MỤC LỤC
Lời
ngỏ cùng quý độc giả
Phần
Mở Đầu
Chương
I Dẫn nhập Tứ diệu đế
Chương
II Khổ đế (Chân lý về khổ)
Chương
III Tập khổ đế (Chân lý về nguồn gốc của khổ)
Chương
IV Diệt khổ đế (Chân lý về diệt khổ)
Chương
V Đạo đế (Chân lý về con đường thoát khổ)
Phụ
Lục 1 Từ bi - Cơ sở hạnh phúc con người.
Phụ
lục 2 Các Quán Chiếu Phật Giáo.
Chú
Thích
CẢM
TẠ
Xin
chân thành cảm tạ đức Dalai Lama đã ban cho dịch giả nhiều
giảng huấn quý báu và cho phép chuyển ngữ các tác phẩm
của Ngài.
Thủ
bút và chữ ký của Đức Datlai Lama

Xin
tri ân Lama Tenzin Dhonden, Sứ giả Hoà bình của đức Dalai Lama
14, (the emissary of peace for His Holiness) người đã tạo duyên
cho buổi diện kiến với đức Dalai Lama và giúp thay mặt Ngài
để tạo thuận lợi cho việc chuyển dịch các sách này.
Chân
thành cảm tạ Tiến sĩ B. Alan Wallace Viện trưởng Học viện
Santa Barbara về Các nghiên cứu ý thức, đã vui lòng cung cấp
bài luận văn “Afterword: Buddhist Reflections” và cho phép chuyển
dịch sang Việt ngữ để trình bày trong phần phụ lục của
tập sách này.
Đặc
biệt xin cảm ơn anh Chân Nguyên (Đỗ Quốc Bảo) đã hết
lòng giúp đỡ người dịch. Không có anh và những bài viết
trên các phương tiện truyền thông thì cuốn sách này sẽ
khó lòng được ra mắt như hôm nay.
Xin
trân trọng cảm tạ anh Nguyên Minh (Nguyễn Minh Tiến), đã
hướng dẫn và giúp dịch giả hiệu đính bản thảo.
Chân
thành cảm tạ các bậc ân sư, các bậc đàn anh trong đại
gia đình Phật tử, không phân biệt bộ phái, chủng tộc,
hay hoàn cảnh địa lý, đã bỏ nhiều công sức soạn thảo,
diễn giảng và phổ biến các văn liệu Phật giáo để giữ
cho Đạo pháp trường tồn.
NGƯỜI
DỊCH
LỜI
NGỎ CÙNG ĐỘC GIẢ
Trước
khi được đức Dalai Lama XIV ban tặng quyển “The Four Noble
Truths” (bản Anh ngữ) và nhiều lời dạy chân ý, dịch giả
đã có một ước nguyện rằng tất cả công đức có được
từ các việc thiện của mình sẽ hồi hướng đến Tam bảo,
cho những người hữu duyên là đối tượng của việc đang
làm, và cho mọi chúng sinh.
Bản
dịch Việt ngữ này là một đáp ứng với nguyện ước trên.
Nhân
đây xin có vài lời ngắn gọn về cuộc đời hoạt động
của đức Dalai Lama thứ 14.
Ngài
sinh ra ngày 6 tháng 7 năm 1935 tại ngôi làng nhỏ Taktser, phía
đông Tây Tạng, gần biên giới Trung Hoa, trong một gia đình
nông dân nghèo, với tên gọi là Lhamo Dhondup. Theo truyền thống
đi tìm vị lãnh đạo tôn giáo tái sinh sau khi vị tiền nhiệm
(tức là đức Dalai Lama thứ 13) đã qua đời, Ngài được
phát hiện vào lúc mới hai tuổi, và sau đó được chọn trở
thành vua xứ Tây Tạng và là vị Dalai Lama thứ 14 vào năm
1940, với tên gọi mới là Jetsun Jamphel Ngawang Lobsang Yeshe Tenzin
Gyatso, thường được viết tắt trên các ấn bản là Tenzin
Gyatso. Khi 25 tuổi, tức là vào năm 1959, Ngài hoàn tất trình
độ Geshe Lharampa, tức học vị tiến sĩ Phật học Tây Tạng.
Ngài được thế giới phương Tây biết đến nhiều do việc
hết lòng truyền bá những tinh thần Phật giáo như là đức
từ bi, lập trường bất bạo động và tôn trọng chúng sinh,
bảo vệ môi trường sống...
Năm
1989, Ngài được tặng giải Nobel Hòa Bình do đã có nhiều
cống hiến cho mục đích hòa bình của nhân loại.
Nay,
tuy đã ngoài 70 tuổi, đức Dalai Lama vẫn vô cùng bận rộn,
ngài sẵn sàng đi đến mọi miền, mọi nơi, mọi xứ sở
từ Đông sang Tây để mang thông điệp hoà bình và truyền
bá tinh thần Phật giáo. Số lượng sách viết về những điều
Ngài truyền bá hay do Ngài giữ bản quyền có đến hàng trăm
tựa. Trong đó, không ít sách được xếp vào loại “best-selling”
(bán chạy nhất). Nội dung giảng dạy của Ngài không chỉ
giới hạn trong Phật giáo Đại thừa, Mật tông, hay Trung quán
tông, mà còn bao trùm nhiều mặt khác liên quan đến mọi khía
cạnh của cuộc sống như là đạo đức, cách sống, phương
pháp để có được hạnh phúc cá nhân, gia đình... Ngài cũng
đề cập đến cả những vấn đề tương quan giữa triết
học Phật giáo và khoa học.
Quyển
“The Four Noble Truth” là một tác phẩm có tính chất kinh
điển ghi lại những lời giảng dạy của Ngài và được
chuyển dịch sang Anh ngữ từ năm 1997. Mặc dù là tác phẩm
kinh điển, nhưng cách trình bày theo ngôn ngữ hiện đại sẽ
dẫn dắt người đọc đến với những khái niệm cơ bản
nhất của Phật giáo theo một cách dễ hiểu và dễ nắm bắt.
Ngoài ra, khi có dịp Ngài cũng đưa vào trong các thuyết giảng
của mình những so sánh, đánh giá và quan điểm Phật học
trong mối liên hệ với tri thức khoa học hiện đại, nhất
là trong các lĩnh vực vật lý học, thần kinh học và tâm
lý học. Qua cuốn sách này, người đọc có thể hình dung
được phần nào những giáo pháp cơ bản của đức Phật
Thích-ca, được áp dụng để giải thích và quán chiếu vào
các hiện tượng thường ngày trong cuộc sống, nhằm bước
đầu khai mở con đường dẹp bỏ đau khổ, đi đến hạnh
phúc viên mãn.
Đức
Dalai Lama trình bày những lời giảng này không chỉ dành riêng
cho Phật tử mà còn cho cả các đối tượng khác nữa, ngay
cả những người không có tín ngưỡng hay không theo Phật
giáo. Vì thế, để việc theo dõi nội dung sách được thuận
lợi, xin nêu một số quy ước chung mà dịch giả sử dụng
trong sách này:
Về
ấn bản Anh ngữ được sử dụng:
Quyển
The Four Noble Truths này được nhà Thorson ấn hành lần đầu
tiên năm 1997. Năm 2002, cũng nhà Thorson đã cho tái bản với
nhan đề mới là A Simple Path. Lần tái bản này, sách được
duyệt lại, hiệu chỉnh một đôi chỗ về mặt văn chương,
nhưng nói chung vẫn giữ nguyên những nội dung thuyết giảng
của đức Đạt-lai Lạt-ma. Điểm thay đổi đáng kể nhất
là phần phụ lục bài nói chuyện về chủ đề từ bi mang
tựa đề Compassion, the Basic for Human Happiness cùng với các
nội dung hỏi đáp ở cuối mỗi phần đã được lược bỏ.
Thay vào đó, sách được in khổ lớn hơn và thêm vào rất
nhiều hình ảnh minh họa.
Khi
chuyển dịch, chúng tôi chọn sử dụng ấn bản đầu tiên
năm 1997, vì muốn giữ lại cả phần phụ lục mà chúng tôi
thấy là rất có ý nghĩa đối với những ai thực sự muốn
thực hành giáo pháp Tứ diệu đế. Tuy nhiên, trong quá trình
thực hiện bản dịch, chúng tôi cũng thường xuyên tham khảo
sách A simple Path, bởi thấy rằng có một số chỉnh sửa rất
hợp lý về mặt văn phong trong bản in lần thứ hai này và
nên cập nhật cho bản dịch Việt ngữ để nội dung được
hoàn thiện hơn. Mặc dù việc này có làm cho công việc thêm
phần khó khăn, phức tạp hơn đôi chút, nhưng chúng tôi tin
rằng như vậy sẽ có thể cống hiến cho độc giả một bản
dịch tương đối hoàn thiện hơn. Nếu có bất cứ sai sót
nào trong quá trình thực hiện công việc đối chiếu so sánh
này, chúng tôi xin nhận hoàn toàn trách nhiệm về mình và
mong được sự quan tâm chỉ giáo của các bậc thức giả.
