. Nhưng Thượng tổ Đại đức Tiêu
Dao, duy chỉ một sự thật, chẳng dùng phương tiện quyền
xảo. Vừa đến nước ta, Ngài cởi trần không áo (thoát thể
vô y) cầm cần câu không lưỡi, đi vào kinh thành, dùng thần
cơ ăn xong đập bát. Ý này cốt tìm được người pháp khí,
để chỉ dạy Thiền tông, chữ bát ( ) đã
mở, hai tay trao cho.
Thế nào là trao cho? Nghĩa là “Bính Đinh đồng tử”. Lửa
đã khắp người, chẳng cần tìm bên ngoài, phải quan sát
lại tánh mình (phản quan tự tánh).
Phật Phật chỉ truyền tâm ấn, Tổ Tổ thầm trao tâm ấn,
đều khiến chúng sanh ngộ Phật của mình. Ví như trong cây
có lửa, lý này cũng vậy. Con người được nói có tánh,
tánh tức là Bồ-đề, vốn tự tròn đủ, chẳng từ nơi khác
mà được. Tin được chính mình là chữ bát (
) đã mở, hai tay trao cho rồi vậy. Lục này là Đại đức
Tiêu Dao nói cho Thượng Sĩ Tuệ Trung. Thượng Sĩ Tuệ Trung
nói cho Điều Ngự Giác Hoàng đệ nhất Tổ Trúc Lâm. Điều
Ngự Giác Hoàng nói cho Đại sư Pháp Loa đệ nhị Tổ Trúc
Lâm. Đại sư Pháp Loa nói cho tôn giả Huyền Quang đệ tam
Tổ Trúc Lâm. Tôn giả Huyền Quang nói cho tông phái Trúc Lâm
và Thiền tông khắp thiên hạ. Xưa qua, nay lại truyền trao
cho nhau.
Quyển Lục này là phương thuốc hay, khéo đối trị các bệnh,
nhanh chóng đốn ngộ thành Phật, thẳng suốt nguồn tâm, nhảy
vọt vào biển giác, giết chết vọng thức, phá sạch danh
tướng, là tông không không; siêu Tam thừa, vượt Phật thừa,
là yếu chỉ thượng thượng.
Song Tỳ-kheo Huệ Nguyên tôi một phen xem quyển Lục này, chữ
bát ( ) liền mở toang, nói nín đều quên, tam không thông
suốt. Tôi tịnh tọa tại sơn am, cầm sách lên tán tụng rằng:
Thiền
là tâm của Phật,
Giáo
là mắt của Phật,
Pháp
là thuốc của Phật.
Mắt
xem tâm ngộ,
BệNH
LÀNH THUốC Bỏ,
CởI
TRầN KHÔNG ÁO,
THÂN
AN Tự TạI.
Đã
được tự lợi,
RộNG
KHắP LợI THA,
CHÍ
BÁM NHấT TÂM,
LÀM
HƯNG THịNH TAM BảO.
Lý
không một vật,
Sự
CÓ MUÔN THứ,
TIếP
ÁNH SÁNG,
NốI
MÙI HƯƠNG,
SOI
SÁNG Kẻ TRƯớC,
PHấN
PHÁT NGƯờI SAU,
GÁNH
VÁC PHậT PHÁP,
LÀM
RƯờNG CộT NHÀ PHậT.
Nguyện
nắm vững ngọn đèn Tổ,
MặT
TRờI PHậT SÁNG NGờI.
Tôi khắc bản để lại, truyền lâu ức kiếp, gương xưa
mãi sáng, tiếp nối ánh sáng không cùng, khiến chúng sanh khắp
thế giới đại thiên, cùng rõ thấu pháp môn bất nhị, truyền
bá trong nước được muôn đời, đồng chứng Phật quả Nhất
thừa. Canh khuya giờ tốt, xin chúc tán rằng:
Nghiệp vua vĩnh cửu,
CÙNG
ĐỉNH LINH THứU VÒI VọI HằNG còn.
Đạo
Tổ miên trường,
ĐồNG
NGUồN YÊN Tử CHảY MÃI KHÔNG dứt.
Cung
kính đề tựa:
Đầu nẻo Trúc Lâm đưa đuốc tuệ
Trong nhà biển Thích thả thuyền từ.
Có duyên biết ngọc người Biện Hòa
Tâm nở giác hoa sanh Phật quả.
Niên hiệu Cảnh Hưng thứ hai mươi bốn (1763), năm Quí Mùi,
tiết đông, ngày tốt khắc bản in lại.
Giảng:
Quyển Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục nằm trong bộ “Trần
Triều Dật Tồn Phật Điển Lục”, đó là bộ Phật điển
còn sót của đời nhà Trần. Trong bộ này gồm có Tuệ Trung
Thượng Sĩ Ngữ Lục, Tam Tổ Thực Lục...
“Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục” do Điều Ngự Giác Hoàng
biên soạn, Thiền sư Pháp Loa khắc bản in. Tập sách này rất
quan yếu trong nhà Thiền, nhất là Thiền tông Việt Nam.
Chư Phật ba thuở, các vị Tổ sư nhiều đời, vì một đại
sự nhân duyên xuất hiện ra đời: Cốt chỉ cho chúng sanh
ngộ được Phật của chính mình, tròn đồng thái hư không
thiếu không dư, người người vốn đủ, mỗi mỗi viên thành.
Bởi vì chúng sanh không ngộ chân Phật của mình, nên bị
các Kinh Lục lừa gạt mất một đời, săn đuổi theo cái
thấy nghe, có lợi ích gì? Do chẳng rõ muôn pháp như hoa đốm
trong không, chỉ một tâm dựng lập. Kinh Kinh Lục Lục trùng
trùng điệp điệp, nhiều như lá trong rừng, số như cát biển,
giấy mực văn từ không thể kể hết. Dù nói tám muôn bốn
ngàn (84.000) pháp môn, mỗi môn trọn như người gỗ múa may,
tên tuy khác mà thể vẫn đồng.
Tên khác là, phương tiện khai (mở) giá (đóng) có muôn ức
Kinh Lục.
Thể đồng là, chỉ trở về chỗ gốc, một tánh thái hư.
Người học thấu rõ một thì muôn việc đều xong, đâu có
nhiều thứ văn tự bìm sắn, ngôn ngữ chương cú, đối đãi
cơ quan kỳ đặc ấy vậy. Nhưng Thượng tổ Đại đức Tiêu
Dao, duy chỉ một sự thật, chẳng dùng phương tiện quyền
xảo. Vừa đến nước ta, Ngài cởi trần không áo (thoát thể
vô y) cầm cần câu không lưỡi, đi vào kinh thành, dùng thần
cơ ăn xong đập bát. Ý này cốt tìm được người pháp khí,
để chỉ dạy Thiền tông, chữ bát ( ) đã
mở, hai tay trao cho.
Tỳ-kheo Huệ Nguyên là vị Thiền sư ở thời Hậu Lê, Ngài
đọc được bản ngữ lục này rồi phát nguyện in lại nên
viết lời tựa. Lời tựa chúng ta đang đọc đây không phải
của Tuệ Trung Thượng Sĩ, hay những vị đồng thời với
Ngài, mà là một vị Thiền sư sau này cách Ngài khoảng năm
trăm năm từ thế kỷ mười ba đến thế kỷ mười tám. Như
vậy lời tựa này có sau quyển Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ
Lục đã in ở đời Trần tới năm trăm năm. Nhưng tại sao
người đời sau lại thích quí bản Ngữ Lục này mà in tái
bản?
Đây, tôi trích từng đoạn để chỉ cho quí vị thấy rõ
ý của người sau khi lãnh hội được yếu chỉ:
- Đầu tiên Ngài dẫn: “Chư Phật ba thuở, các vị Tổ sư
nhiều đời, vì một đại sự nhân duyên xuất hiện ra đời.”
Ngài nói từ Phật cho tới Tổ, ra đời chỉ có một duyên
lớn là: “Cốt chỉ cho chúng sanh ngộ được Phật của chính
mình.” Nhân duyên lớn mà Phật Tổ ra đời là chỉ cho chúng
sanh nhận được Tánh Phật có sẵn nơi mình. Phật tánh đó
như thế nào?