Về
các thuật ngữ có liên quan đến gốc tiếng Phạn (Sanskrit
hay Pali):
Ngoại
trừ các tên đã được Việt hóa quen thuộc và quá thông
dụng, các quy tắc sau đây sẽ được áp dụng một cách tương
đối:
1.
Các thuật ngữ là nhân danh, địa danh sẽ được dùng ở
dạng Latinh hóa của tiếng Phạn. Lý do là hầu hết các tên
này đều chỉ được phiên âm lại từ ngôn ngữ trung gian
là tiếng Hán, và đa số các từ phiên âm này không phản
ánh đúng cách đọc hay nghĩa của từ. Để độc giả tiện
liên hệ, các tên phiên âm sẽ được đưa vào phần phụ
chú và Bảng tra cứu thuật ngữ (cuối sách) cùng với những
cách chuyển dịch sang Việt ngữ mà dịch giả đã được
biết.
2.
Tên các bộ phái lớn trong Phật giáo, tên kinh sách sẽ ưu
tiên dùng các thuật ngữ đã được Việt hóa theo ý nghĩa.
Tuy nhiên, khi có nhiều thuật ngữ được diễn dịch khác
nhau thì dịch giả sẽ chọn thuật ngữ nào thích hợp nhất.
Đồng thời, tùy theo ngữ cảnh, các thuật ngữ quen thuộc
cũng có thể được chọn dùng.
3.
Trong nhiều trường hợp, một số thuật ngữ có cách viết
gốc Phạn (đã Latinh hóa) và cũng có cách viết dịch nghĩa
(hay phiên âm) trong tiếng Việt nhưng lại được sử dụng
đan xen nhau. Lý do là vì tôn trọng văn phong của bản dịch
Anh ngữ cũng như để thuận tiện cho việc giới thiệu các
thuật ngữ tiếng Phạn với người đọc.
4.
Các thuật ngữ đều dựa vào những từ điển Phật học
và từ điển Hán Việt sẵn có ở các địa chỉ trên mạng
Internet như là vi.wikipedia.org, http://www.quangduc.com/tudien/index.html,
http://perso.orange.fr/dang.tk/langues/hanviet.htm... Tuy nhiên, những
từ không tìm thấy trong các từ điển này sẽ được chuyển
dịch bằng cách tham khảo các từ điển Anh ngữ và các chú
giải Phật học Anh ngữ tìm được trong các cơ sở dữ liệu
của những trang web liên hệ đến Phật giáo, đặc biệt là
Phật giáo Tây Tạng.
Về
cách viết tên đức Đạt-lai Lạt-ma thứ 14:
Kể
từ đây về sau, nếu không có chú thích gì thêm thì cụm
chữ Dalai Lama hay Đạt-lai Lạt-ma sẽ được dùng để chỉ
ngài Tenzin Gyatso tức là vị Dalai Lama thứ 14. Ngoài ra, chiếu
theo nguyên bản, trong phần Hỏi Đáp, chữ viết tắt HHDL
(từ chữ His Holiness the Dalai Lama) bắt đầu của mỗi câu
trả lời sẽ được giữ nguyên.
Về
mặt trình bày:
Trong
bản Anh ngữ, các chú thích được đánh số thứ tự (1,2,3...)
riêng trong từng chương và tất cả nội dung chú thích được
đưa về cuối sách, cũng phân theo từng chương. Tuy nhiên,
trong nhiều trường hợp, dịch giả cảm thấy cần có thêm
các phụ chú để làm rõ nghĩa hay để đối chiếu với các
thuật ngữ Phật học tiếng Việt, hoặc chỉ nhằm nêu ra
các tài liệu tham khảo để độc giả có thể nghiên cứu
sâu hơn. Vì thế, trong bản dịch này sẽ có cả 2 loại chú
thích, một được dịch từ nguyên tác Anh ngữ, và một là
do người dịch soạn thêm vào. Tất cả đều sẽ được đặt
ngay ở cuối mỗi trang để người đọc tiện theo dõi. Và
để phân biệt, những chú thích nào của người dịch sẽ
có thêm cụm từ (ND) ở cuối.
Về
mặt tham chiếu:
Ngoài
phần đề nghị đọc thêm của bản Anh ngữ, dịch giả cũng
cố gắng giới thiệu thêm một số tài liệu tham khảo khác,
đặc biệt là những tài liệu có trên Internet và những tài
liệu bằng Việt ngữ có thể tìm được tại Việt Nam. Những
tài liệu này rất hữu ích cho việc nghiên cứu sâu hơn hay
giúp hiểu rõ hơn những ý tưởng mà đức Dalai Lama muốn
truyền giảng.
Trong
phần cuối sách, dịch giả có đưa thêm vào bảng thuật ngữ
sẵn có một số từ vựng đối chiếu có gốc Phạn đã Latin
hóa với nghĩa tiếng Việt. Phần này được soạn ra nhằm
giúp độc giả có thêm một số từ vựng quen thuộc khi đọc
các tài liệu Phật giáo bằng Anh ngữ.
Một
số điểm khác biệt trong bản Việt ngữ:
°
Dùng hình ảnh minh họa từ nhiều nguồn khác nhau, đặc biệt
là từ trang từ điển mở wikipedia.org
°
Ngoài ra, dành riêng cho độc giả Việt Nam, dịch giả có thêm
phần phụ lục là bài luận của Tiến sĩ B. Alan Wallace về
cuộc thảo luận giữa các nhà thần kinh học và các vị đại
sư Tây Tạng trong Hội nghị Tâm thức và cuộc sống (Mind
and Life Conference) lần thứ hai năm 1998. Bài luận này là phần
kết của cuốn sách Consciousness at the Crossroads: Conversations
with the Dalai Lama on Brain Science and Buddhism (Snow Lion - Ithaca,
New York, 1999).
Cuối
cùng, vì sự giới hạn nhất định trong khả năng diễn dịch
những vấn đề sâu sắc và uyên áo, người dịch biết chắc
không thể tránh khỏi ít nhiều sai sót. Mong rằng quý độc
giả có thể “được ý quên lời”, bỏ qua cho những thiếu
sót của dịch giả. Nguyện ước rằng tập sách nhỏ này
sẽ mang lại nhiều thiện nghiệp và lợi ích cho độc giả.
Trong
lúc chuyển ngữ, dịch giả đã hết sức cố gắng dùng từ
vựng thật sự thông dụng dễ hiểu. Tuy nhiên, vì mức độ
phức tạp của đề tài và kiến thức sâu rộng của tác
giả nên khó tránh được một số điểm trình bày khó hiểu
hay chưa hoàn thiện. Dịch giả chân thành xin các bậc hiểu
biết chỉ giáo và xin hoan hỉ đón nhận mọi đề nghị hay
khuyên bảo.
Cuối
cùng, do sở nguyện, dịch giả không hề nhận về cho mình
bất cứ một nguồn lợi vật chất nào trong việc ấn loát
và phát hành. Tất cả sẽ được quyên góp về cho cộng đồng
người Tây Tạng. Kính mong chư vị độc giả hay tổ chức
nào có khả năng tài chính, nếu nhờ vào sách này mà có được
niềm vui trong cuộc sống, hãy hỗ trợ cộng đồng người
Tây Tạng bằng cách quyên góp cho một trong các điạ chỉ
liên lạc của các tổ chức thiện nguyện bất vụ lợi sau
đây, hoặc gửi đến bất kì tổ chức quyên góp cho người
Tây Tạng nào khác:
°
Tổ chức Tibet Fund: http://www.tibetfund.org/help.html
°
Sáng Hội Dalai Lama http://www.dalailamafoundation.org/
°
Tổ chức Tibet Aid http://www.tibetaid.org/index.htm
Chân
thành cảm tạ,
Namo
Shakyamuni
Phật
tử Làng Đậu - Võ Quang Nhân
LỜI
GIỚI THIỆU
Tháng
7 năm 1996, đức Dalai Lama có một loạt các bài giảng về
tư tưởng và thực hành cho Phật tử ở Barbican Center (Trung
tâm Barbican) tại Luân Đôn. Những buổi thuyết pháp này được
sự hỗ trợ từ Network of Buddhist Organizations (Liên hiệp các
Tổ chức Phật giáo) tại Vương quốc Anh.
Cốt
lõi của tập sách này hình thành từ chủ đề trọng tâm
các bài giảng này của đức Dalai Lama, bao gồm giáo lý Tứ
diệu đế, là nền tảng mọi giáo pháp của đức Phật. Trong
các bài giảng, Ngài đã giải thích đầy đủ về chủ đề
này, giúp chúng ta có được sự hiểu biết rõ hơn về Tứ
diệu đế.