- “Tròn đồng thái hư, không thiếu không dư, người người
vốn đủ, mỗi mỗi viên thành.” Tánh Phật có sẵn nơi mỗi
người không thừa không thiếu, trùm khắp tất cả, ai ai cũng
đều có đủ, không phải riêng một cá nhân nào; đó là trọng
tâm như tôi đã nói. Phật và Bồ-tát thương chúng sanh phải
khô cổ đắng miệng chỉ dạy nhiều năm tháng, để cho mọi
người biết và nhận ra Tánh Phật nơi mình. Bởi mỗi người
chúng ta đã có sẵn Tánh Phật, nên tu thì thành Phật. Nếu
không có Tánh Phật thì dù có dụng công tu bao lâu cũng không
thể thành Phật. Cũng như trong đá trong gỗ, nếu không có
sẵn tánh lửa thì dù có cọ hay chọi cũng không ra lửa. Song,
vì nó có tánh lửa sẵn, nên cọ hay chọi liền sanh lửa.
Trong đá trong gỗ có sẵn tánh lửa, nếu không cọ không chọi,
để nguyên thì kiếp kiếp đời đời vẫn là đá là gỗ,
không có lửa, nhưng nếu khéo cọ khéo chọi thì đá gỗ liền
phát ra lửa. Cũng vậy ở tất cả mỗi người chúng ta có
sẵn Tánh Phật, nếu chúng ta khéo tu khéo thanh lọc gạn bỏ
vô minh vọng tưởng thì Tánh Phật sẽ hiển lộ.
Đức Phật, trước đó Ngài cũng là con người như chúng ta.
Song, Ngài khéo tu nên đã thành Phật. Chúng ta cũng là con người,
nếu chúng ta khéo tu thì sẽ thành Phật như Ngài. Đó là một
lẽ thật mà đức Phật đã kinh nghiệm qua, đã chứng được,
nên Ngài chỉ dạy cho đồ đệ sau này. Đồ đệ sau này là
chư Tổ, các ngài cũng đã kinh nghiệm qua, cũng đã chứng
được, tuy không bằng Phật, nhưng các ngài cũng tiếp tục
con đường đó để chỉ dạy cho người sau nữa. Vậy, người
tu Phật mục đích cuối cùng là thành Phật, không ai nói tôi
tu Phật để tôi thành Tiên, cũng không ai nói tôi tu Phật
để tôi được sanh lên cõi Trời. Trọng tâm tu Phật là để
thành Phật, vì đã có sẵn Tánh Phật, bây giờ tu để Tánh
Phật nơi mình hiển lộ sáng tỏ; khi Tánh Phật sáng tỏ hiển
lộ tròn đầy tạm gọi là thành Phật. Chúng sanh thì mê,
Phật thì giác. Chúng ta vì mê (vô minh) chạy theo vọng tưởng
điên đảo, nên làm chúng sanh, bây giờ chúng ta dừng không
chạy theo vọng tưởng điên đảo, hết mê, đó là chúng ta
trở về với Tánh Phật. Hai hướng rõ như ban ngày, không
có gì bí ẩn. Mục đích của Phật của Tổ ra đời giống
nhau không khác. Bây giờ chúng ta ngồi đây học để tu, mục
đích cũng không khác. Nhưng nghe nói tu thành Phật thì ngán,
vì thấy quá xa vời, không gần gũi với mình. Sự thật, bây
giờ chúng ta tu là để thành Phật, rồi sau chỉ dạy cho mọi
người tiến lên con đường đó. Thế nên trên đường tu
không có mục đích nào khác hơn là nhận ra Tánh Phật nơi
mình. Tánh Phật trùm khắp ai cũng có đầy đủ, không người
nào không có. Đó là hướng duy nhất của tất cả người
tu. Thế mà có những vị Tăng Ni được hỏi: “tu có hy vọng
thành Phật không”, họ trả lời: “Tu thì tu chớ biết khi
nào thành Phật!” Như vậy họ đủ lòng tin chưa? Họ có
tin rằng mình có sẵn Tánh Phật không? Chính câu trả lời
đó bộc lộ tâm tư của họ, tu mà không hy vọng thành Phật.
Không hy vọng thành Phật thì tu làm gì? Họ tu cầm chừng,
tu lấy có, tu gieo nhân, tới đâu hay tới đó. Đây là khuyết
điểm lớn của người tu. Chúng ta tu là phải khẳng định
tu để thành Phật. Nỗ lực tu, thành công viên mãn tùy điều
kiện đủ thì thành, chưa đủ thì chưa thành, chớ không có
lối nào khác hơn nữa.
“Bởi vì chúng sanh không ngộ chân Phật của mình, nên bị
các Kinh Lục lừa gạt mất một đời, săn đuổi theo cái
thấy nghe, có lợi ích gì?” Vì không nhận ra Tánh Phật (Chân
Phật) có sẵn nơi mình nên bị Kinh điển của Phật và Ngữ
lục của Tổ lừa gạt mất một đời. Quí vị có thấy Phật
Tổ lừa gạt quí vị không? Chúng ta thường nghe nói chư Phật
ba đời chưa từng nói dối, chẳng những ba đời mà vô số
đời cũng chưa từng nói dối, sao đây dám nói Phật, Tổ
(đệ tử Phật) lừa gạt mình? Tôi dẫn chứng cho quí vị
thấy:
Kinh Phật lừa gạt như thế nào? Đọc kinh Pháp Hoa, chúng
ta thấy những phẩm đầu Phật đề cao Tri kiến Phật, tới
phẩm Tùng Địa Dũng Xuất nói vô số Bồ-tát ở phương khác
đến lễ Phật bạch rằng: “Thế Tôn! Nếu bằng lòng cho
chúng con lúc sau khi Phật diệt độ ở tại cõi Ta-bà này
siêng tu tinh tấn, giữ gìn, đọc tụng, biên chép, cúng dường
kinh điển này, thời chúng con sẽ ở trong cõi đây mà rộng
nói đó.” Phật bảo: “Thiện nam tử! Thôi đi, chẳng cần
các ông hộ trì kinh này. Vì sao? Vì cõi Ta-bà của ta tự có
chúng đại Bồ-tát đông như cát sông Hằng và quyến thuộc
cũng vô số, những vị đó có thể sau khi ta diệt độ hộ
trì đọc tụng rộng nói kinh này.” Lúc Phật nói lời đó,
cõi Ta-bà trong tam thiên đại thiên cõi nước, đất đều
rúng nứt, trong đó có vô lượng nghìn muôn ức vị đại
Bồ-tát đồng thời vọt ra... Chúng ta hiểu sao về câu chuyện
này? - Quá huyền bí khó hiểu! Bồ-tát đâu ở dưới đất
vọt lên đông quá vậy? Có phải Phật kỳ thị Bồ-tát ở
phương khác, nên nói: “thôi đi, chẳng cần các ông hộ trì
kinh này”, mà cho các Bồ-tát cõi Ta-bà từ đất vọt lên
trì tụng kinh Pháp Hoa? Nếu chúng ta không thông hiểu lý kinh,
đọc chuyện này thấy quá huyền bí không tin là chuyện thật.
Như vậy là bị kinh gạt. Theo lý mà hiểu thì Bồ-tát là
giác, mà giác là trí tuệ; Bồ-tát từ phương khác đến là
trí tuệ ngoài mình, trí tuệ ngoài mình tức là sự hiểu
biết học ở thầy bạn hay sách vở, nhà Phật gọi là trí
hữu sư, trí này nhận từ bên ngoài vào, nó không thể bảo
hộ được Tri kiến Phật, nên chư Bồ-tát phương khác tới
xin bảo hộ kinh Pháp Hoa Phật không chấp nhận. Vô sư trí
là cái biết do tu, tâm thanh tịnh, sáng ra mới bảo hộ được
kinh Pháp Hoa, vì nó chính là tâm thể của mỗi người nên
Phật hứa khả. Hiểu như thế thì không bị kinh gạt, còn
nếu hiểu theo hình tướng thì bị kinh gạt. Như vậy, nếu
người nào tu mà cứ mong nhờ bên ngoài thì không bao giờ
ngộ được ông Phật nơi mình, mà phải thắp sáng tự tâm
thì mới ngộ được ông Phật nơi mình. Cho nên nói: Tại
không ngộ được chân Phật mới bị kinh lừa.
Ngữ lục của Tổ lừa gạt như thế nào? Đọc Thiền SƯ
TRUNG HOA CHÚNG TA THấY CHU KIM CANG (ĐứC SƠN Tuyên Giám) khi
chưa là Thiền sư, Ngài là Giảng sư chuyên giảng kinh Kim Cang.
Ngài họ Chu nên gọi là Chu Kim Cang. Khi Ngài đầu phục Thiền
sư Long Đàm hết lòng hầu hạ. Một đêm tối trời, Ngài
đứng hầu thầy trong thất cho tới khuya. Thiền sư Long Đàm
bảo:
- Đêm đã khuya sao chẳng xuống?
Ngài kính chào bước ra, lại trở vào, thưa:
- Bên ngoài tối đen.
Thiền sư Long Đàm thắp đèn cầy đưa Ngài. Ngài toan tiếp
lấy, Thiền sư Long Đàm liền thổi tắt. Ngay đó Ngài đại
ngộ
liền lễ bái. Thiền sư Long Đàm hỏi:
- Ngươi thấy cái gì?
Ngài thưa:
- Từ nay về sau chẳng còn nghi lời nói chư lão Hòa thượng
trong thiên hạ.
Đầu lưỡi của các vị Hòa thượng lừa là Hòa thượng
nào? - Là các vị Thiền sư. Chu Kim Cang đã thấy được lẽ
thật, không còn bị các Thiền sư lừa nữa, nên được truyền
tâm ấn và đổi hiệu là Đức Sơn. Thường thường trong
nhà Thiền, Thiền tăng hỏi đông, thì Thiền sư đáp tây,
Thiền tăng hỏi nam thì Thiền sư đáp bắc, hỏi bên này đáp
bên kia, đó là cái thuật khai ngộ của các Thiền sư, các
ngài rất thường dùng nên Thiền tăng Thiền khách bị lừa
rất nhiều. Ngài Đức Sơn ngay đây không còn bị lừa nữa.
Đó là ý nghĩa Kinh Lục lừa gạt mất một đời.
“Săn đuổi theo cái thấy nghe có lợi ích gì?” Chạy theo
sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp không có lợi ích. Tại sao?
Vì sáu trần là tướng vô thường sanh diệt, đuổi bắt cái
vô thường sanh diệt thử hỏi cuối cùng có lợi ích gì?
Ai đó tuy được thỏa mãn những ngoại trần mà họ khao khát,
nhưng tới bảy tám mươi tuổi thì tất cả những cái họ
được đó cũng đều bại hoại, cho nên nói là vô ích. Còn
cái chân thật của chính mình hiện có đây thì không biết.
Như vậy cuộc đời là vô thường, chính bản thân mình vô
thường, vạn vật cũng vô thường; những cái ưa thích mà
mình được thọ hưởng hợp lại cũng thành một khối vô
thường. Ngay nơi cái thân vô thường này có chân Phật là
cái không vô thường mà chúng ta không thức tỉnh nhận ra
thì uổng đi một kiếp người. Thế nên, tu cốt nhận cho
ra cái thật ở ngay nơi cái giả. Ngay trong cái giả có cái
thật, thế mà chúng ta chỉ đuổi theo cái giả quên đi cái
thật, cho nên bao nhiêu năm tháng chìm trong mê muội. Nay chúng
ta thức tỉnh mới thấy cái thật quí giá vô cùng. Nhận được
cái thật thì sống không vô ích, nếu không thì cuộc đời
trở thành vô nghĩa.
“Do chẳng rõ muôn pháp như hoa đốm trong không, chỉ một
tâm dựng lập.” Chữ “Pháp” là chỉ cho vạn vật ở cõi
đời này, nó giống như hoa đốm trong hư không; khi trời nắng
gắt nhìn ra ngoài trời, mắt chấp chóa chúng ta dụi mắt,
mở ra nhìn thấy hoa đốm nhảy nhót lăng xăng. Hoa đốm lăng
xăng từ đâu có? Có thật không? - Vì nắng gắt khiến mắt
lòa nên thấy có hoa đốm nhảy nhót lăng xăng. Cũng như muôn
pháp muôn vật hiện có trước mắt chúng ta là do tâm mê mà
thấy có.
“Kinh Kinh Lục Lục trùng trùng điệp điệp, nhiều như lá
trong rừng, số như cát biển, giấy mực văn từ không thể
kể hết.” Tổng số kinh trong Đại Tạng có trên năm ngàn
quyển, còn Ngữ lục cũng mấy trăm quyển, rất nhiều, bây
giờ nếu ngồi học cho hết thì chừng nào mới hết? Già
khụ cũng chưa xong. Chúng ta học chỉ nắm được phần căn
bản để tu hành, trở về cái chân thật thì không mắc kẹt
ở Kinh Lục, ở văn tự nhiều như cát biển đó.
“Dù nói tám muôn bốn ngàn pháp môn, mỗi môn trọn như người
gỗ múa may, tên tuy khác mà thể vẫn đồng.” Hồi xưa thì
nói người gỗ múa, bây giờ nói “rôbô” (người máy) múa,
nó lăng xăng chạy nhảy. Tuy lăng xăng làm những công tác
khác nhau, nhưng chung qui đều do bộ máy bên trong phát ra điều
khiển. Cũng vậy mỗi pháp môn tuy thực hành khác nhau nhưng
mục đích chỉ có một.
“Tên khác là, phương tiện khai giá có muôn ức Kinh Lục.”
Phương tiện khai là mở, giá là ngăn đóng. Đồng là kinh
của Phật nói, song, có kinh Phật nói trắng ra gọi là khai,
có kinh nói ẩn gọi là giá. Thí dụ kinh Kim Cang không chỉ
thẳng thể chân thật, mà chỉ phá chấp gọi là giá. Còn
kinh Pháp Hoa, kinh Lăng Nghiêm chỉ thẳng thể chân thật gọi
là khai. Vì vậy nói kinh Phật có khai giá khác nhau. Ngữ lục
cũng vậy, có Tổ chỉ thẳng cho người ngay đó trực nhận,
có Tổ thì nói ẩn để cho người tìm.
“Thể đồng là, chỉ trở về chỗ gốc, một tánh thái hư.”
Dù cho muôn ngàn cách nói khác nhau, nhưng cũng trở về một
gốc là chỉ cho mọi người nhận ra tánh giác thênh thang như
thái hư nơi mình. Như bây giờ ở Việt Nam Phật giáo phát
triển rõ nhất là Tịnh độ và Thiền. Đứng về mặt truyền
bá thì khác nhau. Tịnh độ chuyên về niệm Phật, niệm cho
đến nhất tâm bất loạn từ một đến bảy ngày thì Phật
A-di-đà hiện tiền. Còn Thiền Nguyên thủy thì tu quán Tứ
niệm xứ, tu từ một đến bảy ngày mà tâm không rời pháp
quán, người đó sẽ chứng từ Tu-đà-hoàn cho tới A-la-hán.
Còn Thiền tông thì chư Tổ thường có lời khẳng định rằng
căn không đuổi theo ngoại cảnh từ một đến bảy ngày thì
kiến tánh. Như vậy, lời nói, phương tiện tuy có sai khác,
nhưng kết quả không khác, đó là tâm thanh tịnh trí tuệ
sáng, nhận ra Tánh Phật nơi mình, nên nói “thể đồng là,
chỉ trở về chỗ gốc, một tánh thái hư.”