Phần
phụ lục có tựa đề “Từ bi, cơ sở cho hạnh phúc con người”,
là bài nói chuyện của Ngài trước công chúng tại Free Trade
Center (Trung Tâm Mậu Dịch Tự Do) ở Manchester. Sự kiện này
được tổ chức bởi Tibet Society thuộc Vương quốc Anh - là
một trong những tổ chức hỗ trợ người Tây Tạng ra đời
sớm nhất. Phần này đề cập tới từ bi, bổ túc một cách
hoàn mỹ cho các lời dạy về Tứ diệu đế, bởi vì đây
là những minh họa cụ thể về cách ứng dụng những lời
dạy của đức Phật vào đời sống hằng ngày.
Thông
điệp trọng tâm của đức Dalai Lama trong các bài nói chuyện
là lòng từ bi và giảng dạy về cách thức để sống một
cuộc đời nhân hậu. Chúng tôi hy vọng rằng những điều
trong sách này sẽ lý thú và ích lợi cho bất cứ ai, dù thuộc
tôn giáo nào, hay thậm chí là không chia sẻ lòng tin với tôn
giáo.
Văn
phòng về Tây Tạng (The Office of Tibet) ở Luân Đôn xin gởi
lời cảm tạ đến Cait Collins và Jane Rasch, những người đã
chuyển thành văn viết từ các băng ghi âm, và Dominic Side cùng
với ngài Geshe Thupten Jinpa, người dịch sang Anh ngữ, trong
việc hoàn chỉnh văn bản để ấn hành.
Bà
Kesang Y Takla
Đại
diện của đức Dalai Lama
tại
Luân Đôn
PHẦN MỞ ĐẦU
Tứ
diệu đế là nền tảng cốt lõi của giáo lý nhà Phật, và
do đó rất quan trọng. Thật ra, nếu các bạn không có sự
hiểu biết về Tứ diệu đế [1]cũng như chưa tự
mình thể nghiệm chân lý của lời dạy này thì các bạn sẽ
không thể thực hành Phật pháp. Do đó, tôi luôn luôn hoan
hỉ khi có cơ hội để giảng giải về Tứ diệu đế.
Nói
một cách tổng quát, tôi tin rằng hầu hết các tôn giáo trên
thế giới đều có khả năng phục vụ nhân loại và đào
tạo những con người tốt đẹp. Khi dùng từ “tốt đẹp”,
ý tôi không muốn nói đến những người có vẻ ngoài xinh
đẹp, mà là những người có tâm hồn tốt đẹp và lòng
từ ái cao quý. Vì thế, tôi luôn cho rằng việc duy trì truyền
thống tôn giáo của mỗi cá nhân là tốt hơn, bởi vì sự
thay đổi tôn giáo có thể sẽ dẫn đến những khó khăn về
trí tuệ và tình cảm. Chẳng hạn như, văn hóa tôn giáo truyền
thống ở nước Anh là Ki Tô giáo, và những người Anh có
thể sẽ cảm thấy tốt hơn khi vẫn giữ theo tôn giáo đó.
Mặc
dù vậy, đối với những ai cảm thấy tôn giáo truyền thống
không hiệu quả cho mình, cũng như đối với những ai thật
sự chưa có niềm tin vào tôn giáo, thì cách giải thích sự
việc của đạo Phật có thể là cuốn hút. Trong những trường
hợp đó, việc tin theo Phật giáo có thể là đúng đắn. Nói
chung, tôi cho rằng có được đôi chút hiểu biết về tôn
giáo vẫn hơn là không hiểu biết gì. Nếu bạn thật sự
cảm thấy bị thu hút bởi những pháp môn tu tập của Phật
giáo cũng như phương thức rèn luyện tinh thần của các Phật
tử, thì điều quan trọng là phải cân nhắc thật cẩn thận,
và chỉ khi nào cảm thấy Phật giáo thật sự thích hợp cho
mình mới nên tiếp nhận đạo Phật và trở thành một Phật
tử.
Ở
đây còn một điểm nữa rất quan trọng. Có một khuynh hướng
tự nhiên ở con người là, đôi khi, để biện minh cho sự
tiếp nhận một tôn giáo mới, chúng ta thường phê phán tôn
giáo cũ của mình, hoặc tôn giáo truyền thống của quốc
gia mình, và cho rằng nó thiếu sót. Thật không nên làm như
thế.
Thứ
nhất, mặc dù tôn giáo trước đây có thể không hữu hiệu
cho bạn, nhưng điều đó không có nghĩa là nó hoàn toàn vô
giá trị đối với nhiều triệu người khác. Chúng ta nên
tôn trọng hết thảy mọi con người, và do đó ta phải tôn
trọng cả những người tin theo các tôn giáo khác. Hơn nữa,
tôn giáo truớc đây của các bạn, cũng giống như mọi tôn
giáo khác, đều có khả năng giúp ích cho một số mẫu người
nào đó. Rõ ràng là đối với một số người, cách tiếp
cận của Ki Tô giáo lại hữu hiệu hơn so với Phật giáo.
Điều đó còn tùy thuộc vào khuynh hướng tinh thần của mỗi
cá nhân. Do vậy, chúng ta phải biết trân trọng khả năng
giáo hóa của mỗi tôn giáo, và tôn trọng tất cả những
người tin theo các tôn giáo đó.
Thứ
hai, chúng ta giờ đây đang được biết đến nhiều truyền
thống tôn giáo của thế giới và đang cố gắng phát triển
một sự hòa hợp chân thật giữa các tôn giáo. Điển hình
của nỗ lực này là cuộc họp mặt nhiều đại biểu tôn
giáo khác nhau tại Assisi năm 1986 để bàn về tôn giáo và
môi trường [2]. Tôi nghĩ hiện nay đang có nhiều sự giao thoa
giữa các niềm tin khác nhau và ý tưởng về sự đa dạng
tôn giáo đang được hình thành. Đây là một dấu hiệu rất
khích lệ. Vào thời đại mà người ta đang cố gắng phát
triển sự hiểu biết tôn giáo chân thật ở khắp mọi nơi
thì khuynh hướng phê phán của cá nhân riêng lẻ có thể rất
có hại.
Dựa
trên những luận điểm này, chúng ta nên duy trì sự tôn trọng
đối với các tôn giáo khác.
Sở
dĩ tôi mở đầu bằng những điểm như trên là vì khi thật
sự giải thích về Tứ diệu đế, tôi buộc phải chứng minh
rằng đạo Phật là tốt đẹp nhất! Hơn nữa, nếu các bạn
hỏi rằng tôn giáo nào tốt nhất cho tôi thì câu trả lời
không ngần ngại của tôi là Phật giáo. Nhưng điều đó không
có nghĩa rằng đạo Phật là tốt nhất cho tất cả mọi người
- chắc chắn là không! Do vậy, trong suốt buổi giảng này,
khi tôi nói rằng với tôi đạo Phật là tốt nhất thì xin
các bạn đừng hiểu nhầm ý tôi.
Tôi
muốn nhấn mạnh thêm rằng khi tôi nói tất cả các tôn giáo
đều có khả năng giáo hóa lớn lao, thì đó không chỉ là
cách nói lịch sự hay xã giao. Điều hiển nhiên là, dù muốn
hay không thì toàn thể nhân loại này cũng không thể đều
là Phật tử. Tương tự, cũng không thể đều là Ki Tô giáo
hay Hồi giáo... Ngay cả ở Ấn Độ vào thời Phật tại thế
thì cũng không phải tất cả mọi người đều theo đạo Phật.
Đây là một sự thật. Hơn nữa, tôi không chỉ đọc sách
về các tôn giáo khác mà còn đã từng gặp gỡ các vị tu
hành chân chính của những truyền thống tín ngưỡng khác.
Chúng tôi đã trao đổi về những kinh nghiệm tâm linh sâu
sắc, đặc biệt là những trải nghiệm về lòng thương yêu.
Tôi đã nhận ra được tình thương chân thật và rất mãnh
liệt trong tâm tư của họ. Do đó, tôi kết luận rằng các
tôn giáo khác nhau đó đều có khả năng làm phát triển tâm
hồn tốt đẹp.
Cho
dù chúng ta có ưa thích giáo lý của những tôn giáo khác hay
không thì điều đó cũng không thật sự quan trọng. Với người
không theo Phật giáo thì ý tưởng về Niết-bàn và kiếp sau
dường như vô nghĩa. Tương tự, với những người Phật tử
thì tư tưởng về một đấng Sáng thế nghe như phi lý. Nhưng
những điều này không quan trọng, có thể bỏ qua. Điều
quan trọng là, nhờ vào các truyền thống tôn giáo khác nhau
này, một người rất tồi tệ có thể được chuyển hóa
thành một người tốt đẹp. Đó là mục đích của tôn giáo
- và đó là kết quả thực tiễn. Chỉ riêng điểm này thôi
cũng đủ là lý do để tôn trọng các tôn giáo khác.