“Người học thấu rõ một thì muôn việc đều xong, đâu
có nhiều thứ văn tự bìm sắn, ngôn ngữ chương cú đối
đãi cơ quan kỳ đặc ấy vậy.” Người tu nếu ngộ được
Một Tâm là thấu đáo tất cả, tức là thông suốt hết những
phương tiện tu của những tông phái khác, không phải mất
thì giờ nghiên cứu. Không còn quan trọng những sự lạ lùng
kỳ đặc, cho nên thấu một thì tất cả đều thấu. Ở đây
không hướng dẫn quí vị học cho nhiều mà chỉ hướng dẫn
quí vị đi sâu vào việc chuyên tu, một mình chuyên tu tới
nơi tới chốn về sau sẽ biết được tất cả phái khác.
“Nhưng Thượng tổ Đại đức Tiêu Dao, duy chỉ một sự
thật, chẳng dùng phương tiện quyền xảo.” Đây nói về
thầy của Thượng Sĩ là Thiền sư Tiêu Dao(1). Trong luật dùng
chữ Đại đức để chỉ cho vị Tăng đức cao lớn hơn hết.
Chẳng hạn như Đại đức Nàrada là một vị CAO TĂNG của
Phật giáo Tích Lan. Đức cao lớn hơn hết được gọi là
Đại đức, chớ không phải Hòa thượng. Đại đức là danh
từ chỉ cho những vị đức lớn. Ngày nay chúng ta lại dùng
chỉ cho những vị Tỳ-kheo mới thọ đại giới vài ba năm,
còn những vị thọ đại giới trên hai mươi năm gọi là Thượng
tọa, trên bốn mươi năm gọi là Hòa thượng. Như vậy Thượng
tọa lớn hơn Đại đức, nhỏ hơn Hòa thượng. Đó là lối
sắp xếp theo từ ngữ tạm chớ không có lẽ thật. Thế mà,
nếu mình được gọi là Thượng tọa, Hòa thượng, có ai
kêu là Đại đức thì
(1)
Thiền sư Tiêu Dao, Thiền sư Nhất Tông, Thiền sư Giới Minh,
Thiền sư Giới Viên ngang với cư sĩ Ứng Thuận đệ tử Thiền
sư Tức Lự (Theo Thiền Uyển Tập Anh). Song theo bản đồ phái
Thiền Trúc Lâm Yên Tử thì Thiền sư Tiêu Dao là đệ tử
cư sĩ Ứng Thuận, trong Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, Nguyễn
Lang cũng nhận như thế. Như vậy khẳng định Thiền sư Tiêu
Dao là người Việt Nam. Thiền sư Huệ Nguyên lầm Thiền sư
Tiêu Dao là người Trung Hoa. Dưới đây tôi giảng theo lời
tựa của Thiền sư Huệ Nguyên.
không
chịu, buồn lắm! Điều đó cho chúng ta thấy chúng ta hiểu
Phật pháp rất là nông cạn. Ngài Huệ Nguyên nhấn mạnh Thiền
sư Tiêu Dao làm có một việc là chỉ thẳng sự thật không
dùng phương tiện.
“Vừa đến nước ta Ngài cởi trần không áo, cầm cần câu
không lưỡi, đi vào kinh thành, dùng thần cơ ăn xong đập
bát.” Mấy từ này nghe trái với lối dùng chữ của Việt
Nam. Thường thường ở Việt Nam ai là kẻ phản bội thì bị
gọi “con người ăn xong đá bát”. Tại sao Thiền sư Tiêu
Dao là bậc đạo cao đức trọng mà ngài Huệ Nguyên dám nói
“dùng thần cơ ăn xong đập bát”? Nói như vậy có vô lễ
có phản bội tiền bối không? Đây tôi giải thích cho quí
vị hiểu, vì Ngài mới đến nước ta Ngài cởi trần không
áo (thoát thể vô y). Thiền tông nói đến Thể chân thật
là chỗ không còn che đậy, nếu còn che đậy thì chưa bày
THể chân thật. Cởi trần không áo là hiện bày Thể chân
thật, nếu còn mặc áo là còn che đậy, Thể chân thật chưa
hiện bày. “Cầm cần câu không lưỡi.” Cầm cần câu là
để câu cá, nhưng cần câu không lưỡi mắc mồi vào đâu
và câu cái gì? Thiền sư nói pháp cốt chỉ cho người nhận
ra THể chân thật, không để cho người dính mắc một cái
gì hết. Giống như câu mồi nhử cá, cá đớp mồi ăn mà
không bị mắc lưỡi câu. Ngài hướng dẫn người tu theo Ngài,
mà không cho người dính kẹt một pháp nào, nên nói cầm cần
câu không lưỡi. “Đi vào kinh thành” là vào xứ Việt Nam.
“Dùng thần cơ ăn xong đập bát.” Con người chúng ta có
cái bệnh là làm việc gì cũng muốn lưu lại dấu vết, giống
như người ăn cơm xong rửa bát cất kín trong tủ. Ngài là
người làm xong việc không để lại dấu vết. Nghĩa là hướng
dẫn cho người tu xong rồi thôi, không để lại một cái gì
làm cho người ta dính mắc với pháp đã dạy.
“Ý này cốt tìm được người pháp khí, để chỉ dạy Thiền
tông.” Cái ý chỉ ra Thể chân thật mà không dính không kẹt,
cốt là tìm người có khả năng thừa nhận chánh pháp. Nhà
Thiền gọi người đó là Pháp khí; pháp là chánh pháp, khí
là món đồ; món đồ đựng chánh pháp. Tìm được người
này mới chỉ dạy Thiền tông.
“Chữ bát ( ) đã mở hai tay trao cho.” Nhà Thiền
dụ hai chân mày là chữ bát. Con người ai cũng thấy cái mũi
của kẻ khác, mà không thấy cái mũi của mình; nó ở sờ
sờ trước mặt mà không thấy. Cái mũi biểu trưng cho chân
Phật của mỗi người, lúc nào cũng sờ sờ đó mà người
không nhận ra. Giống như cái mũi là cái thiết yếu cho sự
sống, nằm ngay trên mặt người mà người không thấy nó.
Hai chân mày ở hai bên trên mũi; hai chân mày nằm dang ra, sờ
xuống là đụng mũi. Hình ảnh này nói lên ý nghĩa người
tu nương lời nói ý chỉ của Tổ, nhận ra THể CHÂN thật
nơi mình, đó là chữ bát đã mở. “Hai tay trao cho” tức
là trao truyền tâm ấn. Nhưng trao tâm ấn là trao cái gì? Chẳng
có gì để trao, chẳng qua là trò nhận ra THể CHÂN thật như
thầy đã nhận, nên thầy ấn chứng cho trò, gọi đó là trao
truyền.
Thế nào là trao cho? Nghĩa là “Bính Đinh đồng tử”. Lửa
đã khắp người, chẳng cầu tìm bên ngoài, phải quan sát
lại tánh mình (phản quan tự tánh).
Hỏi thế nào là trao cho? Đáp: “Bính Đinh đồng tử.” Ý
này phát xuất từ câu chuyện:
Một hôm Thiền sư Pháp Nhãn hỏi:
- Giám viện Tắc sao chẳng vào thất?
Tắc thưa:
- Hòa thượng đâu không biết con ở chỗ Thanh Lâm đã có
chỗ thâm nhập.
- Ông thử vì ta cử xem?
- Con hỏi thế nào là Phật, Thanh Lâm đáp:
- Đồng tử Bính Đinh đến xin lửa.
- Lời khéo ngại ông hiểu lầm, nên nói lại xem?
- Bính Đinh thuộc về lửa, đem lửa đi xin lửa, như con là
Phật lại đi tìm Phật.
- Giám viện quả nhiên hiểu lầm rồi.
Tắc nổi xung, bỏ ra đi, giữa đường tự xét: Pháp Nhãn
là thiện tri thức của năm trăm người, há lại gạt ta sao?
Bèn trở lại tái tham vấn. Pháp Nhãn bảo:
- Ông hỏi ta, ta sẽ vì ông đáp.
- Thế nào là Phật?
- Đồng tử Bính Đinh đến xin lửa.
Tắc liền đại ngộ.
Giám viện Tắc ngộ như thế nào? - Ở câu nói của Thiền
sư Thanh Lâm ông chỉ hiểu mà chưa đủ lòng tin. Khi ông đến
với Thiền sư Pháp Nhãn, Ngài biết ông hiểu mà chưa dám
khẳng định, nên bảo hỏi lại để Ngài nói một lần nữa
cho ông ấy dứt nghi ngờ. Đó gọi là hai tay trao cho. Trao cái
gì? - Có cái gì để trao đâu? Đây giải thích: lửa đã khắp
người chẳng cầu tìm bên ngoài, phải quan sát lại tánh mình.
Phật Phật chỉ truyền tâm ấn, Tổ Tổ thầm trao tâm ấn,
đều khiến chúng sanh ngộ Phật của mình. Ví như trong cây
có lửa, lý này cũng vậy. Con người được nói có tánh,
tánh tức là Bồ-đề, vốn tự tròn đủ, chẳng từ nơi khác
mà được. Tin được chính mình là chữ bát ( )
đã mở, hai tay trao rồi vậy.
Ở trước tôi đả giảng ý nghĩa của câu “chữ bát đã
mở hai tay trao cho”. Tới đây Ngài nói chư Phật chư Tổ
đều nhằm vào chỗ chủ yếu là truyền tâm ấn khiến cho
mọi chúng sanh ngộ được Phật của mình. Giống như lý nghĩa
trong cây có lửa. Thiền sư Việt Nam là Khuông Việt có làm
bài kệ:
Mộc trung nguyên hữu hỏa,
Hữu hỏa hỏa hoàn sanh.
Nhược vị mộc vô hỏa,
Toản toại hà do manh.
Tạm
dịch:
Trong cây vốn có lửa,
Có lửa, lửa lại sanh.
Nếu bảo cây không lửa,
Cọ xát làm gì sanh.
Ngài nói trong thân cây vốn có lửa sẵn, bởi có lửa sẵn
nên dùi cọ lửa mới phát ra. Nếu trong cây không có lửa,
dùi cọ làm sao lửa phát ra? Nơi cây, chúng ta dùi cọ thấy
lửa phát ra thì biết trong cây sẵn có lửa. Cũng vậy, mỗi
người chúng ta có sẵn Tánh Phật. Bởi có Tánh Phật, nên
khéo tu khéo dẹp phiền não thì Tánh Phật sáng ra. Nếu không
có Tánh Phật sẵn thì lấy gì mà sáng? Không sáng, nói tu
thành Phật làm sao thành? Vì vậy, biết rõ nơi mình có Tánh
Phật, bởi có Tánh Phật nên khéo tu thì sẽ thành Phật. Quí
vị đã tin mình có Tánh Phật chưa? Chắc chưa tin! Nếu tin
chắc chắn rồi thì tu chắc chắn sẽ thành Phật, mặc dù
thời gian không định trước là bao lâu. Chúng ta tu không có
làm chuyện hoang đường, cốt chỉ tìm cho ra cái chân thật.
Cái chân thật đó thiết yếu, quí hơn tất cả danh lợi vàng
bạc ngọc ngà... ở thế gian. Tại sao quí? Vì vàng bạc ngọc
ngà thuộc tướng vô thường, còn THể CHÂN THậT ở NƠI MÌNH
KHÔNG Bị VÔ THƯờNG CHI phối, nó thanh tịnh sáng suốt không
sanh không diệt. Khi tìm ra Thể chân thật thì mới biết mình
là “cái gì”? Bây giờ nói mình thế này, nói mình thế
kia là lối nói ảo tưởng, không đúng lẽ thật. Cái thân
xác này tồn tại mấy chục năm, rã tan rồi đi đâu? Ngày
nay còn tồn tại thì nó chứa đựng máu huyết da thịt gân
xương... thì nói là ta. Mai kia nó tan hoại, chừng đó cái
ta ở đâu? Ta là cái gì? Chẳng lẽ ta là những miếng thịt
thúi? Ta là những khúc xương hôi? Bây giờ nó tồn tại được
che đậy bên ngoài dễ coi thì gọi là ta, nói ta một cách
thật khôi hài! Vậy mà tự lấy làm hài lòng thỏa mãn! Ngay
trong cái tạm bợ đó có THể chân thật không hề sanh diệt
mà chúng ta không biết, chỉ biết cái ta giả dối tạm bợ,
đó là mê. Nhận ra cái ta chân thật mới là người giác.
Mê, giác là ở chỗ đó. Tôi hỏi quí vị, quí vị thích cái
ta nào? Thích cái ta bằng da thịt hôi hám, lăng xăng lộn xộn
này phải không? Chỉ biết có nó, còn cái ta chân thật thì
lơ là không biết tới. Như vậy là mình tự phản bội mình;
tôn trọng cái giả tạm không đáng giá, bỏ quên cái chân
thật đáng quí.
Mỗi lần nhìn cảnh chết chóc, sao tôi thấy con người mê
lầm đáng thương. Ai kia mới vừa tới lui, qua lại, ăn nói
xử sự khéo léo mọi người ưa mến, giờ đây tắt thở,
nằm đó, những cái xử sự khéo léo, khôn ngoan lịch duyệt
đâu rồi? Nếu không mai táng kỹ lưỡng, mà để chán chường
chừng năm ba ngày trên mặt đất thì mọi người đi ngang
qua đó phải bịt mũi. Vô lý làm sao! Bây giờ chúng ta ăn
nói khôn ngoan, xử sự khéo léo, làm việc giỏi giang, khi tắt
thở nằm sáu bảy ngày ai thấy cũng ghê sợ. Vậy cái khối
xương thịt nằm sáu bảy ngày ai thấy cũng ghê sợ đó có
phải là ta không? Thế mà muôn người như một chỉ biết
cái đó thôi! Chúng ta là những người tu, do không chấp nhận
sự mê lầm đó, nên mới vô chùa cạo đầu tu. Vậy tu để
làm gì? - Để tìm cho ra cái ta chân thật, thế nên mới miệt
mài ngày này qua tháng nọ, ngồi yên lặng để tìm cho ra cái
chân thật. Đó là mục đích của sự tu hành. Không phải
chúng ta vào chùa, cơm ngày hai bữa lơ lơ lửng lửng, chờ
tới ngày chết thành cái thây thúi, mà phải đem hết tâm
lực phăng tìm cho ra cái ta thật. Rồi sau đó nhắc nhở chỉ
dạy cho những người chưa biết tìm ra như chúng ta, đó là
truyền pháp lợi sanh. Nếu đi tu mà chúng ta không biết ta
là cái gì, truyền pháp lợi sanh là truyền cái gì, chỉ biết
học lóm nói cho vui tai thì chẳng có lợi ích. Cái giá trị
của người tu là ở chỗ đó. Hiểu cho thật sâu thấy cho
thật rõ, chúng ta mới thấy trách nhiệm của người tu không
phải thường. Ai mà lơ lửng, tu cầm chừng, tu cho có tu, để
cho qua ngày tháng, thật là uổng một đời hy sinh cho cái không
đáng hy sinh. Chúng ta phải xả thân mạng không chút luyến
tiếc, để tìm cho ra cái ta chân thật của chính mình và sau
đó chỉ dạy cho mọi người.
Ngài Huệ Nguyên nói: “Tin được chính mình là chữ bát (
) đã mở hai tay trao cho rồi vậy.” Tin được chính mình
có Thể chân thật không còn nghi ngờ, đó là chữ bát đã
mở hai tay trao cho.
Truyền tâm ấn chưa? - Hai tay trao cho là được truyền tâm
ấn. Tâm ấn chỉ truyền được khi nào chúng ta tự tin chắc
ở nơi chúng ta có ông Phật thật đang ngự trong chúng ta.
Không còn nghi ngờ không còn tìm kiếm ở đâu nữa, một bề
sống với ông Phật của mình, đó là được “chữ bát đã
mở hai tay trao cho”.
Lục này là Đại đức Tiêu Dao nói cho Thượng Sĩ Tuệ Trung.