Cuối
cùng, như các bạn có thể đã biết, đức Phật giáo huấn
bằng những phương cách khác nhau, và đạo Phật có nhiều
hệ thống triết lý dị biệt như là Tỳ-bà-sa bộ (Vaibhāshika),
Kinh lượng bộ (Sautrāntika), Duy thức tông (Cittamātra), Trung
quán tông (Mādhyamika)...[3] Mỗi trường phái kể
trên đều trích dẫn lời đức Phật từ kinh điển. Nếu
như đức Phật đã dạy những điều khác biệt nhau, thì có
vẻ như tự Ngài không nắm chắc được chân tướng của
sự việc. Nhưng sự thật không phải vậy, mà là do đức
Phật biết rõ được những căn cơ khác nhau của các đệ
tử ngài. Mục đích chính của sự giáo hóa là để giúp ích
cho con người chứ không phải để được nổi tiếng. Cho
nên, những điều Ngài dạy là thích hợp với căn cơ của
từng người nghe. Vì thế, chính bản thân đức Phật Thích-ca
Mâu-ni rất tôn trọng quan điểm và nhân cách của mỗi cá
nhân. Một giáo pháp có thể là rất thâm diệu, nhưng nếu
không phù hợp với một người nào đó, thì sự giảng giải
giáo pháp đó phỏng có ích gì cho người ấy? Trong ý nghĩa
này, Phật pháp tựa như một liều thuốc. Giá trị chính của
liều thuốc là ở chỗ nó chữa được bệnh chứ không ở
nơi số tiền bỏ ra mua nó. Chẳng hạn, một loại thuốc có
thể là rất quý và đắt tiền, nhưng nếu nó không thích
hợp với người bệnh thì chẳng có ích gì cả.
Vì
có nhiều hạng người khác nhau trên thế giới, nên chúng
ta cần có những tôn giáo khác biệt nhau. Tôi xin đưa ra một
ví dụ về chuyện này. Khoảng đầu thập niên 1970, có một
kỹ sư người Ấn hết sức nhiệt thành tin theo Phật giáo
và cuối cùng đã trở thành một tăng sĩ. Anh ta là người
hết sức chân thành và dễ mến. Rồi một ngày nọ, tôi giảng
giải cho anh ta về giáo lý vô ngã của đạo Phật, tức là
giáo lý phủ nhận sự tồn tại của một bản ngã độc lập
hay linh hồn. [4] Anh ta đã thật sự chấn động đến
độ run rẩy toàn thân. Nếu quả thật không có linh hồn vĩnh
cửu thì anh ta sẽ cảm thấy thiếu vắng một điều gì đó
rất thiết yếu. Anh ta đã hoàn toàn kinh hãi. Tôi thấy là
rất khó để giảng giải với anh ta ý nghĩa vô ngã. Phải
cần đến nhiều tháng trời, và cuối cùng thì sự kinh sợ
của anh ta mới giảm dần. Vì thế, đối với những người
như anh ta thì tốt hơn nên thực hành một giáo pháp dựa trên
bản ngã (atman) hay lòng tin vào sự hiện hữu của linh hồn.
Nếu
nhận thức được tất cả những điểm vừa nêu trên, chúng
ta sẽ thấy rất dễ dàng có được sự trân trọng và đánh
giá đúng về những truyền thống tín ngưỡng khác hơn là
tôn giáo mà chúng ta đang tin theo.
Các
nguyên lý cơ bản của phật giáo
Mỗi
khi giới thiệu những lời Phật dạy, tôi luôn chú ý trình
bày theo hai nguyên lý cơ bản. Nguyên lý đầu tiên là bản
chất phụ thuộc lẫn nhau của thực tại.[5] Mọi triết
lý Phật giáo đều dựa trên hiểu biết về chân lý cơ bản
này. Nguyên lý thứ nhì là nguyên lý bất bạo động, nguyên
lý này định hướng hành vi của những người thực hành
đạo Phật, tức là những người có quan điểm công nhận
bản chất phụ thuộc lẫn nhau của thực tại. Ý nghĩa thiết
yếu của nguyên lý bất bạo động là chúng ta nên cố hết
sức để giúp đỡ người khác, và nếu không thể giúp đỡ
thì chí ít cũng phải không hành sự gây hại cho họ. Trước
khi đi vào giảng giải chi tiết về Tứ diệu đế, tôi muốn
được phác thảo sơ qua những nét chính của hai nguyên lý
trên để làm nền tảng.
Quy
y và phát tâm Bồ-đề
Trước
hết tôi xin giới thiệu hai nguyên lý này bằng các thuật
ngữ Phật giáo truyền thống. Chúng ta chính thức trở thành
một Phật tử khi ta quyết định quy y Tam bảo và phát tâm
Bồ-đề, được hiểu như là phát khởi lòng từ bi, tâm vị
tha, hay trái tim cao đẹp. Tam bảo của Phật giáo bao gồm đức
Phật, Pháp - tức là giáo pháp của Phật, và Tăng-già, tức
là cộng đồng những người tu tập. Như vậy, rõ ràng ý
tưởng giúp đỡ người khác là cốt lõi của cả việc quy
y và phát tâm Bồ-đề. Việc thực hành phát tâm Bồ-đề
rõ ràng kéo theo sự tự nguyện có các hành động với mục
đích chủ yếu nhằm giúp đỡ người khác; trong khi đó, việc
thực hành quy y đặt một nền tảng dẫn dắt người tu tập
theo một nếp sống đạo đức và giới hạnh, tránh mọi hành
động có hại cho người khác và tôn trọng luật nghiệp báo.
Chúng
ta sẽ không thể có được nhận thức ở mức cao về tâm
Bồ-đề, trừ phi chúng ta có được một thể nghiệm nền
tảng tốt đẹp của việc thực hành quy y Tam bảo. Vì lý
do này mà sự phân định một cá nhân có phải là Phật tử
hay không được dựa trên cơ sở người đó đã quy y Tam bảo
hay chưa.
Mặc
dù thế, khi nói về quy y Tam bảo, ta không nên nghĩ đó chỉ
đơn giản là một buổi lễ quy y chính thức với một vị
thầy, hay chỉ nhờ vào hiệu lực của việc tham dự một
buổi lễ quy y như thế mà ta có thể trở thành Phật tử.
Thật sự là có nghi thức quy y trong Phật giáo, nhưng nghi thức
này không phải là điểm quan trọng. Điều quan trọng nhất
là, nhờ vào kết quả của sự tự quán chiếu, suy xét, ngay
cả khi không có một bậc thầy, mà các bạn đã hoàn toàn
tin tưởng vào Phật, Pháp, Tăng như là đối tượng chân thật
tuyệt đối để nương tựa và làm theo, và chỉ khi ấy bạn
mới thật sự trở thành một Phật tử. Bạn giao phó phần
hạnh phúc tâm linh của mình cho Tam bảo, và đây mới là ý
nghĩa thực sự của việc quy y. Nói cách khác, nếu có bất
kỳ sự nghi ngờ hay do dự nào trong lòng bạn về giá trị
của Phật, Pháp, Tăng như là các đối tượng chân thật tuyệt
đối để quy y, thì cho dù bạn có tham dự nghi thức quy y,
chính sự nghi ngờ và do dự đó cũng sẽ ngăn không cho bạn
trở thành một Phật tử thật sự, ít nhất là vào thời
điểm đó. Do vậy, điều quan trọng là phải hiểu được
các đối tượng của sự quy y.
Khi
nói về Phật trong nội dung này, chúng ta không nên giới hạn
việc hiểu chữ Phật trong ý nghĩa về một nhân vật lịch
sử đã từng sinh ra ở Ấn Độ.[6] Thay vì vậy, ta nên
hiểu về quả vị Phật [7] dựa trên các tầng bậc của
sự tỉnh thức, hoặc các mức độ chứng ngộ của tâm thức.
Ta nên hiểu sự giác ngộ (quả vị Phật) như là một trạng
thái tinh thần của chúng sinh. Đây là lý do tại sao các kinh
văn Phật giáo có thể đề cập đến các vị Phật trong quá
khứ, hiện tại và tương lai.
Bây
giờ, câu hỏi tiếp theo là: Trạng thái giác ngộ hình thành
như thế nào? Làm thế nào một người trở nên hoàn toàn
giác ngộ? Khi nói đến trạng thái giác ngộ, chúng ta thường
có khuynh hướng tự hỏi ngay rằng: Liệu mỗi người có thể
đạt được trạng thái như thế hay không, có thể hoàn toàn
giác ngộ, trở thành một vị Phật hay không?