Thượng Sĩ Tuệ Trung nói cho Điều Ngự Giác Hoàng Đệ nhất
Tổ Trúc Lâm. Điều Ngự Giác Hoàng nói cho Đại sư Pháp Loa
Đệ nhị Tổ Trúc Lâm. Đại sư Pháp Loa nói cho Tôn giả Huyền
Quang Đệ tam Tổ Trúc Lâm. Tôn giả Huyền Quang nói cho tông
phái Trúc Lâm và Thiền tông khắp thiên hạ. Xưa qua nay lại,
truyền trao cho nhau.
Ngữ lục này do Đại đức Tiêu Dao nói cho Thượng Sĩ, Thượng
Sĩ nói cho Sơ Tổ Trúc Lâm. Từ đó thầy dạy cho trò khắp
cả tùng lâm.
Quyển Lục này là phương thuốc hay khéo đối trị các bệnh,
nhanh chóng đốn ngộ thành Phật, thẳng suốt nguồn tâm, nhảy
vọt vào biển giác, giết chết vọng thức, phá sạch danh
tướng, là tông không không, siêu Tam thừa, vượt Phật thừa
là yếu chỉ thượng thượng.
Theo lời tán thán của Thiền sư Huệ Nguyên thì quyển Tuệ
Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục này là phương thuốc hay khéo đối
trị được các bệnh. Ai có bệnh gì đọc hay nghe giảng Ngữ
lục thì các bệnh đều hết. Ngay đó “nhanh chóng đốn ngộ
thành Phật”, tức là nhận ra Tánh Phật nơi mình. Do nhận
nơi mình có Tánh Phật, nên tin sâu sớm muộn gì mình cũng
thành Phật không còn nghi nữa. “Thẳng suốt nguồn tâm”
là đi thẳng vào nguồn tâm tức là nhận ra cái chân thật.
“Nhảy vọt vào biển giác”, là thấy được nguồn tâm,
nhận ra được Tánh Giác. “Giết chết vọng thức, phá sạch
danh tướng.” Tất cả vọng thức đều chết sạch, danh tướng
cũng không còn, ấy là “tông không không”. Tại sao vọng
thức chết, danh tướng không còn gọi là “tông không không”?
Không không là trong không còn chấp tâm, ngoài không còn chấp
cảnh. Người thế gian thì nặng chấp về thân và cảnh. Còn
người biết tu thì nặng chấp tâm, chấp thức, vì họ nghe
Phật dạy thân này do tứ đại giả hợp mà thành, không thật,
họ tin như thế, song họ cứ cho cái hiểu biết, nghĩ suy tính
toán là tâm mình, họ chấp chặt vào đó. Ngữ lục này đập
chết những vọng thức và phá sạch những danh tướng bên
ngoài. Vì sạch danh tướng chết vọng thức, hoặc không vọng
thức không danh tướng nên nói là không không. “Siêu Tam thừa,
vượt Phật thừa là yếu chỉ thượng thượng.” Ba thừa
là Thanh văn thừa, Duyên giác thừa và Bồ-tát thừa. Theo kinh
Pháp Hoa thì ba thừa này là những hóa thành không phải là
chỗ cứu kính. Chỗ cứu kính là Phật thừa, nên Ngài nói
siêu Tam thừa vượt Phật thừa là yếu chỉ Thượng thượng
thừa, hoặc gọi là Tối thượng thừa hay Thượng thượng
thừa mà Thiền tông chủ trương. Vì chỉ thẳng nơi mỗi người
có sẵn Tánh Phật để cho chúng ta nhận ra, chớ không theo
thứ tự quanh co, nên mới nói đốn ngộ, nói siêu việt. Đó
là trọng tâm tu để thành Phật theo tinh thần của Thiền
tông.
Song, Tỳ-kheo Huệ Nguyên tôi một phen xem quyển lục này, chữ
bát ( ) liền mở toang, nói nín đều quên, tam không thông
suốt. Tôi tịnh tọa tại sơn am, cầm sách lên tán tụng rằng:
Ngài Huệ Nguyên thuật lại khi Ngài đọc quyển Tuệ Trung
Thượng Sĩ Ngữ Lục, liền nhận ra nơi mình có chân Phật
nên nói “chữ bát ( ) liền mở toang, nói nín đều quên”,
tức là Ngài không còn mắc kẹt hai bên nữa và thông suốt
cả tam không. Tam không nói theo tinh thần Bát-nhã thì tu pháp
bố thí không thấy có người thí, không thấy có kẻ thọ
thí, không thấy có vật để bố thí; tức là ngã, nhân, pháp
đều không. Ta, người, vật ba cái đều không. Bởi thông
suốt được lẽ đó nên ngồi tịnh tại sơn am, cầm sách
lên tán tụng rằng:
Thiền là tâm của Phật,
Giáo là mắt của Phật,
Pháp là thuốc của Phật.
Mắt xem tâm ngộ,
Bệnh lành thuốc bỏ,
Cởi trần không áo,
Thân an tự tại.
Đã được tự lợi,
Rộng khắp lợi tha,
Chí bám nhất tâm,
Làm hưng thịnh Tam Bảo.
Lý không một vật,
Sự có muôn thứ,
Tiếp ánh sáng,
Nối mùi hương,
Soi sáng kẻ trước,
Phấn phát người sau,
Gánh vác Phật pháp,
Làm rường cột nhà Phật.
Nguyện nắm vững ngọn đèn Tổ,
Mặt trời Phật sáng ngời.
Ngài Huệ Nguyên nói “Thiền là tâm của Phật”. Vì Thiền
tông chỉ thẳng cho Thiền sinh trực ngộ tâm chân thật của
mình, tâm chân thật đó là Phật, nên nói Thiền là tâm của
Phật. “Giáo là mắt của Phật.” Giáo lý Phật nói ra ở
bên ngoài người, chúng ta đọc hiểu nên thuộc về mắt của
Phật. “Pháp là thuốc của Phật.” Nhằm bệnh cho thuốc,
chúng sanh bị bệnh tham, sân, si... ứng dụng pháp Phật để
tu thì hết bệnh nên nói Pháp là thuốc của Phật. Đó là
ý nghĩa Thiền là tâm, giáo là mắt, pháp là thuốc.
“Mắt xem tâm ngộ.” Mắt xem giáo lý, tâm ngộ Thiền; tức
là người tu nhờ xem giáo lý mà thấu suốt được Thiền.
“Bệnh lành thuốc bỏ.” Thầy thuốc chế ra thuốc là để
trị bệnh, bây giờ bệnh đã lành không cần thuốc nữa nên
bỏ không dùng. Chừng đó “cởi trần không áo, thân an tự
tại”. Khi hết vô minh pháp Phật không cần nữa. Thể chân
thật hiện bày sờ sờ, thân tâm an ổn tự tại không còn
bận rộn vướng mắc vật gì.
“Đã được tự lợi, rộng khắp lợi tha, chí bám nhất
tâm, làm hưng thịnh Tam Bảo.” Khi tự mình đã được lợi
ích rồi, liền nghĩ tới việc làm lợi ích cho người, vì
vậy mà chí luôn luôn an trú nhất tâm để làm cho Tam Bảo
hưng thịnh.
“Lý không một vật, sự có muôn thứ.” Đứng về mặt
thể (lý) thì không có một vật, vì thể không hình không
tướng, nên nói không một vật. Về mặt sự thì có muôn
hình vạn trạng. “Tiếp ánh sáng” là “truyền đăng tục
diệm”, biển chữ này được treo trên Thiền đường Tăng.
“Nối mùi hương” là “đức lưu phương”, biển chữ này
được treo trên Thiền đường Ni. Đây là tông chỉ của Thiền
viện Trúc Lâm, quí vị phải hiểu cho rõ để đừng quên
bổn phận và trách nhiệm của mình. “Soi sáng kẻ trước,
phấn phát người sau.” Đối với người trước thì cầm
đuốc soi cho họ thấy đường đi, đối với người sau thì
thúc giục họ cùng đi cùng tiến. “Gánh vác Phật pháp, làm
rường cột nhà Phật.” Đó là bổn phận của người đã
được tự lợi thì phải nghĩ tới lợi tha. “Nguyện nắm
vững ngọn đèn Tổ, mặt trời Phật sáng ngời.” Ngài Huệ
Nguyên nguyện nắm vững ngọn đèn Tổ và mặt trời Phật
luôn luôn sáng ngời ở thế gian, cho chúng sanh hết lầm mê,
vì là trọng trách của người tu Phật.
Tôi khắc bản để lại, truyền lâu ức kiếp gương xưa mãi
sáng, tiếp nối sáng không cùng, khiến chúng sanh khắp thế
giới đại thiên, cùng rõ thấu pháp môn bất nhị, truyền
bá trong nước được muôn đời, đồng chứng Phật quả Nhất
thừa. Canh khuya giờ tốt xin chúc tán rằng:
Ngài Huệ Nguyên nói sở dĩ Ngài khắc bản Ngữ lục của
Tuệ Trung Thượng Sĩ là mong quyển Ngữ lục này truyền bá
lâu đến ức kiếp, vì đây là gương sáng của người xưa
để lại. Chúng ta phải tiếp nối để ánh sáng đó không
dứt, khiến cho chúng sanh khắp thế giới đại thiên cùng
thấu rõ Thiền. Ngày nay chúng ta cũng đang tiếp nối công
việc của ngài Huệ Nguyên là làm sáng tỏ Thiền tông. Có
như thế mới không cô phụ, không tủi hổ với người xưa.
Vì Tuệ Trung Thượng Sĩ, Điều Ngự Giác Hoàng... cũng như
ngài Huệ Nguyên đều muốn truyền bá ánh sáng của Thiền
tông còn mãi trong đời nhất là ở nước nhà. Nhược bằng
không thì bao nhiêu cái hay cái quí của người xưa, người
sau không thấy, không nghiên cứu, không truyền bá, đó là
cái lỗi lớn.
Nghiệp vua vĩnh cửu,
Cùng đỉnh Linh Thứu vòi vọi hằng còn.
Đạo Tổ miên trường,
Đồng nguồn Yên Tử chảy mãi không dứt.
Người sống trong thời quân chủ, làm việc gì cũng cầu nguyện
cho ngôi vua bền vững. Sau đó Ngài cầu nguyện cho dòng Thiền
được Phật truyền từ núi Linh Thứu, đạo của chư Tổ,
nguồn Thiền Yên Tử dài lâu chảy mãi không dứt.
Cung kính đề tựa:
Đầu nẻo Trúc Lâm đưa đuốc tuệ,
Trong nhà biển Thích thả thuyền từ.
Có duyên biết ngọc người Biện Hòa,
Tâm nở giác hoa sanh Phật quả.
Theo ngài Huệ Nguyên thì người tu chúng ta có trách nhiệm
là phải nêu cao ngọn đuốc Thiền Trúc Lâm cho mọi người
được sáng. Luôn luôn đem lòng từ bi để đánh thức mọi
người, cũng như chèo thuyền đưa người qua sông. Khéo tạo
mọi phương tiện mọi thắng duyên để cho mọi người biết
hòn ngọc Biện Hòa. Ngọc Biện Hòa xuất xứ từ chuyện cổ
Trung Hoa. Ông họ Hòa được hòn ngọc quí đem dâng vua Lệ
Vương. Vua sai thợ ngọc xem, thợ ngọc nói: “Đá, không phải
ngọc.” Vua cho ông Hòa nói dối sai chặt chân trái. Khi vua
Vũ Vương nối ngôi, ông lại đem hòn ngọc ấy dâng. Vua cũng
sai thợ ngọc xem, thợ ngọc cũng nói: “Đá, không phải ngọc.”
Vua Vũ Vương cũng cho ông nói dối, sai chặt luôn chân phải.
Đến khi vua Văn Vương lên ngôi ông Hòa ôm hòn ngọc, khóc
ở chân núi suốt ba ngày ba đêm đến chảy máu mắt. Vua biết
được việc này, sai người đến hỏi. Ông Hòa thưa: “Lão
khóc đây không phải khóc vì bị chặt chân, mà khóc vì ngọc
quí mà người ta cho là đá, đó là cái đau khổ của lão
nên lão khóc.” Vua nghe nói, ngạc nhiên bèn cho người lấy
viên ngọc vô thử, quả là viên bích ngọc. Khi vua nhận ra
viên ngọc quí thì Biện Hòa đã cụt hết hai chân! Để thấy,
viên ngọc ẩn trong đá có người biết, lấy đem tới dâng,
mà vua không thèm nhận lại còn hành phạt chặt chân! Cũng
vậy, tất cả chúng ta, ai cũng có hòn ngọc quí mà không biết,
có người chỉ cho cũng không thèm nhận, như trường hợp
Bồ-tát Thường Bất Khinh đi đâu cũng nói: “Tôi không dám
khinh các ngài, vì các ngài sẽ thành Phật.” Vậy mà có người
chống cự hoặc đánh đập lại Ngài mà Ngài vẫn cứ làm.
Hiểu vậy mới thấy người xưa biết được của quí, dù
khổ mấy cũng đem chỉ dạy cho mọi người, dù mình có chuốc
lấy tai họa cũng cam chịu không trách không hại lại. Bây
giờ Tăng Ni chúng ta có đi giáo hóa chỉ dạy đạo lý cho
người, mà bị đánh hay chửi thì buồn chán, chớ không được
như ông Biện Hòa không buồn giận vì bị chặt chân, chỉ
buồn vì có hòn ngọc quí mà người ta không biết.
Niên hiệu Cảnh Hưng thứ hai mươi bốn (1763) năm Quí Mùi,
tiết đông, ngày tốt khắc bản in lại.
Ngài Huệ Nguyên là người đã ngộ đạo thấy quyển Tuệ
Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục có giá trị, muốn làm lợi ích
cho người sau nên cho khắc bản in lại vào mùa đông, niên
hiệu Cảnh Hưng năm thứ hai mươi bốn (1763).
TRẦN
TRIỀU
TUỆ
TRUNG THƯỢNG SĨ
NGỮ
LỤC
Dịch:
Lược dẫn bản đồ Thiền phái.
Từ đức Phật Thích-ca Mâu-ni của chúng ta đem “Chánh pháp
nhãn tạng, Niết-bàn diệu tâm” trao cho tôn giả Đại Ca-diếp,
lần lượt truyền trao đến Đại sư Đạt-ma là hai mươi
tám (28) đời.
Tổ Đạt-ma sang Đông độ (Trung Hoa) truyền cho Đại sư Thần
Quang, dưới Thần Quang truyền sáu đời, đến Đại sư Thần
Hội.
Chính trong thời gian ấy, chánh pháp truyền vào đất nước
ta. Không biết người được truyền trước là ai, chỉ biết
Thiền sư Thiền Nguyệt. Thiền sư Thiền Nguyệt truyền cho
Nguyễn Thái Tông, kế trưởng lão Định Hương, Đại sư Viên
Chiếu, Thiền sư Đạo Huệ, lần lượt truyền trao, nhưng
tên tuổi lúc ẩn lúc hiện, khó nhận ra manh mối.
CHIA LÀM BA TÔNG:
1) Tông Trúc Lâm của tôi, đã khắc trong bản đồ, khỏi phiền
ghi đủ.
2) Tông Thiền sư Vương Chí Nhàn truyền cho Hòa thượng Nhiệm
Tàng, Hòa thượng Nhiệm Tàng truyền cho cư sĩ Nhiệm Túc,
đến nay tông này đã chìm ẩn, không rõ sự thừa kế.
3) Tông Hòa thượng Mật Thiển, không biết Ngài đắc pháp
với ai? Ngài truyền cho đại vương Chân Đạo, đến nay tông
này cũng chìm ẩn.
Ngoài ra, còn có cư sĩ Thiên Phong từ Chương Tuyền đến,
đồng thời với Ứng Thuận, tự xưng thuộc tông Lâm Tế,
truyền cho Quốc sư Đại Đăng, Hòa thượng Nan Tư. Đại Đăng
truyền cho Hoàng Đế Thánh Tông, Quốc sư Liễu Minh, Thường
Cung, Huyền Sách... Huyền Sách truyền cho Phả Trắc..., nay
cũng lu mờ, không còn sáng tỏ.