Ở
đây chúng ta thấy rằng, chìa khóa của vấn đề nằm trong
sự thấu hiểu bản chất của Pháp. Nếu Pháp tồn tại, thì
Tăng-già chắc chắn cũng tồn tại. Tăng-già là những người
đã dấn bước trên con đường Chánh pháp, và là những người
đã nhận hiểu và thực hiện chân lý của Pháp. Nếu có những
vị trong Tăng-già đã đạt tới các trạng thái tâm thức
vượt qua được những cấp độ thô của các cảm xúc tiêu
cực và phiền não, thì ta có thể hình dung được tính khả
thi của việc đạt tới một sự giải thoát hoàn toàn khỏi
tất cả mọi cảm xúc tiêu cực và khổ đau. Trạng thái giải
thoát hoàn toàn đó chính là quả vị Phật.
Trong
ý nghĩa đang trình bày, tôi nghĩ chúng ta phải phân biệt rõ
giữa cách dùng chữ “Pháp” như một thuật ngữ tổng quát
với cách dùng trong khuôn khổ đặc biệt của khái niệm quy
y. Một cách tổng quát, Pháp có nghĩa là kinh điển, những
lời dạy của Phật, và các thật chứng tâm linh dựa trên
sự thực hành những lời dạy đó. Khi được dùng trong mối
quan hệ với quy y, Pháp có hai nội dung. Thứ nhất là con đường
dẫn tới sự vắng bặt hết thảy mọi cảm xúc đau khổ
và phiền não; thứ hai là chính bản thân sự vắng bặt tịch
diệt đó.[8] Nhờ vào sự hiểu biết về đoạn diệt
thực thụ và con đường đẫn tới sự đoạn diệt này mà
ta mới có thể nhận biết được thế nào là trạng thái
giải thoát.
Duyên
khởi
Trong
kinh điển, đức Phật lặp lại nhiều lần rằng: “Bất
cứ ai lĩnh hội được bản chất phụ thuộc lẫn nhau (duyên
khởi) của thực tại thì sẽ hiểu được Pháp; và bất cứ
ai hiểu được Pháp thì sẽ hiểu được Phật.” [9] Tôi
tin rằng, nếu tiếp cận Phật ngôn này từ góc độ giáo
lý Trung quán của ngài Long Thụ (Nāgārjuna), chúng ta sẽ có
thể đạt đến sự hiểu biết toàn diện nhất về ý nghĩa
sâu xa trong đó. Nếu các bạn cho rằng tôi có ý thiên vị
với ngài Long Thụ, tất nhiên tôi sẽ chấp nhận sự phê
phán đó! Theo ngài Long Thụ ta thấy trong Phật ngôn này có
ba mức ý nghĩa sau đây.
Thứ
nhất, cách hiểu về duyên khởi (pratītyasamutpāda), vốn rất
phổ biến trong mọi trường phái Phật giáo, giải thích Phật
ngôn trên theo ý nghĩa phụ thuộc vào nhau để sinh khởi. “Pratīt”
nghĩa là “phụ thuộc vào”, và “samutpāda” có nghĩa là
“sự sinh khởi”. Nguyên lý này có nghĩa là sự hiện hữu
của tất cả mọi sự việc có điều kiện trong vũ trụ đều
chỉ là kết quả của sự tương tác giữa nhiều nguyên do
(nhân) và điều kiện (duyên). Điều này rất có ý nghĩa,
vì nó loại trừ hai khả năng. Một là khả năng sự vật
hình thành một cách hoàn toàn tự nhiên, không hề có các
nguyên nhân và điều kiện; và hai là khả năng sự vật hình
thành từ một đấng sáng thế siêu nhiên hay tạo hóa. Cả
hai khả năng này đều không thể có.
Thứ
hai, ta có thể hiểu nguyên lý duyên khởi theo ý nghĩa các
yếu tố hợp thành và toàn thể. Mọi đối tượng vật chất
có thể được nhận biết qua cách thức mà các thành phần
hợp thành một thực thể trọn vẹn, và qua chính ý niệm
về “toàn thể” hay “sự trọn vẹn” phụ thuộc vào sự
tồn tại của các thành phần. Sự phụ thuộc như vậy tồn
tại một cách rõ ràng trong thế giới vật lý. Tương tự,
các thực thể phi vật lý, chẳng hạn như tâm thức, cũng
có thể được cứu xét trong ý nghĩa các trình tự nối tiếp
tương tục theo thời gian: Sự nhận biết về một ý tưởng
trọn vẹn được dựa trên cơ sở của các trình tự nối
tiếp nhau để tạo nên một dòng tư tưởng.[10] Cho nên,
khi cứu xét vũ trụ theo cách này, chúng ta không chỉ thấy
rằng mỗi sự vật có điều kiện đều được hình thành
một cách phụ thuộc (duyên sinh), mà còn hiểu rằng toàn bộ
thế giới hiện tượng cũng hình thành theo nguyên lý duyên
khởi.
Mức
nghĩa thứ ba của nguyên lý duyên khởi là tất cả sự vật
và hiện tượng - thật ra là toàn bộ thực tại - chỉ hiện
hữu như là kết quả sự kết hợp đồng thời của tất
cả những yếu tố cấu thành. Khi phân tích sự vật trong
nhận thức bằng cách chia chẻ chúng thành từng yếu tố cấu
thành, bạn sẽ hiểu ra được rằng bất cứ sự vật nào
cũng đều hình thành với sự phụ thuộc hoàn toàn vào các
yếu tố khác. Do đó, không một sự vật nào có tự tính
độc lập hay riêng rẽ. Bất cứ đặc tính nào mà ta gán
cho sự vật đều tùy thuộc vào sự tương tác giữa nhận
thức của chúng ta và chính bản thân thực tại. Tuy nhiên,
điều này không có nghĩa rằng sự vật không tồn tại. Phật
giáo không dạy thuyết hư vô. Sự vật quả thật là có tồn
tại nhưng không phải những thực thể độc lập, tự tồn.
Bây
giờ, hãy trở lại với Phật ngôn vừa dẫn trên. Ngài dạy
rằng: Việc thấy được nguyên lý duyên khởi sẽ dẫn đến
việc thấy được Pháp. Khái niệm Pháp ở đây có ba ý nghĩa
khác nhau tương ứng với ba mức ý nghĩa khác nhau của nguyên
lý duyên khởi mà ta vừa mô tả.
Trước
hết, ta có thể liên hệ Pháp với ý nghĩa ở cấp độ đầu
tiên của duyên khởi, tức là sự phụ thuộc có tính nhân
quả. Qua việc phát triển hiểu biết sâu sắc bản chất phụ
thuộc nhau của thực tại trong ý nghĩa về sự phụ thuộc
có tính nhân quả, ta có thể nhận thức rõ được sự vận
hành của cái gọi là “nghiệp”, là luật nghiệp báo nhân
quả chi phối mọi hành động của con người. Luật này giải
thích vì sao những cảm thọ đau đớn và khổ sở lại sinh
khởi như là kết quả của các hành động, ý nghĩ, và cách
ứng xử xấu xa (bất thiện), và vì sao những cảm thọ thích
ý như là hạnh phúc, niềm vui lại sinh khởi như là kết quả
của những nhân duyên tương ứng - nghĩa là các hành vi, cảm
xúc và ý nghĩ tốt lành (thiện).
Việc
phát triển hiểu biết sâu sắc về duyên khởi trong ý nghĩa
về sự phụ thuộc có tính nhân quả sẽ cho các bạn một
sự thấu suốt nền tảng về bản chất của thực tại. Khi
ngộ ra rằng mọi thứ ta cảm nhận và thể nghiệm đều khởi
lên như là kết quả của sự tương tác và kết hợp của
các tác nhân (nhân) và các điều kiện (duyên), thì toàn bộ
quan niệm của bạn sẽ thay đổi. Quan điểm của bạn đối
với những kinh nghiệm nội tâm, và với cả thế giới nói
chung, sẽ chuyển hướng khi bạn bắt đầu nhìn nhận mọi
sự vật trong tác động của luật nhân quả. Một khi bạn
đã mở rộng quan điểm triết học loại này, bạn có thể
đặt hiểu biết của mình về nghiệp vào trong khuôn khổ
đó, vì luật nghiệp báo là biểu hiện cụ thể của nguyên
lý nhân quả bao quát khắp thảy.
Tương
tự, khi bạn có hiểu biết sâu sắc về hai chiều hướng
ý nghĩa còn lại của duyên khởi - sự phụ thuộc giữa các
yếu tố cấu thành với toàn bộ, và sự phụ thuộc lẫn
nhau giữa nhận thức và thực tại - thì quan niệm của bạn
sẽ sâu sắc hơn, và bạn sẽ thấy rõ được rằng có một
sự khác biệt giữa cách thức mà sự vật xuất hiện với
bạn và cách thức mà chúng thật sự là. Những gì trông có
vẻ như là một kiểu thực tại tự tồn, khách quan bên
ngoài lại không thật sự đúng với bản chất thực sự của
thực tại.
Một
khi chúng ta nhận chân được sự sai biệt giữa sự trình
hiện và thực tại, ta đạt được sự thấu hiểu chắc chắn
về cách thức tác động của các cảm xúc, và cách thức
mà chúng ta phản ứng lại với các sự kiện, đối tượng.
Ta thấy được rằng, đàng sau những phản ứng cảm xúc mạnh
mà chúng ta có trong nhiều trường hợp, là một sự thừa
nhận về một kiểu thực thể tồn tại độc lập bên ngoài.
Bằng cách này, chúng ta phát triển một hiểu biết thấu đáo
về nhiều chức năng khác nhau của tâm và của các mức độ
ý thức bên trong chúng ta. Và ta cũng nuôi lớn nhận thức
rằng dù có một số kiểu trạng thái tinh thần và cảm xúc
dường như có thật, và dù nhiều đối tượng có vẻ rất
sinh động, thì trong thực tế, chúng chỉ là ảo tưởng. Chúng
không thật sự tồn tại theo cách thức mà ta tưởng.
Qua
phương cách quán chiếu và phân tích này, ta sẽ có thể đạt
tới một hiểu biết sâu sắc về những gì mà thuật ngữ
Phật học gọi là “nguồn gốc của đau khổ”; hay nói cách
khác là những thọ dẫn tới sự lẫn lộn, sai lầm, và gây
phiền não cho tâm thức. Khi sự nhận biết này được kết
hợp với hiểu biết về bản chất phụ thuộc lẫn nhau của
thực tại ở mức độ vi tế nhất, thì chúng ta cũng thấu
triệt được cái gọi là “tính không của thực tại”,
trong ý nghĩa là mỗi một đối tượng hay sự kiện đều
chỉ sinh khởi theo cách như là sự kết hợp của nhiều yếu
tố và không hề có bất cứ sự tồn tại độc lập, riêng
rẽ nào.
Dĩ
nhiên là sự thấu đáo về tính không giúp ta hiểu rằng bất
kỳ ý tưởng nào dựa trên quan điểm ngược lại cho rằng
sự vật tự nó tồn tại một cách độc lập đều là sai
lầm. Những ý tưởng như thế là đã hiểu sai về bản chất
của thực tại. Ta nhận ra rằng chúng không có giá trị vững
vàng trong cả thực tại và trong kinh nghiệm đúng thật của
chúng ta, trong khi đó tính không của thực tại lại có giá
trị vững vàng cả về mặt lý luận cũng như trong kinh nghiệm.
Dần dần, ta tiến tới việc nhận thấy rằng có thể đạt
đến một trạng thái tri kiến mà mọi sự hiểu biết nhầm
lẫn như vậy đều bị loại trừ hoàn toàn. Đó chính là
trạng thái tịch diệt hay “diệt”.
Trong
Minh cú luận, ngài Nguyệt Xứng[11] cho rằng nếu có thể
thừa nhận tính không thì ta có thể thừa nhận thế giới
duyên khởi. Nếu ta có thể thừa nhận điều đó, thì cũng
có thể thừa nhận mối quan hệ nhân quả giữa khổ đau và
nguồn gốc của nó. Và một khi ta đã chấp nhận quan hệ
này, thì cũng có thể nghĩ đến và chấp nhận khả năng chấm
dứt được đau khổ. Ngài Nguyệt Xứng biện luận thêm rằng,
nếu có thể chấp nhận như vậy, thì ta cũng có thể chấp
nhận rằng mỗi con người đều có khả năng nhận hiểu và
đạt tới trạng thái chấm dứt mọi khổ đau. Cuối cùng,
dĩ nhiên là ta có thể nghĩ ngay đến chư Phật, những vị
đã thật sự hoàn tất trạng thái tịch diệt, chấm dứt
mọi khổ đau.
Điều
quan trọng là qua việc phát triển sự hiểu biết sâu xa về
nguyên lý duyên khởi, ta có thể thông suốt cả hai chân lý
- chân lý về sự khổ ở mức độ vi tế và chân lý về
sự diệt khổ. Đây chính là ý nghĩa của Phật ngôn: “Qua
hiểu biết về duyên khởi, ta hiểu được Pháp.” Bằng cách
này, ta có thể hiểu được chân lý về sự diệt khổ và
con đường dẫn tới sự diệt khổ đó (tức là đạo ). Một
khi hiểu được những điều này, ta có thể nhận ra rằng
những vị tu tập trong Tăng đoàn có thể giác ngộ và đạt
tới trạng thái chấm dứt khổ đau, và chư Phật có thể
hoàn tất trạng thái đó. Cuối cùng, ta đạt tới một số
hiểu biết về ý nghĩa thật sự của quả vị Phật.
Nhị
đế
Bây
giờ, để có thể mở rộng hiểu biết đầy đủ về Tứ
diệu đế, tôi cho rằng cũng cần làm quen với khái niệm
Nhị đế trong Phật học. Nhị đế nghĩa có là “hai loại
chân lý”), bao gồm chân lý có tính ước lệ hay tương đối
(Tục đế) và chân lý tối hậu hay tuyệt đối (Chân đế).
[12] Ở đây, bạn phải luôn nhớ rằng tôi giảng giải chúng
từ quan điểm của Trung quán tông (Madhyamaka) hay trường phái
Trung đạo của Phật giáo. Dĩ nhiên, khái niệm về Nhị đế
không chỉ có trong trường phái này. Bạn có thể thấy khái
niệm này trong các trường phái Phật giáo khác, và ngay cả
trong một số triết học Ấn Độ phi Phật giáo. Mặc dù thế,
ở đây tôi theo quan điểm của Trung quán tông.
Vậy
làm thế nào ta để phát triển sự hiểu biết về nền tảng
giáo lý về Nhị đế trong Phật giáo? Qua nhận biết về thế
giới hằng ngày trong kinh nghiệm sống, ta nhận biết được
thế giới thực tại ước lệ, vận hành theo nguyên lý nhân
quả, đó là Tục đế (Samvaharasatya). Nếu ta chấp nhận thực
tại của thế giới này như là ước lệ, thì chúng ta có
thể chấp nhận bản chất trống rỗng của thế giới mà
theo Phật giáo là chân lý tối hậu, đó là Chân đế (Paramarthasatya).
Mối quan hệ giữa hai phương diện này của thực tại thật
quan trọng. Thế giới của hình tướng bên ngoài thường không
phải là tương phản hay trái ngược với thế giới của chân
lý tối hậu, mà đúng hơn là một sự hiển lộ, một nền
tảng rất cơ bản mà trên đó bản chất tối hậu của thực
tại đuợc xác lập.
Chỉ
khi có một hiểu biết về bản chất và mối quan hệ giữa
hai chân lý này thì bạn mới thấu hiểu được toàn bộ ý
nghĩa của Tứ diệu đế. Và khi bạn có một hiểu biết về
Tứ diệu đế thì bạn mới có được nền tảng vững chắc
để từ đó phát triển thành một sự hiểu biết hoàn thiện
về ý nghĩa của sự quy y Tam bảo.
Hỏi
đáp
Hỏi:
Sự khác nhau giữa những thấu hiểu cá nhân và sự thấu
hiểu toàn hảo của Phật là gì?
HHDL:[13]
Ta hãy lấy một thí dụ về việc đạt được sự thấu hiểu
trong mức độ vi tế của tính vô thường và trong bản chất
tạm thời của mọi vật và sự kiện.
Với
một cá nhân khởi sự bằng lối suy nghĩ cho rằng sự vật
là thường hằng, ở giai đoạn ban đầu thì sự vướng mắc
của người đó về tính thường hằng của sự vật có thể
rất mạnh mẽ và kiên cố. Để làm giảm bớt sự vướng
mắc đó, bạn cần hình thành một số lập luận đả phá,
ngay cả việc chỉ gieo được một sự nghi ngờ vào tâm tưởng
của người ấy về tính thường hằng của sự vật cũng
có thể tạo ra một tác động, vì ít nhất là tự nó có
hiệu quả làm giảm đi sự cố chấp vào ý tưởng cho rằng
sự vật là thường tồn hay bất diệt.
Dù
vậy, điều đó vẫn chưa đủ. Bạn cần củng cố nhiều
hơn nữa lập luận phê phán để hướng tới tính vô thường
của sự việc. Và đến như thế cũng vẫn chưa đủ. Bạn
cần nhiều sự thuyết phục hơn và điều này có thể đạt
được thông qua sự quán chiếu kiên trì để có thể dẫn
tới điều được xem là hiểu biết suy luận về tính vô
thường.