Ối! Thiền tông suy thạnh, có thể nói được sao! Nay lược
nêu ra các tông trong Thiền môn để lưu lại đời sau, hầu
mong học giả biết Thiền có tông để học, không phải tự
ý bày đặt ra đó vậy.
Giảng:
Lược
dẫn bản đồ Thiền phái.
Từ đức Phật Thích-ca Mâu-ni của chúng ta đem “chánh pháp
nhãn tạng, Niết-bàn diệu tâm” trao cho tôn giả Đại Ca-diếp,
lần lượt truyền trao đến Đại sư Đạt-ma là hai mươi
tám đời.
“Chánh pháp nhãn tạng, Niết-bàn diệu tâm” là những từ
mà nhiều người thắc mắc thưa hỏi. Nay tôi giải thích theo
chữ nghĩa cho quí vị hiểu. Chánh pháp là pháp chân thật
do bậc giác ngộ nói ra, nhãn là con mắt, tạng là kho. Pháp
chân thật là cái kho con mắt của mọi người. Tại sao? Vì
trong kinh A-hàm ghi những người được Phật dùng chánh pháp
để giáo hóa, họ giác ngộ, tán thán rằng: “Con như người
mù được sáng, như kẻ cúi được ngưỡng...” Như vậy,
chánh pháp của Phật giống như con mắt sáng, dù là mù, nhưng
khi nghe chánh pháp rồi liền được sáng mắt. Mù là chỉ
cho si mê. Kho chánh pháp của Phật là con mắt sáng của thế
gian. Niết-bàn diệu tâm là tâm nhiệm mầu không sanh không
diệt, nguyên chữ Phạn là Nirvàna, Trung Hoa dịch là vô sanh.
Vậy chánh pháp của Phật là kho con mắt sáng, còn tâm chân
thật của người là vô sanh. Đức Phật trao phó cho Ma-ha Ca-diếp
là Tổ thứ nhất, Tổ Ma-ha Ca-diếp truyền xuống Tổ A-nan,
là Tổ thứ hai, lần lượt truyền trao tới Tổ thứ hai mươi
tám là Bồ-đề-đạt-ma.
Tổ Đạt-ma sang Đông độ (Trung Hoa) truyền cho Đại sư Thần
Quang, dưới Thần Quang truyền sáu đời, đến Đại sư Thần
Hội.
Chính trong thời gian ấy, chánh pháp truyền vào đất nước
ta. Không biết người được truyền trước là ai, chỉ biết
từ Thiền sư Thiền Nguyệt. Thiền sư Thiền Nguyệt truyền
cho Nguyễn Thái Tông, kế trưởng lão Định Hương, Đại sư
Viên Chiếu, Thiền sư Đạo Huệ, lần lượt truyền trao, nhưng
tên tuổi lúc ẩn lúc hiện, khó nhận ra manh mối.
Qua đoạn này chúng ta biết ngài Huệ Nguyên không đọc được
quyển Thiền Uyển Tập Anh nên Ngài không biết manh mối truyền
trao của chư Tổ, chỉ biết các vị: Thiền Nguyệt, Nguyễn
Thái Tông, Trưởng lão Định Hương, Đại sư Viên Chiếu,
Thiền sư Đạo Huệ, mà không biết gốc từ đâu. Đó chẳng
qua là Ngài không đủ duyên gặp quyển Thiền Uyển Tập Anh,
không đọc được nên không biết. Ngày nay chúng ta gặp được
quyển Thiền Uyển Tập Anh, nên biết rõ dòng truyền trao này.
Trong quyển Thiền Sư Việt Nam tôi dẫn dịch từ quyển Thiền
Uyển Tập Anh thì những vị này thuộc phái Thiền Vô Ngôn
Thông. Như vậy, ngài Vô Ngôn Thông qua Việt Nam ở chùa Kiến
Sơ xiển dương Thiền tông, ngài Cảm Thành được truyền
thừa. Rồi từ ngài Cảm Thành lần lượt truyền trao
đến các vị này.
Chia làm ba tông:
1. Tông Trúc Lâm của tôi, đã khắc trong bản đồ, khỏi phiền
ghi đủ.
2. Tông Thiền sư Vương Chí Nhàn truyền cho Hòa thượng Nhiệm
Tàng, Hòa thượng Nhiệm Tàng truyền cho cư sĩ Nhiệm Túc,
đến nay tông này đã chìm ẩn, không rõ sự thừa kế.
3. Tông Hòa thượng Nhật Thiển, không biết Ngài đắc pháp
với ai? Ngài truyền cho Đại vương Chân Đạo, đến nay tông
này cũng chìm ẩn.
Ngoài ra, còn có cư sĩ Thiên Phong từ Chương Tuyền đến,
đồng thời với Ứng Thuận, tự xưng thuộc tông Lâm Tế,
truyền cho Quốc sư Đại Đăng, Hòa thượng Nan Tư. Đại Đăng
truyền cho Hoàng đế Thánh Tông, Quốc sư Liễu Minh, Thường
Cung, Huyền Sách... Huyền Sách truyền cho Phả Trắc... nay cũng
lu mờ, không còn sáng tỏ.
Ối! Thiền tông suy thạnh, có thể nói được sao! Nay lược
nêu ra các tông trong Thiền môn để lưu lại đời sau, hầu
mong học giả biết Thiền có tông để học, không phải tự
ý bày đặt ra đó vậy.
Thiện chí của ngài Huệ Nguyên là muốn cho người sau tin
Thiền có truyền thừa từ gốc đến ngọn hẳn hoi, chớ không
phải chuyện mơ hồ không căn cứ. Nhưng rất tiếc là thời
của Ngài sách vở chưa sưu tầm được nên thiếu. Bây giờ
chúng ta có được sách vở khá đầy đủ. Ngài Huệ Nguyên
biết được giá trị của quyển Ngữ lục này, muốn truyền
bá mãi mãi không dứt, cho người sau được lợi ích, nên
Ngài in lại và làm bản đồ này nói về Tuệ Trung Thượng
Sĩ đời Trần. Ngài chỉ có tài liệu truyền thừa từ Thiền
sư Thông Thiền Tức Lự, Ứng Thuận, Tiêu Dao, Tuệ Trung, Trúc
Lâm, Pháp Loa, Huyền Quang. Sau ngài Huyền Quang, cuối thế kỷ
mười ba trở về sau không có tài liệu ghi, nhưng tới đầu
thế kỷ mười bảy thì có những vị Thiền sư như Hương
Hải là người được Thiền sư Viên Cảnh, Viên Khoan giáo
hóa, sau Ngài khôi phục lại Thiền phái Trúc Lâm. Chỗ này
có nhiều người thắc mắc: tại sao phái Thiền Trúc Lâm chết
yểu, chỉ thừa kế có ba bốn đời rồi bị thất truyền?
Chúng ta phải hiểu rằng, phái Thiền Trúc Lâm tựa vào thế
vua quan nhà Trần xây dựng giáo hội Thiền Trúc Lâm. Khi nhà
Trần suy yếu rồi mất, nhà Hồ lên thay, kế đó nhà Minh
bên Tàu sang xâm lăng, Lê Lợi đánh đuổi quân Minh, chiến
thắng lập ra triều đình nhà Lê. Nhà Lê sợ con cháu nhà
Trần khôi phục ngôi vua, nên sợ Phật giáo đời Trần, mới
lấy Nho giáo chỉ đạo chánh trị. Đó là triều đại trọng
Nho khinh Phật. Vì thế nên các Thiền sư mới ẩn vào núi
rừng để tu, không phô bày truyền bá nữa. Do đó hệ phái
Trúc Lâm thấy dường như mất, nhưng không phải mất hẳn.
Vì ẩn truyền nên cuối đời Lê khi Nam Bắc phân tranh, ở
đàng trong chúa Nguyễn nêu ra đường lối tu Thiền, thỉnh
các Thiền sư Trung Hoa sang thì lúc đó các Thiền sư Việt
Nam ẩn cư xuất hiện. Vậy mới thấy thời cơ thuận tiện
cho việc giáo hóa thì các Ngài xuất hiện, không tiện thì
ẩn, chớ không mất.

|