Chưa
hết, để cho tri thức này có một ảnh hưởng quyết định
đến hành vi ứng xử của bạn, cần phải đạt được một
sự thấu hiểu trực tiếp, hay một kinh nghiệm trực giác
về tính vô thường của sự vật. Và rồi chính điều này
cũng phải được hoàn thiện hơn nữa, vì sự vướng mắc
vào tính thường hằng đã ăn quá sâu vào nhận thức của
ta, nên chỉ một sự nhận biết đơn thuần không đủ để
xua tan nó. Việc này đòi hỏi một tiến trình lâu dài để
đào sâu sự thấu triệt của mình, cho đến khi ngay cả những
khuynh hướng bám víu nhỏ nhất vào tính thường hằng cũng
được nhổ tận gốc.
Cùng
một tiến trình như vậy trong trường hợp để thấu hiểu
tính không của sự vật, và thật ra là cũng đúng như vậy
trong trường hợp bạn muốn thấu hiểu bất kì nguyên lý
nào.
Tuy
nhiên, có một số khía cạnh nhất định của sự tu dưỡng
tinh thần rất ít liên quan đến kinh nghiệm tri thức, mà quan
hệ nhiều hơn với đức hạnh của chúng ta. Về mặt đức
hạnh, ngay từ giai đoạn khởi đầu, bạn phải phát triển
một số hiểu biết về lòng từ bi, và dĩ nhiên là phải
quan tâm đến việc làm sao để nuôi dưỡng lòng từ bi. Sau
đó, kết quả của sự thực hành này là bạn có thể đạt
được một loại kinh nghiệm hình dung về tâm thức tốt đẹp
của bạn. Thí dụ, khi ngồi và quán chiếu về lòng từ bi,
bạn có thể đánh thức nó, nhưng lòng từ bi đó không lâu
bền hay trải khắp, và không thấm nhuần trong đời sống
của bạn. Vậy nên điều cần thiết là phải thể nghiệm
sâu sắc hơn nữa cho đến mức lòng từ bi của bạn trở
nên tự sinh khởi mà không còn phụ thuộc vào sự hình dung
của của trí tuệ. Nó phải trở thành một phản ứng thật
sự tự nhiên khi có những dịp cần tới sự đáp ứng. Sự
thể nghiệm về từ bi này có thể phát triển sâu sắc hơn
cho tới khi nó trở thành rộng khắp. Bởi vậy, đây lại
là một khía cạnh khác nữa của con đường tu tập đòi hỏi
một tiến trình lâu dài.
Hai
khía cạnh này của việc tu tập gọi tên theo thuật ngữ truyền
thống Phật giáo là phương tiện và tuệ giác hay trí huệ.
Cả hai phải được thực hiện song hành. Để cho tuệ giác
được phát triển sâu sắc, bạn cần có yếu tố phương
tiện bổ sung là tâm Bồ-đề. Tương tự, để phát triển
sâu sắc và củng cố sự thực hành tâm Bồ-đề, bạn cần
có một tuệ giác làm nền tảng. Do vậy, chúng ta cần có
một phương pháp tu tập kết hợp cả phương tiện và trí
huệ.
Cũng
thế, chúng ta cần có một phương pháp tu tập kết hợp nhiều
phương tiện khác nhau, chứ không chỉ dựa trên một phương
tiện duy nhất. Hãy xét như trường hợp tuệ giác về tính
vô thường của sự vật vừa được nêu trên. Mặc dù tuệ
giác đó tự nó có thể giúp ta vượt qua sự vướng mắc
vào tính thường hằng, nhưng trong thực hành bạn vẫn cần
thêm những yếu tố bổ sung sâu xa hơn để hoàn thiện tuệ
giác này. Lý do là vì cùng lúc có quá nhiều sự trói buộc
khác đang siết chặt tâm thức. Vấn đề của con người không
chỉ riêng có sự bám víu vào tính thường hằng; mà còn có
sự bám víu vào sự vật như những thực thể tồn tại độc
lập, khách quan, hoặc bám víu vào các nguyên tắc cứng nhắc,
vân vân và vân vân... Tất cả những yếu tố này đều có
thể đối trị bằng cách phát triển một tuệ giác về tính
không.
Vì
thế, điều mà chúng ta đang nói đến ở đây là một tiến
trình phức tạp về sự phát triển nhận thức cá nhân hướng
tới sự hoàn hảo.
Hỏi:
Ngài có thể nói thêm về ý nghĩa thật sự của sự quy y?
HHDL:
Tôi thấy rằng cốt lõi của sự quy y chính là phát triển
lòng tin sâu xa vào hiệu lực của Chánh pháp như là phương
tiện để đạt đến sự giải thoát, cùng với một chí nguyện
sâu xa, mong muốn đạt được sự giải thoát đó.
Nói
chung, đức Phật được xem như bậc thầy chỉ dạy con đường,
Chánh pháp mới chính là đối tượng thực sự của việc
quy y, và Tăng-già là những người bạn trên con đường tu
tập. Do đó, lòng tin vững chắc vào Chánh pháp là tiền đề
cho việc phát triển niềm tin sâu xa và lòng tôn kính đối
với Phật và Tăng.
Trong
tác phẩm Chú giải Tập lượng luận (Pramanavarttika), ngài
Pháp Xứng (Dharmakīrti) [14] đã cố gắng chứng minh một cách
hợp lý về giá trị và mức khả tín của việc đức Phật
là một bậc thầy chứng ngộ. Ngài đã bảo vệ lập luận
của mình bằng cách đưa ra giảng huấn của chính đức Phật
để minh xét một cẩn thận, và bằng cách giải thích sự
khả tín trong lời giảng của đức Phật về Tứ diệu đế,
vì giáo pháp này được đặt nền tảng trên cả tính hợp
lý cũng như kinh nghiệm xác thực của cá nhân. Điểm mấu
chốt trước tiên là chúng ta phải nhận thức được sự
chân thật của Chánh pháp, và chỉ trên cơ sở đó mới nhận
ra được đức Phật là một bậc thầy chân chính.
Lập
luận theo chiều hướng ngược lại chỉ được sử dụng
trong các phạm trù hết sức mơ hồ. Hay nói cách khác, lời
dạy của đức Phật về các phạm trù quá mơ hồ đó chỉ
có thể tin được bởi vì ngài là một bậc thầy khả tín.
Đây là một tiến trình lập luận phức tạp. Theo với tiến
trình này, chúng ta thật sự khởi đầu từ sự thuyết phục
chính mình về sự đáng tin cậy của giáo pháp Tứ diệu đế,
là giáo pháp công khai chấp nhận mọi sự phê phán bằng lý
luận. Khi đạt được tuệ giác tự thân về sự đúng thật
của những chân lýTứ diệu đế này, ta sẽ phát triển một
sự tín phục sâu xa về sự đáng tin cậy của đức Phật
như là một vị đạo sư. Vì đức Phật đã chứng tỏ sự
đáng tin cậy và hợp lý trong những phạm trù có thể chấp
nhận sự suy lý, nên ta sẽ có đủ sự tin cậy vào tính chân
xác của đức Phật trong những phạm trù khác mà đối với
ta là mơ hồ, khó hiểu hơn.
Do
đó, ý nghĩa trọn vẹn của sự quy y Tam bảo được khởi
đầu từ hành động quy y Chánh pháp.
Hỏi:
Mục đích của việc tham gia nghi thức Quy y là để làm
gì, nếu như người ta vẫn có thể tự mình thực hiện việc
Quy y trong tự tâm?
HHDL:
Trong
Phật giáo có nhiều giới luật hay hạnh nguyện khác nhau.
Chẳng hạn, chúng ta có Bồ Tát hạnh, mật hạnh, giới hạnh
(giới luật của người xuất gia), những giới cấm của cư
sĩ... vân vân... Bạn có thể phát khởi hạnh nguyện Bồ Tát
trước một biểu tượng của đức Phật (chẳng hạn như
tranh, tượng...) và không cần nhận sự truyền thụ từ một
người khác. Tuy nhiên, việc nhận trao truyền từ một người
khác là thật sự cần thiết đối với hạnh nguyện Kim cương
thừa (Vajrayana) hay giới luật,bởi vì bạn cần có một sự
truyền thừa không gián đoạn. Một trong những lí do của
điều này có lẽ là việc phát nguyện với sự chứng kiến
của một vị đạo sư hay một ai khác sẽ mang lại một sự
quyết tâm lớn hơn. Nó củng cố quyết tâm hướng thượng
và tạo ra tinh thần trách nhiệm. Nếu bạn muốn tiếp tục
truy cứu thêm nữa về những lý do của sự truyền thừa trực
tiếp, thì tôi phải thú nhận rằng chỉ có chính đức Phật
mới có thể trả lời được mà thôi.
Hỏi:
Nếu chúng ta thấy ai đó đang tiến hành một hành vi sai trái
mà sẽ dẫn tới khổ đau cho chính họ, chúng ta có nên cố
ngăn chặn họ thực thi hành động đó, hay là để cho họ
gánh lấy nghiệp chướng? Nói cách khác, nếu chúng ta tự
trải nghiệm sự đau khổ và từ đó rút ra bài học thì có
tốt hơn hay không?
HHDL:
Như bạn đã biết, một người thực hành đạo Phật nguyện
theo cách sống dấn thân một cách cẩn trọng để giúp đỡ
người khác. Ở đây nên thấy rằng, trong ý nghĩa của đạo
Phật, ta đang nói về việc giúp người khác tự đạt đến
sự giải thoát thông qua việc sống theo chánh đạo; nghĩa
là sống một cách phù hợp với nghiệp luật, tránh các hành
vi bất thiện và luôn thực hiện những việc thiện, tốt
lành. Bởi vậy, nói chung khi một Phật tử thấy người khác
làm những việc sai trái thì đúng là nên cố ngăn họ lại.
Mặc
dù vậy, điều này lại làm nảy sinh nhiều vấn đề. Chúng
ta có thể áp dụng những chuẩn mực đạo đức hay giá trị
tinh thần của riêng mình đến mức độ nào với người khác?
Thậm chí chúng ta có thể tự hỏi rằng, liệu lời dạy của
đức Phật về việc sống theo một nếp sống đạo đức,
tránh xa Mười điều bất thiện [15] có phải cũng là một
cách áp đặt các giá trị đạo đức của Ngài lên chúng
ta hay chăng?
Thật
là hữu ích để ghi nhớ một nguyên tắc quan trọng trong đạo
Phật là cần chú trọng đến sự khế hợp trong từng trường
hợp riêng biệt. Câu chuyện sau đây là một minh hoạ rõ rệt
cho điều này.
Ngài
Xá-lợi-phất (Shariputra), một trong những đại đệ tử của
đức Phật, biết rằng nếu ngài giảng dạy giáo pháp Thanh
văn thừa (Shravakayana) cho một nhóm 500 đệ tử có năng lực
thì chắc chắn họ sẽ thấu triệt chân lý và chứng đắc
quả A-la-hán (Arhat). Nhưng Bồ Tát Văn-thù-sư-lợi (Manjushri)
đã xuất hiện và dạy cho họ giáo lý về Tính không của
Đại thừa (Mahayana). Những môn đệ này đã những điều
được dạy như là một giáo thuyết hư vô hoàn toàn, phủ
nhận giá trị và thực thể của vạn vật. Tất cả bọn
họ đều phát triển những quan điểm sai lầm về bản chất
của đạo và của thực tại, và kết quả là họ đã tạo
ra các nghiệp dẫn tới việc tái sinh vào những cảnh giới
thấp kém hơn.
Ngài
Xá-lợi-phất lập tức tìm đến trước đức Phật và trình
bày rằng, nếu Bồ Tát Văn-thù-sư-lợi để cho ngài
hướng dẫn 500 người này, thì nếu không được giác ngộ
hoàn toàn, ít nhất họ cũng đã đạt tới những mức độ
chứng ngộ cao. Đức Phật trả lời rằng, thật ra thì ngài
Văn-thù-sư-lợi đã vận dụng phương tiện thiện xảo. Ngài
đã biết rằng, trong thời gian ngắn, những người này sẽ
có những hành động tiêu cực do hiểu biết sai lầm, nhưng
ngài cũng biết rằng vì giáo lý về tính không đã được
gieo cấy vào tâm thức của họ, nên về sau những hạt giống
này sẽ thành thục và đưa họ tới quả vị Phật. Như thế,
về mặt hiệu quả thì con đường đi lên quả Phật của
họ đã được rút ngắn.
Bài
học mà ta rút ra được từ câu chuyện này là, nếu ta chưa
tự mình đạt được trạng thái giác ngộ hoàn toàn, thì
rất khó để phán xét được một cách ứng xử trong hoàn
cảnh nào đó là đúng hay sai. Đơn giản là ta nên cố hết
sức để ứng xử thật thích hợp với mỗi tình huống cụ
thể khi giao tiếp với người khác.
Hỏi:
Thưa Ngài, ai cũng biết rằng Ngài là người rất bận rộn
vì phải dành thời gian cho rất nhiều việc. Ngài có thể
dành cho hàng cư sĩ, những người đang sống với gia đình
và công việc mưu sinh, một lời khuyên về việc làm thế
nào để phát triển một phương thức thực hành Phật pháp
có hệ thống hay chăng?
HHDL:
Những người bạn Tây phương thường hỏi tôi về phương
cách nhanh nhất, dễ nhất, hiệu quả nhất, và ít tốn kém
nhất để thực hành Phật pháp! Tôi cho rằng không thể tìm
được một phương cách như vậy! Có lẽ đó là dấu hiệu
của sự thất bại!
Ta
nên hiểu rằng thực hành Phật pháp là công việc thật sự
cần phải được tiến hành suốt 24 giờ trong ngày. Đó là
lý do chúng ta phân biệt những buổi tham thiền thực thụ
với giai đoạn sau khi tham thiền. Lý tưởng nhất là cả trong
khi tham thiền và không tham thiền, bạn đều nên sống hoàn
toàn trong sự thực hành Phật pháp.
Trong
thực tế, có thể nói rằng các giai đoạn sau khi tham thiền
là sự thử nghiệm thực tế đối với năng lực thực hành
của bạn. Thời gian tham thiền chính thức có thể hiểu như
là bạn đang nạp lại năng lượng, để sau đó bạn có đủ
điều kiện hơn trong việc đối phó với những yêu cầu của
cuộc sống hằng ngày. Mục tiêu chính của việc nạp lại
bình điện là để nó có thể chạy được một thiết bị
nào đó, phải không? Tương tự, khi bạn đã tự trang bị
cho mình qua sự thực hành những phương thức nào đó thì
bạn sẽ có khả năng sống phù hợp với những nguyên
tắc trong sự thực hành Chánh pháp của bạn, bởi vì là một
con người thì bạn không thể nào tránh được những công
việc thường ngày trong cuộc sống.
Dĩ
nhiên, trong giai đoạn đầu tiên, như một người chập chững,
bạn cần có những chu kỳ hành thiền tập trung để tạo
lập một nền tảng khởi đầu. Đây là điều thiết yếu.
Nhưng một khi đã thiết lập được nền tảng đó rồi thì
bạn có thể sống theo một nếp sống thường ngày ít nhất
cũng phải luôn phù hợp với Chánh pháp. Bởi vậy, tất cả
ý nghĩa này hướng đến tầm quan trọng của sự nỗ lực.
Không có sự nỗ lực thì sẽ không có cách nào để đưa
Chánh pháp vào trong cuộc sống của chúng ta.
Với
một người tu tập nghiêm túc thì sự nỗ lực tối đa là
hết sức cần thiết. Chỉ với một vài lời khấn nguyện,
chút ít thời gian tụng niệm, dăm ba bài chú với tay lần
tràng hạt thì không đủ. Vì sao vậy? Vì chỉ bấy nhiêu đủ
để chuyển hóa tâm hồn bạn. Những cảm xúc tiêu cực của
chúng ta quá mạnh mẽ nên cần phải có sự nỗ lực liên
tục để đối trị. Nếu chúng ta thực hành một cách liên
tục thì chắc chắn ta sẽ thay đổi.
Hỏi:
Có quan hệ gì giữa tâm từ bi tương đối và tâm từ bi tuyệt
đối?
HHDL:
Có
nhiều cách khác nhau để hiểu về ý nghĩa của từ bi, tùy
cách tiếp cận theo quan điểm Đại thừa hay Kim cương thừa.
Chẳng hạn, Kim cương thừa sử dụng cùng một chữ từ bi,
karuna, như Đại thừa, nhưng có ý nghĩa hoàn toàn khác.
Có
lẽ câu hỏi này liên quan đến một sự phân biệt khác có
trong kinh điển, giữa hai mức độ của lòng từ bi. Ở mức
độ đầu tiên, tâm từ bi được tạo ra qua sự hình dung.
Đây là giai đoạn khởi đầu, bạn cần phải thực hành một
số phép quán tưởng nhất định để làm sinh khởi tâm từ
bi. Kết quả của sự thực hành này sẽ giúp bạn đạt tới
mức độ thứ nhì, khi tâm từ bi trở thành một phẩm tính
hoàn toàn tự nhiên và tự sinh khởi. Đây là một trong những
cách hiểu về sự khác nhau giữa tâm từ bi tương đối và
tâm từ bi tuyệt đối.
Links
liên quan:
Thư
Mục Đức Đạt Lai Lạt Ma
Mật
Tông Tây Tạng
Phật
Giáo Tây Tạng
04-29-2008
03:45:23